1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của công ty CP TM&PT Việt Trung

57 395 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của công ty CP TM&PT Việt Trung
Tác giả Mai Thanh Toàn
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Hải Hà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 365,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính

Trang 1

Lời mở đầu

òa chung với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các

tổ chức cũng như các doanh nghiệp phải đảm bảo sự tồntại ổn định và phát triển tạo nên hiệu quả kinh tế cao Cơchế thị trường cùng với đường lối, các chính sách của Đảng và Nhà nước đãtạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội mới nhưng cũng không ít khó khăn và thửthách phải vượt qua Trước sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, cácthành phần kinh tế, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó cũng phải mang lại hiệu quảkinh tế-xã hội, điều đó có nghĩa là thu nhập phải bù đắp chi phí và có lợinhuận đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước

H

Để làm được điều này, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiếnmẫu mã, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng tiết kiệmhợp lý chi phí, tìm cách giảm giá thành trong sản xuất sản phẩm, luôn tìmcách thu hút nhiều nguồn vốn, đầu tư góp vốn liên doanh hay vay mượn củabạn hàng…

Khi nền kinh tế Thế giới thay đổi, nền kinh tế tập trung đang dầnchuyển sang nền kinh tế thị trường, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước là khôngthể thiếu được Song song với sự thay đổi của nền Kinh tế thị trường là sự rađời của Công nghệ Tin học Công nghệ Tin học ra đời đã giúp ích rất nhiềutrong công việc quản lý vĩ mô của Nhà nước Nhưng để có được sự quản lý vĩ

mô hoàn thiện, ở mỗi đơn vị cá nhân cần phải có sự quản lý chặt chẽ trongmọi vấn đề như sau: Quản lý nhân sự, Quản lý hàng hoá, Quản lý vật tư,Quản lý sổ sách - chứng từ, Đối với các Doanh nghiệp tư nhân, quản lý làmột công việc hết sức quan trọng vì nó có ý nghĩa quyết định đến hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp

Trang 2

Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trênthương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý tàichính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trựctiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam Bởi lẽ, để hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phảinhanh chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu cầu vềvốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụngvốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm đượcnhững nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đếntình hình tài chính doanh nghiệp Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phântích tài chính

Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lýdoanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, từ đó có thể nhận ranhững mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch địnhphương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giảipháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính giúp nâng caochất lượng doanh nghiệp

Để hiểu rõ hơn về nghiệp vụ quản lý ở Doanh nghiệp, em đã xin vào thựctập tại Công ty Cổ phần Thương mại và Phát triển viễn thông Việt Trung

Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần Thương Mại và PhátTriển Viễn Thông Việt Trung (CP TM&PT Việt Trung) , qua tìm hiểu vàphân tích, em thấy rằng Vấn đề quản lý tài chính của công ty còn nhiều bấtcập Trong khi quản lý tài chính luôn giữ một vị trí quan trọng trong hoạtđộng của doanh nghiệp, chi phối tất cả các khâu trong quá trình sản xuất-kinh doanh, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp Đặcbiệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh diễn

ra khốc liệt thì quản lý tài chính trở nên quan trong hơn bao giờ hết Vì vậy

Trang 3

em quyết định chọn đề tài chuyên đề thực tập: “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của công ty CP TM&PT Việt Trung”

Dựa vào việc phân tích và dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệpcác nhà quản lý sẽ biết được tiềm năng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh, khả năng sinh lời cũng như những rủi ro của doanh nghiệp Có được

sự phân tích tình hình tài chính và nắm được tình hình của doanh nghiệp từ đóđưa ra các quyết định, các đối sách tốt nhất mang lại kết quả tốt nhất chodoanh nghiệp trước các biến động ngày càng phức tạp của thị trường và củanền kinh tế nước ta

Nội dung chuyên đề thực tập bao gồm ba chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG VIỆT TRUNG.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG VIỆT TRUNG.

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.Những khái niệm cơ bản.

1.Tài chính

Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hìnhthức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụngcác quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp

và góp phần tích luỹ vốn.1

Nội dung của những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanhnghiệp bao gồm:

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước:

Mối quan hệ kinh tế này được thể hiện: trong quá trình hoạt động kinhdoanh các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luậtđịnh và ngược lại nhà nước cũng có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanhnghiệp để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của mình

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường:

Kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đềuđược thực thi thông qua hệ thống thị trường: Thị trường hàng hoá tiêu dùng,thị trường hàng hoá tư liệu sản xuất, thị trường tài chính…và do đó, với tưcách là người kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp không thể tách rờihoạt động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố củahoạt động kinh doanh, người bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ; đồng thờivừa là người tham gia huy động và mua, bán các nguồn tài chính nhàn rỗi của

xã hội

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:

Quan hệ này được biểu hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các

nguồn tài trợ.Trên thị trường tài chính doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn dể

1 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006

Trang 5

đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đápứng nhu cầu dài hạn.Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạn thời chưa sử dụng.

Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp gồm:

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng, tổ,đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong quátrình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiềnthưởng, tiền phạt, lãi cổ phần,…

Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hoà vốn giữa các đơn vị trựcthuộc trong nội bộ doanh nghiệp, với Tổng công ty.2

Tài chính công ty là hệ thống các quan hệ kinh doanh nảy sinh trong

quá trình phân phối các khoản tiền gắn liền với việc tạo lập và sử dụng cácquỹ tiền mặt của công ty để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, trong

đó, bộ máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt đông tài chính công ty Vai tròcủa việc quản lý tài chính cũng rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luậtkhách quan, và bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh củacông ty

Thị trường tài chính là các thể chế, quá trình và cơ cấu giúp cho các

công ty và cá nhân kinh doanh có thể huy động vốn để triển khai và thực hiệnmục tiêu hoạt động Tầm quan trọng của thị trường tài chính nằm ở khía cạnhliên kết giữa các quyết định chi tiêu của loài người, trong cả đời sống cánhân-gia đình lẫn thế giới kinh doanh Cá nhân và nhà kinh doanh luôn có thểđóng vai trò hoặc thụ động hoặc chủ động trên thị trường tài chính Đối với cá

2 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006 Trang 9

Trang 6

nhân, thị trường tài chính giúp cải thiện nguồn thu nhập và tối ưu hoá tài sảntrong tương lai Đối với công ty, nó tăng cường nguồn lực và cải thiện hiệuquả quản trị tài chính.

Ở một góc độ khác, thị trường tài chính là nơi hoặc cơ chế tại đó các tàisản tài chính được trao đổi và giá của chúng được hình thành bởi các lựclượng tham gia

Thị trường tài chính có hai chức năng quan trọng bậc nhất, và khôngthể bỏ qua như sau:

Thị trường tài chính phải hoàn thành chức năng sinh ra tính thanhkhoản (liquidity) phục vụ người nắm giữ tài sản tài chính

Thị trường tài chính phải hoàn thành nhiệm vụ làm giảm thiểuchi phí giao dịch (cost of transaction) trong hoạt động dịch chuyển dòng tàichính giữa các thành phần tham gia

Thanh khoản nói tới khả năng có thể bán một tài sản tài chính nhanhchóng, với chi phí thực hiện giao dịch rất nhỏ Tính thanh khoản là một đặctính vô cùng quý giá của một tài sản tài chính Nếu như tài sản không có tínhthanh khoản, cách duy nhất để nhận được giá trị tài sản đó là chờ cho tới khinhận được dòng tài chính do tài sản quy định Tuy vậy, nhiều bất chắc có thểxảy ra trong tương lai, do đó sự tồn tại tính thanh khoản tài sản làm tăng cơhội và tính linh hoạt cho tất cả các thành phần tham gia thị trường.

Kinh tế học tài chính là một ngành khoa học có mục tiêu hiểu biết về thế

giới tài chính, và sự hiểu biết đó có thể phục vụ mục tiêu tiếp theo là cải thiệnvận hành của nền kinh tế tài chính

Kinh tế học tài chính có khía cạnh quan trọng nhất, giống như cácnhánh khác của kinh tế học, là nghiên cứu hành vi con người trong nền kinh

tế thị trường, vận dụng tính phức hợp và khái quát các vấn đề hắc búa trongphương pháp luận mà nhiều ngành khoa học chính xác truyền thống khác

Trang 7

chưa từng phải xử lý Dưới đây là tổng quát về hướng phát triển phương phápluận trong kinh tế tài chính.

Lý thuyết chuẩn tắc: Là lý thuyết phát triển một thủ tục hay một tậphợp quy tắc để hoàn thành một mục tiêu đặt ra Nó mang tính chất giải thích

"sự vật nên/cần phải vận động theo hướng này." Ví dụ: nếu mục tiêu của bạn

là đầu tư vào tài sản tài chính trên thị trường chứng khoán, lý thuyết chuẩn tắc

sẽ phải được ứng dụng để cung cấp một chuỗi quy tắc đưa đến trạng thái bạn

có thể tối đa hoá tài sản

Lý thuyết thực chứng: Là mệnh đề mô tả trạng thái thực, thay vì mangmàu sắc "mong muốn" như lý thuyết chuẩn tắc Nói ngắn gọn, loại lý thuyếtnày bản thân nó là sự mô tả về cách thức một phần của thế giới được quan sáttương tác ra sao Ví dụ: đối với thị trường chứng khoán, lý thuyết thực chứngliên quan có thể là việc đưa ra một giả thiết về đặc tính hành vi của giá cổphiếu XYZ, và cách nó được hình thành qua các lực lượng thị trường Tự bảnthân lý thuyết thực chứng không nhất thiết lúc nào cũng cung cấp một địnhhướng cho hoạt động tác nghiệp cụ thể Trên thực tế, thực chứng là cải thiệnhiểu biết của chúng ta về thế giới tài chính và phương thức nó hoạt động,thông qua đó điều chỉnh hành vi và quyết định của chính chúng ta Kiểm định thống kê: Trong nghiên cứu tài chính luôn cần hoàn thànhhai nhiệm vụ căn bản: xây dựng các lý thuyết và kiểm định tính hiệu dụng của

lý thuyết Nhiệm vụ thứ hai thuộc phạm vi của kiểm định thống kê (empiricalinvestigation)

Để kiểm định thống kê, lý thuyết góp phần xây dựng hai hoặc nhiềuhơn giả thiết thống kê Sau đó, dựa trên quy tắc thống kê toán cổ điển, nhànghiên cứu lựa chọn hoặc bác bỏ các phương án, với mức xác suất tin cậy phổdụng Một quá trình kiểm định liên quan nhiều tới các phân phối xác suất cơbản, và xác lập quy tắc công nhận hay không công nhận một giả thiết Hầu

Trang 8

như không bao giờ có thể chứng minh một lý thuyết hoàn toàn đúng tuyệt đối.Kiểm định chỉ nhằm mục tiêu "chứng minh sự thất bại của nỗ lực bác bỏ mộtgiả thiết." (Tức là có thể công nhận một cách có cơ sở và khá an toàn.)

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà doanh nghiệp phải xử lý các quan

hệ tài chính thông qua phương thức giải quyết ba vấn đề sau:

Thứ nhất: Nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại

hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạncủa doanh nghiệp và là cơ sở để dự đoán vốn đầu tư

Thứ hai: Nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn

nào?

Thứ ba: Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như

thế nào? Đây là quyết định tài chính ngắn hạn và chúng có liên quan chặt chẽ tớiquản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp

Ba vấn đè trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh nghiệp ,nhưng nó là ba vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất Nghiên cứu tài chính doanhnghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó.3

Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm tới việc nhận được baonhiêu tiền mà còn quan tâm tới việc khi nào nhận được và nhận như thế

3 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006 Trang 13-14

Trang 9

nào Đánh giá quy mô , thời hạn và rủi ro của các dòng tiền trong tương lai làvấn đề cốt lõi của quá trình dự đoán vốn đầu tư.4

II.Sự cần thiết của quản lý tài chính

1.Tổng quan về tình hình tài chính và quản lý tài chính

Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt độngquản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập ,sự thành bại của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực vàquốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toànthế giới , quản lý tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tàichính của doanh nghiệp Nó thực hiện thông qua cơ chế quản lý tài chínhdoanh nghiệp.Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là tổng thểcác phương pháp ,các hình thức và công cụ được vận dung để quản lý cáchoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạtđược những mục tiêu nhất định.5

Có rất nhiều phương pháp để đánh giá sự lành mạnh về tình hình tàichính của doanh nghiệp Song, khi có trong tay Bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp, ch úng ta có thể đánh giá thông qua việc xác định và phân tích

07 chỉ tiêu khái quát sau đây:

4 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006 Trang 15

5 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006 Trang 17

Trang 10

Hệ số thanh toán hiện thời (H2):

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (H3)

Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động

H3 =

Tổng số nợ ngắn hạn

Trang 11

H3 được xác định bằng cách lấy tổng giá trị thuần của tài sản lưu độngchia cho tổng số nợ ngắn hạn Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động là sốliệu của dòng "Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn", mã số 100 bên Tài sản.Tổng số nợ ngắn hạn là số liệu của dòng "Nợ ngắn hạn", mã số 310 bênNguồn vốn Chỉ tiêu H3 chỉ rõ khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn đếnhạn của doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu H3 càng lớn, tình hình tài chính củadoanh nghiệp càng lành mạnh ớ các nước phát triển, H3 thường lớn hơn hoặcbằng 2 Trong điều kiện Việt Nam, H3 phải luôn luôn lớn hơn 1 Nếu H3 càngnhỏ hơn 1, khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn của doanhnghiệp càng giảm Khi H3 = 0, doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán nợngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh (H4):

H4 được xác định bằng cách so sánh giữa tổng số tiền và giá trị tài sảntương đương tiền với tổng số nợ ngắn hạn:

Tổng số tiền và giá trị tài sản tương đương tiền

H4 =

Tổng số nợ ngắn hạn

Tổng số nợ ngắn hạn Số tiền và giá trị tài sản tương đương tiền có thể

sử dụng để thanh toán ngay là số liệu của dòng "Tiền", mã số 110 cộng (+) sốliệu dòng "Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn", mã số 120, bên Tài sản.Tổng số nợ ngắn hạn là số liệu của dòng “Nợ ngắn hạn", mã số 310, bênnguồn vốn

H4 là hệ số sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán ngay các khoản nợđến hạn của doanh nghiệp H4 càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càngcao và ngược lại Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao thì vốn bằng tiền quánhiều, vòng quay vốn lưu động thấp, hiệu quả sử dụng vốn không cao Theokinh nghiệm, hệ số này ở trong khoảng 0,1 < H4 < 0,5 là hợp lý hơn cả

Trang 12

Hệ số thanh toán của vốn lưu động (H.5)

Tổng số tiền và giá trị tài sản tương đương tiền

H5 =

Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động

H.5 được tính bằng cách so sánh giữa Tổng số tiền và tương đương tiềnvới Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động Với bảng cân đối kế toán dànhcho các DNNN, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Tống số tiền vàgiá trị tài sản tương đương tiền là số liệu của dòng Tiền (mã số 110) cộng (+)

số liệu của dòng “Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn" (mã số 120), với bảngcân đối kế toán dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là số liệu của dòngTiền mặt tự qũy (mã số 110) cộng (+) số liệu của dòng Tiền gửi ngân hàng(mã số 111), cộng số liệu của dòng “Đầu tư tài chính ngắn hạn" (mã số 112).Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động là số liệu của mục A "Tài sản lưu động

và đầu tư ngắn hạn mã số 100, không có sự khác nhau giữa các bảng cân đối

kế toán đã nêu trên Theo kinh nghiệm, H5 lớn hơn 0,5 thì lượng tiền và tươngđương tiền của doanh nghiệp quá nhiều, ảnh hưởng xấu đến vòng quay vốnlưu động H.5 nhỏ hơn 0,1 thì doanh nghiệp không có lượng tiền cần thiết đểthanh toán nợ ngắn hạn Vì vậy cần điều hành sao cho 0,1 < H5 < 0,5.

Hệ số vốn bị chiếm dụng (H6)

Tổng số nợ phải thu cuối kỳ báo cáo

H6 =

Tổng tài sản cuối kỳ báo cáo

H.6 được tính bằng cách so sánh tổng số nợ phải thu vào cuối kỳ báo cáovới giá trị của tổng tài sản cuối kỳ báo cáo Với bảng cân đối kế toán dành chocác DNNN, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng số nợ phải thucuối kỳ báo cáo là số liệu dòng phải thu của khách hàng (mã số 131) cộng (+) sốliệu của dòng "Trả được cho người bán (mã số l32), cộng (+) số liệu của dòng

Trang 13

“Thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ" (mã số l33) cộng số liệu của dòng “cáckhoản phải thu khác" (mã số l38) Với bảng cân đối kế toán dành cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ, là số liệu dòng “phải thu” của “khách hàng" (mã số 114)cộng (+) số liệu của dòng “các khoản phải thu khác" (mã số 115) 'cộng số liệucủa dòng "Thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ" (mã số 117), Tổng tài sảncuối kỳ báo cáo là so liệu của dòng “Cộng tài sản” (mã số 250), không có sựkhác nhau giữa các Bảng Cân đối kế toán nêu trên H.6 càng cao tức là số vốncủa doanh nghiệp bị người khác chiếm dụng càng nhiều và ngược lại Khi H.6 =

1, tức là toàn bộ giá trị tài sản cửa doanh nghiệp đang bị chiếm đóng, tình hìnhtài chính rất xấu nhiều khả năng dẫn đến phá sản

Vốn hoạt động thuần (H.7 )

Vốn hoạt động thuần được xác định theo công thức sau:

H7 = Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động - Tổng nợ ngắn hạn

Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động là số liệu của dòng “Tài sản lưuđộng và đầu tư ngắn hạn” (mã số 100) bên tài sản của bảng cân đối kế toán.Tổng số nợ ngắn hạn là số liêu dòng "Nợ ngắn hạn" (mã số 310) bên nguồnvốn của bảng cân đối kế toán H7 càng lớn, vốn hoạt động thuần của doanhnghiệp càng cao, tình hình tài chính càng lành mạnh và ngược lại Khi H7 làmột số âm, doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phá sản, khi tống số nợngắn hạn bằng 0, H7 bằng tống giá trị thuần của tài sản lưu động Đó là trườnghợp không thể xẩy ra trong thực tiễn

2.Sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác tài chính của công ty

Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ với mọi hoạt độngkhác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục những khuyếtđiểm trong các lĩnh vực khác.Một quyết định tài chính không được cân nhắc,hoạch định kỹ lưỡng có thể gây lên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp vàcho nền kinh tế Doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên

Trang 14

các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tếphát triển Bởi vậy quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọngđối với việc nâng cao quản lý tài chính quốc gia.6

Trong quá trình hình thành và từng bước tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh sẽ hình thành những mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thểkinh tế khác, nền kinh tế càng phát triển cao thì mối quan hệ trên càng trở nênphức tạp và việc xử lý những mối quan hệ đó củng trở nên khó khăn hơntrong đó đặc biệt cần kể tới là những mối quan hệ tài chính Trên thế giới hiệnnay một số quốc gia có nền kinh tế phát triển cao có được thị trường tài chínhphát triển rất cao và các quan hệ tài chính vô cùng phức tạp Mặt khác trongthời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển và đạt đến một trình độ rấtcao như hiện nay thì ứng dụng của nó vào hoạt động tài chính doanh nghiệpngày càng phổ biến, việc xử lý các mối quan hệ tài chính được ứng dụng rấtnhiều

Doanh nghiệp khi đi vào hoạt động và phát triển sẽ có rất nhiều vấn đề tàichính doanh nghiệp phát sinh, trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế ViệtNam có sự phát triển và hội nhập nhanh chóng cùng nền kinh tế thế giới làmcho thị trường tài chính có sự phát triển vượt bậc, làm cho việc giải quyết cácvấn đề càng khó khăn hơn

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước chủ yếu thể hiện thôngqua nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước Đây không phải là một hoạt động đơnthuần và đơn giản, ngược lại nó vô cùng phức tạp Việc hoạch toán kế toànphải dựa trên quy định chung của nhà nước tất nhiên là tuỳ thuộc vào lỉnh vựchoạt động của doanh nghiệp Khi nền kinh tế Việt Nam có sự hội nhập mạnh

mẽ với thị trường thế giới quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước trong lĩnh

6 Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Lưu Thị Hương-PGS.TS Vũ Duy Hào.NXB ĐHKTQD 2006 Trang 18

Trang 15

vực tài chính là phức tạp hơn rất nhiều Lúc này việc xác định mức thuế cũngtuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh cũng như các điều khoản về thuế mà nhànước đả cam kết trong các hiệp định thương mại, trong các điều khoản gianhập các tổ chức kinh tế xã hội trên thế giới.

Một nền kinh tế phát triển cao sẽ phản ánh tính đa phương hoá đa dạng hoácác loại hình donh nghiệp Nền kinh tế Việt Nam hiện này đang có sự pháttriển mạng mẽ các doanh nghiệp có vốn liên doanh nước ngoài và các doanhnghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Như vậy quan hệ giữa doanh nghiệp vàcác tổ chức khác xét trên khía cạnh tài chính càng trở nên đa dạng và phức tạphơn Các dòng tiền luôn chuyển không chỉ trong ranh giới nội bộ quốc gia màcòn với các nước khác trên thế giới Quan hệ tài chính lúc này đòi hỏi nhữngvấn đề khó khăn hơn và phức tạp hơn Mặt khác doanh nghiệp sẻ có nhiềuthuận lợi trong quá trình huy động vốn tuy nhiên tính đa dạng hoá cao cùngtiềm ẩn rất nhiều áp lực cạnh tranh từ nhiều phía hơn

Việc hoàn thiện công tác tài chính công ty xẽ có các vai trò:

Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất:

Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phảithanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huyđộng và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quảquá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp – đây là vấn đề có tính quyếtđịnh đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh “khắcnghiệt” theo cơ chế thị trường

Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh: Thu nhập

bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối Thu nhậpbằng tiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bùđắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc

Trang 16

thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên nhiên liệu để tiếp tụcchu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Phần còn lại doanhnghiệp dùng hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn.Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối thunhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền vớinhững đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sởhữu doanh nghiệp

Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phânphối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chínhdoanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra nhữngđộng lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ vàthu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội

Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến

hành thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thểcác chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanhtoán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉtiêu đặc trưng về khả năng sinh lời…Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chínhcho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháptối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính – kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 17

III.Nội dung quản lý tài chính

Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tìnhtrạng tài chính của một doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó

và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cốđịnh và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lãi cổ tức của cổ đông

Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn

và ngắn hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty.Đây là công việc rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnhhưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư đểthành lập, duy trì và mở rộng công việc kinh doanh Lập kế hoạch tài chính sẽcho phép qụyết định lượng nguyên liệu thô doanh nghiệp có thể mua, sảnphẩm công ty có thể sản xuất và khả năng công ty có thể tiếp thị, quảng cáo

để bán sản phẩm ra thị trường Khi có kế hoạch tài chính, bạn cũng có thể xácđược nguồn nhân lực doanh nghiệp cần “Việc quản lý tài chính không cóhiệu quả là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại của các công ty, không

kể công ty vừa và nhỏ hay các tập đoàn công ty lớn.”

Lập kế hoạch tài chính gồm lập kế hoạch trong ngắn hạn và lập kếhoạch trong dài hạn Kế hoạch tài chính ngắn hạn là việc lập kế hoạch về lợinhuận và ngân quỹ công ty trong khi kế hoạch dài hạn thường mang tínhchiến lược và liên quan đến việc lập các mục tiêu tăng trưởng doanh thu vàlợi nhuận trong vòng từ 3 đến 5 năm

Kế hoạch tài chính ngắn hạn

Các công cụ dùng trong việc lập kế hoạch ngắn hạn thường dùng là:báo cáo thu nhập chiếu lệ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, phân tích tình hìnhngân quỹ và chiến lược giá cả Kế hoạch tài chính ngắn hạn nên được lập theotừng tháng để có được cái nhìn sát hơn và đưa ra được biện pháp nâng caotình hình tài chính

Trang 18

Lập kế hoạch tài chính dài hạn hay kế hoạch tài chính chiến lược.Cácdoanh nghiệp thường sử dụng báo cáo thu nhập chiếu lệ cho khoảng thời gian

từ 3 đến 5 năm Vấn đề khó khăn đặt ra là làm sao có thể dự đoán hết đượcnhững biến động sẽ xảy ra với doanh nghiệp trong vòng mấy năm sắp tới Cácnhà quản lý sẽ dễ dàng làm được điều này theo quy trình sau:

Xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà công ty có thể đạt được.Tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị,nhà xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu.Nhà quản trị phải dự tính được chính xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kếhoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân quỹ từ lợi nhuận khôngchia không đủ đáp ứng Có 2 nguồn vốn trang trải cho nhu cầu vốn để tăngtrưởng là: lợi nhuận và vay nợ

“Nếu công ty không có đủ vốn để tài trợ cho chương trình mở rộngcông việc kinh doanh thông qua tăng tồn kho, đổi mới trang thiết bị và tài sản

cố định và tăng chi phí điều hành công ty thì sự phát triển của công ty sẽ bịchậm lại hoặc dừng lại hẳn do công ty không thanh toán được các khoản nợđến hạn.”

Để tránh tình trạng này, nhà quản trị phải tích cực lập kế hoạch tàichính để kiểm soát được tốc độ tăng trưởng Muốn thế bạn phải xác định đượcchính xác các nhu cầu của doanh nghiệp trong tương lai bằng cách sử dụngbáo cáo thu nhập chiếu lệ trong vòng từ 3 đến 5 năm

Trong trường hợp lợi nhuận làm ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tăngtrưởng dự báo của công ty, người quản trị phải bố trí vay nợ bên ngoài hoặcgiảm tốc độ tăng trưởng để mức lợi nhuận làm ra có thể theo kịp nhu cầu tăngtrưởng và mở rộng Do việc thu hút vốn đầu tư và vay nợ mất rất nhiều thờigian nên đòi hỏi nhà quản trị phải dự báo chính xác và kịp thời để tránh tìnhtrạng gián đoạn công việc kinh doanh

Trang 19

Để có thể lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn có hiệu quả, các nhàquản trị nên tiến hành theo các bước sau:

• Xác định mục tiêu cá nhân và sự ảnh hưởng của mục tiêu cá nhân đếncác mục đích tài chính của công ty để có thể điều chỉnh mục tiêu cá nhân chophù báo về lợi nhuận, doanh số và so sánh với kết quả thực sự đạt được hợpvới mục đích của công việc

• Thiết lập mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu về lợi nhuận trên vốn đầu tư

và hướng mở rộng phát triển doanh nghiệp Những mục tiêu này phải đượcthể hiện bằng các con số cụ thể Hãy sử dụng kế hoạch tài chính dài hạn đểđưa ra các dự

• Trong quá trình lập kế hoạch, nhà quản trị nên tập trung vào các điểmmạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và vi

mô có thể ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu đã đề ra Đồng thời phảiphát triển các chiến lược dựa trên kết quả phân tích các yếu tố có liên quan(chiến lược giá, tiềm năng về thị trường, cạnh tranh, so sánh chi phí sử dụngvốn đi vay và vốn tự có…) để có thể đưa ra hướng đi đúng đắn nhất cho sựphát triển của công ty

• Chú ý tới nhu cầu về tài chính, nhân lực và nhu cầu về vật chất hạtầng cần thiết để hoàn thành kế hoạch tài chính bằng cách đưa ra những dựbáo về doanh số, chi phí và lợi nhuận không chia cho khoảng thời gian từ 3đến 5 năm

• Trau dồi phương pháp điều hành hoạt động doanh nghiệp, nắm bắtcác cơ hội về thị trường và phát triển sản phẩm mới để có thể tìm ra biện pháptốt nhất nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của công ty

• Cập nhật kế hoạch tài chính thông qua các báo cáo tài chính mới nhấtcủa công ty Thường xuyên so sánh kết quả tài chính công ty thu được với các

số liệu hoạt động của các công ty trong cùng ngành để biết được vị trí củacông ty trong ngành Tìm ra và khắc phục điểm yếu của công ty Không ngại

Trang 20

thay đổi kế hoạch tài chính nếu mục tiêu bạn đề ra quá thụ động Quản lý vốn

sử dụng thực của công ty

Vốn sử dụng thực của công ty là chênh lệch giữa tài sản hiện có củacông ty và các khoản nợ phải trả, thường được gọi là vốn lưu chuyển trongcông ty Các nhà quản trị phải luôn chú ý đến những thay đổi trong vốn lưuchuyển, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi và ảnh hưởng của sự thay đổi đóđối với tình hình hoạt động của công ty Khi quản lý nguồn vốn lưu chuyểntrong công ty, hãy xem xét các bộ phận cấu thành sau đây:

• Tiền mặt và các khoản tương đương tiền mặt (các loại chứng khoán

và tiền gửi ngắn hạn) Khi lập các kế hoạch tài chính bạn phải trả lời đượcnhững câu hỏi liên quan đến tiền mặt như : lượng tiền mặt của công ty có đápứng nhu cầu chi phí không? Mối quan hệ giữa lượng tiền thu được và chi phínhư thể nào? Khi nào thì công ty cần đến các khoản vay ngân hàng?

• Các khoản phải thu: chủ yếu bao gồm các khoản tín dụng mua hàngcho khách hàng Nhà quản trị phải quan tâm đến những khách hàng nàothường hay trả chậm và biện pháp cần thiết để đối phó với họ

• Tồn kho: khoản tồn kho thường chiếm tới 50% tài sản hiện có củacông ty do đó nhà quản trị phải kiểm soát tồn kho thật cẩn thận thông qua việcxem xét xem lượng tồn kho có hợp lý với doanh thu, liệu doanh số bán hàng

có sụt giảm nếu không có đủ lượng tồn kho hợp lý cũng như các biện phápcần thiết để nâng hoặc giảm lượng hàng tồn kho

• Các khoản phải trả và các tín phiếu đến hạn chủ yếu là các khoản tíndụng mà các nhà cung cấp cho công ty hưởng

• Các khoản vay phải trả bao gồm các khoản vay từ ngân hàng và cácnhà cho vay khác Nhà quản trị phải quan tâm đến các vấn đề như: lượng vốn

đi vay có phù hợp với tình hình phát triển của công ty, khi nào thì lãi suất chovay đến hạn trả?

• Chi phí và thuế đến hạn trả bao gồm: các khoản trả lương, lãi phải trảđối với các tín phiếu, phí bảo hiểm…g hoặc vượt quá khả năng của công ty

Trang 21

CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY

CP TM&PT VIỄN THÔNG VIỆT TRUNG I.Tổng quan về công ty

1.Giới thiệu chung

Tên công ty:

Công ty Cổ phần Thương mại và Phát triển viễn thông Việt Trung

Tên giao dịch quốc tế:

Viet Trung Trading & Development Telecomunication Join-Stock Company (Viet Trung JSC.)

Chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0502000021 do UBND thành phố

Hà Nội-sở kế hoạch và đầu tư-phòng đăng ký kinh doanh cấp ngày28/06/2001

Địa chỉ: 48 Tô Hoàng-Bạch Mai-Hai Bà Trưng-Hà Nội

Điện thoại: (04)6226952/6226954; Fax : (04)6226954Email : viettrungtech@vnn.vn Website :

2.Chức năng và nhiệm vụ chính.

2.1.Tài chính doanh nghiệp gồm ba chức năng sau:

- Chức năng tạo vốn đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh:

Tài chính doanh nghiệp thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, tổ chứchuy động và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệuquả quá trình sản xuất kinh doanh

- Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền: Thu nhập bằng tiền của

doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối như sau: thu nhập đạtđược do bán hàng trước tiên phải bù đắp chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuấtnhư: hao mòn máy móc thiết bị, trả lương, mua nguyên, nhiên liệu, thực hiệnnghĩa vụ đối với Nhà nước Phần còn lại hình thành các quỹ của doanhnghiệp, thực hiện bảo toàn vốn hoặc trả lợi tức cổ phần

Trang 22

- Chức năng kiểm tra bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh:

Tài chính doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thu chi tiền tệ và các chỉ tiêuphản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình vốn, sản xuất và hiệu quả kinhdoanh Trên cơ sở đó giúp nhà quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, sơ

hở trong công tác điều hành để ngăn chặn các tổn thất có thể xảy ra nhằm duytrì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chức năng này là toàndiện và thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh, vì vậy nó có ý nghĩaquan trọng hàng đầu

Tóm lại: Ba chức năng trên quan hệ mật thiết với nhau, chức năng

kiểm tra tiến hành tốt là cơ sở quan trọng cho những định hướng phân phối tàichính đúng đắn tạo điều kiện cho sản xuất liên tục Ngược lại, việc tạo vốn vàphân phối tốt sẽ khai thông các luồng tài chính, thu hút nhiều nguồn vốn khácnhau tạo ra nguồn tài chính dồi dào đảm bảo cho quá trình hoạt động củadoanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng kiểm tra

2.2.Với khẩu hiệu”uy tín là vàng-khách hành là thượng đế”, nhiệm

vụ chủ yếu của Công ty Việt Trung đặt ra là phải đáp ứng mọi nhu cầu về cácsản phẩm tin học và các dịch vụ khác như lắp đặt, sửa chữa, tư vấn, cài đặtmột cách tốt nhất Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Công ty luôn

cố gắng tự hoàn thiện nhằm mang tới cho khách hàng một dịch vụ đáng tincậy Với một hệ thống hỗ trợ kinh doanh được tổ chức khoa học, với một độingũ kỹ thuật được đào tạo tốt và có kinh nghiệm, Công ty đã mang lại chokhách hàng những sản phẩm tốt nhất với chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý.Công ty Việt Trung cũng sẵn sàng hỗ trợ khách hàng để giúp khách hàng cóthể đưa ra những quyết định một cách đúng đắn và tối ưu nhất để họ khôngphải lo lắng nhiều về vấn đề dịch vụ sau bán hàng

Trang 23

Ngoài ra, thế mạnh của công ty cũng còn tập trung ở mảng sản xuấtgiấy carton nhằm phục vụ cho việc đóng gói thành phẩm máy tính lắp ráp vàphục vụ cho các doanh nghiệp khác.

Công ty Cổ phần Thương mại và Phát triển Viễn thông Việt Trungthuộc hình thức công ty cổ phần, hoạt động theo luật doanh nghiệp và các quyđịnh hiện hành khác của Nhà nước CHXHCN Việt Nam

3 Các hoạt động chính của Công ty Việt Trung:

Công ty cổ phần thương mại và phát triển viễn thông Việt Trung cóchức năng kinh doanh đúng như tên gọi của nó:

1 Nghiên cứu, thiết kế, chuyển giao công nghệ Tin học và ứng dụngvào các công nghệ khác

2 Sản xuất thùng carton và các loại bao bì khác

3 Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng

4 Đại lý mua - bán ký gửi hàng hoá

Trong đó lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Việt Trung là lĩnh vực Tinhọc và chuyển giao công nghệ Sản phẩm kinh doanh của Công ty là máy tính

và các thiết bị Tin học Có hơn 200 mặt hàng mà Công ty kinh doanh baogồm máy tính và các linh kiện như : bàn phím, màn hình, mực in, chuột,RAM, Case, Internet Card, … với nhiều chủng loại khác nhau

Trang 24

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ LẮP RÁP LINH PHỤ KIỆN MÁY TÍNH:

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN PHẨM:

II.Thực trạng quản ly tài chính của công ty

1.Tình hình sử dụng tài chính của công ty

Phân tích chung về tình hình tài chính bao gồm việc đánh giá khái quát

sự biến động của tài sản và nguồn vốn, đồng thời xem xét quan hệ cân đốigiữa chúng nhằm rút ra nhận xét ban đầu về tình hình tài chính của doanhnghiệp Việc đánh giá này chủ yếu dựa vào bảng cân đối kế toán của công tytrong năm gần nhất là năm 2007

Ghim

In

Cắt góc,tạo hộp

Trang 25

1.1 Đánh giá khái quát về sự biến động của tài sản và nguồn vốn :

Bảng 1:Kết cấu tài sản và nguồn vốn

(Báo cáo tài chính của công ty CPTM&PT viễn thông Việt Trung)

Đến cuối năm 2007, quy mô doanh nghiệp được mở rộng với tổng giátrị 157.562 triệu đồng, tăng 37.547 triệu tương ứng 31,29% Trong đó TSLĐ

& ĐTNH tăng 35.526 triệu đồng tương đương 43,52% vẫn cao hơn so vớiTSCĐ & ĐTDH Với xu hướng biến động như vậy là tích cực hay tiêu cựccòn tùy thuộc vào sự phân bố tối ưu giữa các loại tài sản trong từng chỉ tiêu

và tình hình thực tế của doanh nghiệp mà ta sẽ xem xét cụ thể ở những phầnsau

Với quy mô của doanh nghiệp được mở rộng thì mức độ huy động vốncũng tăng lên tương ứng để dảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.Trong đó, nợ phải trả tăng 37.927 tương đương 50,4%, tuy nhiên nguồn vốnchủ sở hữu giảm 380 triệu tương đương 0,85 % Tuy mức độ giảm này khônglớn lắm nhưng cũng là biểu hiện không tốt vì khả năng tự chủ về tài chính củacông ty đã giảm sút

Để hiểu rõ hơn tình hình trên ta phân tích quan hệ cân đối giữa nguồnvốn và tài sản

1.2 Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn:

Theo quan điểm luân chuyển vốn, xét về mặt lý thuyết thì nguồn vốnchủ sở hữu phải đảm bảo trang trải cho hoạt động kinh doanh chủ yếu như

Trang 26

hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư mà không phải đi vay haychiếm dụng Do vậy ta có các mối quan hệ cân đối như sau:

Quan hệ cân đối thứ 1:

Nguồn vốn chủ sở hữu = Vốn không bị chiếm dụng

Vốn không bị chiếm dụng của doanh nghiệp bao gồm tổng giá trị tàisản của doanh nghiệp loại trừ các khoản phải thu, tạm ứng và các khoản thếchấp, ký quỹ, ký cược

sẽ xem xét mối quan hệ cân đối thứ hai:

Nguồn vốn CSH+Vốn vay=Vốn không bị chiến dụng

Bảng 3: Quan hệ cân đối 2:

ĐVT: triệu đồng

(Báo cáo tài chính của công ty CPTM&PT viễn thông Việt Trung)

Từ bảng phân tích trên ta thấy doanh nghiệp đã không đủ vốn để hoạtđộng kinh doanh nên đã đi vay ở các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, lượng vốnchủ sở hữu cùng với lượng vốn vay này đã sử dụng không hết vào quá trình

Trang 27

hoạt động và bị các đơn vị khác chiếm dụng Với tình hình này, số vốn củadoanh nghiệp đi chiếm dụng nhỏ hơn vốn bị chiếm dụng, cụ thể như sau:

Bảng 4:So sánh vốn đi chiếm dụng và bị chiếm dụng ĐVT: triệu đồng

NĂM

Vốn đi chiếm dụng

Vốn bị chiếm dụng Chênh lệch ĐẦU NĂM 15.955 43.236 -27.281

CUỐI NĂM 33.086 67.663 -34.577

(Báo cáo tài chính của công ty CPTM&PT viễn thông Việt Trung 2007)

1.3.Khả năng thanh toán của công ty

Phân tích khả năng thanh toán là phân tích về: các khoản phải thu vàtình hình công nợ, các khoản phải trả và khả năng chi trả Đây là nhóm chỉtiêu được sự quan tâm của các nhà quản trị, chủ sở hữu và đặc biệt là các nhàcho vay

Tình hình tài chính được đánh giá là lành mạnh trước hết phải thể hiện

ở khả năng chi trả, bởi vì nó phản ánh chất lượng công tác tài chính

Để đánh giá một cách chính xác khả năng thanh toán của công ty taphải xem đầy đủ cả trong ngắn hạn và dài hạn thông qua các chỉ tiêu sau đây:

1.3.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn:

1.3.1.1 Hệ số thanh toán hiện hành:

Hệ số thanh toán hiện hành là công cụ đo lường khả năng thanh toáncác khoản nợ ngắn hạn, biểu thị sự cân bằng giữa tài sản lưu động và các nợngắn hạn

Ý nghĩa của tỷ số này là nói lên mức độ trang trải của tài sản lưu độngđối với khoản nợ ngắn hạn mà không cần tới một khoản vay mượn thêm nào.Tóm lại, cho ta biết tại một thời điểm nhất định ứng với một đồng nợ ngắnhạn thì công ty có khả năng quy động bao nhiêu từ tài sản lưu động để trả nợ

Ta có:

TSLĐ&ĐTNH

Trang 28

Hệ số thanh toán hiện hành=

Nợ ngắn hạn

1.3.1.2 Hệ số thanh toán nhanh:

Hệ số thanh toán nhanh là tiêu chuẩn đánh giá khả năng thanh toán thậntrọng hơn Nó phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong điềukiện không bán hết hàng tồn kho Hệ số này khác hệ số thanh toán hiện hành

ở chỗ là nó loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính, bởi vì hàng tồn khokhông có tính thanh khoản cao

Ta có:

TSLĐ-Hàng tồn kho

Hệ số thanh toán nhanh=

Nợ ngắn hạn

1.3.1.3 Hệ số thanh thanh toán bằng tiền:

Với hai hệ số trên, ta thừa nhận rằng khoản phải thu có khả năngchuyển nhanh thành tiền để trả nợ ngắn hạn, việc thu hồi các khoản này chỉ làvấn đề thời gian Một thị trường (tài chính, tiền tệ) trôi trải sẽ giúp cho việctrao đổi mua bán các “khoản phải thu” này Tuy nhiên trong nền kinh tế thịtrường nói chung và thị trường tài chính nói riêng chưa được phát triển nhưhiện nay, hệ số thanh toán nhanh thích hợp hơn là hệ số thanh toán bằng tiền

Chỉ tiêu này đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trướccác khoản nợ ngắn hạn Khoản có thể dùng trả ngay các khoản nợ đến hạn làtiền và các chứng khoán ngắn hạn Do đó ta có công thức như sau:

Tiền+Đầu tư tài chính ngắn hạn

Hệ số thanh toán bằng tiền =

Nợ ngắn hạn

1.3.2 Khả năng thanh toán nợ dài hạn:

Ngày đăng: 15/04/2013, 14:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5:Kết quả hoạt động kinh doanh: - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của công ty CP TM&PT Việt Trung
Bảng 5 Kết quả hoạt động kinh doanh: (Trang 30)
Bảng 7:Lợi nhuận từ hoạt động khác ĐVT:Triệu đồng - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của công ty CP TM&PT Việt Trung
Bảng 7 Lợi nhuận từ hoạt động khác ĐVT:Triệu đồng (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w