Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam Góp phần nghiên cứu hình thái thành phần acid amin con quy ở việt nam
Trang 1B ộ Y TÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
HENG SENG HONG
ACID AMIN CON QUY ở VIỆT NAM
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHÓA 2002 - 2007)
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước hết em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TSKH TRẦN v ă n t h a n h người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện hoàn thành khóa luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới quý Thầy, Cô giáo Bộ môn Dược Liệu đã động viên giúp đỡ cho em hoàn thành khóa luận
Em cũng gửi lời cảm cfn sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu, các quý Thầy
Cô ở các bộ môn, thư viện và phòng ban trong trường Đại học Dược Hà Nội.
Hà nội, ngày 15 tháng 05 năm 2007
Heng Seng Hong
Trang 3MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẦN I- TỔNG QUAN 2
1.1 Sơ lược về động vật làm thuốc 2
1.2 Côn trùng làm thuốc 4
1.3 Con Quy 6
1.3.1 Vị trí phân loại của con Quy 6
1.3.2 Các động vật cùng họ vói con Quy 8
1.3.3 Đặc điểm hình thái, sinh sống của con Quy 15
1.3.4 Bộ phận dùng 16
1.3.5 Thành phần hoá học 16
1.3.6 Những ứng dụng trong y học của con Quy 17
PHẦN II:THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 19
2.1 Nghiên liệu và phương pháp nguyên cứu 19
2.1.1 Nguyên liệu nguyên cứu 19
2.1.2 Phương tiện nguyên cứu 19
2.1.2.1 Các bình thủy tinh và bỏng ngô làm thức ăn nuôi con Quy 19
2.1.2.2 Hóa chất - Thuốc thử 19
2.1.2.3 Các máy móc và thiết bị dùng trong nghiền cứu 19
Trang 42.1.3.1 Nghiên cứu về hình thái con quy 19
2.1.3.2 Nguyên cứu thành phần acid amin 20
2.2 Kết quả và thực nghiệm 20
2.2.1 Đặc điểm hình thái và quá trình sinh sống của con Quy 20
2.2.1.1 Đặc điểm hình thái 20
2.2.1.2 Quá trình sinh trưởng, phát triển của con Quy 21
2.2.1.3 Thu hoạch sản phẩm 24
2.2.2 Định túih và định lượng các acid amin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao 24
2.2.2.I Tiến hành 24
2 2 2 2 Tính kết quả 25
2.2.23 Kết quả 26
PHẦN n i: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 34
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- HPLC; sắc ký lỏng hiệu năng cao
- TDTT: Thể dục thể thao
- TT: Trung tâm
Trang 6ĐẶT VÂN ĐỂ
Ngày nay, khi nền khoa học kỹ thuật đang phát triển thì ngành công nghiệp dược phẩm cũng ngày càng phát trển mạnh mẽ Con ngưòi chú trọng đến việc tìm hiểu và nghiên cứu để đưa ra những dược phẩm có nguồn gốc gần với thiên nhiên nhất để phục vụ ngày càng tốt hơn công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ con người Do đó, dược liệu đang và sẽ là ngành có tầm quan trọng
to lớn đối với ngành công nghiệp dược phẩm nói riêng và ngành y học nói chung
Chúng ta đã biết, dược liệu làm thuốc có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật, động vật và một số khoáng vật Nguồn dược liệu từ động vật có thành phần hóa học, là những chất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển rất gần với con ngưòi, do đó những dược liệu từ động vật được chuyển hoá dễ dàng hơn và sẽ được cơ thể hấp thu một cách tốt nhất Vì vậy, những nghiên cứudược liệu có nguồn gốc từ động vật chiếm một vai trò rất quan trọng, ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu thuốc nguồn gốc động vật còn ít
Nhộng và chất thải của con Quy là một dược liệu đã được sử dụng rất nhiều trong dân gian với tác dụng bổ, tăng cường sức khoẻ, chữa cam tích cho
trẻ em và hiện nay được sử dụng ở một số địa phương ở miền bắc Để góp ý nhỏ bé của mình vào lĩnh vực này tôi tiến hành đề tài: “Góp phần nghiên cứu
hình thái, thành phần Acid amin con Quỵ ở Việt Nam” Với mục tiêu và nội
dung sau đây:
Nghiên cứu hình thái, quá trình sinh trưỏỉng, phát triển và thành phần acid amin trong chất thải, con nhộng và con Quy trưởng thành Hy vọng có những đóng góp cho thực tế và cũng nhân dịp này làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, để khi ra nghề có những cống hiến tốt hơn cho xã hội
Trang 7PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược về động vật làm thuốc
Trên thế giới, động vật làm thuốc chiếm một phần đáng kể ở Việt Nam, gồm có 408 loài, thuộc 22 lớp và 6 ngành động vật làm thuốc [7] trong
đó động vật không có xương sống có 94 loài, 17 lớp và 5 ngành, động vật có xương sống có 314 loài thuộc 5 lớp động vật làm thuốc, trong đó hổ, tê giác, gấu ngựa, nai, là các động vật quý, hiếm
❖ Một số động vật làm thuốc ở Việt Nam và Campuchia
HỔ
Tên khoa học: Panthera tigris L họ Felidae
Hổ là động vật quý hiếm nó cho ta da hổ, thịt hổ, xương hổ Trong y học, xương hổ là vị dược liệu rất quý được nhân dân dùng chữa bệnh đau xương, tê thấp, đau nhức cơ thể, còn dùng làm thuốc cảm gió, điên cuồng, dùng làm thuốc bổ Nhân dân Campuchia dùng để làm thuốc bổ, đau xương v.v [4], [11]
TÊ GIÁC
Tên khoa học: Rhinoceos sondaicus họ Rhinocerotidae
Tê giác là một động vật cực kì quý hiếm được ứng dụng trong y học cổtruyền:
Theo y học cổ truyền sừng tế giác có vị đắng, chua, mặn, tính hàn, không độc, quy vào 4 kinh tâm, can, vị, thận Là vị thuốc nhóm thanh nhiệt lương huyết, có những tác dụng sau:
Trang 8-Thanh nhiệt lương huyết: dùng cho bệnh nhân sốt cao mê sảng, phát cuồng, co giật, đau đầu dữ dội Dùng riêng hay phối hợp với hoàng liên, liên kiều, sinh địa, huyền sâm.
- Chỉ huyết: sử dụng khi bệnh nhân bị thổ huyết, nục huyết, phát ban, xuất huyết dưói da
- Thanh nhiệt giải độc: tác dụng rất tốt trong những trường hợp bị rắncắn
- Có tác dụng tráng thận thuỷ, thanh tâm hoả, tác dụng tốt vód những trường hợp bồn chồn mất ngủ, giáp tâm thần thanh thản Ngoài ra, sừng tê giác còn được sử dụng tốt trong những trường hợp liệt dương, vô sinh
Dạng dùng, thông thường là mài sừng tê giác vào nước nóng đến khi dung dịch có màu trắng như sữa để uống hoặc chẻ nhỏ và chặt vụn rồi nghiền thành bột mịn, rây lấy bột mịn để dùng [8]
Người ta còn sử dụng sừng tê giác để ngâm rượu uống bồi bổ sức khoẻ
- Mỡ tê giác làm thuốc xức bỏng, nẻ chân
- Dạ dày tê giác có tác dụng tốt trong điều trị bệnh đau dạ dày [7]
Nhân dân Campuchia lấy sừng tê giác làm thuốc: Chỉ huyết, thanh nhiệt lương huyết v.v [11]
GÂU NGỰA
Tên khoa học: Ursus thibetanus G.Cuvier
Trang 9Trong y học mật gấu được ứng dụng:
Theo y học cổ truyền, mật gấu có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trấn
kinh, làm sáng mắt và sát trùng, dùng để chữa hoàng đản, đi ngoài, trẻ con
kinh giật, mắt có màng, đau họng, nhọt độc, đặc biệt mật gấu để chữa đau
mắt, chữa nhức xưcmg, sưng, chấn thương bầm giập Mật gấu còn để chữa sỏi
mật
Dùng ngoài, mật gấu có tác dụng làm tan các vết xung huyết, tím bầm,
nhỏ mắt chữ đau mắt đỏ, xoa bóp chữa những chỗ sưng đau v.v
Thuốc xoa bóp: Mật gấu Ig hoà tan trong lOOml rượu 35° -45° dùng
xoa bóp chỗ sưng đau
- Tác dụng của mật gấu theo y học hiện đại:
Y học hiện đại chứng minh acid ursodeoxycholic có tác dụng chữa được
xơ gan và có tác dụng ngăn chặn sự hình thành sỏi mật và làm tan sỏi mật khi
còn nhỏ [7]
Nhân dân Campuchia lấy mật gấu làm thuốc như; Dùng xoa bóp, làm
sáng mắt, chữa nhức xương v.v [ 11 ]
NAI
Tên khoa họciCervus unicolor họ Cervidae
Nhung nai được dùng làm thuốc bổ dưỡng dùng cho ngưòi già yếu, suy
nhược cơ thể, làm việc quá sức, mới ốm dậy, huyết áp hạ nhân dân
Campuchia lấy nai làm thuốc bổ dưỡng v.v [4], [11]
1.2 Côn trùng làm thuốc
Côn trùng, hay sâu bọ là những động vật không xương sống thuộc lófp
Insecta (lớp Côn trùng), là lớp lớn nhất trên trái đất và cũng là lófp phân bố
rộng rãi nhất trong số các đại diện của ngành chân khớp (Arthropoda) Côn
Trang 10trùng là nhóm đa dạng nhất trên trái đất với hơn 900.000 loài, mặc dù chỉ có
một số lượng nhỏ các loài có thể thích nghi được với đời sống ở đại dương, nơi
mà giáp xác là nhóm chiếm ưu thế Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng, ở Việt Nam khoảng 40 loài [7], [15] Các loài đại diện:
KIẾN ĐEN
Tên khoa học: Formica fussca Linnaeus
Trong y hoc cổ truyền, người ta dùng kiến với tên thuốc là hắc mã nghị, được dùng sống Dược liệu có vị mặn, cay, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thống, giảm đau Hàng ngày, lấy kiến đen rửa sạch, xào với mướp đắng ăn, dùng xoa bóp chữa viêm khớp, viêm gan mạn tính Dùng ngoài, giã nát kiến đen đắp chữa mụn nhọt, rắn cắn
Trứng kiến đen, thường được đồng bào các dân tộc miền núi ở phía Bắc
thu về để thổi xôi ăn hàng ngày làm thuốc bổ, tăng cường thể lực Phụ nữ cho rằng ăn nhiều trứng kiến sẽ có làn da đẹp, mịn màng, tươi tắn ở Campuchia lấy trứng kiến đen làm thuốc bổ, tăng cưcmg sức khỏe v.v [11], [12]
ONG MẬT
Tên khoa học: Apis melliíìca Apidae
Ong mật sản xuất cho con người nhiều loại thuốc quý như: Mật ong, sữa ong chúa, sáp ong, keo ong và phấn hoa làm thuốc bổ dưỡng, thuốc kháng khuẩn, chữa bệnh đường tiêu hoá, thuốc chữa đường hồ hấp, thuốc chữa bệnh
hệ tim mạnh, thuốc chữa bệnh hệ sinh dục, thuốc chữa bệnh tiết niệu v.v
+ ứng dụng trong các ngành khác: trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo, công nghiệp sản xuất rượu và bia, sản xuất giấm, mỹ phẩm y học ở
Trang 11Campuchia người ta lấy mật ong để làm thuốc bổ dưỡng, chữa bệnh tim mạnh, chữa bệnh đau dạ dày, chữa ho v.v [3], [11].
BẠCH CƯƠNG TÀM
Tên khoa học: Bombyx mori Bombycidae
Bạch cương tàm có tác dụng trừ phong, thanh nhiệt, tiêu đờm, làm tan ứ kết, trị kinh giảm Theo một số tác giả, chất protid của bạch cương tàm có tác dụng kích thích hormon của vỏ thượng thận [5]
Dùng chữa các chứng bệnh: Trúng phong, cảm mất tiếng, trẻ em co giật, khóc đêm không dứt, tắc đờm, đau họng, viêm thanh quản, ho hen, lao hạch [7]
Trang 12Blaps polychresta
Celibe spp
Cestrinus punctatissimus Chalcopteroides brevipes Cyphaleus mastersi
Ecnolagria grandis
Gnatocems comutus
Gonocephalum carpentariae Gonocephalum elderi
Gonocephalum macleayi Gonocephalum misellum Gonocephalum walkeri Helea waitei
Isopteron punctatissimus Lagria grandis
Trang 13Tenebro obscurus Tribolium castaneum Tribolium confusum Tribolium destructor [14].
1.3.2 Các động vật cùng họ với con Quy:
Trứng: Gần giống hình tròn, màu nâu, dài 0,1 - 0,2 mm
Ắi trùng: Thân dài 4 - 6 mm, hình ống tròn, màu vàng sữa, đầu màu vàng nâu
Ấn trùng biến đổi: Thân dài 2 - 3 mm, rộng 1 - 1 ,5 mm, hình bầu dục,
thon về phía đầu, phình to ra ở phía đuôi, màu vàng nâu nhạt.
- Đặc tính sinh học:
Sau khi giao phối 2 - 3 ngày, mọt cái bắt đầu đẻ trứng, mỗi lần đẻ được
1 - 3 trứng Thời gian trứng 4 - 7 ngày Thời gian ấu trùng 24 - 36 ngày Thời gian ấu trùng biến đổi 7 - 10 ngày
Mọt hoạt động nhanh nhẹn, thích sống và ăn trong lương thực có thủy phần cao, bảo quản lâu ngày và có nhiều hạt bị gãy nát [13]
Trang 14Con đực, răng hàm phía mặt lưng rất to, dài hơn đầu, đoạn ngọn cuối cong lên phía trên Chân môi lồi ra thành vật lồi 2 bên đầu nhô ra bằng phẳng, cong lên phía trên.
Ngực trước rộng hơn đầu, phía trước ít nhất rộng bằng cánh cứng, chiều
rộng lớn hcfn chiều dài, hai cánh bên chỗ rộng nhất ở phía trước của phần giữa,
phía trước của góc sau nhọn, hcã uốn cong, trước hcã lồi ra, mép sau thẳng, có đường viền nhỏ, phiến thuẫn nhỏ tròn hình tam giác Cánh cứng cạnh song song dài gấp 2 lần chiều rộng của 2 cánh, hàng chấm lõm đều đặn và nhỏ,
phía trước đoạn ngọn có một vật lồi Hàng chấm lõm của ngấn cánh cứng ờ
trước vật lồi
Trứng: Dài 0,4 - 0,6 mm, hình bầu dục, màu trắng sữa
Ấu trùng: Rất nhỏ và dài, khi đẫy sức dài 8 - 9 mm, hình ống tròn, lưng lồi, màu trắng sữa, bụng hơi nhạt Đầu màu nâu, đoạn ngọn hình tròn màu đen, móng màu đen Đầu gần giống hình vuông lồi, mặt lưng của cạnh bên có
6 sçfi lông to Râu đầu màu vàng nhạt, có 3 đốt Đốt thứ 3 dài bằng 2 - 3 lần
độ lớn của đốt Q iâa trước dài hơn chân giữa và chân sau Mỗi đốt bụng có 6 sợi lông to, đốt cuối cùng có dạng hình thuẫn Đoạn sau ở mặt lưng có 4 sợi lông to, 2 cạnh bên đều có 6 sợi lông to
Ấa trùng biến đổi: Thân dài 6 - 7 mm, rộng 2,5 - 3 mm, hình bầu dục,
toàn thân màu vàng nâu, đầu màu nâu đen
Trang 15- Đặc điểm sinh vật học
Mọt đẻ trứng rải rác, phân tán trong thức ăn của sâu non Một con cái trong đời trung bình đẻ 100 trứng, ở 24,4°c thời gian trứng nở là 10 ngày Nhiệt độ thích họfp nhất để mọt phát dục là 27°c, mỗi năm trung bình mọt sinh
2 lứa, gặp điều kiện thích hợp có thể sinh tới 4 lứa một năm
Để thực hiện vòng đời, tùy theo điều kiện ngoại cảnh mà cần từ 77 -
150 ngày, ở 13 - 17°c con cái sống được 1 năm [13]
Ấu trùng biến đổi: Dài 2,0 - 2,5 mm, rộng 1 mm, màu vàng nâu, đầu màu nâu đen, hình bầu dục dài
Trang 16- Đặc tính sinh vật học
Mỗi năm sinh 4 - 5 lứa, trung bình thường 3 lứa Mọt sống thích hợp ở nhiệt độ 23 - 25°c, độ ẩm 85% Thời gian trứng 4-6 ngày, thời gian ấu trùng ngắn nhất 25 ngày Tùy theo điều kiện thích hợp hay không mà mọt thực hiện
vòng đời trong thời gian 40 - 68 ngày Mọt thích sống ờ nơi ẩm tối hay ẩn nấp
ở gầm kho, khe bao bì [ 13]
có 5 đốt, đốt 1 dài nhất, đốt 2 và đốt cùng tương đối ngắn, đốt 3 và đốt 4 ngắn nhất
Trứng: Dài 0,3 mm, rộng 0,15 mm, hình bầu dục, màu trắng sữa
Âu trùng: Khi đã lớn dài 5 mm Đầu màu vàng nâu, ngắn và dẹt Miệng màu đen nâu Râu có 3 đốt, đốt 2 lớn nhất, đốt cuối cùng nhỏ nhất Toàn thân
có 12 đốt màu vàng trắng nhạt, có rải rác những lông nhỏ màu xám trắng Đốt ngực 1 có độ rộng lớn hơn độ dài Đốt bụng cuối cùng phía lưng có từ 3 - 5 u thịt nhỏ lồi lên và có một đôi hình gai nhỏ màu đen nâu, ở phía bụng có một đôi chân giả
Ấu trùng biến đổi: Dài 2,5 - 3 mm, rộng 1,5 - 2,0 mm, màu vàng nâu sẫm, đầu màu đen, trên thân có lác đác những lông nhỏ màu vàng sáng
Trang 17con cái để được 170 trứng, ở 24®c độ ẩm 60% thời kỳ trứng mất khoảng 7
-10 ngày trung bình 8 ngày, ở 27®c là 4 - 6 ngày trung bình là 5 ngày, ở 30°c,
Chấm lõm trên mặt ngực trước dày, chấm lõm trên cánh cứng dày hàng chấm lõm không có chấm lõm to và dẹt
Trứng: Dài 0,6 - 0,8 mm, hình bầu dục ngắn, hơi tròn, màu vàng sữa, không nhẵn bóng, có các chấm lõm
Ấa trùng: Thân dài 28 - 32 mm, mảnh lưng màu vàng Đốt râu thứ 2 dài
gấp 3 lần chiều rộng Hai cánh môi trong chỗ đường viền môi bên có 6 sợi lông cứng Đốt thứ 9 rộng hơn chiều dài của móc đuôi với mặt lưng hình thành một góc vuông
Trang 18Ấu trùng biến đổi; Thân dài 13 - 15 mm, hình bầu dục dài, toàn thân
màu vàng nâu nhạt, đầu màu nâu đen
- Đặc tính sinh vật học
Mỗi năm sinh 1 lứa, có một số có thể đạt được 2 lứa trong 1 năm Thời gian trứng khoảng 14 - 15 ngày Thời gian đẻ trứng kéo dài 22 - 137 ngày Mọt cái trung bình trong đời đẻ được 276 trứng, sâu non lột xác 14 - 15 lần Thời gian ấu trùng biến đổi ở nhiệt độ 18°c là 18 ngày còn ở 27®c là 6 ngày
Ấi trùng có khả năng chịu lạnh tốt, ở 5®c nó có thể sống tói 80 ngày, khả năng chịu nhiệt độ cao của ấu trùng rất kém, ở 51°c, nó chỉ sống được trong vòng 1 giờ [13]
có nhiều điểm nhỏ Trên cánh cứng có 10 đường rãnh lõm chạy dọc và trong đường rãnh lõm có nhiều điểm nhỏ xếp thành hàng
Trứng: Dài 0,6 mm, rộng 0,4 mm, hình bầu dục, màu trắng sữa vỏ
trứng thô và ráp
Ẩi trùng: Khi đẫy sức dài 5 - 7 mm, hình ống nhỏ và dài Đầu màu nâu, thân màu vàng nâu nhạt Toàn thân có 12 đốt (3 đốt ngực 9 đốt bụng), đốt bụng cuối cùng có 2 gai lồi màu đen nâu, trên thân có lác đác những lông nhỏ
Trang 19màu vàng nâu ở các đốt thì nửa đốt về trước màu nâu nhạt, nửa đốt về sau và đường phân chia đốt màu vàng trắng nhạt Có 2 mắt đơn màu đen, râu có 4 đốt (đốt 1 và 2 ngắn, đốt 3 dài nhất, đốt 4 nhỏ nhất).
Ấu trùng biến đổi: Dài 4 mm, rộng 1,3 mm, màu vàng trắng nhạt
- Đặc tính sinh vật học
Mỗi năm sinh 4 - 5 lứa, thời kỳ trứng 3 - 9 ngày, ấu trùng 25 - 80 ngày, thời kỳ nhộng từ 4 - 14 ngày, hoàn thành một vòng đời mất từ 3 2 -1 0 3 ngày Sức sống của mọt khoảng từ 104 - 374 ngày, con đực có thể sống tới 3 năm
Con cái một lần đẻ từ 2 - 3 trứng, nhiều nhất có thể tới 18 trứng, một đòi con cái trung bình đẻ được 327 trứng, nhiều nhất có thể đẻ tới 1000 trứng (tỉ lệ trứng nở được khoảng 90%)
Nhiệt độ phát dục thích hợp nhất vào khoảng 28 - 30°c khi đó nó hoàn thành vòng đời chỉ mất 27 - 35 ngày, dưói 18°c không thích hợp với sự phát
dục và trên 40°c đã ngừng phát dục, ở 25°c thời kỳ trứng mất khoảng 6 - 7 ngày, ấu trùng mất 66 ngày, còn ở 30°c thời kỳ trứng chỉ mất 3 - 5 ngày, và
ấu trùng mất 22 - 27 ngày
ở nhiệt độ 42°c, tất cả các giai đoạn phát triển của mọt đều chết sau
114 giờ, ò 52°c chết sau 3 giờ, ở nhiệt độ này mọt chết sau 15 phút, trứng chết
sau 30 phút, ấu trùng chết sau 45 phút, còn ấu trùng biến đổi chết sau 3 giờ
Trong điều kiện ở Việt Nam, trung bình mỗi năm mọt sinh 7 - 8 lứa, về mùa hè mọt hoàn thành vòng đời trung bình mất 28 - 30 ngày, còn mùa đông mất 35 - 40 ngày, có khi mất tới 48 ngày [13], (xem Phục lục)
Trang 20Con quy là một loài côn trùng nhỏ, dài khoảng 2-3 mm, có cánh cứng, khi còn non cánh màu nâu cánh gián, khi già có màu nâu sẫm Đầu nhỏ, có đôi râu chẽ ngang Ba đôi chân mảnh, có lông gai sắc.
Con quy chính là một loại mọt ngô, sống ở những kho lương thực Nó
ăn chất bột và sinh sản rất nhanh, đẻ trứng, trứng nở ra ấu trùng, màu trắng có khoảng 10-11 đốt, rồi thành con quy trưởng thành Thời gian biến đổi thường 30-35 ngày, nhiệt độ tối ưu cho Quy phát triển là 28-32°C, trong môi trường
ẩm, kín [1], [7], [16] Sơ đồ chu kỳ sống của con Quy như sau:
Chu kỳ sống của con Quy
Theo 1 số tác giả đã công bố [6] chu kỳ sinh sống của con Quy được thể
hiện trong bảng sau được tiến hành nuôi ở hai nhiệt độ khác nhau.
Trang 21Từ ấu trùng non đến khi ấu trùng biến đổi (ngày)
Từ ấu trùng biến đổi đến khi xuất hiện Quy trưởng thành (ngày)
Con Quy được nuôi trong bình thuỷ tinh, cho ăn bỏng ngô hay bỏng
gạo sau đó chất thải (Hoàng quy) được thu hoạch để làm thuốc
Hiện nay, nhiều vùng ở miền Bắc Việt Nam vẫn nuôi con Quy lấy
hoàng Quy làm thuốc như: Bắc ninh, Quảng Ninh, Thái Nguyên v.v
1.3.4 Bộ phận dùng
Bộ phận dùng là chất thải con Quy hay còn gọi là “Hoàng Quy” Cách lấy
hoàng quy ta đổ từ lọ nuôi Quy ra một cái rây nhỏ, rây để lấy hoàng Quy Phần
trên rây bao gồm con Quy, ấu trùng Quy và bỏng ngô, bỏng gạo đổ vào lọ nuôi
tiếp Rây lại hoàng Quy bằng rây có mắt rây nhỏ hơn để loại bỏ tạp như vụn
Trang 22• Theo Đỗ Tất Lọi [5], Bùi Thị Aí Nhung [6] trong chất thải có các acid amin như arginin, histidin, isoleucin, leucin, lysin, methionin,
phenylalanine, threonin, valin
> Người ta đã dùng các phản ứng sau đây để định tính các acid amin:
■ Phản ứng Biuret xác định acid amin
■ Phản ứng Ninhydrin xác định nhóm a - amin
■ Phản ứng Xanthoprotein xác định acid amin vòng
■ Phản ứng Millon xác định Tyrosin
■ Phản ứng Adamkiewich xác định Tryptophan
■ Phản ứng Diazo xác định histidin và tyrosine
■ Phản ứng Fohl xác định acid amin chứa lưu huỳnh
■ Phương pháp sắc ký lớp mỏng, điện di (bằng máy sắc ký điện di mao
quản), để xác định nhiều acid amin
> phưoỉng pháp định lượng acid amin: Định lượng acid amin bằng
nhiều phương pháp:
■ Phương pháp trao đổi ion
■ Phương pháp sắc ký acid amin trên giấy
■ Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) v.v [2]
1.3.6 Những ứng dụng trong y học của con Quy
Theo Đỗ Tất Lọi [5] chất thải (Hoàng Quy) có vị nhạt, tính ấm, có tác
dụng bổ dưỡng, kích thích tiêu hoá
Công dụng chữa bệnh của hoàng Quy hiện nay chỉ dựa theo kinh
nghiệm dân gian
Đó là một vị thuốc bổ cho trẻ em, chữa chứng cam tích như ăn không
tiêu, gầy yếu, xanh xao, nôn trớ, đau mắt nhiều dử Có thể dùng riêng hay
phối hợp với một số vị thuốc khác
iVHƯ-VỊẸN