xã hội nước ta là một việc làm không thể bỏ qua.Cuốn sách “Triết lý chính tri Trung Hoa cổ đai và vấn đề nhà nước pháp quyên" của tác giả B ùi Ngọc Sơn, cán bộ giảng dạy của Khoa Luậ
Trang 1BÙI NGỌC SƠN
TRIẾT IÝ GHÍNH TRỊ
Trang t|03
C ô’ ® ạ í
(SUY NGẪM, THAM CHIẾU VÀ GỢI MỞ)
OAI HỌ C ouoc G IA HA NỌt
ĩ RUNG TÁM THÒNG TIN THƯ VIỀN
NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP
Trang 2Mã số: TPA - 04 - 01
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quyết tâm chính tr ị được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành nguyên tắc hiến định Tổ chức đời sống xã hội, đời sống nhà nước theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta trên con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
sự nghiệp to lớn, đòi hỏi sự quan tâm, góp sức của cả hệ thống chính trị, mỗi cơ quan, tổ chức và cán bộ, nhân dân Dựa trên nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí M inh về nhà nước và pháp luật, xuất phát
từ thực tiễn Việt Nam để tìm tòi, khám phá những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ đó tổ chức thực hiện trên thực tê là một trong những yêu cầu cấp thiết.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu văn hóa phương Đông cùng tác động lâu bền của nó đối với mọi mặt đời sống
Trang 4xã hội nước ta là một việc làm không thể bỏ qua.
Cuốn sách “Triết lý chính tri Trung Hoa cổ đai và
vấn đề nhà nước pháp quyên" của tác giả B ùi Ngọc Sơn, cán bộ giảng dạy của Khoa Luật, Đ ại học quốc gia Hà Nội,
có thể nói là ấn phẩm đầu tiên ờ nước ta đề cập đến vấn để này Trên cơ sở phân tích, so sánh các tư liệu về các chủ thuyết chính tr ị Trung Hoa cổ đại, tác giả đã có những suy ngẫm, tham chiếu và gợi mở về một vấn để bức xúc đang được quan tâm đó là hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
X in trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc, trước hết là cán
bộ nghiên cứu, sinh viên lu ậ t luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tháng 6 năm 2004
Nhà xuất bản Tư pháp
Trang 5LỜI TÁC GIẢ
Khai sinh và tiến triển trong khung cảnh của xã hội phương Tây, nhưng học thuyết nhà nước pháp quyền đã có tầm ảnh hưởng phổ biến trên toàn thế giới Hoà mình vào khuynh hướng chung của quá trình chính tr ị hiện đại, Việt Nam củng đã cam kết thực th i một Nhà nước pháp quyền trong Hiến pháp Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một chủ trương lớn để phát triển đất nước, nhằm hướng đến các chuẩn mực: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tuy nhiên, Nhà nước pháp quyền củng chỉ là một trong
số các chủ thuyết chính trị Nhà nước pháp quyền không phải là một học thuyết rộng đến mức có thể sử dụng đê g iả i quyết mọi vấn đề về nhà nước pháp quyền Điều đó có nghĩa
là bên cạnh học thuyết nhà nước pháp quyền còn có những học thuyết khác có ý nghĩa tổ chức nhà nước và xây dựng pháp luật đề cập đến các vấn đề hoặc giông với học thuyết nhà nước pháp quyền hoặc những vấn đề mà học thuyết nhà nước pháp quyền không bàn đến.
Là một người phương Đông, tôi vốn có sẵn tinh thần
Trang 6“tín nhi hiếu co' Hơn nữa, là một người Việt Nam, tôi không xa lạ với lối nghĩ: “Ta uề ta tắm ao ta” Với tinh thần
và lối nghĩ như vậy, tôi tim đến các chủ thuyết chính tr ị của phương 'Đông mà tôi cho rằng có thể sử dụng được ít nhiều cùng với học thuyết nhà nước pháp quyền để tổ chức quyền lực công và xây dựng pháp lu ậ t ở Việt Nam, để cùng với học thuyết nhà nước pháp quyền xây dựng một nhà nước pháp quyền phủ hợp với khung cảnh của xã hội người Việt.
Ân phẩm “Triết lý chính trị Trung Hoa cô đai và vấn đ ề nhà nước pháp quyền - suy ngẩm, tham chiếu
và gợi mở' được hình thành trong một tư duy như vậy Viết
ấn phẩm này, tôi có vài điều muốn thưa trước.
H ai hệ thống triế t học lớn của phương Đông là Ấn Độ và Trung Hoa Triết học Ân Độ là một thứ triế t học nhân sinh,, nên ít bàn về chính trị Trong khi đó triết học Trung Hoa cô đại là một thứ triế t học chính trị Do những hoàn cảnh n h ấ t định mà người Trung Hoa cổ đại đặc biệt quan tăm đến vấn đề chính trị, và có một sự phát triển nở rộ của các triế t thuyết chính trị Hơn nữa, triế t lý chính tr ị ở Trung Hoa cô'> đại có ảnh hưởng lớn đến đời sông chính tr ị của nhiều quốc՝ gia ờ phương Đông như Trung Hoa, Việt Nam, N hật Bản, Triều Tiên, đặc biệt là sự ảnh hưởng của triế t lý nho giáo»
và triế t lý pháp gia Vì những lý do đó, bàn về triế t lý chính
tr ị của phương Đông, tôi chỉ tập trung vào các chủ thuyết chính trị Trung Hoa cổ đại.
Mặc dù sớm có sự quan tâm đến cổ học Trung Hoa,
Trang 7nhưng tôi không phải là một người được đào tạo bài bản và chuyên sâu về lĩnh vực này Chuyên môn của tôi là luật học Những gì tôi biết và hiểu được về Đông phương học chỉ do sở thích cá nhân, là sản phẩm của sự tìm hiểu mang tính tự phát Nhưng, những chữ nghĩa vụn vặt về cổ triết phương Đông gặp gỡ với cái học luật học trong tôi làm tôi muốn gắn kết cổ triết phương Đông với luật học mà sản phẩm là ấn phẩm nhỏ bé này Xin thưa trước như vậy với quý vị độc giả
để thú thực rằng vốn cổ học của tôi còn ít ỏi và nông cạn Kính mong được quý vị sửa sai vá chỉ bảo thêm.
Cuối cùng, nhăn dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học luật học là những bậc thầy của tôi đã đào luyện chuyên môn cho tôi và khuyến khích tôi tìm hiểu cổ học phương Đông Tôi củng xin cảm ơn các anh em đồng nghiệp có những góp ý chân thành khi tôi viết ấn phẩm này Tôi củng vô cùng cảm động và biết ơn đối với gia đình
và những người thăn đã động viên tôi trong quá trinh làm việc Và tôi củng đặc biệt cảm Ơ 1 Ĩ Nhà xuất bản Tư pháp đã
tạo điều kiện về nhiều mặt đ ể ấn phẩm này được đến VỚI
bạn đọc.
Trang 9Chinh trị - viêc lân của Eho ngubt'
Chương 1
CHÍNH TRỊ - VIỆC LỚN CỦA ĐẠO NGƯỜI• • •
I Cơ s ở CỦA XU HƯỚNGhNHÂN đ ạ o• c h ín h VI ĐẠI”■Ngựa trắng có phải là ngựa không? Công Tôn Long, một danh gia sông cuối thời Chiến Quôc của Trung Hoa cổ đại
ra sức chứng minh ngựa trắng không phải là ngựa (bạch mã phi mã) Nhưng sự mô xẻ các khái niệm về mặt hình thức của các danh gia như vậy cũng là muôn “chính danh thực, sửa thiên hạ” Sự bàn luận phù phiếm về mặt từ ngữ của danh gia cũng muôn hướng tới giải quyết các vấn đê chính trị Kinh Dịch ban đầu là một sách bói Nhưng ẩn đằng sau
Âm Dương, Ngũ hành là đạo của người quân tử - đạo của nhà cầm quyền Tinh thần phổ quát của các học thuyết triế t học Trung Hoa cổ đại là “Nhân đạo chính vi đại”(1) (Chính tr ị
là việc lớn trong đạo người) Các học thuyết triế t học đều có
xu hưóng giải quyết các vấn đề chính trị
K in h Lễ Nguyễn Tôn N han dịch NXB Văn học, H, 1999, tr.223.
Trang 10Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân dề nhà nuÉt pháp guyén
ơ Pháp chỉ có thê kỷ X V III là hầu hết các văn sỹ đều bàn
về chính trị Còn ở Trung Hoa thì từ thời Chiến Quốc cho tới sau cách mạng Tân Hợi, nghĩa là khoảng gần 2500 năm, hầu hết các văn nhân, thi sỹ đều bàn vê chính trị Người ta có cảm tưởng rằng không có dân tộc nào cho chính trị là quan trọng bằng dân tộc Trung Hoa, rằng đôi với họ, việc tr ị dân, trị nưốc phải là sứ mệnh của kẻ sỹ, mà nếu không gặp thời, bất đắc dĩ phải “độc thiện” thì kẻ sỹ ít nhất cũng phải truyền cái đạo của tiên vương, tiên thánh cho đoàn hậu sinh Tiến vi quan thoái
vi sư Cả một thòi Xuân Thu - Chiến Quôc, luôn mấy trăm năm người ta chỉ bàn về chính trị Khổng Tử mở đầu phong trào, tiếp theo là Mặc Tử, Lão Tử, Thương Ưởng, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử Từ thời nhà Hán trở đi, nhà văn nào có tên trong văn học sủ cũng có tên trong chính
tr ị triế t học sử: Giả Nghi, Đổng Trọng Thư (Hán), Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên (Đường), Vương An Thạch, Tô Đông Pha (Tống), Lưu Cơ, Vương Thủ Nhân (Minh), Vương Thuyền Sơn, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Thanh) <2)
Vấn đề chính trị chiếm một vị trí quan trọng trong triế t học Trung Hoa cô đại Điều này có những cơ sở khách quan của nó
Trong thời cổ đại, Trung Hoa là một khối biệt lập Ba phía Bắc, Tây, Nam là núi cao, đồng cỏ và sa mạc, p h ía
m G iả n Chi, Nguyễn H iế n Lê Đ ạ i cương triế t học T ru n g Q u ờ c ,
quyển 2 N X B T hà nh phô Hồ C hí M in h , 1992, tr.434.
Trang 11C-Hnh trị - \iệe lớn của Đạo ngití
Đ>ông nhìn ra Thái Bình Dương mênh mông Trung Hoa thiời cô đại gần như quay lưng lại với các nền văn minh ở Từung Á, Tây Á, sổng riêng biệt Tuy có bò biển dài nhưng
ỏ miên Bắc bờ biển thấp, lầy, lại thiếu đảo ở gần, nên người T.'rung Hoa thời cổ không muôn mạo hiểm ra khơi; còn ở miiền Nam bờ biển lại không bằng phẳng, khí hậu xấu, giiông tô՜ nhiều Nhìn chung, núi và biển gần như chắn ảnh luưởng của các nền văn minh Tây A, không cho ảnh hưởng tcới Trung Hoa, và trong thòi cô đại, ít nhất là tói đầu kỷ rtiguyên Tây lịch, dân tộc Trung Hoa sông cách biệt vói các mền văn minh khác13’
Trung Hoa là một xứ đại lục Người Trung Hoa thời cổ đtại coi xứ này là cả thế giới Đê phán ánh ý niệm về thê giới hiọ có chữ “thiên hạ” hay “tứ hải”
Do đặc tính về địa lý như thế, các nhà triế t học Trung Hioa cổ đại dù sông gần biển nhưng cũng không có ai đã tiừng du hành trên biển Sách Luận ngữ của Khổng Tử chỉ nihắc một lần tới biển Thiên Công Dã Tràng, Chương 6 v/iết: “Đạo bất hành thừa phu phủ ư hải, tụng ngã giả kỳ Do diư?” (Đạo không th i hành được, ta sẽ cỡi bè lênh đênh ngoài bỉiển Theo ta có lẽ là [Trọng] Do) Mạnh Tử cũng chỉ nhắc rrấ t ít đến biển Chương Tận Tâm thượng sách, Mạnh Tử có v/iêt: “Quan ư hải giã, nan vi thuỷ” (Ai đã thấy biển thì khó rrnà nghĩ đên dòng nước khác)
31,1 N guyễn H iến Lê Sử T ru n g Quốc, tập I N XB Văn hoá - Thông tin ,
FH, 1997, tr.20.
Trang 12Triết ỉỷ chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà niúc pháp quyến
Trung Hoa cổ đại là một xứ biệt lập nhưng không thống nhất vê mặt địa lý Vì là một khu vực rộng lớn, nên Trung Hoa thời cổ đại gồm nhiều nước nhỏ hợp thành, nhiều dân tộc khác nhau về lịch sử, phong tục, lối sông Các dãy núi lớn ở phía Tây chạy từ Bắc tới Nam; ngoài ra lạ i có những dãy núi nhỏ, thấp hơn ở phía ngoài, hướng từ Tây qua Đông (phía biển), chia Trung Hoa thành nhiều miền cách biệt vói nhau, chỉ thông với nhau bằng những đèo, như đèo thông Thiểm Tây với Hà Nam, Sơn Tây với Hà Bắc, Thiểm Tây với Tứ Xuyên, Hà Nam với Hồ Bắc Hơn nữa các con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử, sông Hoài, Tây Giang chạy
từ Tây qua Đông hợp vói các dãy núi mà chia Trung Hoa thành những miền: ở phía Bắc có hạ du sông Hoàng Hà, bình nguyên Sơn Tây, cánh đồng Thiểm Tây, bán đảo Sơn Đông; ở phía Nam có cánh đồng, ở trung lưu sông Dương
Tử, ở hạ lưu sông Dương Tử, miền lòng chảo đất đỏ ở Tứ Xuyên Những miền trên đã khai phá được từ thời Tiên Tần(4)
Đặc tính về địa lý đó ảnh hưởng lón đổi vối các quan điểm vê chính tr ị trong các tư tưởng triế t học Trung Hoa cố đại Lãnh thổ rộng lớn, lạ i không thổng nhất, bao gồm nhiều quôc gia nhỏ khác nhau, các dân tộc khác nhau đã tạo nên một sự phức tạp về mặt địa lý Chính sự phức tạp này đã làm nẩy sinh nhu cầu cai tr ị một cách hiệu quả Đây
(4) N guyễn H iến Lê S ử T ru n g Quốc, tập I N X B V ăn hoá th ô n g tin,,
H , 1997, tr.22.
Trang 13Chính trị - vièc lớn của £ho ngubi
là mối quan tâm thường trực đối với các nhà tư tưởng triế t học Đó chính là lý do hình thành sự quan tâm của các nhà triế t học Trung Quôc cô đại đối với vấn đê chính trị
Trung Hoa là xứ đại lục nên dân tộc Trung Hoa tất phải sông bằng nghề nông Tài sản chủ yếu của nhà nông là ruộng đất Trong sách Lã Thị Xuân Thu có một thiên nhan
đê là ‘“Thượng nông” (coi trọng nghê nông) cho thấy sự đê cao vai trò của kinh tê nông nghiệp Ruộng đất là công điền thuộc quyên sở hữu tối cao của nhà vua Nhà vua chia đều cho nông dân theo phép tỉnh điền
Phép tỉnh điền như sau: ruộng đất được phân định ranh giới thành từng khu vuông vức 900 mẫu (đời nhà Chu) Mỗi khu chia làm chín phần bằng nhau, mỗi phần là 100 mẫu Tám phần chung quanh chia cho 8 nông dân từ 20 tuổi đến
60 tuổi để cày cấy và nuôi vợ con K hi con tra i được 20 tuổi thì cấp cho phần khác Phần ở giữa để lại một ít làm chỗ ở cho tám gia đình, còn lại thì tám gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua Hình miếng đất khi chia như vậy giông chữ tỉnh nên gọi là phép tỉnh điền.
Dân phải cày cấy phần công điền ở giữa rồi mối cày cấy phần tư điền của mình Như vậy, sô lúa nộp cho nhà vua cũng vào khoảng 1/10 sô՜ thu hoạch của mỗi gia đình
Dán không được phép trồng cây lón trong ruộng, sợ mất đất trồng lúa, nhưng được phép trồng dâu, rau, trá i cây chung quanh mỗi nhà Cũng không được trồng độc một giông lúa, sợ giông đó mất mùa thì sẽ chết đói
Trang 14Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà nuốt pháp quyển
Còn những khu đất, vì những lý do nhất định, nhà vua không chia cho dân, chẳng hạn rừng, đất lầy chỉ trồng được sậy, cỏ lát, đay Những đất đó dân được tự ý khai thác nhưng phải đóng thuê cho nhà vua
Nhìn chung đòi sống của nhân dân vất vả Nhưng dù sao chăng nữa chê độ tỉnh điền cũng làm cho người dân có được đời sống bảo đảm Khi tối 60 tuổi, không làm việc được nữa thì trả lại đất cho nhà vua và được nhà nước nuôi nấng Con côi, người tàn tậ t cũng được trợ cấp(5>
Trong thời Chiến Quổc, khi Trung Hoa chia thành nhiều vương quôc phong kiến khác nhau, th ì mỗi nước đều dồn hết khả năng vào việc mà người đương thòi gọi là “nông nghệ và binh nghệ” Sau cùng, một trong những quốc gia chính lúc bấy giờ là nước Tần đã chiếm ưu thê trong hai địa hạt nông nghệ và binh nghệ ấy; kết quả là Tần đã thắng các quốc gia khác và lần đầu tiên trong lịch sử, đã đem lại
sự thông nhất cho Trung Hoa(6>
Việc trọng đại của nhà nước là sử dụng và phân phôi ruộng đất Việc quản lý nhà nước đối với ruộng đất là yếu tô՜ quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước, Tần là một điển hình Do hiệu quả trong việc quản lý nhà nước đối với ruộng đất cùng với các nguyên nhân khác mà
151 N guyền H iến Lê Sử T ru n g Quốc, tập I N X B V ăn hoá thông tin ,
H, 1997, tr.22.
<6> Phùng Hữu Lan Đại cương triết học sử Trung Quốc NXB Thanh
niên, H, 1999, tr.33.
Trang 15Chính trị - vièc lớn của Eho ngúbi
Tần trở thành một nước mạnh, chiến thắng được lục quôc Chính xuất phát từ nhu cầu cai quản ruộng đất đê phát triể n đất nước mà các nhà triế t học dành nhiều ưu tư đổi với vấn đê cai trị Mỗi người đều đưa ra những chính sách khác nhau cho việc tr ị quốc
Tộc người Hoa Hạ (Trung Hoa) theo nông nghiệp, hiền lành, nhưng ngay từ khi hình thành tộc người của mình đã phải chông cự lạ i với sự gây rối loạn của các tộc người du mục hiếu chiến ở phía Tây Điều này đã có ý nghĩa làm cho người Trung Hoa phải suy nghĩ về các chính sách cai tr ị sao cho có hiệu quả để một mặt ổn định và phát triển trong nước và mặt khác đấu tranh chổng lạ i những kẻ thù xâm lấn lãnh thổ của mình
Điều đặc biệt quan trọng là trong vùng đất Trung Nguyên, vào thời Đông Chu, thòi đại phát triển rực rỡ của các tư tưởng triế t học Trung Quôc, cục diện xã hội có những biến đổi sâu sắc, xã hội lâm vào tình trạng hỗn loạn
Đòi Chu chia làm hai thòi kỳ: thòi kỳ thứ nhất đóng đô
ở đất Phong, đất Cảo thuộc phía Tây (miền Thiểm Tây bây giò) nên gọi là Tây Chu (1134 - 770); đến thời Chu Bình Vương bị rợ Hiểm Doãn và rợ Khuyển Nhung uy hiếp, nhà Chu phải dời đô qua Lạc Dương ở phía Đông, từ đó bắt đầu thời kỳ thứ nhì gọi là Đông Chu (770 - 221) Đông Chu lại chia làm hai thòi kỳ: Xuân Thu (722 - 479) và Chiến Quốc (479 - 221)
Từ khi dời đô qua phía Đ% gt $ k ê uy
TRUNG TÀM THÒNG TIN THƯ VIỆN
Trang 16Trick lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà nUÉt pháp quyẻn
nhược Quyển lực của lãnh chúa phong kiến tôi cao, tức thiên tử nhà Chu, bị lung lay, danh thiên tử chỉ còn là hư danh Đất đai phải chia cắt để phong cho các vương hầu công khanh, nên mỗi ngày một thu hẹp, chỉ còn trông cậv vào sự công hiến của chư hầu mà chư hầu thì có nước như nước Lỗ trong 242 năm chỉ triều cống có ba lần Không những vậy, vì danh thiên tử đôi khi còn phải giúp lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa
Nhà Chu tuy suy yếu nhưng các nước chư hầu chưa nước nào đủ mạnh để dẹp tấ t cả các nước khác để thay nhà Chu làm thiên tử Các nước chư hầu lớn mạnh tiếm quyền thiên tử, họ tranh giành đất đai, đánh nhau không ngớt
Số chư hầu trưóc kia trên một ngàn, tới đầu đòi Đông Chu chỉ còn lại trên một trăm, vì nhiều nước nhỏ đã bị các nước lớn thôn tính Nhưng trong sô trên trăm nưốc đó, th ờ i Xuân Thu chỉ có mưòi lăm nước là đáng kể: Tấn, Tần, Tề , Ngô, Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Thịnh., Trâu Trong mười lăm nưóc đó lạ i chỉ có năm nước là hùng cường kê tiếp nhau làm minh chủ: Tê (Hoan Công), T ấn (Văn Công), Tống (Tương Công), sở (Trang Công), T ần (Mục Công)
Qua thòi Chiến Quốic, sô chư hầu giảm xuông còn trê n một chục: Tể, Tấn, sỏ, Triệu, Ngụy, Hàn, Tông, Lỗ, Tần., Đằng, Yên, Trung Sơn Nhưng chỉ 7 nước lớn tranh hùng vói nhau Tề, Tần, Sở, Triệu, Ngụy, Hàn, Yên Trong sô thấtt hùng, mạnh nhất là Tần đất đai rộng, tài nguyên nhiều
Trang 17Chừih trị - \iệc lớn của E)ạo ngubì'
Các nước đó tố chức thành những liên minh để đánh nhau
Có hai kê hoạch liên minh lớn nhất là kê hoạch “hợp tung” của Tô Tần và kê hoạch “liên hoành” của Trương Nghi'7’
Xã hội Trung Hoa cuôi thời Xuân Thu diễn ra sự rối loạn vê quan hệ đang cấp và danh phận, quan hệ tông pháp Tình trạng tôi giết vua, cha con tranh giành quyền lợi với nhau, anh em mâu thuẫn nhau là thường thấy Nưốc
Lỗ thòi Xuân Thu có trên 30 vụ thí quân Nếu tính đến cả nước khác th i có đến trên 300 vụ Điển hình có thể nói tói
vụ Thôi Trữ giết Tê Trang Công, Trần Thành Tử giết Tê Giản Công Sự rối loạn trong quan hệ tông pháp có thể kể đến những vụ như: Nam Tử, vợ vua Vệ Linh Vương, dâm loạn, gây chia rẽ giữa Khoái Quý và con là Triết; Sở Bình Vương tranh vợ của con; Ngũ Tử Tư báo thù cha đem quân Ngô về phá tan tổ quốic
Thòi Đông Chu là thời bách gia chư tử, một thời đại phát triển cực thịnh của triế t học Trung Quốc Sự rối loạn của cục diện xã hội đã đặt các nhà triế t học vào một nhiệm vụ là đưa• • • • • • •
ra những giải pháp duy trì sự bình ổn của xã hội Sinh sống vào thời kỳ xã hội hỗn loạn, triế t gia nào cũng bàn về những cách thức cai trị sao cho đất nước được thái bình
Chính vi những lý do nói trên, các trường phái triế t học Trung Hoa cổ đại đều nỗ lực đưa ra những giải pháp chính
<?’ G iản C h i và Nguyễn H iến Lê C hiến Quốc Sách N X B Văn hoá
thông tin , H, 1996, tr.9.
Trang 18Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà ՈԱՍԷ pháp quyồn
tr ị mưu cầu sự bình ổn thiên hạ.• • •
II TỔNG QUAN VỀ s ự HÌNH THÀNH CÁC CHỦ THUYẾT CHÍNH TRỊ TRUNG HOA c ổ ĐẠI■ •
T riế t học Trung Hoa có một truyền thống lịch sử xuất hiện lâu đòi từ cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên kỷ thứ I Tr.CN Các tác giả người Trung Hoa - Hầu Ngoại Lư, Triệu Kỷ Bân, Đỗ Quốc Tường đã phân định các giai đoạn của tư tưởng triế t học Trung Hoa cổ đại: Từ lúc bắt nguồn
từ tư tưởng cổ đại khoảng giữa đòi Ân và đòi Chu, qua cái học “học ở quan phủ” đời Tây Chu đến tư tưởng trưốc sau cuộc dòi qua phía Đông, là giai đoạn thứ nhất của tư tưởng
cổ đại Trung Hoa: từ tư tưởng trước sau cuộc dời qua phía Đông, đến nho học của thân sỹ là giai đoạn thứ hai của tư tưởng cổ đại Trung Hoa; Từ sự phê phán của hiển học Khổng, Mặc đối vói nho học, qua cái học trăm nhà đua nói, đến tư tưởng khoảng giữa Chu, Tần, là giai đoạn thứ ba của tư tương cổ đại Trung Hoa(8)
Từ Khổng, Mặc trở đi vào khoảng “thời Xuân Thư Chiến Quốc (Đông Chu), lịch sử tư tưởng Trung Hoa cổ đại mới thực sự bước vào thòi đại vạch thời kỳ.• • • • • %/
Trước Khổng, Mặc cũng đã có những tư tưởng vê chính trị, nhưng còn rất tản mạn, chưa thành nhừng học phái
<8) H ầ u Ngoại Lư, T riệ u K ỷ Bân, Đỗ Quốic Tường B àn về tư tưởng cố'
đ ạ i T ru n g Quốc N X B Sự th ậ t, H, 1959, tr.68.
Trang 19Chính trị ' viêc lớn của Eho ngití
nhât định Nổi bật lên là tư tưởng thần quyền, đê cao tính siêu nhiên của quyền lực chính trị; tư tưởng thiên ý, ý của vua chính là ý trời Trong phạm vi nghiên cứu ở đây, chúng tôi không có tham vọng khảo cứu vê tấ t cả ba giai đoạn hình thành và phát triển của tư tưởng triế t học Trung Hoa như đã nói trên, mà chỉ tập trung vào giai đoạn cuôi cùng - giai đoạn rực rỡ nhất của triế t học cổ đại Trung Hoa.Trong sự biến đôi sâu sắc của xã hội Trung Hoa thời Đông Chu, đã dấy lên một phong trào ^ách gia tranh m inh” (trăm nhà đua tiếng) Đó là thời kỳ ra đòi các học thuyết triế t học để giải quyết những vấn đề bức xúc của thời thế Đều chung một mục đích bình ổn xã hội nhưng các học phái triế t học lại đê ra những giải pháp trị quốc khác nhau
Các sử gia đời sau cô gắng sắp xếp, phân loại các học phái Người đầu tiên là Tư Mã Đàm (mất năm 110 Tr.CN), cha của Tư Mã Thiên (khoảng 145 - 86 Tr.CN) Tư Mã Thiên là tác giả của bộ “Sử ký” , một bộ sử vĩ đại của Trung Hoa Trong chương cuối bộ sách, Tư Mã Thiên chép lạ i lời văn của cha, nhan đê “Luận lục gia yếu chỉ” Trong bài này
Tư Mã Đàm đã phân loại bách gia thành sáu học phái: âm dương gia, nho gia, mặc gia, danh gia, pháp gia, đạo đức gia.Lưu Hâm (46 Tr.CN), cũng vói cha là Lưu Hướng (79 -
8 Tr.CN) trong sách “Tiền Hán thư” đã xếp bách gia thành mưòi phái chính Sáu phái đầu trùng vối cách sắp xếp của
Tư Mã Đàm; bốn phái tiếp theo là: tung hoành gia, tạp gia, nông gia, và tiểu thuyết giạ Nhưng theo, Lưu Hâm, trong
Trang 20Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà nuỄt pháp quyền
số mưòi nhà đó chỉ có chín nhà là đáng kể Cho nên, chư tử
được gọi là “cửu lưu” (chín dòng)
Việc nghiên cứu và phân định các trường phái triế t học Trung Hoa cổ đại là nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triể n của các trường phái triế t học đó, một mặt trong “sự cạnh tranh giữa các trường phái” , mặt khác là sự liên hệ,
kê thừa, ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng Nó là sự biếu hiện địa vị và lợi ích của các giai cấp, các tập đoàn xã hội
là sự phản ánh nhu cầu của thực tiễn đời sống và sự phát triể n của tr i thức khoa học dù còn là ít ỏi, nhưng đã góp phần quan trọng cho sự phát triển nhận thức, hình thành nên thê giới quan duy vật ở Trung Hoa cô đại Trong đó, cần vạch rõ sự tiến bộ của các trường phái ấy khi giải quyết các vấn đề mà đời sông xã hội đã đặt ra và ảnh hưởng, tác động của các trường phái đó đôi với hiện thực<9>
Chúng tôi châm chước theo các cách phân loại trên, nghiên cứu chủ thuyết chính tr ị của các học phái chính sau: nho gia, mặc gia, đạo gia, pháp gia, dịch học phái
1 Nho gia
Khổng Tử mở đầu phong trào Khổng Tử họ Khổng tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ thòi Xuân Thu của nước Trung Hoa Ông sinh vào thòi Chu Linh Vương năm
21, tức năm 551 Tr.CN Khống Tử xuất thân từ tầng lớp
<9’ Doãn C hính (chủ biên) Đ ạ i cương lịc h sử triế t học phương Đông cô
đ ạ i N X B Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H, 1992, tr.1 4 6 - 147.
Trang 21Chính trị ' vièc lớn của Đạo ngúbi
quý tộc sa sút Sử Ký Tư Mã Thiên cho biết: “Không Tử nghèo hèn, đến khi lớn lên làm lại cho họ Quý”<l0)
Trong Luận Ngữ, Không Tử cũng nhận mình lúc nhỏ nghèo hèn Năm 19 đời vua Chu Kính Vương, Khổng Tử được vua nước Lỗ dùng làm quan Trung đồ tể Sau do những âm mưu chính trị ông phải từ chức bỏ xứ mà đi Trong ba mươi năm tiếp theo ông chu du từ nước này sang nước khác, mong tìm một ông vua tài đức có thể thực hiện được chính sách cai trị của mình Nhưng đến đâu cũng không thành công, cuối cùng phải trỏ về Lỗ khi tuổi đã già
Ba năm sau ông mất ở đấy vào thòi Chu Kính Vương năm
41, tức năm 479 Tr.CN
Khổng Tử là bậc thầy lớn nhất của Nho gia Lưu Hâm coi đây là học phái “chơi văn chương trong cõi lục nghệ, và lưu ý về điều nhân nghĩa” Lục nghệ là sáu nghề tự do nhưng thường được hiểu là sáu kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu Trước đây, vê môi quan hệ của Khổng Tử vói lục kinh có những ý kiến trái ngược Y kiến thứ nhất cho rằng Khổng
Tử là tác giả của những sách đó Ý kiến đối lập cho rằng Khổng Tử trứ tác Kinh Xuân Thu, chú giải Kinh Dịch, đính chính Kinh Lễ, Kinh Nhạc, và san định Kinh Thư, Kinh Thi Phùng Hữu Lan khẳng định: “Kỳ thực, Khổng Tử không hê trứ tác, chú giải, đính chính hay san định bất
,10> Tư Mã Thiên Sử Ký, bản dịch của N hữ Thành NXB Văn học, H
1988.Tr.214.
Trang 22Triết lý chánh trị Trung Hoa cổ đại rà vân đề nhà nuÉt pháp qirền
kỳ bộ nào trong lục k in h ”'1 °
Đây cũng là quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay Mặc dù các sách đó không phải do Khổng Tử viết ra, nhưng nội dung của tư tưởng Nho gia dựa vào các sách đó cho nên chúng được coi là những kinh điển của nho gia Trong các kinh điển đó đã có những tư tưởng của nho gia Như vậy, Không Tử không phải là ngưòi sáng lập ra nho giáo Việc tìm hiểu tư tưởng của Nho gia cũng phải căn cứ vào các sách đó
Tác phẩm chủ yếu thể hiện tư tưởng Khổng Tử là bộ Luận Ngữ Sách Hán thư chép: “Sách Luận Ngữ là những
-lờ i của Khổng Tử đáp ứng những học trò hoặc các người đương thời, và những lòi học trò nói với nhau khi nghe lòi thầy Hồi đó các học trò đều có ghi chép Phu Tử mất rồi,
họ mới tập trung lạ i luận bàn với nhau mà soạn ra, cho nên gọi là Luận Ngữ” Số nguyên chương của sách Luận Ngữ là
bao nhiêu đến nay là chưa xác định được, nhưng có điều chắc chắn là đã bị thất lạc một phần Bản Luận Ngữ ngày nay có 20 chương
Giải pháp của Khổng Tử đối với việc cai tr ị để ổn định
xã hội xuất phát từ chủ trương tòng Chu đến thuyết chính danh và sau cùng là chính sách nhân trị Chính sách nhân
t r ị của Khổng Tử đề cập đến các vấn đề chính tr ị như: chính sách cai tr ị (giáo dân, dưỡng dân, tiế t dụng, phân
<n) Phùng Hữu Lan Đại cương triết học sử Trung Quốc NXB Thanh
niên, H, 1999, tr.55.
Trang 23Chính trị - vièc lân của Đạo ngúbi
phôi tài sản, sử dụng sức dân ), các quan chức (tuyển dụng, tiêu chuẩn, nghệ thuật lãnh đạo )
Thiên Bát Dật chương 14 Sách Luận Ngữ, Khổng tử nói: “Ngô tòng Chu” (Ta theo nhà Chu) Khổng Tử chủ trương quay trở lại cách tô chức nhà nưóc, các chính sách cai trị, các chuẩn mực đối với quan lại của nhà Chu do Chu Công Đán lập ra châm chước theo nhà Hạ, Ân Khổng
Tử nói rằng lâu lâu mà không nằm mơ thấy Chu Công là ông đã suy rồi Ong coi mình là người kê tục duy nhất sự nghiệp của Văn Vương, Vũ Vương, và Chu Công
Sau Khổng Tử, các quan điểm của ông về chính sách nhân trị được kê thừa và phát triển bởi các nhà nho hậu thê như Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử
Tăng Tử, một học trò suất sắc nhất của Khổng Tử, căn
cứ vào những lòi dạy của thầy mà quảng diễn ra thành sách Đai học Những ý tưởng liên quan đến vấn đê chính
tr ị được đê cập trong Đại học ở phần bàn vê tê gia, trị quốc, bình thiên hạ
Tăng Tử mất, truyền sự học của mình cho Tử Tư, cháu đích tôn của Khổng Tử Tử Tư nôi nghiệp dạy học trò, đem những phần tinh tuý của Khổng học viết thành sách Trung dung
Đại học và Trung dung xưa vôn là hai thiên trong Kinh
Lễ Sau đến đời Tống, các nho gia mới in riêng, cùng với sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử làm thành Tứ thư
Trang 24Triết ỉý chính trị Trung Hoa cổ đại và ván đề nhà niỂt pháp quyền
Sau Tử Tư có Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho gia Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, dòng dõi Lỗ Công, người ấp Trâu, ông sống vào khoảng 372 - 289 Tr.CN Từ nhỏ, Mạnh Tử đã được hấp thụ những lễ giáo phong kiến từ gia đình Lớn lên, Mạnh Tử theo học Tử Tư Mạnh Tử học xong, đi chu du các nước Tề, Lương, Tống, Đằng với mong muốn các nước này thực hành chính sách cai
tr ị của mình nhưng không thành công Ông lu i vê cùng với môn đệ của mình xếp đặt thứ tự trong Kinh Thi, Kinh Thư, thuật cái ý của Khổng Tử là ra bảy thiên sách Mạnh Tử.Sau Mạnh Tử khoảng bôn đến năm mươi năm, tại nước Triệu xuất hiện một danh nho là Tuân Tử Tuân Tử tên là Huống, tự là Khanh, 50 tuổi mới đi học ở nước Tề Ông cũng chu du ở các nước Tề, Tần, Sở, rồi quay về Triệu Tư Mã Thiên viết: “Tuân Khanh ghét chính sự đời dơ đục, nước mất vua hỏng luôn luôn nốì nhau Các vua không theo đạo đức lớn mà lo cúng tế, bói toán, tin điều may, điều rủ i”<12>.Sách của ông hiện nay có bộ Tuân Tử, tấ t cả 32 thiên Theo các nhà khảo cứu thì chỉ có các thiên Thiên luận, Giải
tế, Chính danh, Tính ác là chính thật là cái tinh hoa của Tuân Tử, còn các thiên khác thì có lắm chỗ của người đời sau phụ hoạ vào hoặc sai lạc đi nhiều(13).JL ❁ Փ ❁ ❁
u2) Tư M ã Thiên S ử K ý, bản d ịch của N h ữ T hà nh N X B V ãn học, H,
1988.Tr.438
“ ՛” T rầ n Trọng K im N ho giáo N X B V H T T , H, 2001, Tr.266
Trang 25Chfrih trị - viêc lớn của Eho ngití
Nguồn tài liệu chính nghiên cứu tư tưởng của ông là bộ Mặc Tử gồm 53 chương, bộ sách thu thập trứ tác của những người nối chí cũng như của chính Mặc Tử ông là người sáng lập ra một học phái, lấy tên là Mặc gia Xưa kia Mặc
Tử cũng nổi tiếng như Khống Tử và học thuyết của ông cũng ảnh hưởng không kém(I5)
Các quan niệm của Mặc Tử vê chính trị nằm rải rác trong các chương Kiêm ái, Phi công, Thiên chí, Thượng đồng, Thượng hiền, Tiết dụng Trong các chương này Mặc
- Tử bàn vê các vãn đê chính sách cai trị như chính sách
kiêm ái, phi công, tiết dụng; việc tuyển, trách nhiệm và tư
° 4' Nguyễn H iến Lê M ặc học (M ặc Tử và B iệ t M ặc) NXB Văn Hoá
Thông T in , H, 1998, tr.18.
'15’ Phùng Hữu Lan Đại cương triết học sử Trung Quốc NXB Thanh
niên, H, 1999, tr.65.
Trang 26Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vắn đề nhà niỂt pháp quyền
cách dụng người cầm quyền (thượng đồng, thượng hiền) Các quan điểm của Mặc Tử về chính tr ị tương phản với các quan điểm của Khổng Tử Khổng Tử chủ trương ổn định xã hội bằng cách quay trở lạ i các quy tắc cai trị do nhà Chu lập
ra Ngược lại, Mặc Tử lại cho rằng đế ổn định xã hội không phải là quay lại các trậ t tự xã hội cũ mà phải sửa chữa, phải thay đổi nó sao cho đơn giản, tiện lợi cho nhân dân
Mặc Tử nhận thức rằng sự loạn lạc của xã hội, nỗi khổ cực của dân chúng xuất phát từ lòng tự tư, tự lợi của con người, không yêu người khác mà chỉ yêu bản thân mình, làm hại cho người khác để làm lợi cho mình Thái độ tự tư,
tự lợ i đó Mặc Tử gọi là “biệt” “Biệt” th ì gây chia rẽ, rối loạn trậ t tự xã hội Cho nên chủ trương chính tr ị của Mặc Tử là phải thay “biệt” bằng “kiêm” Kiêm là gồm Từ đó ông xây dựng nên thuyết Kiêm ái Kiêm ái là gồm yêu mọi người, coi ai cũng như mình làm lợi cho mọi ngưòi Kiêm ái là cái gốc sinh ra các quan niệm khác của Mặc Tử vê chính trị
Từ chủ trương Kiêm ái, Mặc Tử chông chiến tranh (phi công) Gồm yêu người (kiêm ái) thì trậ t tự xã hội được xác lập Tranh nhau thì xã hội rối loạn Mặc Tử mạt sát việc• • • • • •dùng võ lực để xâm lấn nước khác
Thuyết Kiêm ái cũng làm nảy sinh ra quan niệm về chính sách thượng đồng trong cai t r ị của Mặc Tử Nhà cầm quyền phải yêu dân để làm lợi cho dân mà xã hội được trị Muốn làm lợi cho dân thì cần phải có sự thông nhất về chính sách giữa nhà nước và nhân dân Chính sách của nhà
Trang 27Chính trị - viêc lớn của Đạo nguời
nưốc phải được nhân dân đồng tình
Để làm lợi cho thiên hạ, việc cai tr ị phải được giao cho những người hiền Trong việc dùng người, Mặc Tử chủ trương “thượng hiền” (trọng người hiền.) Ông coi đó là sự căn bản của công cuộc tr ị quốc
Nhà nước muôn làm lợi cho dân thì phải có chính sách
sử dụng tài sản nhà nước một cách hợp lý Mặc Tử rất phản đôi sự lãng phí, thói xa xỉ, và cho rằng phải thực hiện chính sách tiế t kiệm trong việc sử dụng tài sản của nhà nước để làm lợi cho nhân dân (tiết dụng)
3 Đạo gia
Đạo gia do Lão Tử khởi sáng lập Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, người nước Sở, sõng cùng thời với Khổng Tử và có đưa ra câu truyện về việc Khổng
Tử học lễ từ Lão Tử<16) Lão Tử để lạ i một bộ sách mang tên ông mà đòi sau gọi là Đạo Đức Kinh Tiểu sử của Lão Tử chứa đựng rất nhiều những điều bí ẩn Từ thời Tư Mã Thiên đến nay, biết bao nhiêu nhà tra cứu đủ các sách cô
để tìm hiểu Lão Tử tên thật là gì sông ở thời nào, làm gì, tiếp xúc vối những ai, nhưng chỉ đưa ra những giả thuyết,
và càng bàn càng thêm rối vì ý kiến mâu thuẫn nhau
Hiện nay, các học giả Trung Hoa và phương Tây đã dùng những phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại
ll6) Tư Mã Thiên, s ử K ý, bản d ịch của N h ữ Thành N X B Văn học, H,
1988 tr.330.
Trang 28Triết !ý chính trị Trung Hoa cố đại và vân đề nhà nuÉt pháp quyền
chứng minh rằng Lão Tử và Đạo Đức Kinh có thể không xuất hiện cùng thời với Khổng Tử Phùng Hữu Lan dùng phương pháp phân tích ngôn ngữ chứng minh rằng sách Lão Tử xuất hiện sau Khổng Tử ông viết: “Tôi chủ trương rằng hệ thống tư tưởng của quyến sách ấy nhìn trong toàn thể, không thể là sản phẩm của một thòi kỳ trưóc hay đồng thời với hệ tư tưởng của Khổng Tử”<l7>
Nhìn chung, với những nghiên cứu hiện đại nhiêu học giả ngày nay nghi ngờ lý thuyết của Tư Mã Thiên cho rằng Lão Tử sổng cùng thời vói Khổng Tử, và có xu hưóng- cho rằng Đạo Đức Kinh xuất hiện vào một thời đại sau Khổng
Tử khá lâu
Theo Nguyễn Hiến Lê có thể tạm chấp nhận Lão Tử sinh trên 100 năm sau Khổng Tử, khoảng 50 năm sau Mặc
Tử, còn tập Đạo Đức Kinh xuất hiện vào khoảng thê kỷ thứ
IV, hay I I I Tr.CN, mà phần chính là tư tưởng của ông, mặc
dù có nhiều chỗ do người đòi sau thêm vào<18)
Học thuyết của Lão Tử rất có hệ thống, ông xây dựng một thê giới quan khá mới mẻ là cơ sở cho các quan niệm của mình về xã hội Một chữ “vô” có thê thâu tóm được toàn
bộ học thuyết của Lão Tử Trong tự nhiên thì là “vô danh” ,
° 7' Phùng Hữu Lan Đ ạ i cương triế t học sử T ru n g Quốc N X B T h a n h
niên, H, 1999, tr 106.
( 18 ) Nguyễn H iến Lê s ử T ru n g Quốc, tập 1 N X B Văn hoá thông tin ,
H, 1997, tr.152.
Trang 29Chánh trị ' việc lớn của Eho ngubi
trong xã hội thì là “vô vi” Lão Tử đặt cơ sở cho sự ra đòi một học phái là phái Lão gia hay còn gọi là Đạo gia Triết
lý chính tr ị của Lão Tử thâu tóm trong hai chữ “vô vi.”
Trang Tử là một đạo gia kiệt xuất sau Lão Tử, và cũng như Lão Tử, ông sống một đời ẩn sỹ mai danh ẩn tích nên thân thê còn nhiều bí mật Theo học giả Nguyến Hiến Lê, cuộc đời Trang Tử chỉ có mấy điểm này là chắc chắn: Ông sinh ở đất Mông thời đó thuộc Tống, sống vào thê kỷ thứ IV Tr.CN, cùng thời với Mạnh Tử, hồi nhỏ làm một chức quan nhỏ, coi một xưởng chê tạo sơn, sau ở ẩn, viết một bộ sách, ngưòi đòi sau gọi là Trang Tử, tư tưởng chịu ảnh hưởng của
Lao Tử(,9)
Bộ sách Trang Tử cũng gọi là Nam Hoa kinh gồm ba
thiên: nội thiên, ngoại thiên và tạp thiên Tuy nhiên, không phải Trang Tử là người viết toàn bộ sách này Người ta cũng chưa biết chắc những thiên nào trong Nam Hoa kinh
do chính Trang Tử viết Phùng Hữu Lan cho rằng: thật ra
đó là một tập hợp của nhiều đạo gia'-0’
Các học giả nghiên cứu vê Trang Tử cho biết Nội thiên
do Trang Tử viết và là phần trình bày tập trung tư tưởng Trang Tử Còn ngoại thiên và tạp thiên chỉ phô diễn lại
“ f” Nguyền H iến Lê T rang Tử - N am H oa kinh NXB Văn hoá thônp tin , H, 1993, tr 16-17.
(2°’ Phùng Hữu Lan Đại cương triết học sử Trung Quốc NXB Thanh
niên, H, 1999, tr.116.
Trang 30Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà nuốt pháp quỵền
những tư tưởng đã trình bày trong nội thiên Nhiều học giả cho rằng có rất nhiều chương chắc chắn không phải là của Trang Tử, còn những chương khác nếu Trang Tử có viết một phần thì cũng khó nhận ra được(21>
Kim Thánh Thán xếp Nam Hoa kinh đứng đầu “lục tà i tử
thư” - sáu bộ sách hay nhất của Trung Hoa Nam Hoa kinh
trình bày một triết lý độc đáo bằng một lối văn phong đặc sắc Không nghiêm nghị như Khổng Mạnh, không cô đọng như Lão Tử, không rưòm rà như Mặc Tử, Trang Tử dùng lối văn phong ngụ ngôn để diễn đạt ý tưởng của mình Bản thân
Nam Hoa kinh cũng cho biết: “Trong cuốn này, ngụ ngôn chiếm chín phần mười” (Nam Hoa kinh, Tạp thiên, Ngụ ngôn) Danh từ “ngụ ngôn” được hiểu rộng hơn cách chúng ta
hiểu ngày nay Đó là: những truyện hoàn toàn do tưởng tượng ra mà nhân vật là cây cỏ, súc vật, thần linh; những truyện về danh nhân nhưng chỉ có tên là thật còn hành vi, lời nói, tư tưởng do ngưòi viết tưởng tượng ra; những truyện có thật nhưng tác giả sửa đi ít nhiều cho hợp với chủ thuyết của mình; những sự cô՜, lời nói của danh nhân hoàn toàn có thực.Triết lý chính trị của Trang Tử chịu ảnh hưởng của Lão
Tử Tư Mã Thiên viết: “Học thuyết của ông không có việc gì
là không xét đến, nhưng gốc là theo thuyết của Lão Tử.”<22).
( 21 ) Nguyễn H iến Lê T rang Tử - N am H oa k in h N X B Văn hoá thông-
tin , H, 1993, tr 54.
<22> Tư M ã Thiên Sử Ký, bản d ịch của N h ữ T hành N X B Văn học, H
, 1988, tr.333.
Trang 31Chúìh trị - viêc lớn của Eho ngúbi
Sự độc đáo trong triế t lý chính tr ị của Trang Tử nằm ở luận thuyết của ông về tự do và con đường từ tự do đến vô vi
4 Pháp gia
Phái pháp gia đại biểu cho tầng lớp địa chủ kiêm thương nhân đang lớn mạnh vào cuôi đời Chiến Quôc Học phái này đã có nguồn gốíc tư tưởng từ thời Xuân Thu như các tư tưởng của Phạm Lãi, Quản Trọng, Tử Sản Sang thòi Chiến Quốc phái pháp gia phát triển mạnh và dần dần tư tưởng chính tr ị của họ được các nước chư hầu áp dụng Cuốỉ cùng chính tư tưởng của phái pháp gia đã giúp cho nhà Tần thống nhất Trung Hoa Tiêu biểu cho các pháp trị thòi Chiến Quốíc là Thân Bất Hại Thận Đáo, Thương Ưởng và tập đại thành tư tưởng pháp gia là Hàn Phi Tử Hàn Phi
Tử (khoảng 280 - 233 Tr.CN) là công tử nước Hàn Hàn Phi
Tử cùng với Lý Tư theo học Tuân Tử Hấp thụ tư tưởng tính ác của người thầy Tuân Tử, Hàn Phi Tử cho rằng tính người là ác nhưng không giông thầy là dùng đạo đức đê đưa con người về đưòng chính đạo, mà chủ trương phải dùng hình pháp Hàn Phi Tử dâng thư trình bày phương thức cai
tr ị của mình cho vua Hàn nhưng không được vua Hàn chấp nhận Tần Thuỷ Hoàng đọc sách của Hàn Phi Tử rất ngưỡng mộ ông Khi Hàn Phi Tử đến nước Tần, Lý Tư, bạn
cũ của ông lúc bấy giò đang làm tướng quôc nước Tần, biêt tài năng của mình không bằng Hàn Phi Tử, nên đã gièm pha với vua Tần bắt Hàn Phi Tử bỏ ngục và ép uống thuổc độc chết trong ngục năm 233 Tr.CN
Trang 32Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại là YỂn dồ nhì nuút pháp quyển
Vào thời đại của Hàn Phi Tử, xã hội Trung Hoa có những thay đổi lớn về kinh tê - xã hội Cuối thời Chiến Quốc có một sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Ngưòi ta đã biết dùng đến công cụ sắt, biết khai thác kênh ngòi, thuỷ lợi và giao thông đểu phát triển Vì vậy, một tầng lốp người khai thác những vùng đất mới trở thành địa chủ Tầng lóp thương nhân cũng phát triển, họ mua đất của địa chủ mà làm giàu Những tầng lớp mới này có phương thức sản xuất tiến bộ Nền kinh tê sản xuất phong kiến dần dần chuyên sang nền kinh tê của địa chủ mới Khi kinh tê khá giả, họ có xu hướng tham gia vào đời sống chính tr ị vói những tư tưởng cấp tiến Trong khi đó, tầng lớp quý tộc cũ vào cuối thòi Chiến Quôc đã dần dần tan rã, mất quyền lực
Hàn Phi Tử là một công tử nưóc Hàn, tức là thuộc gia thê phong kiến cũ Nhưng với những điều kiện kinh tê xã hội như trên, Hàn Phi Tử phát ngôn với tư cách là người kê thừa những di sản của tầng lớp địa chủ mới, đồng thòi phát triển thêm cho phù hợp vối tình hình thực tê của thời đại
Do đó, hệ thông lý luận của Hàn Phi Tử là đáp ứng yêu cầu tương đối tiến bộ của giai cấp địa chủ mới
Giải pháp đốì với vấn đê chính tr ị của Pháp gia ngược
lạ i vói Nho gia Chủ chương chính tr ị của phái gia theo một phương thức gọi là pháp trị
5 Dịch học phái
Kinh Dịch, cùng với Kinh Thư và Kinh Thi là ba bộ
Trang 33Chính trị ' viộc lớn của Eho ngutii
sách cổ nhất của Trung Hoa, mà nguồn gôc của nó - bát quái - theo các nhà khoa học có vào khoảng cuổi đòi Ân,
1200 năm Tr.CN Kinh Dịch không phải là do một người nào viết ra, mà là kêt quả của sự đóng góp công sức của nhiều người qua nhiều thê hệ khác nhau, từ Văn Vương nhà Chu đến đầu đời Tây Hán mới có hình thức như ngày nay Vũ Đồng, một trong những nhà nghiên cứu người Trung Hoa, gọi Kinh Dịch là tác phẩm chung của một phái
là phái Dịch học Đây là một phái học thuật gồm những nhà tư tưởng thuộc nhiều xu hướng khác nhau
Lúc đầu, Kinh Dịch chỉ là một sách bói toán Cuối đời nhà Chu nó trở thành một sách triế t lý tổng hợp những tư tưởng của Trung Hoa thời Tiền Tần về vũ trụ quan, nhân sinh quan Điều khiến Kinh Dịch được coi như một kỳ thư
là nó được xây dựng trên thuyết âm dương dựa trên vạch liền - tượng trưng cho dương, một vạch đứt - - tượng trưng cho âm; hai vạch đó chồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành tám hình bát quái; rồi tám hình bát quái này lại chồng lẫn nhau thành bôn mươi sáu hình mới - lục thập tứ quái Với sáu mươi tư quái này, Kinh Dịch diễn tả được các quan niệm về vũ trụ và nhân sinh, từ những hiện tượng tự nhiên đến những việc của xã hội loài ngưòi: tr ị nước, trị nhà, cưới hỏi, quân sự, giáo dục
Dịch học phái là tập hợp của các học giả thuộc những trào lưu tư tưởng khác nhau Cho nên trong Kinh Dịch, chúng ta thây có cả quan niệm đức tr ị của Nho gia lẫn quan niệm pháp tr ị của Pháp gia Tuy nhiên, Kinh Dịch không
Trang 34Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và vân đề nhà nUÉt pháp quyền
mâu thuẫn trong bản thân nó Nó không phải là một sự ô hợp các luồng tư tưởng khác nhau Chính sách cai trị trong
K inh Dịch là một sự dung hoà giữa nhân tr ị và pháp trị
Cả Nho gia và Pháp gia đều cực đoan Nhân tr ị của Nho gia quá nhấn mạnh đến yếu tô՜ đạo đức mà phản đối việc dùng “hình” và “chính” , coi đó như những công cụ bất đắc
dĩ “Hình” và “chính” trong những tư tưởng của Pháp gia không được bao hàm trong nó nội dung đạo đức cho nên dễ trở thành nghiêm khắc thái quá Kinh Dịch cũng chủ trương được lối nhân trị, nhưng không phủ nhận hình pháp
và chính lệnh, bản thân hình chính cũng được thực hiện VỚI nội dung đạo đức, trong khuôn khổ của đức trị Kinh Dịch
đã dung hoà được hai đường 101 cai tr ị đối lập: pháp tr ị và nhân trị Dịch học phái đã đưa ra một giải pháp trung dung.Nhìn chung, các nhà triế t học Trung Hoa cổ đại dù có bàn đến vấn đề gì cũng quay vê vấn đề chính trị Từ tư tưởng tu thân của Khổng Tử đến những tư tưởng triế t học
tự nhiên về Đạo của Lão Tử, Âm Dương trong Kinh Dịch đều hướng đến việc làm sao cho thiên hạ được bình trị., không tách khỏi vấn đề chính trị T riết học Trung Hoa lài triế t học hướng về giải quyết các vấn đê của xã hội com ngưòi Nhiệm vụ của nó là hoàn thiện con ngưòi, giúp cho con người đạt được thành tựu cao nhất của một con ngưòii với danh nghĩa là con người Phùng Hữu Lan cho rằng thành tựu cao nhất của con ngưòi theo triế t học Trung Hoai
là thánh nhân và thành tựu của thánh nhân là hợp nhất cái
Trang 35Chính trị - việc lân của Đạo ngiiẨ
nhân và vũ trụ <23)
Cho nên thấy rằng triế t học Trung Hoa ít bàn đến vấn
đề vũ trụ luận, không phải là một thứ triế t học tự nhiên như triế t học Hy Lạp cổ đại Ngay cả khi có bàn đến các vấn
đê vũ trụ như Lão Tử, Kinh Dịch thì cũng là tạo cơ sở cho những quan điểm vê chính trị, vẫn quay về vấn đề chính trị Thành tựu tối cao của một con người mà triế t học Trung Hoa hướng tới là “nội thánh ngoại vương” “Nội thánh” là
sự tu luyện tinh thần đê trở thành một thánh nhân Ngoại vương là thánh nhân xứng đáng đứng ra cai tr ị đất nước
Có thể gọi “nội thánh” là “thể” còn “ngoại vương” là “dụng”
T riết học Trung Hoa tiếp cận về chính tr ị như là một vấn
đê hoàn thiện con ngưòi Có thể nói rằng chính trị được coi
là việc lớn của đạo ngưòi vì chính tr ị giúp con người hoàn thiện mình Cái mà các triế t thuyết muốn hướng tới là hoàn thiện con người Chính tr ị chính là vấn đề con người Chính tr ị cũng chỉ là vấn đê ở đời và làm người Nhưng, chính tr ị dù được bàn đến ở các triế t thuyết nhưng vẫn không phải là mục đích mà chỉ là cứu cánh; vấn đê cuối cùng vẫn là vấn đề hoàn thiện con người Có thể gọi triế t học Trung Hoa là một thứ triế t học chính tr ị - nhân sinh
(23> Phùng Hữu Lan Đại cương triết học sử Trung Quốc NXB Thanh
niên, H, 1999, tr.23.
Trang 36Triết lỷ chính trị Trung Hoa cổ đại và vần đề nhà nuúi pháp quịèn
Chương" 2
CÁC CHỦ THUYẾT CHÍNH TRỊ TRUNG HOA c ổ ĐẠI
I CHỦ THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA KHổNG TỬ■
1 “Nhân”- nền tảng chủ thuyết của Khổng Tử
Năm 1865 khi hai cô con gái Laura và Jenny Marx hỏi C.Mác: “Châm ngôn ưa thích nhất của bô là gì?” C.Mác đã trả lời bằng một câu nổi tiếng của thòi cổ La Mã: “N ih il hum ani a me alienum puto” - “Không có cái gì của con người mà tôi lại coi nó như xa lạ đối với tôi” Cụ Hồ bảo nếu Mác cùng với Khổng Tử, Giêsu, Tôn Dật Tiên còn sông trên cõi đời này, cùng hợp lại một chỗ thì các vị ấy nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thích Sở dĩ như vậy là vì họ đều có một mối quan tâm chung là con người
Trong những vị đấy, Khổng Tử có lẽ là người phát hiện
ra con ngưòi sớm nhất Quách M ạt Nhược cho rằng Khổng
Tử là người đầu tiên trên thế giới phát hiện ra con người
Trang 37Các chủ thuyết chứìh trị Trung Hca
Hơn 2400 năm vê trước, Khổng Tử đã phát hiện ra chữ
"nhân” làm cơ sở cho học thuyết của mình T riết lý chính trị của Khổng Tử cũng dựa trên nền tảng chữ “nhân”
Khống Tủ đã sớm coi con người là con người Ý tưởng coi con người là con người vào thời đại của Khống Tử là một phát kiến nhân bản Cội nguồn của ý tưỏng này là từ Chu
lễ Khống Tử chủ trương "tòng Chu” Cả đời Khổng Tử có một ý nguyện không nguôi là khôi phục lại Chu lễ sở dĩ Khổng Tử “tòng Chu” là vì chính Chu lễ đã gợi mở cho ông
ý tưởng coi con người là con người Chu lễ giúp Khổng Tử phát hiện ra chữ “nhân”
Trước thời nhà Chu vào thời nhà Thương, tục lệ chôn người sông theo người chết rất phổ biến Quý tộc nhà Thương, xây nhà cần có đầu người hoặc cả thân người làm móng, cho nên ngưòi bị chôn theo không biết bao nhiêu mà
kể Tê lễ tô tông cũng giết người để tế Cách giết người để
tê có đủ kiểu, nào là chặt đầu, thiêu sông, lóc xương, hoặc chôn sống Theo ghi chép chưa đầy đủ chỉ có 12 vương trong
273 năm đã giết đi ít nhất 15000 người để tê lễ tổ tông Càng tệ hại hơn là lây xương người làm khí cụ, làm đồ trang sức Nô lệ cũng giông như gia súc, chỉ được gọi là bầy quần, một bầy người làm nguyên liệu cho sản xuất<24)
Quyền sinh sát của nhà Thương đôi vói dân chúng dựa
ứi) Trần C hí Lương Đ ô i th o ạ i với tiê n triế t về văn hoá phương Đ ông thê kỷ 21 N X B Đại học quốc gia Hà Nội, 1999.
Trang 38Triết lý chính trị Trung Hoa cổ đại và ván đề nhà nuốt pháp quyền
trên nguyên tắc cai tr ị “vương quyền chí thương” Quân vương đối với thường dân có quyền sinh quyền sát tối cao,
vì sinh mạng của dân là do vua nhận được từ tròi Nhà Chu
Lật đổ nhà Thương thay nguyên lý tr ị đạo “vương quyền chí thương” bằng “kính thiên bảo dân” Nhà Chu đã xoá bỏ tục 3hôn người sống theo ngưòi chết Nguyên lý trị đạo của nhà Chu đã dần dần có ý tưởng lấy dân làm gốíc, chứ không phải như các nhà Hạ, Thương là lấy vương làm gốc
Chính tư tưởng lấy dân làm gốc (dĩ dân vi bản) của nhà Chu đã được phát triển bởi Khổng Tử thành lấy người làm gôc (dĩ nhân vi bản) “Dĩ nhân vi bản “có nghĩa là lấy người làm căn bản, coi con người là trung tâm, coi con người là quý giá nhất trong vũ trụ Tư tưởng “dĩ nhân vi bản” của Khổng Tử lần đầu tiên đã có sự phân biệt con người vối con vật về mặt xã hội, coi con ngưòi là con người, ngay cả là nô
lệ Như vậy, Khổng Tử đã nâng con người lên khỏi con vật
Chữ “nhân” của Khổng Tử không phải là sự phân biệt con người với con vật về mặt tự nhiên mà là về mặt xã hội Coi ՅՕՈ người là con người có nghĩa là khẳng định giá tr ị xã hội
2Ủa con người, ý nghĩa xã hội của con ngưòi Sự phát hiện của Khổng Tử về con người có nghĩa là loài người đã tự nhận được giá t r ị của mình vói tư cách là một thực thể người tồn tạ i trong vũ trụ Sự ý thức về loại như vậy ở phương Đông đã sóm hơn ỏ phương Tây nơi mà sau Khổng
Tử hơn hai trăm năm, Aristote vẫn xem nô lệ chỉ là công
cụ biết nói
Không chỗ nào Khổng Tử nói rõ “nhân” là gì? Đây có lẽ
Trang 39Các chủ thuyết chóĩh trị Trung Hoa
là đặc điểm của tư duy triế t học Trung Hoa cổ đại Triết gia Trung Hoa không xây dựng chủ thuyết của mình bằng hệ thông các khái niệm trừu tượng Nhìn vào các trứ tác triế t học Trung Hoa cổ đại, người ta có thê thấy ngay sự ròi rạc, thiếu hệ thống vê mặt ngôn ngữ Khổng Tử, cũng như nhiều triế t gia khác của Trung Hoa cổ đại khô.ng quan tâm đến trứ tác mà tư tưởng của họ được thể hiện ở các lời đôi đáp vối học trò, hoặc do người đời sau ghi chép lại Điều này tạo nên sự rời rạc, thiếu hệ thông của ngôn ngữ và trứ tác của các triế t gia Trung Hoa
Sẽ không tìm thấy một định nghĩa vê chữ “nhân” trong học thuyết của Khổng Tử Định nghĩa là một việc không quen thuộc đổi với tư duy triế t học Trung Hoa Tư tưởng về
“ nhân” của Khổng Tử được tìm thây ở những câu châm ngôn, những đôi đáp của Khổng Tử với học trò được ghi chép lại trong Luận ngữ
Xét về mặt ngôn ngữ, chữ “nhân” gồm có chữ “nhân” đứng và chữ “nhị” Nhân có nghĩa là hai người, là quan hệ giữa con người với con người Nhân chỉ tồn tại trong xã hội loài người Nếu chỉ có một con người sống chung vối bầy sói, tức là không có xã hội loài người thì cũng không có “nhân” Con ngưòi khi đó cũng không khác gì một con vật Như vậy, “nhân” là thuộc tính của xã hội loài người Cho nên sách Trung Dung có câu: “nhân giả nhân giã” (Nhân là người vậy)
“Nhân” là bản tính của con người, là thuộc tính xã hội
Trang 40T riế t lý clúnh Crý Trung Hoa cổ đ ạ i và vân đc nhà n iÉ t pháp quyền
của loài người Học thuyết nhân của Không Tử đã khẳng định tính thống nhất trong bản tính con người “Nhân” là bản tính thống nhất của con người vối tư cách là con người nói chung Ý tưởng vê bản tính thống nhất của con người thể hiện qua câu nói: “Tính tương cận, tập tương viễn”<25).Tính người sinh ra là gần nhau, nhưng do hoàn cảnh, giáo dục, tập luyện, thói quen mà xa nhau Khẳng định này của Khống Tử rất mơ hồ nên có nhiều cách giải thích khác nhau Tưởng Duy Kiều cho rằng Khổng Tử bảo tính là thuần, không gọi là thiện hay ác được, tuỳ theo hoàn cảnh mà nó biến ra thiện hay ác, cũng như tấm lụa bạch, nhuộm màu xanh thì nó hoá ra xanh, nhuộm màu đỏ thì nó hoá ra đỏ'՜6’
Trần Trọng Kim viện dẫn đến câu trong Kinh Dịch:
“Nhất âm, nhất dương chi vi đạo, kê chi giả thiện giã, thành chi giã tính giã” và câu “thiên mệnh chi vị tính” cho rằng tính là cái phần thiên lý của trời phú cho, có đủ nhân nghĩa lễ trí, tức là cái minh đức (đức sáng)<27)
Theo đó thì tính tấ t phải thiện Stepaniants, một học giả Liên Xô cũng hiểu rằng Khổng Tử chủ trương tín h
(25> L u ậ n ngữ, Đoàn T ru n g Còn dịch N X B T huận Hoá, Huế, 1995,