Nhưng nếu hiểu toàn cầu hoá là một quá trình quốc tế kinh tế đã phát triển trên quy mô toàn cầu hoá gồm trong hai quá trình quốc tế đã phát triển song song - tù do hoá kinh tế và hội nhậ
Trang 1a Lời nói đầu
Toàn cầu hoá trong những năm gần đây đã trở thành đề tài được đông đảocác nhà chính trị, các học giả, các nhà kinh doanh và dân chúng quan tâm đặcbiệt Có nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá quá trình này Có người chỉ nói tớicác lợi của toàn cầu hoá, xem nó như là một giải pháp cứu cánh của một quốcgia Ngược lại, có người chỉ nói tới cái hại của toàn cầu hoá, xem nó là một nguy
cơ đe doạ các quốc gia, các dân téc nhất là các quốc gia đang và chậm phát triển.Ngay cả các nước phát triển nh Mỹ và Châu Âu cũng có hai cách nhìn nhậnngược nhau Hiện nay trên thế giới, toàn cầu hoá đang diễn ra nh mét tất yếukhách quan Với đầy đủ những đặc trưng của nó, xu thế toàn cầu hoá đang chứng
tỏ mặt tích cực và những thành quả to lớn mà nó đem lại cho tất cả các nướctrong cộng đồng quốc tế
Việt Nam ta đang ở trong giai đoạn chuyển mình, tập trung phát triển kinh
tế với nội dung Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Muốn Công nghiệp hoá
- Hiện đại hoá thì không thể đóng cửa nền kinh tế đó là lẽ tất nhiên trong bối cảnhquốc tế hiện nay Có thể thấy rằng ở trình độ phát triển hiện nay thì xu thế toàncầu hoá vừa là môi trường vừa là chiến trường trên mặt trân kinh tế Việt Nam
Trong giai đoạn này, mục tiêu chiến lược của Việt Nam là Công nghiệphoá - Hiện đại hoá đất nước Với những tác động của toàn cầu hoá và hội nhậpquốc tế Trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp em chọn đề tài Công nghiệpViệtNam trong xu thế toàn cầu hoá (nghành Điện lực ) Trên cơ sở nguồn tài liệu vàcác tạp chí để nhìn nhận và đánh giá về Công nghiệp Việt Nam (nghành Điệnlực ) trong xu thế của toàn cầu hoá và công nghiệp hoá - Hiện đại hoá , Từ đó chochóng ta thấy được vai trò to lớn của Công nghiệp và đặc biệtlà nghành điệntrong quá trình Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước
Em tin rằng chuyên đề vẫn còn rất nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được
sự sửa chữa và bổ xung Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2B Nội dung
Chương I TOÀN CẦU HOÁ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT
I Quá trình vận động của toàn cầu hoá.
Tuỳ theo cách nội dung toàn cầu hoá nh thế nào mà người ta xác định thờiđiểm toàn cầu hoá xuất hiện và cái đích mà nó hướng tới cùng với những hìnhthức đa dạng của nó Nếu hiểu toàn cầu hoá là những mối quan hệ kinh tế vượt rangoài biên giới quốc gia, thì toàn cầu hoá đã bắt đầu từ rất xa xưa như có ngườicho là từ thời Alexandre Đại đế, bốn thế kỷ trước Công nguyên Nếu hiểu đó lànhững quan hệ kinh tế quốc tế phát triển tới quy mô toàn cầu thì toàn cầu hoá lại
có thể bắt đầu từ khoảng đầu thể kỷ 20 khi CNTB chuyển từ CNTB tù do cạnhtranh sang chủ nghĩa đế quốc Nhưng nếu hiểu toàn cầu hoá là một quá trình quốc
tế kinh tế đã phát triển trên quy mô toàn cầu hoá gồm trong hai quá trình quốc tế
đã phát triển song song - tù do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế - nghĩa là các quan
hệ kinh tế không những được tự do phát triển trên phạm vi toàn cầu, mà còn phảituân theo những cam kết toàn cầu đa dạng, thì quá trình này mới thực sự bắt đầu
từ thập kỷ 90, vì trước đó thế giới còn bị chia làm hai hệ thống đối lập, chưa cócác cam kết toàn cầu
Cái đích cuối cùng mà quá trình toàn cầu hoá hướng tới là một nền kinh tếtoàn cầu thống nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế Nhưng điều quantrọng ở đây là lé trình và thời hạn có thể tới cái đích Êy Nếu một nền kinh tế toàncầu thống nhất sẽ xuất hiện trong tới thế kỷ tới, thì chính nền kinh tế đó sẽ chiphối, sẽ quy định toàn bộ sự vận động của các quan hệ kinh tế từ nay cho tới đó.Vấn đề là hiện nay một nền kinh tế toàn cầu thống nhất có trở thành hiện thựckhông, hay đó chỉ là một ước mơ hão huyền của một nhà tiên tri nào đó? Hiện đã
có những căn cứ thực tế để quá trình toàn cầu hoá đi tới cái đích Êy, vì như sựhình thành và phát triển của nền công nghệ mang tính toàn cầo, nền công nghệ cơ
Trang 3khí về cơ bản vẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia, vì nó luôn phải lấy thịtrường trong nước làm chính, một khi chi phí vận chuyển liên lạc còn quá đắt đỏ,thì việc sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ các hàng hoá ở thị trường bên ngoài luôn
có nhiều rủi ro bất trắc và có lợi thế so sánh hạn chế Giải pháp để giảm bớtnhững rủi ro bất trắc này và đảm bảo có lợi thế so sánh cao là những nước sảnxuất hàng hoá phải xâm chiếm và phân chia thị trường thế giới, thị trường của ai
kẻ đó độc quyền bán hàng Sự xâm chiếm thị trường này dẫn tới những xung độtgiữa các nước thuộc địa nơi bán hàng và các nước chính quốc, kẻ xâm chiếm
Các nước đế quốc xuất hiện sau không có thị trường, đòi hỏi chia lại thịtrường, chiến tranh bùng nổ Trong tình trạng xung đột như vậy, thị trường thếgiới đã bị xé nhỏ và chia cắt
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa đã tan rã, các nước đếquốc không thể xâm chiếm và chia nhau thị trường bằng chiến tranh nh trước nữa
do sức mạnh của hệ thống XHCN và phong trào giải phóng dân téc Nhưng thịtrường thế giới lại bị chia cắt theo hướng khác: thị trường của các nước XHCNđối lập với thị trường của các nước TBCN Các quốc gia mới được độc lập hầu
nh thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch chặt chẽ, các nước phát triển vừa thihành chính sách bảo hộ mậu dịch, vừa mở cửa theo các hiệp địng song phương vàkhu vực (Châu Âu) Hiệu năng của nền công nghiệp cơ khí chưa cho phép cácquan hệ kinh tế quốc tế có thể phát triển xa hơn xét về mặt hiệu quả kinh tế
Nhưng trong những thập kỷ gần đây công nghệ thông tin và vận tải đã cónhững tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần vàgiảm chi phí liên lạc viễn thông xuống cả trăm lần (năm 1930 một cuộc điệnthoại từ Luân Đôn đến Niu Ước trong 3 phót mất 300USD, nay chỉ còn khôngđáng kể) Tiến bộ công nghệ này đã có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộcác quan hệ kinh tế quốc tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc gia thànhcông nghệ toàn cầu Ta có thể nêu ra một ví dụ về công nghệ may mặc Một cáimáy may dù có hiện đại đến máy cũng chỉ có thể làm ra quần áo bán trong mộtđịa phương hay một quốc gia, và có thể vương tới một vài nước gần gũi Chúng
Trang 4không thể được bán ở các thị trường xa xôi, vì chi phí vận tải và liên lạc cao đãlàm mất hết lợi thế so sánh Nhưng nhờ có tiến bộ công nghệ liên lạc và vận tải,nên Công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng tạo thiết kế mẫu mã và phân phối toàncầu (còn sản xuất do các công ty của nhiều nước làm), những đã làm cho côngnghệ may mặc có tính toàn cầu Các công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tínhđiện tử, máy bay đã này càng có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàn cầu này đãthể hiện ngay từ khâu sản xuất (được phân công chuyên môn hoá ở nhiều nước)đến khâu phân phối (tiêu thụ trên toàn cầu) Những công nghệ ngay khi ra đời đã
có tính toàn cầu như công nghệ vệ tinh viễn thông đã bắt đầu xuất hiện
Chính công nghệ toàn cầu này là cơ sở quan trọng đầu tiên, đặt nền móngcho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hoá
Nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tậpđoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên phạm vi toàn cầu,những quan hệ này tuỳ thuộc lẫn nhau, cùng có lợi phát triển Đó là cơ sở đầutiên của nền kinh tế toàn cầu thống nhất
II Các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển.
Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện đã là cơ sở cho các quan hệ kinh tếtoàn cầu phát triển Đầu tiên là các quan hệ thương mại, chi phí vận tải liên lạccàng giảm đi, thì khả năng bán hàng đi các thị trường xa càng tăng lên, thươngmại toàn cầu càng có khả năng phát triển Đồng thời quá trình phân công laođộng quốc tế, chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn ra sâu sắc giữa các quốcgia và châu lục Các linh kiện mát bay Boing, của ô tô, của máy tính đã có thểsản xuất ở hàng chục nước khác nhau Các quan hệ sản xuất, thương mại có tínhtoàn cầu, đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ vận động trên phạm vi toàncầu Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này thêm náo nhiệt vànhanh nhậy hơn Ngày nay lượng buôn bán tiền tệ toàn cầu đã vượt quá con sè1.500 tỷ USD một ngày Thương mại điện tử xuất hiện với kim ngạch ngày càngtăng và đang trở thành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng
Trang 5Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầu đangngày càng cung đột với các thể chế quốc gia, với các rào cản quốc gia Sự pháttriển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang công phá cácbức tường quốc thành quốc gia Bước vào thập kỷ 90 các bức tường thành quốcgia này đã bị phá vỡ ở các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, ở các quốc gia Bắc
Mỹ với mức độ thấp hơn Các quốc gia ASEAN đã cam kết giảm bớt rào cảnquốc gia Các nước thành viên của Tổ chức thương mại thế giới cũng cam kếtmột lé trình giảm bớt hàng rào này
Nhưng phải thừa nhận là những bức tường thành quốc gia này vẫn còn rấtchắc ở nhiều nước và ở ngay cả Liên minh Châu Âu hay bắc Mỹ với những hìnhthực biến tướng đa dạng Chính chúng đang cản trở quá trình toàn cầu hoá
III Những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, bức xúc đòi hỏi phải có sự phối hợp quản lý trên phạm vi toàn cầu của các quốc gia.
Người ta có thể kể ra ngày càng nhìeu các vấn đề toàn cầu như: thươngmại đầu tư, tiền tệ, dân số, lương thực, năng lượng, môi trường Môi trường toàncầu ngày càng bị phá hoại; các tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt, dân
số thế giới đang gia tăng nhanh chóng trở thành một thách thức toàn cầu; cácdòng vốn toàn cầu vận động tự do không có sự phối hợp điều tiết đã làm nảy sinhcác cuộc khủng hoảng kinh tế liên tiấp ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á trong thập
kỷ 90 Cần có sự phối hợp toàn cầu để đối phó với các thách thức đó
"Bàn tay hữu hình" của các chính phủ đã chỉ hữu hiệu ở các quốc gia, còntrên phạm vi toàn cầu hiện đang có quá nhiều "Bàn tay hữu hình" va đập vàonhau, chứ chưa có một "bàn tay hữu hình" chung làm chức năng điều tiết toàncầu
Với những căn cứ trên đây, toàn cầu hoá đang phát triển như là một xuhướng tất yếu khách quan với những đặc trưng chủ yếu là:
- Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏtrong một tương lai gần theo các cam kết quốc tế đa phương và toàn cầu, nghĩa là
Trang 6các biên giới quốc gia về tm dt đang tiêu vong Đấy là một tiền đề quan trọngtrước hết cho sự hình thành một nền kinh tế thế giới không còn biên giới quốcgia.
- Các công ty của các quốc gia ngày càng có quyền kinh doanh tù do ở mọiquốc gia, trên các lĩnh vực được cam kết, không có phân biệt đối xử
Đặc trưng thứ hai này rất quan trọng, vì dù như không có các biên giớiquốc gia về thuế quan, nhưng các công ty không được quyền kinh doanh tù dotrên phạm vi toàn cầu, thì nền kinh tế thế giới khó có thể hình thành được Đặctrưng thứ hai này thực chất là sự xoá bỏ các biên giới về dt, dịch vụ và các lĩnhvực kinh tế khác
Giai đoạn hiện nay của toàn cầu hoá mới chỉ đạt tới, đang đạt tới hai đặctrưng này nhưng nếu nó dừng lại ở hai đặc trưng này, thì quá trình toàn cầu hoá
sẽ bị đẩy tới những mâu thuẫn và bế tắc mới Nếu các quan hệ thương mại và đầu
tư phát triển vượt ra ngoài biên giới quốc gia, các dòng hàng hoá, tiền tệ, vốn lưu thông tự do trên toàn cầu, thì sẽ nảy sinh không Ýt những vấn đề phức tạpmới: liệu thị trường thế giới không biên giới phát triển có vấp phải sự trãi buộccủa một hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng trăm đồng tiền khác nhau, trao đổi vớinhau theo tỷ giá thả nổi bếp bênh? Liệu một thị trường thế giới không thống nhấttoàn cầu phát triển có dung hợp được với các luật pháp quộc gia thủ cựu không?Liệu một nền kinh tế toàn cầu phát triển có đòi hỏi một hệ thống chính trị, vănhoá, an ninh xã hội toàn cầu phát triển theo không
Có nhiều vấn đề đang được đặt ra mà không lời giải đáp đến nay có thểxem như là chưa có
Trang 7Chương II CÔNG NGHIỆP VIỆT Nam TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ
I Quan điểm phát triển ngành công nghiệp nước ta.
Phát triển công nghiệp nằm trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội nóichung Nó phải dùa trên một nền kinh tế mở và hội nhập vào phân công lao độngkhu vực và quốc tế Để có hiệu quả, phát triển công nghiệp phải tập trung vàonhững lợi thế cạnh tranh, được bảo hộ nhưng ở mức độ thấp Bằng cách tạo dựngmột nền kinh tế mở, công nghiệp có thể phản ứng nhanh chóng và có hiệu quảkhi sù thay đổi nhu cầu dãn tới thay đổi trong cấu trúc công nghệp Trong chõngmực sự tăng trưởng kinh tế tập trung ở những vùng đông dân do sự phát triển hạtầng ở đó thích ứng, thì cũng có thể đưa ra những chiến lược đảm bảo là các khuvực nông thôn cũng được lợi Ých từ thị trường thế giới, và cũng có thể đưa ranhững khuyến khích đối với ngành công nghiệp có thể tạo ra tính hấp dẫn hơncho khu vực nông thôn và khi nông thôn trở nên hấp dẫn ngay cả đầu tư nướcngoài cũng có thể đổ vào Rõ ràng những điều này phải được nhìn nhận trongkhuôn khổ phát triển, bao gồm những mục tiêu phi kinh tế như các vấn đề quốcphòng, bảo tồn di sản văn hoá - lịch sử và những mục tiêu sinh thái
Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Nêu trong phương hướng, nhiệm vụ kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2005 định hướng phát triển côngnghiệp:
Phát triển với nhịp độ cao, có hiệu quả, coi trọng đầu tư chiều sâu, đối vớithiết bị công nghệ tiên tiến và tiến tới hiện đại hoá từng phần các ngành sản xuấtcông nghiệp
Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, chú trọng côngnghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; các ngành công nghiệpphục vụ nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Trang 8Xây dựng có lùa chọn, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, và hiệuquả một số cơ sở công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất: dầu khí, luyện kim (thép,alumin, nhôm, kim loại quý ), cơ khí, điện tử, hoá chất cơ bản
Phát triển mạnh công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tinviễn thông, điện tử Phát triển một số cơ sở công nghiệp quốc phòng cần thiết
Kết hợp hài hoà phát triển công nghiệp đáp ứng yêu cầu trong nước và xuấtkhẩu; có những biện pháp bảo hộ hợp lý, bảo đảm công nghiệp phát triển với khảnăng cạnh tranh cao, thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất côngnghiệp với nhiều quy mô, nhiều trình độ; chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ,phù hợp định hướng chung và lợi thế từng vùng, từng địa phương; trước hết phảitập trung cho công nghiệp chế biến, công nghiệp sử dụng nhiều lao động và côngnghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp
II Các mục tiêu chiến lược phát triển công nghiệp.
Mục tiêu chủ đạo của Việt Nam là trở thành một nước công nghiệp hoá.Thông qua những thay đổi cơ bản trong lĩnh vực công nghiệp và thông qua sự hộinhập và nền kinh tế thế giới, có thể giúp tăng trưởng kinh tế cũng như tăng tỷtrọng đóng góp của lĩnh vực công nghiệp và GDP từ 34 - 35% năm 2000 lên đến
37 - 38% năm 2010, tức 40 - 41% năm 2020 Điều này đòi hỏi phải có được tốc
độ tăng trưởng kinh tế ở mức 11 - 12% trong giai đoạn 1996 - 2000 và 7 - 9%trong giai đoạn 2001 - 2010
Đứng sau những chuyển đổi đó là sự thay đổi về giá trị tăng trong côngnghiệp, khai khoáng và thủ công mỹ nghệ Tương tự như vậy, tính cạnh tranhtăng lên của các ngành công nghiệp trong nước cho phép các nhà sản xuất trongnước khai thác những sự phát triển này sẽ đem đến sự bùng nổ các ngành côngnghiệp tương lai trong lĩnh vực điện, xuất khẩu và chế biến dầu khó, gạo, cơ khí,công nghệ thông tin, hoá chất và luyện kim
Trang 9III Định hướng phát triển tới năm 2010.
Phân đấu đến năm 2010 - 2020, Việt Nam đạt trình độ một nước côngnghiệp hoá XHCN trên cơ sở một nền công nghiệp hiện đại, toàn diện và đồng bộlàm nền tảng cho các ngành kinh tế phát triển ngang tầm các nước phát triểntrong khu vực và trên thế giới
Giữ vững liên tục để trong vòng 15 - 20 năm tới tốc độ tăng trưởng cao,đảm bảo nhu cầu cơ bản về công nghiệp chế tạo phục vụ các ngành chế biến.Thoả mãn phần lớn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, nhu cầu sản xuất của cácngành kinh tế quan trọng, tạo ra nhiều giá trị gia tăng trong công nghiệp và xuấtkhẩu
Đổi mới công nghệ của phần lớn doanh nghiệp, phát triển nhanh một sốngành và một số lĩnh vực có lợi thế, hình thành một số ngành công nghiệp chủlực như: công nghiệp dệt - may xuất khẩu, chế biến thực phẩm, khai thác và chếbiến dầu khí, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, công nghiệp thép, côngnghiệp chế tạo máy vừa và nhỏ
Hình thành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm khu chế chế xuất vàkhu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho công việc xây dựng các cơ sở côngnghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô Ở các thành phố,thị xã nâng cấp các cơ sở công nghiệp hiện có, hạn chế việc xây dựng các cơ sởcông nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư Sản phẩm lùa chọn phù hợp với nănglực sản xuất, khả năng đầu tư và phương pháp tổ chức lại sản xuất của từngngành, từng giai đoạn nhất định
Loại bỏ tư tưởng tự cấp tự túc trước đây, không sản xuất riêng lẻ đơnchiếc, chọn các sản phẩm thị trường có nhu cầu lớn, giá trị cao Tập trung đầu tư
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến bảo đảm sản lượng và chất lượng cho yêu cầu trongnước và xuất khẩu Mạnh dạn đầu tư một số công nghệ cao và rất cao đối với cácngành công nghiệp mòi nhọn như khai thác và chế biến dầu khí, công nghiệp điện
tử và công nghệ thông tin
Trang 10Liên kết sản xuất trong nước, phối hợp giữa nhập khẩu các chi tiết, bộ phận
để đồng bộ sản xuất, đồng bộ dây chuyền thiết bị
Phấn đấu đến năm 2010 sản phẩm của công nghiệp Việt Nam có khả năngđáp ứng được yêu cầu của kinh tế quốc gia và có đủ sức cạnh tranh với các nướctrong khu vực
Quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp
Đơn vị: %
vị 2000 - 2005 2000 - 2010
Sản lượng năm 2005 (quy đổi)
Nguồn: Chiến lược phát triển công nghiệp của Bộ Công nghiệp
IV Những chỉ tiêu phát triển chủ yếu.
Phát triển sản xuất công nghiệp là nền tảng của sản xuất công nghiệp hoá,
là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia Vì vậy chủtrương của Đảng ta là lấy mục tiêu phát triển công nghiệp trong giai đoạn chiếnlược sắp tới để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Nền công nghiệp nước ta từ sau khi giành được độc lạp đã từng bước trảiqua các giai đoạn phát triển theo chiều hướng công nghiệp hoá, đến nay đã đạtđược những thành tựu đáng kể, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu làm nền
Trang 11tảng cho việc phát triển đồng bộ nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ngày càng caotrong phạm vi cả nước.
Tuy vậy, nền công nghiệp của nước ta vẫn còn nhiều điểm yếu, chưa thoảmãn nhu cầu về số lượng sản phẩm, chưa đạt trình độ công nghệ khá trong khuvực, còn thiếu cán bộ và tri thức, tất cả các điều kiện hạ tầng cho công nghiệp hoácòn kém xa các nước trong khu vực
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét lại một cách tổng quan về công nghiệp hoáViệt Nam trong giai đoạn mở cửa theo xu hướng toàn cầu hoá
IV.1 Sản xuất tăng trưởng và giá trị sản lượng.
Trong quá trình chuyển dịch sang một nền kinh tế theo định hướng thịtrường kể cả qua đó thực hiện những thay đổi trong vai trò của Nhà nước vàdoanh nghiệp do Nhà nước quản lý, Chính phủ đã đề ra một số chính sách vàhướng dẫn nhằm mở đường cho phát triển công nghiệp Những chuyển đổi này
đã khiến mỗi doanh nghiệp phải thực hiện những biện pháp riêng của mình đểnâng cao hiệu suất và tổ chức sản xuất cho phù hợp, đổi mới công nghệ và từngbước giảm bớt các trở ngại với sản xuất kinh doanh Sản phẩm của các doanhnghiệp bắt đầu giành lại sức cạnh tranh và dần dần chiếm lại thị phần trong nước,đồng thời tăng cường xuất khẩu
Trong giai đoạn 1991 - 1998, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của toàn bộ khuvực công nghiệp đạt 13% Theo đó giữa những năm 1991 - 1995, tỷ lệ này đạtmức 13,7% (đây là mức tăng trưởng cao nhất cho tới năm 1998; thời kỳ 1976 -
1980 là 0,6%; 1981 - 1985 là 9,5; 1986 - 1990 là 6,1%) Sau năm 1995 tỷ lệ tăngtrưởng có xu hướng chậm lại
Nguyên nhân của sự suy giảm này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngtài chính Châu Á Sù bất ổn định về tài chính dẫn tới nhu cầu giảm, nguồn đầu tưnước ngoài giảm, chi tiêu cho đầu tư vốn thấp hơn Sự suy giảm vốn ngày càngđặc biệt đúng với các doanh nghiệp nhà nước, đều gặp khó khăn hơn Khu vựccông nghiệp chỉ đạt tỷ lệ tăng trưởng khoảng 10% (96-98) giảm so với mức
Trang 1214,5% (91-95) Khu vực ngoài quốc doanh con số tương ứng là 7,7% và 10,6%,trong khi ở khu vực đầu tư nước ngoài những con số này là 20,1% so với 24,2%.Nhiều khu vực khác chỉ đạt tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn Khu vực tập thể đạt tỷ lệtăng trưởng thấp nhất Mức bình quân của các ngành công nghiệp địa phương xấp
xỉ 10%/năm, trừ thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Quảng Ninh
Những tiến triển trong thời kỳ này dẫn đến việc cơ cấu lại công nghiệp hoá
và hiện đại hoá trong nhiều khu vực khác nhau Tỷ phần công nghiệp trong tổngsản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 18,8% năm 1990 lên 23% năm 1995 (ngànhxây dựng góp 22,6% năm 1990 và 30,2% năm 1995) Thực tế hiển nhiên là việc
mở rộng ngành công nghiệp cũng đã tác động to lớn đến sự phát triển của cácngành khác Về căn bản có thể chắc chắn rằng khu vực công nghiệp đã khai thácđược những lợi thế so sánh của Việt Nam, trong đó có cả nguồn tài nguyên thiênnhiên và đang ngày càng có khả năng tự điều chỉnh thích ưngs với nhu cầu đangthay đổi của thị trường Không cần phải nói, chúng đã đóng góp đáng kể vàonguồn thu của Nhà nước
Dưới đây là tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của một số ngành và loại sản phẩm
đã đạt được trong giai đoạn 1990 - 1998:
Sản lượng dầu thô : 21,1% Thiết bị điện tử : 17,7%
Than đá : 11,0% Máy biến thế : 11,9%
Giấy : 18,2% Ắc quy và pin : 30%
Quần áo may sẵn : 8,0% Điện : 12,0%
Phần bón : 13,5% Thép cuộn : 13,5%
Thuốc trừ sâu : 6,5% Xi măng : 16,1%
Nguồn báo cáocông nghiệp (1998) bộ công nghiệp.
IV.2 Cơ cấu công nghiệp:
• Cơ cấu ngành và cơ cấu vùng:
Trong giai đoạn 1991 - 1998 Chính phủ Việt Nam đã liên tục quan tâm tớinhững chuyển đổi giữa các ngành và khu vực công nghiệp Chính phủ tập trung
Trang 13đẩy mạnh các ngành chủ lực như dầu mỏ, khí đốt, dệt may, giầy dép, điện, thép bằng các chính sách ưu đãi, cho phép thành lập các tổng công ty theo quyết định
số 9o và 91 của Thủ tướng Chính phủ, cấp vốn cho các tổng công ty đó với lãisuất đặc biệt, duy trì hàng rào chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài, huy độngvốn trong và ngoài nước Hơn nữa, các ngành sản xuất hàng tiêu dùng đã được
ưu tiên, vì thế các ngành này có thể đáp ứng được nhu cầu trong nước và mụctiêu xuất khẩu Ngành công nghệ cao bước đầu được hình thành thông qua nhữngbiện pháp xúc tiến trong cấp phép đầu tư, khuôn khổ pháp lý bảo vệ sản xuấttrong nước (Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp ) Thực tế cho thấy,trong quá trình này dường như đã có sự phát triển tương đối cân bằng giữa cácngành công nghiệp
Bảng 1: Tỷ phần (%) các ngành chủ chốt trong GDP công nghiệp
Chế biến thực phẩm 32,6 31,0 31,2Vật liệu xây dùng 7,1 10,2 10,3
Nguồn: Báo cáo công nghiệp (1998) của Bộ Công nghiệp
Thêm vào đó, Chính phủ đã quan tâm tới thúc đẩy sự tăng trưởng đồng đềugiữa các vùng Nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất được xây dựng Chínhphủ ban hành các chính sách khuyến khích phát triển ở những vùng sâu vùng xa.Rất nhiều tỉnh xây dựng các khu chế xuất và khu công nghiệp nhằm thu hót đầu
tư nước ngoài Trong khi nhiều tỉnh thành được hội tụ nhiều ưu đãi kinh tế có thểhấp dẫn được đầu tư trực tiếp nước ngoài thì những vùng hẻo lánh - đặc biệt lànhững vùng đồi núi, hầu như không nhận được nguồn FDI nào
• Mức tăng trưởng và tỷ lệ các cơ sở công nghiệp.
Quá trình cả tổ làm thay đổi bộ mặt cho các cơ sở công nghiệp thuộc
sở hữu Nhà nước và phi sở hữu Nhà nước Luật doanh nghiệp và Luật thươngmại đã mở đường cho phép các doanh nghiệp tư nhân phát triển Năm 1989 các
Trang 14doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 4,3% sản lượng công nghiệp, năm 1991lên tới 7,5% và tới năm 1995 tăng 16,99% Trong khi toàn bộ mức tăng sảnlượng hàng năm cho tới năm 1991 đạt 28,8% riêng khu vực tư nhân và côngnghiệp tăng tương ứng 47,8% và 12,1% Giai đoạn 1991 - 1998, các ngành côngnghiệp ngoài quốc tăng ở mức 9%/năm, trong khi các doanh nghiệp quốc doanhtăng 11,8% Còng trong cùng thời kỳ, khu vực đầu tư nước ngoài tăng22,3%/năm Năm 1998 tỷ trọng đóng góp của khu vực này 31,8% so với năm12,7% năm 1991.
Bảng 2: Đóng góp ngành trong giá trị gia tăng công nghiệp
Các thành phần kinh tế 1991 1998 1999
Khu vực quốc doanh 55,58% 46,18% 43,48%
Khu vực ngoài quốc doanh 31,55% 22,0% 21,77%
Đầu tư nước ngoài 12,7% 31,82% 34,75%
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu Chiến lược công nghiệp Việt Nam nhìn nhận trong tiến trình gia nhập WTO(1999)
IV.3 Hàng xuất khẩu.
Thời kỳ 1990 - 1991, các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu là dệt may, giầydép và dầu thô đạt trị giá 750 triệu USD Cùng với sự gia tăng nền tảng côngnghiệp từ năm 1995, hàng điện tử, máy móc, than đá và các mặt hàng thủ côngcũng được xuất khẩu Năm 1998, tổng xuất khẩu lên tới 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6lần so với năm 1991
Nếu chỉ tính riên hàng xuất khẩu của các khu vực đầu tư nước ngoài thìcho đến nay kim ngạch của những mặt hàng này đã tăng với tốc độ cao nhất, từ
52 triệu USD năm 1991 lên 440 triệu USD năm 1995 và 2 tỷ USD năm 1999.Vào cuối thời kỳ này, xuất khẩu của khu vực này đã chiếm 21% trong doanh thuxuất khẩu
Bảng 3: Hàng hoá chế biến xuất khẩu 1991 - 1998
Đơn vị: Triệu USD
Trang 15Nguồn: Báo cáo công nghiệp của Bộ Công nghiệp
IV.4 Đầu tư giai đoạn 1991 - 1998.
Tổng số vốn đầu tư vào công nghiệp giai đoạn 1991 - 1998 khoảng 52.000
tỷ đồng, chiếm 45% tổng đầu tư trong nước Trong đó 54% thuộc khu vực nhànước, 31% thuộc khu vực đầu tư nước ngoài, 3,5% của các doanh nghiệp nhànước và 11,5% từ các thành phần ngoài quốc doanh Đầu tư được tập trung vàocác ngành sau: Điện lực 71%; xi măng 20%; than đá 3,4%; thép 1,6%; các ngànhcòn lại (bao gồm cả dầu khí) 4%
Các năm 1990 - 1998, các khoản vay ưu đãi thuộc chương trình của Chínhphủ lên tới 32.000 tỷ đồng, trong đó đã sử dụng 25.000 tỷ đồng (78%)
Viện trợ Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có nguồn chủ yếu từ Nhật,Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) Trị giá ODAgiai đoạn 1991 - 1998 xấp xỉ 9 ngàn tỷ đồng, đưa tổng số tiền viện trợ lên tới 41ngàn tỷ đồng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong khu vực công nghiệp tăng mạnh
mẽ trong giai đoạn 1991 - 1995, nhưng sau đó giảm dần Cho tới 10/1998, đã có1.017 dự án trị giá 11,3 tỷ USD đầu tư vào công nghiệp FDI chiếm toàn bộlượng đầu tư trong lĩnh vực dầu khí Tỷ lệ FDI ở các khu vực khác là: sản xuấtthép 70%; théo cuộn 53,8%; xi măng 24%; điện tử 50%; rượu 78%
Kể từ 1991 - 1997, các doanh nghiệp quốc doanh đã đầu tư 49.340 tỷ đồng
từ các quỹ đầu tư của doanh nghiệp; đầu tư cho hé gia đình và tư nhân chiếm11.900 tỷ đồng (tổng đầu tư là 385.729 tỷ đồng ở mức chỉ số giá cả ổn định năm(1995)
Trang 16V Những nguyên nhân tồn tại.
V.1 Công nghệ lạc hậu, quy mô nhỏ và năng suất thấp.
Ở Việt Nam, các đơn vị công nghiệp thường có quy mô nhỏ, trình độ kỹthuật thấp, thiết bị lạc hậu, sản phẩm đơn điệu, chất lượng kém, giá cao, không cósức cạnh tranh Chính phủ đã nỗ lực đưa các hình thức tổng công ty mới theoQuyết định số 90 và 91 trong các khu vực công nghiệp mòi nhọn nhằm mở rộngnăng lực sản xuất Tuy nhiên, khi quyết định được ban hành, các hình thức hoạtđộng mới này tỏ ra kém hiệu quả do công nghệ, vốn, cơ cấu công nghiệp phân tán
và chia cắt Nămg suất thấp, tỷ phần của lao động công nghiệp chỉ gấp 3 lần laođộng thông thường Giá trị gia tăng được coi như một phần cấu thành giá thànhsản phẩm lại thấp (xấp xỉ 20%) Thiết bị hiện đại chưa đến 10%, hệ số doanh thuđầu tư dưới 7%
V.2 Khó khăn về tài chính.
Nói chung, chỉ 40 - 50% nhu cầu tìm vốn đầu tư tìm và có được nguồn.Điều này có nghĩa là không thực hiện đầu tư được như các kế hoạch đề ra Đầu tưdài hạn chỉ tập trung vào một vài ngành, trong khi các ngành còn lại phải tự huyđộng vốn đầu tư nhưng không lo được đủ vốn bổ sung để mở rôngj quy mô vốn
V.3 Thiếu đầu vào trung gian.
Hiện nay, Việt Nam chưa tạo được nhiều đầu vào cần thiết phục vụ chocông nghiệp Kết quả là phải nhập khẩu nhiều sản phẩm sơ chế, hoặc bán thànhphẩm làm đầu vào, nhưng ở đây lại gặp khó khăn về tài chính Hiện tại đang cốgắng xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ, nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăngcường khả năng công nghiệp và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu Phảithừa nhận rằng nguồn nội lùa chưa được khai thác một các hiệu quả
Trang 17V.4 Thiếu chuyên môn quản lý và kinh doanh.
Trong khi Việt Nam có thể có đủ một đội ngò các nhà quản lý và các nhàdoanh nghiệp thì trình độ của nguồn nhân lực lại chưa phù hợp với sự phát triển
và những nhu cầu đa dạng ngày càng cao của nền kinh tế Bản thân chính phủcũng chưa có chương trình nào về vấn đề này hay những chính sách cụ thểkhuyến khích các hoạt động của đội ngò lao động có tay nghề cao Cụ thể là,không có hạ tầng mang ý nghĩa hỗ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ(SMEs) công nghệ sản xuất, tổ chức tiếp thị và tổ chức xuất khẩu
V.5 Các chính sách nhà nước thiếu tính phối hợp.
Nhiều chính sách Chính phủ đưa ra không ăn khớp với nhau và vì thếkhông đáp ứng được các nhu cầu phát triển, dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quảvốn, nhân công và công nghệ
Đây là sự thiếu hụt cơ bản trong phối hợp các cơ quan cấp bộ, ngành và địaphương Trong cả nước mức tuân thủ các chính sách và hướng dẫn của Chínhphủ khác nhau Các đơn vị công nghiệp không có khả năng nâng cấp công nghệ
và do vậy đã đánh mất thị phần Phản ứng ban đầu của họ là quay lại yêu cầuChính phủ duy trì việc bảo hộ chống cạnh tranh nước ngoài
Chương III ĐIỆN LỰC VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ
I TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP NƯỚC TA.
Năm 2001, trong tình hình có nhiều khó khăn hơn dự kiến, nền kinh tế ViệtNam vẫn tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao 6,8%, đứng thứhai thế giớ chỉ sau Trung Quốc Cơ cấu kinh tế theo GDP đang chuyển dịch theochiều hướng tích cực: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp trongGDP Xét về sự đóng góp của các ngành trong việc thực hiện tốc độ tăng trưởng
Trang 18GDO 6,8% thì khu vực công nghệp đóng góp quan trọng chiếm 3,7%, dịch vụđóng góp 2,5%, khu vực nông lâm thuỷ sản đóng góp 0,6% Có thể khẳng định,
sự đóng góp nổi bật của ngành công nghiệp vào tốc độ tăng trưởng và cơ cấukinh tế trong năm đầu tiên của thế kỷ 21
Bảng cơ cấu nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên hạn chế nổi bật của nền kinh tế nước ta nói chung và sản xuấtcông nghiệp nói riêng là chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh của cácsản phẩm, các doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp Mặc dù có bước tiếnquan trọng, song theo đánh giá của Tổ chức diễn đàn thế giới WEF, xếp hạng vềnăng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn còn hạn chế và thấp kém: Năm 2000 là53/59 nước và năm 2001 là 62/75 nước, theo cách đánh giá mới nhất của tổ chứcnày
Tình trạng phổ biến là sản phẩm làm ra có chất lượng thấp, giá thành cao,khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn Trang thiết bị công nghệ của nhiều doanhnghiệp còn yếu kém, lạc hậu so với thế giới từ 10 - 30 năm, thiếu vốn, nợ nần kéodài