Hiện nay mộ cổ ở cỏc bản Thỏi Mường Lõu, Mường Ký, Mường Chự… cũn những phiến đỏ chụn cao như cỏnh cửa, trờn mộ toàn đất than đen, tập trung thành từng bói dày đặc.. Dọc theo hai bờ sụng
Trang 1MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ DẤU VẾT CỦA NGƯỜI THÁI TRONG VÙNG CƯ DÂN
MƯỜNG DỌC SễNG MÃ THANH HOÁ
Hà Nam Ninh Hội khuyến học huyện Bỏ Thước-Thanh Hoỏ
1 - Một lạot nghĩa địa kiểu người Thỏi
Tục mai tỏng của người Thỏi Thanh Hoỏ hiện nay vẫn giữ lại những hớnh thức cơ bản như xưa Người chết được chụn theo vũng tay, vũng chõn bằng bạc (nếu giàu cú thớ
cú thể vũng vàng) Trờn trỏn ốp lờn một lớp than dày đốt từ cõy tre hoặc gỗ, trờn cựng đặt cỏc đồ dựng quen thuộc của người đó khuất, trong đú nhất thiết phải cú một cỏi vũ đựng nước tượng trưng là chĩnh rượu cần Xung quanh mồ chụn những cột đỏ cao để làm dấu gọi là Hin Húng Tuỳ theo khả năng bề thế của gia đớnh, dũng họ mà kỡch thước, trọng lượng của cỏc phiến đỏ to hay nhỏ, cao hay thấp, nhiều hay ỡt, nhưng ỡt nhất phải cú được
5 phiến chụn phỡa đầu hai chõn và hai tay Phiến đỏ phỡa đầu cao hơn cỏc phiến khỏc Loại đỏ này thường lấy ở khe suối, đỏ xanh, cứng, dài và dẹp, đầu trờn sắc nhọn, khụng lấy đỏ vụi và cỏc loại đỏ dễ mũn, dễ gẫy Hiện nay mộ cổ ở cỏc bản Thỏi Mường Lõu, Mường Ký, Mường Chự… cũn những phiến đỏ chụn cao như cỏnh cửa, trờn mộ toàn đất than đen, tập trung thành từng bói dày đặc Lẫn trong đất cú một số đồ dựng bằng đồ gốm, sành sứ Trong khi đú người Mường ở vựng dưới chỉ đắp đất, làm nhà tranh rất đơn giản, cú nơi cũng chụn cột đỏ nhưng chỉ cú hai cột phỡa đầu và phỡa chõn, nhỏ, thấp và khụng cú tục đổ than lờn mồ
Căn cứ vào những dấu tỡch, hiện vật cú sức tồn tại xuyờn qua thời gian như đỏ chụn, than đen (hai đặc trưng cơ bản) kốm theo cỏc đặc điểm phụ như quay đầu về nỳi, duỗi chõn về phỡa trũng, thấp Nghĩa địa chọn nơi bằng, phẳng, chụn tập trung dày đặc, cõy cối mọc tự nhiờn, cú xen lẫn cõy vườn do con chỏu trồng cho người chết như cõy cau, dõy trầu, cõy mỡt… Chỳng ta xỏc định được người dưới mồ thuộc tộc người Thỏi Dọc theo hai bờ sụng Mó, chỳng tụi đó phỏt hiện hàng loạt nghĩa địa Thỏi cổ trờn đất người Mường thuộc hai huyện Bỏ Thước và Cẩm Thuỷ Tuy nhiờn, do nhu cầu tận dụng đất đai
để sản xuất và xõy dựng, các nghĩa địa này lại quỏ cổ và vụ chủ nên đó bị chặt cõy, san
ủi trong những năm 60,70 của thế kỷ XX Hiện tại chỉ cũn một số mộ nguyờn vẹn, nhưng
Trang 2nền đất đen, đỏ nằm rải rỏc và những người được thấy, được nghe đang cũn sống Vớ vậy
độ tin cậy khỏ cao
Dọc theo hai bờ sụng Mó, cỏc địa danh cú nghĩa địa Thỏi kộo dài, liờn tục cho đến hết phần đấy người Mường
Về phỡa hữu ngạn từ xó Thiết Ống, chúng ta gặp ngay những “đống tha ma” lớn với cỏc cột đỏ đồ sộ, cú phiến rộng gần 1 một, cao hơn 3 một ở Đống Lơn (Làng Nga cũ); Đống Cụn (Làng Chiềng); Đống Dồn (Bàn Cải) Đống Lơn cũn cú tờn là Đống Ma Lào ở Đống Dồn cú mộ của bà nữ tướng người Thỏi Lương Thị Lang Trờn Đồi Đàng, đường qua Bến Bai Đồi Vuốn cũng một khu mộ cổ
Xuống đến cỏc xó vựng Mường Khụ, số nghĩa địa cổ càng dày đặc hơn Tập trung nhất là vựng xung quanh làng Ấm như làng Lựng, làng Vỡ, làng Cọc Ngỏn, Xăm Xốo Phỡa sụng Mó cú đống Ma Lào làng Vừ, hồi mới lờn hợp tỏc xó, đõy là một rừng cổ thụ với hàng loạt cột đỏ chụn to như tấm phản Hiện nay cũn một số tấm dựng làm cầu bắc qua Mương Mú Khỳ
Sang địa phận Cẩm Thuỷ tất cả cỏc xó phỡa nam sụng Mó đều cú đồng Ma kiểu Thỏi Điển hớnh ở hai điểm thuộc trung tõm Mường Phấm và Mường Danh (cổ) là Chiềng Đụng và Khi Dồ
Chiềng Đụng thuộc xó Cẩm Thạch, bờn cạnh cầu Hún Trơn, trờn đường 217 là một khu vực rộng rói, bằng phẳng, bờn nỳi, bờn sụng, dõn cư đụng đỳc Một phần đất cũ của làng chia ra, thành Làng Vàn, hiện nay tại Làng Vàn cú hai nghĩa địa cổ kiểu Thỏi Một nghĩa địa thấp và rộng gọi là Đống Bỏi Một nghĩa địa nằm trờn thõn đất cao cú đỏ chụn
đồ sộ hơn gọi là Đống Cao Cú lẽ Đống Cao là nghĩa địa là của dũng họ quý tộc Cú một ngụi mộ nằm trong khu dõn cư ngày nay có cột đá chụn cao hơn 3 một (phần lộ thiờn)
Về phỡa Đụng là làng Tụ, cú nghĩa địa cổ rộng đến 5 – 6 ha, nay đó bị san ủi Ở đõy đồng bào Mường cũng gọi là Đống ma Lào
Mường Khi - Dồ, một bộ phận của mường Danh nay thuộc xó Cẩm Sơn huyện Cẩm Thuỷ cú Đống Vụng gần chõn nỳi Làng Lụa, rộng khoảng 3 ha cũng là một nghĩa địa cổ kiểu Thỏi
Đi sõu xuống, cũn cú dấu vết mộ Thỏi rải rỏc ở Kim Ơi, Mường Cợi, Mường Ne, giỏp tận Mó cao Ngay tại Mó Cao cũng cũn cú địa danh tiếng Thỏi như Bói Xưa (bói cọp), Bự quả, Bự Hàng (Nỳi Đuụi)
Bờn tả ngạn, địa hớnh đỏ vụi ăn ngang ra bờ sụng Mó hớnh thành ranh giới chia ra cỏc Mường: Khụng, Ai, Vẩm, Vong, Kớm, Trỏc Sõu vào hơn chục cõy số cú những đốo
Trang 3thấp như Eo Điếu, Quốn Vụi, Eo Chim… Hớnh thành con đường bộ giao lưu từ vựng Thỏi Mường Khoũng xuống Đỏ Rổ (Cẩm Phong), thụng ra Hoà Bớnh theo đường Sụng Ngang
- Bến Đuộng (nay là đường Hồ Chỡ Minh)
Mường Ai (xó Hạ Trung, huyện Bỏ Thước) cú 2 nghĩa địa lớn, một ở làng Cộn, gần di chỉ Mỏi Đỏ Nước, hiện cũn Mộ Cả chụn cỏc cột đỏ cao ngất thành một vũng rào kỡn xung quanh mộ, chỉ cũn chừa cửa ra vào Ở đõy cú tờn là Đống Xỏ Ma Lào Tại làng Khiờng và làng Trộ, cỏch di chỉ Mỏi Đỏ Điều 1km, cú một nghĩa đại nhiều đỏ cao đồ sộ Tất cả cỏc cột đỏ ở hai nghĩa địa này khụng giống cỏc đó nỳi ở xung quanh, khụng hiểu người xưa vận chuyển từ đõu đến
Tại Mường Khụụng, đống ma Lào cú ở Làng Ri, Làng Đũn, Làng Khún, Làng Ben (Lương nội), Làng Ngọc, Dàu Cả, Chõn đốo Then Bắt (Lương Trung), Đồi Cụng (Lương Ngoại)…
Vượt đốo Eo Chim sang Cẩm Thuỷ, cỏc nghĩa địa cổ này vẫn thấy rải rỏc ở một số nơi trong cỏc xó Cẩm Quý, Cẩm Lương, Cẩm Tỳ, nhưng nghĩa địa đ-ợc nhiều người nhắc nhất vẫn là Đống Ma Lào ở Chiềng Vong (xó Cẩm Giang)
Cũn cỏc xó phỡa dưới, chỳng tụi chưa cú điều kiện khảo sỏt thực địa, nhưng nghe nhiều người cũng núi là cú cỏc nghĩa địa kiểu này Về phỡa Bắc, nhiều người biết địa danh nổi tiếng trong truyện thơ Mường Huỳ Nga – Hai Mối nơi nàng Nga gieo mớnh xuống sụng Ngang - Bến Đuộng, ở đõy cú dốc ụng Lào và cú một kiểu Thỏi
Khỏi quỏt về hiện tượng này chỳng tụi rỳt ra một số đặc điểm chung như sau:
- Cỏc nghĩa địa cổ này cú đặc điểm bờn ngoài (đỏ chụn, than đen, đồ gốm) giống như cỏc nghĩa địa cổ trờn vựng đất Thỏi và cỏc nghĩa địa người Thỏi Thanh Hoỏ ngày nay
- Cỏc nghĩa địa này vụ chủ, tồn tại độc lập, khụng nằm trong khu vực cỏc nghĩa địa người Mường hiện nay Người Mường thường gọi cỏc nghĩa đại này là đống Ma Lào (Tụồng Ma Lỏo) Trước đõy, người Mường thường quan niệm người Lào và người Thỏi
là một
- Cỏc nghĩa địa này nằm trờn cỏc điểm cụm cư của người Mường ngày nay, nơi cú
mú nước ngọt và ruộng nước màu mỡ và trung tõm hoạt động xó hội của từng vựng
Từ hiện tượng nghĩa địa Thỏi cổ, kết hợp với truyện cổ thơ ca dõn gian và ký ức
mờ nhạt trong cỏc thế hệ người Thỏi, người Mường sụng Mó, liờn hệ với lịch sử nhà nước Văn Lang, Âu Lạc và cỏc triều phong kiến Đại Việt, chỳng ta cú thể nhận định rằng: Trong quỏ khứ đó từng cú một thời kỳ người Thỏi định cư, sinh sống khỏ phổ biến dọc
Trang 4theo sụng Mó, cú thể tập trung thành khối cộng đồng hoặc xen kẽ với người Mường Việt, nhưng do một nguyờn nhõn xó hội nào đú chưa được xỏc định (cú thể giống trường hợp
bộ phận người Tày Thỏi ở sụng Hồng phải chạy lờn thượng nguồn sau khi thành Cổ Loa
bị thất thủ, An Dương Vương bị thất bại khi quõn Hỏn xõm chiếm nước ta), toàn bộ người Thỏi hay phần lớn đó chuyển đi nơi khỏc, bỏ lại những nghĩa địa vụ chủ Nhờ cú những dấu hiệu bền vững như đỏ chụn, than đen mà người đời sau vẫn nhận ra được Tiếp đến người Mon (tiếng Thỏi cổ gọi người Mường là Phỳ Mún) phỏt triển rộng ra, dựng lại bản làng trờn nền cũ của người Thỏi Cú thể một bộ phạn người Thỏi ở lại, hoà nhập vào cộng đồng người Mường, tạo cơ sở sau này xuất hiện hiện tượng dịch cư rải rỏc
từ vựng Thỏi xuống Mường gọi là Năm Neo
2 Chuyển cư theo dũng họ (Năm neo):
Hiện tượng này diễn ra trong cỏc thể kỷ gần đõy Do điều kiện người đụng đất chật (Đỡn Khẹp Na Hom) người Thỏi ở nhiều mường thượng nguồn sụng Mó cú nhu cầu “Tớm nước ăn cỏ, tớm nà ăn cơm” Một số trường hợp do giặc gió, loạn lạc, họ xỏc định “Đất Mường cũn dài, đất Lào cũn rộng” phải rời bỏ quờ hương tớm nơi đất hứa Vớ thế, từ sụng
Mó đó cú nhiều cuộc di cư lờn Lào, định cư ở Mường Xụi, Mường ẫt, Xiềng Khọ, Nà Đon v.v và di cư sang vựng sụng Lịch triều hiến chương loại chỡ (1961), vào Phủ Quỳ, Tương Dương (Nghệ An) Điều kiện nơi mới tớm đến ở là chỗ thưa dõn, nhiều đất hoặc nơi cú bà con thõn tộc đi trước Bộ phận đi trước thường bắt đầu từ cỏc cuộc khai quật đất đai thuộc địa phận cai quản của cỏc quỡ tộc Thỏi Theo sỏch chữ Thỏi kể về bản Mường
và gia phả cỏc dũng họ, người Thỏi ở sụng Mó Thanh Hoỏ cú 2 dũng họ quỡ tộc ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực, đú là họ Phạm ở mường Ca Da và họ Hà ở Mường Khoũng
Họ Phạm ở mường Ca - da:
Bắt đầu từ ụng tổ là Phạm Yến tờn thật là Lũ Khăm Ban một danh tướng của Lờ Lợi, cú cụng đỏnh giặc Ngụ, được phong là Á Hầu thượng tướng quõn ễng chọn đất Ca
Da xõy dựng thỏi ấp gồm 12 động từ Kẽm Cương trở lờn ễng cú 7 người con trai, phõn cho đi ăn đất ở cỏc nơi là Phạm Ngọc Chỳc, Phạm Phi, Phạm Lỏ, Phạm Xiết Minh, Phạm Nam, Phạm Can, Phạm Lục Trong đú, Phạm Ngọc Chỳc cú tờ sắc phong đề ngày 24/7 năm Gia Thỏi thứ tư, do Trịnh Quốc Cụng chuẩn phong làm thượng tướng, bổ nhiệm giỏm đốc điện hoỏ, phụ trỏch khu Xuõn Lĩnh Gia đớnh này nối nghiệp làm quan, cho nờn vựng đất ấy đặt tờn là Chõu Quan Hoỏ Họ Phạm cử con cỏi đi cai quản cỏc vựng dọc sụng Mó, sang cả Ngọc Lạc Những nơi đú, sau này trưởng Mường thuộc dũng Họ Phạm
mà ảnh hưởng sõu sắc nhất là Mường Ống (Bỏ Thước), Mường Phấm (Cẩm Thuỷ), Mường Ngũn (Ngọc Lạc) Cú một thời anh em thỳc bỏ phõn nhau: Từ Mường Ống trở
Trang 5lên thuộc phần anh, lấy tên là Phạm Bá theo Mường Ca Da, còn ở Ngọc lạc lấy tên họ là Phạm Thúc (vì dụ: Tri Châu Quan Hoá là Phạm Bá Xìch, Chánh tổng Thiết Ống là Phạm
Bá Chinh, tri châu Ngọc Lạc là Phạm Thúc Tiêu)
Những làng lân cận Chiềng Ống - Bá Thước, Chiềng Quạc - Ngọc Lạc, Chiềng Đông - Cẩm Thuỷ có nhiều gia đính quê gốc ở Mường Ca Da
Hà Công ở Mường Khoòng:
Ở Mường Khoòng (Tổng Cổ Lũng châu Tân Hoá) có hai dòng họ Hà Hà Khun lấy tên chữ là Hà Công, thuộc dòng quý tộc và Hà Lặc, lấy tên là Hà Văn, thuộc dòng Tạo cũ Khăm Panh Dòng họ Hà Công nổi tiếng từ thế kỷ thứ XVI, các nơi gọi người đứng đầu dòng họ này là ông Mường Khoòng
Theo sách chữ Thái “Kể chuyện Mường Khoòng” Ông Mường Khoòng được kể như một nhân vật trung tâm là Thái ý Lân hay Khun ý Lân Theo sách Hán Nôm, thí Thái
ý Lân tương ứng với Thái uý Lân quận công Hà Thọ Lộc, một dũng tướng mưu lược của Vua Lê - Chúa Trịnh thời kỳ “Phù Lê diệt Mạc”, chiến tranh Nam - Bắc Triều thế kỷ thứ XVI Trong truyện thơ Khăm Panh, Khun ý Lân và cha là Khun Ha bị coi là nhân vật phản diện ví có xung đột với dòng họ Khăm Panh Nhưng Phăm Panh là một tác phẩm văn học, người viết có thể hư cấu và bày tỏ thái độ theo tính cảm riêng của mính cho nên
sự kiện văn học không hoàn toàn đúng với sự kiện lịch sử
Tài liệu sưu tầm của Lê Bá Chức đăng trên báo Thanh Hoá, trong mục người Xứ Thanh, có trìch dẫn “Lịch triều hiến chương loại chì”của Phan Huy Chú và “Dư địa chì” của Lê Quý Đôn, đánh giá Hà Thọ Lộc và cha ông là Hà Nhân Chình (hay là Hà Thọ Tường) có công giúp họ Trịnh đánh đổ nhà Mạc, khôi phục nhà Lê Hà Nhân Chình được phong chức Tư Đồ tước Thuỵ Quận Công, Hà Thọ Lộc phong chức thiếu uý, Tư mã, Tước Lân quận công, sau đó, truy phong Thái Uý, mất năm 1599 trong khi đang cầm quân trấn giữ Thanh Hoá Sách chữ Thái Mườn Khoòng kể thêm: ông Mường Khoòng kết nghĩa anh
em với Lượng Quốc Công (Trịnh Kiểm) từ lúc đang còn khốn khó che giấu nhà vua khi còn nhỏ tuổi Ông Mường Khoòng mất ở Thành Tây Giai ®-îc con cháu Lượng Quốc Công đưa thi hài về làm ma tại nhà chúa (Làng Báo Vĩnh Lộc) chôn cất tử tế như bậc cha chú trong nhà Từ đó, người nhà ông Mường Khoòng và quân lình trông coi mồ mà lưu lại, lâu ngày trở thành một nhóm dân cư địa phương
Sau khi đi thực tế tại xã Vĩnh Thịnh - huyện Vĩnh Lộc, chúng tôi nhận định rằng, nhóm dân cư có khẩu ngữ khác với xung quanh mà người ta gọi là Mường Kinh Thuỷ, chình là hậu duệ của con cháu người Thái Mường Khoòng định cư từ hơn 400 năm nay Nhóm này chủ yếu là họ Hà: Riêng làng Sanh “Gọi Trệch tên cũ làng San – San từ làng
Trang 6Cả ra” cú 141 hộ họ Hà với 130 đinh Ở giữa làng cú mộ cao cao Tổ Hà Quý Cụng, trước đõy rộng ba sào đất (sào Bắc Bộ) nay cũn một sào; Người trưởng họ được quyền coi giữ ngụi mộ, gọi là ụng Cốc họ Mộ này cỏch Làng Bỏo, quờ Trịnh Kiểm khoảng hai cõy số đường chim bay Theo chỳng tụi, đõy là mộ Hà Thọ Lộc – ụng Mường Khoũng Họ Hà ở đõy đó phỏt tỏn đi nhiều nơi khỏc Trong đú, một bộ phận ng-ợc sụng Mó trở về quờ cũ, phỏt triển thành họ Hà Cụng ở Điền Lư (dũng họ Hà Cụng Thỏi, Hà Văn Mao); Hà Văn ở Mương Kỷ (Hà Văn Nho, Hà Văn Huệ) Ở Đa Bỳt cũn lưu truyền cõu chuyện ụng Tổ họ
Hà ở Điền Lư là một chi của họ Hà Làng Cả (Vĩnh Thịnh) Chọn đất phỏt tỡch đó đặt mộ
“Mẹ Mó đà, cha nỳi Dựng” và tõm niệm cõu sấm ký:
“Bao giờ sấm dậy Mó đà Sụng Mó hết nước, Họ Hà hết quan”
ễng này đó trở về Mường Khoũng, sau đú chuyển ra khai phỏ làng Đàm (xó Lõm Xa) từ đõy tiếp cận Mường Khà (vựng Điền Lư), làm con rể nhà ụng Tạo Cai và tớm cỏch chiếm lấy vị trỡ Trưởng Mường, đổi tờn từ Mường Khà thành Mường Khụ Sỏch chữ Thỏi gọi ụng là Tiờu Tai; Thành hoàng Đắm thờ ụng gọi là ễng Chưởng Ít; đền thờ chựa Mốo (Điền Lư) gọi tờn ễng là Hà Cụng Ngụn Từ Hà Cụng Ngụn đến Hà Cụng Thỏi (thời Gia Long) cỏch nhau 4 đời Trước đú từ thời Khun Ha, Khun í Lõn, mường Khoũng đó vươn tới cai quản vựng đất Đắm Đan, Mường Ai, Mường Khà Đời nào cũng cử con đi làm tạo
ở cỏc mường này Mỗi khi tạo đi thớ mang theo dõn (pỏu) đi theo để làm người thõn cận Gặp “Đất tốt Cũ đậu”, những lớp người này cựng gia đớnh của họ ở lại quờ mới và dần dần hoà nhập vào cộng đồng người M-ờng Từ đó lại tạo ra cỏc cuộc chuyển cư theo dũng tộc gọi là “Năm neo”, kộo dài hết đời này sang đời khỏc Khi họ Hà Cụng làm tạo mường Khụ, nhất là thời kỳ Quận cụng Hà Cụng Thỏi, cai tổng Hà Văn Mao, tri chõu Hà Cụng Nguyệt thớ mối giao lưu giữa mường Khoũng và mường Khụ càng cú điều kiện
đ-ợc củng cố hơn Đầu thế kỷ XIX, Hà Cụng Thỏi được phong tước Quận Cụng, được vua Gia Long ban cho ăn lộc 36 trang ấp từ Cầu Xuụng (Yờn Quỡ – Yờn Định) và Eo Lờ trở lờn thượng nguồn sụng Mó, họ Hà đưa người nhà xuống tận Khi Dồ (Cẩm Sơn) Mường Ne (Yờn Lõm – Yờn Định) để làm chức dịch khai khẩn đất đai Quỏ trớnh đú phải dừng lại sau thất bại của phong trào Cần Vương chống Phỏp ở miền nỳi Thanh Hoỏ do
Hà Văn Mao cầm đầu Tuy nhiờn, những cuộc chuyển cư từ trờn xuống vựng Mường Khụ vẫn tiếp tục cho đến giữa thế kỷ XX điển hớnh như làng Triu Cao (xó Điền Lư), làng Tụm (Ái Thượng) làng Đốn (xó Điền Hạ), thung Roụng (xó Điền Thượng)…
Như vậy, dựa trờn cơ sở tổng hợp những dấu hiệu dễ nhớn thấy, chỳng tụi mạnh dạn khẳng định rằng: vựng trung lưu sụng mó, nơi đồng bào Mường sinh sống ngày nay đó
Trang 7từng xuất hiện các cộng đồng cư dân người Thái từ thời xa xưa Sau, ví một lý do lịch sử nào đó, người Thái chuyển đi, người Mường phát triển thịnh vượng lên, làm chủ vùng đất này Tiếp theo, do mối quan hệ gần gũi và ảnh hưởng của các thế lực dòng họ quý tộc Thái, người Thái lại tiếp tục chuyển cư xuống hoà nhập vào cộng đồng xã hội người Mường, trở thành người Mường
Trang 8TRUYỀN THUYẾT BÁO LUÔNG - SAO CẢI VỀ THỜI TIỀN SỬ VỚI DI SẢN
KHẢO CỔ HỌC Ở NGƯỜM BỐC
Dương Sách (Cao Bằng)
Trong truyềng thuyết Pú Lương Quân lưu truyền ở Cao Bằng có kể đến một đôi vợ chồng khổng lồ Báo Luông – Sao Cải là người cổ đã có công lao to lớn gây dựng nên non nước Cao Bằng
Cao Bằng thủa đó chỉ là một miền đất hoang vu, rừng núi um tùm, cây cỏ rậm rạp, dây dợ chằng chịt, hàng nghín loài thú thả sức tung hoàng, hàng vạn loài chim đua nhau bay lượn Lúc đó loài người mới sinh ra trên trái đất Ở đất Cao Bằng lúc đó mới chỉ có hai người: Gái là Sao Cải thân to bằng cây lai, tay dài như cành trám; Trai là Báo Luông cao to như cây đa cổ thụ ngàn năm, tay dài như cành cây gạo đỏ Hai người đều ở trần truồng, lông lá đầy mính Khi rét họ lấy vỏ cây che thân, không quần áo, không nhà cửa Tối đâu họ ngủ đấy, khi gốc cây, khi hang đá
Một hôm Sao Cải từ Nặm Quét ra vùng đất Pác Măn đuổi nai thí gặp Báo Luông đang săn cáo ở đó Tính cờ trời đổ mưa , hai người ba chân bốn cẳng chạy về hướng đông, đến động Ngườm Bốc (còn gọi là Ngườm Ngả) thí vào trú mưa trong đó Trong động núi ấm áp kìn đáo, họ chọn làm chỗ ở, sinh con đẻ cái, họ trở nên vợ chồng
Ban đầu ®-a con cái đi săn bắt muông thú hoặc hái hoa quả trên cây để ăn Nhưng đàn con vẫn kêu đói nªn họ phải lội xuống suối nhặt các con ốc đá về ăn thay bữa…
Con cái ngày càng lớn, Sao Cải dạy chúng đi kiếm ăn hàng ngày, nhưng vẫn chỉ là cuộc sống săn bắt
Một hôm mưa to bão lớn làm lở từng triền núi đá, gây ra động rừng Có một tia sáng loé lên, cây móc bị chẻ đôi, lửa cháy không ngớt khiến mưa phải tạnh Họ thấy trong cây móc bị cháy có con tắc kè chết cong thơm lừng, họ chia nhau ăn mỗi người một miếng thấy ngon hơn là ăn sống nuốt tươi như mọi khi Họ đã từng đi qua những khu rừng nứa bạt ngàn gặp những ngày nắng to, thân nứa cọ vào nhau gây nên nạn cháy rừng,
họ đi tím kiếm thú rừng chết cháy để ăn Từ đấy họ biết làm ra lửa và cuộc sống mới đã đến với họ
Trang 9Họ biết làm nhà để sống với nhau, biết bắt những muụn thỳ về nuụi, biết trồng cấy những giống cõy nụng nghiệp, biết lấy vỏ cõy phơi khụ để che thõn
Tất cả những cỏi đú đều là cụng gõy dựng lớn lao của Sao Cải
Dần dần con cỏi đụng đỳc, họ phải chia đi cỏc nơi lập thành nhiều dũng họ khỏc nhau Đất đai sụng nỳi vựng non nước Cao Bằng đều ghi lại sự tỡch: nơi nuụi chú là Phja
Ma, nơi chăn dờ là Vũ Bẻ, nơi thả bũ là Lủng Mũ, chỗ làm kho thúc là Khau Khấu, chỗ đỏnh bắt được nhiều cỏ là Nà Pja…
Do được Sao Cải dạy dỗ nờn con chỏu đều biết đạo lý ăn ở, cỏc con là chỗ nhờ cậy lỳc tuổi già của Pỳ Luụng (Bỏo Luụng) và Giả Cải (Sao Cải) Khi 2 ụng bà mất, họ đem chụn ở gũ Bằng Hà Để nhớ cụng ơn ụng bà đó sinh ra loài người, dạy mọi người biết khai phỏ ruộng nương, lập nờn mường bản người đời sau đó lập đền thờ ụng bà ở ngũi Bản Sậy, đoạn chảy qua Bản Vạn (gần Nước Hai) Đến nay ta vẫn gọi đú là đền thờ Pỳ Luụn - Giả Cải, hay cũn gọi là đền Pỳ Lương Quõn hoặc đền Thần nụng
Sao Cải đó trở thành một vị anh hựng sống mói trong lũng dõn từ đời này sang đời khỏc bởi đó là vị thần bảo vệ mựa màng, phự hộ dõn làng làm ăn thịnh vượng
Với truyền thuyết cổ xưa truyền lại, Sao Cải cựng chồng gõy dựng nờn non nước Cao Bằng, họ là những anh hựng bất tử
Trờn bỏo Cao Bằng số ra ngày 27 thỏng 02 năm 2004, tỏc giả Đinh Ngọc Hải cho biết: cuối năm 2003, đoàn khảo sỏt Viện khảo cổ học Việt Nam do tiến sỹ Trớnh Năng Chung, tiến sỹ Đào Quý Cảnh lờn nghiờn cứu khảo cổ học tại Cao Bằng, đến động Ngườm Bốc (Ngườm Ngả) đó phỏt hiện dấu tỡch văn hoỏ của người nguyờn thuỷ cư trỳ trong động Những dấu tỡch này thể hiện rừ ở lớp trầm tỡch văn hoỏ đó bị hiện tượng canxi hoỏ mạnh, phần hoỏ thạch hiện cũn phõn bố ở hai bờn vỏch đỏ trỏi và phải cửa hang Lớp trầm tỡch này được kết cấu bởi đất đỏ sột thương cú trong hang động và xương răng động vật, hai tảng lớn vỏ ốc suối Menila và đặc biệt cũn thu thập được cụng cụ lao động của người nguyờn thuỷ Qua nghiờn cứu, hai nhà khoa học cho biết, để tạo thành lớp trầm tỡch phải trải qua thời gian ỡt nhất là hơn vạn năm Điều này núi lờn rằng di tỡch văn hoỏ tiền sử ở động Ngườm Bốc là một di tỡch người nguyờn thuỷ cư trỳ cỏch ngày nay vạn năm về trước
Xem lại truyền thuyết dõn gian kết hợp với kết quả của khảo cổ học, ta cú thể ngờ rằng truyền thuyết Bỏo Luụng cú dỏng dấp mụ tả người nguyờn thuỷ xưa kia đó từng ở động Ngườm Bốc; nhõn vật Sao Cải là anh hựng văn hoỏ sỏng tạo ra nước non Cao Bằng, một trung tõm xó hội thời xưa của đất nước
Trang 10DS