1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam

102 499 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp phát triển cnpt cho ngành xe máy của việt nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Công Nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài :Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam

Trang 1

M c l c ụ ụ

Lời mở đầu 4

Chương I 6

Cở sở lý luận về CNPT và sự cần thiết phải phát triển CNPT 6

cho ngành xe máy ở Việt Nam 6

I Cở sở lý luận chung về CNPT 6

1 Khái niệm về CNPT 6

1.1 Sự xuất hiện của khái niệm CNPT và quan điểm của các nước về CNPT 6

1.2 Khái niệm CNPT ở Việt Nam 9

1.3 Khái niệm CNPT của ngành xe máy 10

Nhà lắp ráp 12

2 Phân loại ngành CNPT 13

3.1 Các loại hình hỗ trợ: 14

4 Các giai đoạn phát triển và đặc điểm chung của CNPT 16

4.1 Hình thái xuất hiện và các giai đoạn phát triển 16

4.2 Đặc điểm chung của các ngành CNPT 18

II Sự cần thiết phải phát triển CNPT cho ngành xe máy ở Việt Nam 18

1 Phát triển CNPT để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH 18

2.Phát triển CNPT là điều kiện cơ bản để thu hút FDI vào ngành công nghiệp nói chung, công nghiệp chế tạo và lắp ráp nói riêng 20

3 Xuất phát từ đặc điểm của ngành xe máy Việt Nam 22

4 Phát triển CNPT là góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp địa phương 24

III Những yếu tố cần thiết để phát triển CNPT cho ngành xe máy 24

1 Dung lượng thị trường đủ lớn 24

2 Nguồn nhân lực chất lượng cao 25

IV Kinh nghiệm quốc tế về phát triển CNPT ngành xe máy và bài học cho Việt Nam 29

1 Kinh nghiệm quốc tế 29

1.1 Kinh nghiệm của Thái lan 29

1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 31

1.3 Kinh nghiệm của Malaysia 32

2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34

2.1 Bài học về thúc đẩy FDI vào CNPT 34

2.2 Bài học về xây dựng mối liên kết giữa chính phủ và các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp lắp ráp với các nhà cung ứng 35

2.3 Bài học về sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn khu vực 35

Trang 2

Chương II 37

Đánh giá thực trạng phát triển của CNPT 37

của ngành xe máy ở Việt Nam 37

I Tình hình phát triển của ngành xe máy Việt Nam 37

1 Lịch sử phát triển và vị trí của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam 37

1.1 Lịch sử phát triển 37

1.2 Vị trí của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam trong bản đồ công nghiệp xe máy thế giới 39

2 Quy mô và lực lượng lao động 40

2.1 Cơ sở sản xuất và lực lượng lao động 40

2.2 Về trình độ công nghệ - kỹ thuật của các doanh nghiệp 42

2.3 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp xe máy 43

3.Thị trường tiêu thụ xe máy Việt Nam 47

Nguồn: Dự thảo quy hoạch phát triển xe máy Việt Nam 48

4 Chuỗi giá trị của ngành xe máy Việt Nam 52

II Thực trạng phát triển của CNPT cho ngành xe máy ở Việt Nam 54

1 Nhu cầu các sản phẩm CNPT của các nhà sản xuất - lắp ráp xe máy 55

1.2 Cơ cấu thu mua linh phụ kiện của các nhà sản xuất - lắp ráp 58

2 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng xe máy 62

2.1 Quy mô và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp 62

2.2 Cơ cấu sản phẩm 67

2.3.Tình hình xuất khẩu linh kiện phụ tùng của ngành xe máy 71

3 Sự liên kết giữa các nhà sản xuất - lắp ráp xe máy và các nhà cung cấp nội địa 73

III Đánh giá chung về thực trạng phát triển của hệ thống CNPT cho ngành xe máy ở Việt Nam 77

1 Những thành tựu đạt được 77

2 Những hạn chế còn tồn tại 79

3 Nguyên nhân 80

Chương III 82

Những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp 82

phụ trợ cho ngành xe máy ở Việt Nam 82

I Dự báo phát triển ngành xe máy và công nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy 83

II Quan điểm và định hướng phát triển CNPT cho ngành công nghiệp xe máy 86

1 Quan điểm và định hướng triển phát triển ngành công nghiệp xe máy Việt Nam 86

Trang 3

1.2.Định hướng phát triển 86

2 Quan điểm và định hướng phát triển CNPT cho ngành xe máy Việt Nam 87

2.1 Quan điểm và định hướng chung về phát triển CNPT đến năm 2010, tầm nhìn 2020 87

2.2 Quan điểm và định hướng phát triển CNPT cho ngành xe máy 88

Phát triển khoa học công nghệ 89

3 Các mục tiêu cơ bản 89

3.1.Mục tiêu tổng quát: 89

3.2 Mục tiêu cụ thể: 89

II Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển CNPT cho ngành xe máy Việt Nam 90

1 Các giải pháp về vốn 90

1.1 Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn 90

2.2 Thu hút FDI và nguồn vốn viện trợ đầu tư phát triển hệ thống CNPT cho ngành 91

2 Giải pháp về công nghệ và trình độ quản lý 91

3 Tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp lắp FDI và các nhà cung cấp linh phụ kiện nội địa 93

5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 96

6 Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào hệ thống CNPT cho ngành 98

Kết luận 100

Tài liệu tham khảo 102

Trang 4

Lời mở đầu

Hội nhập kinh tế luôn song hành cùng với sự phát triển ngày càng cao của quá trình phân công lao động quốc tế Bất kỳ một sản phẩm công nghiệp nào hiện nay đều không thể do chỉ duy nhất một công ty của một quốc gia sản xuất Ví dụ chiếc máy tính hiệu IBM nhưng ổ cứng có thể là Seagate, màn hình là Samsung, Main của Intel, thậm chí đến chiếc ốc vít cũng phải có một nhà cung cấp chuyên nghiệp Một sản phẩm công nghiệp tích hợp như thế cần phải có hàng chục, thậm chí cả trăm nhà cung cấp các bộ phận, linh kiện cho nó

Xe máy cũng là một trong những sản phẩm công nghiệp tích hợp Để

có một sản phẩm xe máy hoàn chỉnh do đó cũng đòi hỏi phải có hệ thống các nhà cung cấp cho nó Hệ thống này được gọi chung là hệ thống CNPT cho ngành Nếu nó ngày càng được mở rộng thì chứng tỏ trình độ phân công lao động của ngành càng cao và cũng phản ánh ngành đang ở giai đoạn nào cuả quá trình phát triển Đồng thời, sự phát triển của hệ thống cung cấp cho ngành

xe máy còn có thể là nền tảng để xây dựng và phát triển các nhà cung cấp cho các ngành công nghiệp lắp ráp quan trọng khác như ô tô, điện tử - điện gia dụng do có sự tương đồng về công nghệ và sản phẩm sản xuất

Vai trò to lớn của xe máy đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam là không thể phủ nhận “Có xe máy” từ lâu đã như là một một tiêu chí để đo mức độ “ văn minh - hiện đại” của mỗi gia đình người Việt So sánh với các ngành công nghiệp lắp ráp - chế tạo khác như điện tử, dệt may , xe máy đang được cho là khá thành công trong việc phát triển hệ thống nhà cung cấp cho mình, với tỷ lệ nội địa hoá cao nhất đạt trên 70%, hay nói cách khác, sự phân công trong ngành đã đạt được một trình độ nhất định Tuy nhiên, vẫn có nhiều nghiên cứu lại cho thấy ngành công nghiệp xe máy vẫn đang trong giai đoạn gia công - lắp ráp đơn thuần, chưa đi vào các khâu mang lại giá trị cao tức là

hệ thống cung cấp còn chưa thực sự phát huy được vai trò của nó Vậy trên thực tế, hệ thống CNPT cho ngành đang phát triển đến đâu?, phải chăng tỷ lệ nội địa hoá cao chưa phải là đủ để đánh giá sự phát triển của hệ thống CNPT?

- nội địa hoá 100% có nên lấy làm mục tiêu phấn đấu cuả ngành hay không?

Trang 5

giải pháp nào cần thực hiện để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống này trong tương lai? Làm rõ những câu hỏi này đang là một trong những yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển của ngành nói riêng và cho các ngành công nghiệp lắp ráp khác nói chung.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Giải

pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam” làm đề tài Luận

văn tốt nghiệp của mình

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các khái niệm, quan niệm về CNPT

đang được sử dụng tại một số quốc gia và Việt Nam; đánh giá, phân tích thực trạng của hệ thống CNPT cho ngành xe máy: kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân Từ đó có những giải pháp đề xuất nhằm phát triển

hệ thống CNPT cho ngành xe máy trong thời gian tới

Kết cấu nôi dung chính của chuyên đề bao gồm ba phần:

Chương I:Cơ sở lý luận về CNPT và sự cần thiết phải phát triển CNPT cho

ngành xe máy ở Việt Nam

Chương II: Đánh giá thực trạng phát triển của hệ thống CNPT cho ngành xe

máy Việt Nam

Chương III: Những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống

CNPT cho ngành xe máy Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, các

phương pháp được sử dụng là

Phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp – đánh giá; thống kế, so sánh trên cơ sở thừa kế một số công trình nghiên cứu khoa học đã có

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ phía các cán bộ của cơ quan thực tập - Vụ Tổng hợp - Bộ Kế hoạch

và đầu tư; các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kế hoạch và phát triển – NEU, đặc biệt là từ phía thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Ngọc Sơn Do hạn chế về trình độ và khả năng thu thập số liệu nên bài viết không tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được sự phê bình và sửa chữa của các Thầy cô, các cô chú cán bộ của Vụ Tổng hợp Bộ kế hoạch - đầu tư và các bạn để tôi hoàn thành tốt hơn khóa luận của mình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Chương I

Cở sở lý luận về CNPT và sự cần thiết phải phát triển CNPT

cho ngành xe máy ở Việt Nam

I Cở sở lý luận chung về CNPT

1 Khái niệm về CNPT

1.1 Sự xuất hiện của khái niệm CNPT và quan điểm của các nước về CNPT.

Khái niệm CNPT (Supporting Industry – CNPT, hay còn gọi là công nghiệp hỗ trợ) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, phổ biến ở Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, hay vùng lãnh thổ Đài Loan Đấy là những nơi mà chi tiết các sản phẩm thường được gia công ở một đơn vị sản xuất khác với nơi chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng Sự xuất hiện đầu tiên của CNPT ở các quốc gia này được lý giải như sau:

Vào những năm của thập kỉ 1960s, trong quá trình xây dựng các mắt xích chuyên môn hoá của từng công đoạn sản xuất các sản phẩm công nghiệp, các nhà sản xuất Nhật Bản đã áp dụng cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới, khác hẳn với hình thức tổ chức theo kiểu tích hợp truyền thống1– mô hình sản xuất công nghiệp phổ biến của các quốc gia công nghiệp thế kỷ XX Theo đó, họ chia quá trình sản xuất kinh doanh thành nhiều công đoạn khác nhau và chỉ tập trung nguồn lực vào một số khâu, công đoạn chủ yếu mà họ

có thế mạnh Các yếu tố đầu vào khác sẽ được cung cấp bởi các đơn vị sản xuất ngoài hệ thống Những đơn vị này được gọi là những tổ chức thầu phụ /vệ tinh của doanh nghiệp đó

Các đơn vị sản xuất này trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, hoàn thiện, cải tiến công nghệ sản xuất của mình sẽ trở thành các nhà sản xuất, dịch vụ, gia công các sản phẩm tương tự, cung ứng không chỉ riêng cho

1 Là hình th c t ch c s n xu t theo ki u liên k t chi u d c c a công ngh , t p trung ki m ứ ổ ứ ả ấ ể ế ề ọ ủ ệ ậ ể

Trang 7

các tổ chức sản xuất chủ đạo chính của mình mà còn có thể vươn ra đáp ứng nhu cầu của các tổ chức khác

Kiểu tổ chức sản xuất này đã được các doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng rộng rãi trong những năm của thập kỷ 1980s, khi họ tiến hành chuyển đổi phương thức đầu tư: Chuyển các cơ sở sản xuất sang các nước Châu Á – nơi

có nguồn lao động rẻ hơn Tuy nhiên các doanh nghiệp phải nhập khẩu linh phụ kiện từ Nhật vì ngành công nghiệp này ở các nước chưa phát triển Do vậy, CNPT được sử dụng để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện phụ tùng tại các nước này

Như vậy, khái niệm CNPT được bắt đầu được sử dụng ở Nhật Bản và được sử dụng chủ yếu cho các nước Châu Á

Từ lúc xuất hiện cho đến nay, khái niệm này đã được thay đổi và được hiểu theo những phạm vi khác nhau tại mỗi quốc gia Nhiều quốc gia cũng còn chưa có sự thống nhất rõ ràng

Hộp 1: Khái niệm CNPT tại một số quốc gia.

Sự tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về CNPT dẫn tới nhiều cách xác định khác nhau về phạm vi của CNPT Việc xác định doanh nghiệp nào sẽ thuộc hệ thống CNPT của một ngành công nghiệp chính yếu phụ thuộc vào cách hiểu CNPT theo phạm vi nào? Phạm vi của CNPT có thể hẹp như là một ngành công nghiệp cụ thể hoặc là rộng hơn bao gồm tất cả ngành cơ khí chế tạo, dệt may, thực phẩm, hóa chất Tuy nhiên, thuật ngữ CNPT lần đầu tiên được dùng bởi các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản trong thập kỷ

-Theo METI: Khái niệm CNPT được sử dụng chính thức trong “ Chương trình hoạt động phát triển CNPT Châu Á -1993” Theo đó, CNPT được hiểu là những ngành sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng, hàng hoá tư bản … cho các ngành công nghiệp lắp ráp.

- Theo BOI - Thái Lan, CNPT được hiểu là các ngành sản xuất các sản phẩm gia công khuôn mẫu, dập, đúc, rèn và gia công nhiệt

- Theo Văn phòng phát triển CNPT Thái Lan, CNPT được hiểu là các ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc, thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm… cho các ngành công nghiệp cơ bản

Trang 8

1980s của thế kỷ trước là nhằm đề cập đến các nhà cung cấp cho các công ty lắp ráp chế tạo như là ô tô, xe máy, điện, điện tử và máy móc chính xác.

Nhìn chung, hiện nay có ba cách xác định phạm vi của CNPT như sau:

Phạm vi 1: Coi công nghiệp phụ trợ là những ngành cung cấp phụ tùng,

linh kiện và công cụ để sản xuất phụ tùng linh kiện

Phạm vi 2: Công nghiệp phụ trợ được hiểu là những ngành công nghiệp

cung cấp phụ tùng, linh kiện, công cụ để sản xuất linh kiện này và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm

Phạm vi 3: Công nghiệp phụ trợ là những ngành cung cấp toàn bộ hàng

hoá đầu vào (Nguyên liệu thép, nhựa, hoá chất….), hàng hoá tư bản (máy móc, công cụ) và hàng hoá trung gian (linh kiện, phụ tùng)

Hình 1: Phạm vi các ngành CNPT

Nguồn: Nguyễn Xuân Thuý “CNPT: Khái niệm và sự phát triển”– VDF – Tokyo 22/08/2006.

Ba phạm vi để xác định CNPT có phần trùng nhau nên có thể coi phần

đó là cốt lõi của CNPT Phần cốt lõi của CNPT bao gồm linh phụ kiện làm từ thép, nhựa, cao su và quá trình sản xuất như dập, đúc, hàn, xử lý nhiệt, chế tạo

Sản phẩm cuối cùng

Lắp ráp hoàn chỉnh Lắp ráp bộ phận

Định nghía rộng II

Hàng hóa trung gian

Cụm linh kiện Linh kiện

Hàng hóa vốn

Công cụ, máy móc

Dịch vụ sản xuất

Hậu cần Lưu kho Phân phối Bảo hiểm

Trang 9

khuôn mẫu và mạ Cụ thể là công nghệ chế tạo, điều chỉnh và xử lý khuôn mẫu chiếm vị trí trọng tâm

Việc lựa chọn phân tích theo phạm vi nào tuỳ thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng ngành, từng sản phẩm CNHT và cả mục đích phân tích của người sử dụng

1.2 Khái niệm CNPT ở Việt Nam.

Yếu tố quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy sự phát triển của ngành CNPT là nhận thức của bản thân các doanh nghiệp và của chính phủ về tầm quan trọng của nó đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp So sánh với các quốc gia trong khu vực, việc tiếp nhận khái niệm CNPT ở cả hai bộ phận này của Việt Nam đều tương đối muộn

Trong thời kỳ thực hiện CNH theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, thuật ngữ CNPT không hề được nhắc đến mặc dù các ngành này đều đòi hỏi lượng đầu vào trên quy mô lớn Nguyên nhân là do việc áp dụng kiểu tổ chức sản xuất theo kiểu trọn gói: Linh kiện sử dụng cho sản phẩm cuối cùng và việc lắp ráp sản phẩm đều được thực hiện trong nội bộ một doanh nghiệp Sau đó, tuy đã thực hiện đổi mới kinh tế nhưng các doanh nghiệp vẫn

bị ảnh hưởng bởi cung cách kinh doanh theo mô hình cũ nên khái niệm về CNPT vẫn chưa được chú ý Ngay cả khi CNPT được giới thiệu với hầu hết các quốc gia châu Á tại các cuộc họp của APO, APEC… thì chính phủ vẫn chưa có nhận định gì do đang phải đối phó với những vấn đề cấp bách khác của giai đoạn đầu đổi mới

Đến giữa những năm của thập kỷ 1990s, khi các nhà đầu tư Nhật Bản tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt Nam, họ gặp phải khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà cung cấp đầu vào để đáp ứng yêu cầu lắp ráp thì thuật ngữ CNPT mới bắt đầu được xuất hiện và bàn luận Nó đã được nhắc đến trong

“Sáng kiến chung Việt Nam- Nhật Bản” như là một điều kiện cần có từ phía Việt Nam để thu hút FDI của Nhật

Cho tới nay, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào có tính pháp lý cho

ngành CNPT ở Việt Nam Nó hiện đang được hiểu như một ngành công nghiệp phụ giúp cho việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng thông qua việc cung

Trang 10

cấp các bộ phận, chi tiết hoặc các sản phẩm hàng hoá trung gian khác Nói cách khác, thay vì sản xuất sản phẩm với tất cả các bộ phận chi tiết (sản xuất trọn gói), các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyên môn hoá từng phần, và mỗi ngành công nghiệp chỉ sản xuất một phần của sản phẩm đó Quá trình chuyên môn hoá như vậy cũng được hiểu là CNPT

Về phía doanh nghiệp, khái niệm CNPT được hiểu một cách mơ hồ hơn Một số doanh nghiệp thì hiểu đơn thuần CNPT là sản xuất phụ tùng, linh kiện trong khi CNPT phải bao gồm cả việc gia công và xử lý sản phẩm

và các công đoạn khác nữa

Gần đây nhất, khái niệm về CNPT tại Việt Nam đã được đề cập đến trong “Dự thảo Quy hoạch tổng thế phát triển CNPT đến năm 2010, tầm nhìn 2020” Nếu được thông qua thì đây sẽ là khái niệm có tính pháp lý đầu tiên về CNPT tại Việt Nam Bản dự thảo đưa ra khái niệm về hệ thống công nghịêp

hỗ trợ: “là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có

khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng”

CNPT như vậy về mặt lý luận có thể được hiểu là khái niệm đối xứng với công nghịêp lắp ráp Cũng từ đặc điểm này, khi bàn tới CNPT trong thực

tế thường đề cập tới các lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp

1.3 Khái niệm CNPT của ngành xe máy.

Xe máy là ngành công nghiệp thuộc nhóm ngành cơ khí chế tạo Cũng giống như phần lớn các sản phẩm chế tạo khác, xe máy là một sản phẩm công nghiệp tích hợp – do rất nhiều các bộ phận, nhóm linh phụ kiện khác nhau Thông thường, để có một sản phẩm xe máy hoàn chỉnh đòi hỏi hơn 700 linh phụ kiện: động cơ, thân xe, giảm sóc và hàng trăm linh phụ kiện khác

Công nghệ sản xuất xe máy là sự kết hợp của bốn công nghệ chính bao gồm :

- Công nghệ nguyên vật liệu

- Công nghệ chế tạo linh kiện

Trang 11

- Công nghệ lắp ráp tổng thành.

Nếu coi lắp ráp tổng thành là khâu tạo ra sản phẩm cuối cùng thì công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu sẽ là công nghệ CNPT cấp I, chế tạo linh kiện và lắp ráp cụm sẽ là CNPT hỗ trợ cấp II Sản phẩm xe máy vì vậy sẽ là sự tổng hợp của nhiều cấp độ hỗ trợ khác nhau Mỗi cấp sẽ có các sản phẩm phụ trợ tương ứng

Hình 2: Quan hệ giữa công nghệ phụ trợ và công nghệ lắp ráp trong quá

trình sản xuất xe máy.

CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

CNPT cấp I CNPT cấp II

Nguồn: Dự thảo quy hoạch phát triển CNPT Việt Nam

Sự đa dạng về các sản phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp xe máy khiến cho việc lựa chọn khái niệm và phạm vi nghiên cứu của hệ thống CNPT cho

nó rất khó khăn Việc lựa chọn phạm vi hệ thống CNPT cho nó cũng tuỳ thuộc vào những mục đích nghiên cứu khác nhau

Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, hệ thống CNPT cho ngành xe máy thường được hiểu là tập hợp các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng cho các doanh nghiệp lắp ráp Đây là cách hiểu tương đối đơn giản nhưng chưa đầy

đủ và chính xác về hệ thống CNPT CNPT cần được coi là một cơ sở công

Lắp cụm tổng thanh

Công nghệ lắp ráp

-Gia công áp lực -Hàn, tán

- Chế tạo cắt gọt

- Gia công kim loại chính xác

- Đúc kim loại -Đúc nhựa, cao su

-Kỹ thuật điện, điện tử … -Sơn mạ

-Khung, vỏ xe -Động cơ, ly hợp, hộp số -Trục truyền

- Bánh xe -Các bộ phận chức năng khác (phanh, đèn, gương…)

LẮP RÁP TỔNG THÀNH

Trang 12

nghiệp, hoạt động với nhiều chức năng để phục vụ một số lượng lớn các nhà lắp ráp chứ không đơn giản chỉ là ngành thu thập ngẫu nhiên từ nhiều cơ sở sản xuất linh kiện Phạm vi của nó cũng cần được mở rộng ra hơn, cần bao gồm cả quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất linh kiện phụ tùng như: cán ép kim loại, gia công xử lý nhiệt…Hay nói cách khác, có thể hiểu hệ thống CNPT cho ngành theo phạm vi I Đây cũng là cách lựa chọn phổ biến của các nhà nghiên cứu, phân tích khi tiến hành nghiên cứu về hệ thống CNPT cho các ngành lắp ráp nói chung Chính vì vậy, nghiên cứu này cũng lựa chọn cách hiểu này để làm căn cứ thu thập số liệu và đánh giá phân tích.Theo đó, cấu trúc của

Nguyên liệu thô

Vật liệu

Trang 13

Việc phát triển CNPT là vấn đề phức tạp trong hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Với các nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, khi các nguồn lực còn hạn hẹp, quy mô các ngành kinh tế còn nhỏ bé, việc giải bài toán quan hệ giữa phát triển khu vực CNPT và khu vực hạ nguồn lại càng phức tạp gấp bội.

2 Phân loại ngành CNPT

CNPT không phải là một ngành cụ thể, mà nó bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung và hàng hoá tư bản cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp Có thể căn cứ vào mức độ phức tạp của ba công đoạn sản xuất chính từ chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng linh kiện tới lắp ráp hoàn chỉnh để phân biệt các hoạt động sản xuất nào thuộc hệ thống CNPT Thông thường, nếu dựa vào đặc tính sử dụng của các sản phẩm CNPT đối với các ngành công nghiệp chính yếu, có thể chia CNPT thành hai loại cơ bản: CNPT

cơ bản và CNPT đặc thù

Hình 4: Mô hình chia sẻ CNPT của các ngành công nghiệp chính yếu.

Nguồn:CNPT Việt Nam – góc nhìn từ phía các doanh nghiệp Nhật Bản - VDF CNPT cơ bản : là các ngành cung cấp các sản phẩm có thể sử dụng

chung cho nhiều ngành công nghiệp, chủ yếu là các ngành sản xuất lắp ráp Thuộc nhóm ngành này là các cơ sở sản xuất các thiết bị, linh kiện bằng nhựa, kim khí phục vụ chung cho các ngành xm điện - điện tử…

CNPT đặc thù: Cung cấp các sản phẩm công nghiệp đặc thù, chỉ sử dụng

được trong một hoặc một số ngành công nghiệp chủ yếu như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến

Trang 14

Việc lựa chọn phát triển nhóm công nghiệp hỗ trợ nào để thúc đẩy và khuyến khích phát triển thông thường tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của từng quốc gia Với các nước đang thiếu vốn như Việt Nam hiện nay, lựa chọn hợp lý là nên phát triển các ngành CNPT cơ bản.

3.Các loại hình hỗ trợ và các cấp hỗ trợ

3.1 Các loại hình hỗ trợ:

Tỷ lệ nội địa hoá và CNPT về mặt hình thức dường như tách biệt nhau, nhưng ngược lại hai vấn đề này thực chất lại là một nếu nhìn nhận theo mục tiêu phát triển công nghiệp nội địa Tương ứng với ba hình thức của nội địa hoá2: sẽ có ba hình thức hỗ trợ của : hỗ trợ “ruột”; hỗ trợ “hợp đồng” và hỗ trợ “thị trường”

Hỗ trợ “ruột”: là loại hình khá phổ biến ở các nước công nghiệp, được các

tập đoàn mạnh ứng dụng rất thành công Theo loại hình này, một tập đoàn công nghiệp sẽ thành lập cho mình một mạng lưới các nhà cung cấp dưới hình thức công ty mẹ - con, các công ty cung ứng chỉ thực hiện sản xuất linh kiện, phụ tùng quan trọng hàm chứa các bí quuyết công nghệ theo yêu cầu của các công ty lắp ráp trong tập đoàn Hiện nay, trong ngành xe máy ở Việt Nam đang phát triển loại hình hỗ trợ này Theo khảo sát vào đầu tháng 11/2005 của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, VMEP đã xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp ruột bao gồm 17 công ty, trước hết tập trung sản xuất linh kiện, phụ tùng mà các doanh nghiệp nội địa chưa sản xuất được hoặc sản xuất với số lượng chưa lớn

Hỗ trợ hợp đồng: là loại hình hỗ trợ được thực hiện theo cam kết giữa các

nhà cung ứng với các công ty lắp ráp theo từng yêu cầu và trong từng thời điểm nhất định đối với các linh kiện ít quan trọng hơn Công nghiệp xe máy nói riêng đang phổ biến loại hình hỗ trợ này Các công ty lắp ráp FDI luôn tìm kiếm và ký kết hợp đồng mua các linh kiện, phụ tùng với các nhà cung cấp cả FDI và nội địa Nếu trước năm 1998, công ty Suzuki nhập khẩu hơn 80% giá trị linh kiện, phụ tùng thì nay giá trị nhập khẩu chỉ còn khoảng 20% Tuy nhiên, trong hệ thống

2 2 S n xu t n i b c a các công ty l p ráp; thu mua t doanh nghi p FDI t i n c s t i và thu mua ả ấ ộ ộ ủ ắ ừ ệ ạ ướ ở ạ

Trang 15

các nhà cung ứng cho các công ty lắp ráp, số doanh nghiệp nội địa còn rất ít và tỷ

lệ giá trị lại càng thấp, chủ yếu là các chi tiết đơn giản

Hỗ trợ thị trường: là loại hình hỗ trợ mà các phụ tùng linh kiện có tính phổ

biến, không chứa đựng nhiều bí quyết công nghệ, được các nhà sản xuất bán trên thị trường không theo một cam kết nào đối với các nhà lắp ráp Các công ty lắp ráp do đó có thể tự do lựa chọn các sản phẩm mình cần trên thị trường Tuy nhiên, hình thức này chưa được phát triển và nhìn chung khả năng phát triển là rất thấp, đặc biệt là ở Việt Nam do hai lí do cơ bản sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp hỗ trợ kể cả FDI và nội địa thường rất khó khăn trong giai đoạn đầu – giai đoạn đầu tư công nghệ và kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của các nhà lắp ráp, trong đó là khâu thiết kế và sản xuất khuôn mẫu Trong bất kỳ ngành nào, sự khác biệt về sản phẩm, cụ thể là sự khác biệt về kích thước, kích cỡ, mẫu mã, các thông số kỹ thuật dẫn đến việc yêu cầu khác nhau từ các công ty lắp ráp Do đó, phần lớn các bản vẽ về khuôn mẫu luôn được thực hiện từ các nhà lắp ráp

Thứ hai, theo quan niệm của các nhà lắp ráp, trong chiến lược thu mua, họ sẽ không ưu tiên thực hiện việc mua sắm các sản phẩm trôi nổi trên thị trường, bởi vì

họ sẽ phải bỏ ra khoản chi phí để kiểm định chất lượng sản phẩm, các thông số kỹ thuật, trong đó bao gồm cả việc kiểm định xuất xứ nguyên vật liệu làm nên các sản phẩm đó

Đối với sản phẩm xe máy, các doanh nghiệp lắp ráp trong khi xây dựng mạng lưới sản xuất hệ thống sản xuất linh kiện phụ tùng vệ tinh, thường phân chia

hệ thống thành các cấp phụ trợ như sau:

Cấp I: Đây là cấp thực hiện thiết kế, thử nghiệm, thử nghiệm và sản xuất hầu

hết các tổng thành chính của xe: động cơ, hộp số, hệ thống truyền lực (bộ ly hợp,

Trang 16

phanh…); kiểm tra động lực học và xuất xưởng Đây là cấp duy nhất có năng lực R&D.

Cấp II: Chế tạo các linh kiện, chi tiết của các tổng thành do nhà cung cấp ở

cấp I đặt hàng

Cấp III: Trực tiếp sản xuất các chi tiết từ vật liệu thô (thép, cao su, nhựa,

thuy tinh, nhựa, vật liệu kim loại…) để tạo phôi cho các nhà cung cấp cấp I và II

4 Các giai đoạn phát triển và đặc điểm chung của CNPT.

4.1 Hình thái xuất hiện và các giai đoạn phát triển

Hình thái xuất hiện

Quá trình hình thành CNPT liên quan chặt chẽ tới sự thay đổi trong phân công lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hoá Tuỳ theo trình độ phát triển của từng nước, hình thái xuất hiện cuả CNPT cũng khác nhau

Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Mỹ…CNPT

có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời với công nghiệp lắp ráp Khi có sự phân hoá quá trình sản xuất một sản phẩm có mức độ cao, các bộ phận sản xuất từe chỗ thống nhất trong một chỉnh thể sẽ tự phân hoá thành hai bộ phận/hai quá trình độc lập - một bộ phận đi vào sản xuất linh kiện phụ tùng, một bộ phận đi vào lắp ráp Khi đó, sự phát triển của CNPT sẽ quyết định tới sự thành công của các sản phẩm công nghiệp cuối cùng

Với các nước NICs, các ngành CNPT thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất các sản phẩm công nghiệp cuối cùng

Với các quốc gia ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Việt Nam…), do thiếu vốn và công nghệ, thị trường tiêu thụ còn nhỏ bé nên công nghiệp lắp ráp thường phát triển trước, CNPT sẽ được hình thành và phát triển sau, gắn bó chặt chẽ với quá trình nội địa hoá sản phẩm của các tập đoàn/công ty có vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là doanh nghiệp FDI) Sau đó, tuỳ theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống cơ sở sản xuất, CNPT trong nước, có thể vươn xa xuất khẩu các sản phẩm phụ trợ sang các thị trường khác

Các giai đoạn phát triển

Trang 17

Sự phát triển của hệ thống CNPT ở các nước đang phát triển như Việt Nam gắn chặt với quá trình nội địa hoá của các doanh nghiệp lắp ráp Đặc biệt với một ngành công nghiệp chế tạo như ngành xe máy, tỷ lệ chi phí linh kiện phụ tùng chiếm một tỷ trọng lớn (>70%) thì có thể nói rằng, sự phát triển của

hệ thống CNPT diễn ra cùng với quá trình nội địa hoá của các nhà lắp ráp.Quá trình nội địa hoá thường trải qua năm giai đoạn:

Giai đoạn I: Việc sản xuất chủ yếu được thực hiện dựa trên cơ sở sử

dụng các bộ linh kiện nhập khẩu nguyên chiếc Số lượng các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng trong nước còn rất hạn chế

Giai đoạn II : Nội địa hoá thông qua sản xuất tại chỗ Các nhà sản xuất

lắp ráp chuyển sang dùng linh kiện trong nước Tuy vậy các linh kiện này chủ yếu là loại thông dụng lắp lẫn, dùng chung Tỷ lệ nội địa hoá có tăng lên nhưng số lượng các nhà cung cấp vẫn không có sự thay đổi lớn, tính cạnh tranh trong các sản phẩm vẫn còn yếu

Giai đoạn III : Xuất hiện các nhà cung ứng các sản phẩm hỗ trợ chủ chốt

như sản xuất động cơ, hộ số với ngành ô tô – xe máy, chíp IC điện tử… một cách tự nguyện và độc lập, không theo yêu cầu của các nhà lắp ráp Giai đoạn này phát triển mạnh mẽ việc gia công tại chỗ các chi tiết, phụ tùng có độ phức tạp cao và khối lượng hàng nhập khẩu để lắp ráp giảm hẳn

Giai đoạn IV: Giai đoạn tập trung các ngành CNPT Trong giai đoạn này,

hầu như toàn bộ các chi tiết, linh kiện phụ tùng đã được tiến hành sản xuất tại nước sở tại, kể cả một phần các nguyên liệu cho các nhà sản xuất đó Trong giai đoạn này, số lượng các nhà cung cấp các sản phẩm hỗ trợ tăng lên 3-4 cở

sở cho mỗi chủng loại sản phẩm Cạnh tranh trong ngành vì vậy diễn ra gay gắt hơn Xu thế chung của cạnh tranh lúc này là hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn duy trì và phát triển chất lượng sản phẩm

Giai đoạn V : Giai đoạn nghiên cứu, phát triển và xuất khẩu sản phẩm

Là giai đoạn cuối cùng của quá trình nội địa hoá, cũng là giai đoạn phát triển cao nhất của hệ thống sản xuất phụ trợ Các nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển các thành tựu nghiên cứu, phát triển tới các nước sở tại Năng lực

Trang 18

cung cấp nội địa được củng cố, bắt đầu giai đoạn sản xuất phục vụ xuất khẩu triệt để.

4.2 Đặc điểm chung của các ngành CNPT.

CNPT phát triển gắn kết với ngành/phân ngành công nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp cụ thể nào đó (đối tượng hỗ trợ) và có nhiều tầng cấp tích hợp theo cả chiều dọc và chiều ngang

Sự phát triển của CNPT có tác dụng thúc đẩy những ngành công nghiệp (sản phẩm) phát triển, cung cấp đầu vào theo hợp đồng hoặc theo kế hoạch cho sản xuất chính và thu hút đầu ra của các cơ sở sản xuất hỗ trợ cấp dưới cũng theo hợp đồng hoặc theo kế hoạch sản xuất chính (chiều tác động)

Xuất hiện phổ biến trong các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo kiểu thầu phụ/vệ tinh, trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và có tính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chủ đạo và các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ

Đối với một ngành/phân ngành và nhất là các sản phẩm cụ thể nào đó, các tổ chức hoạt động trong ngành CNPT thường có quy mô vừa và nhỏ với mức độ chuyên môn hoá sâu dải sản phẩm hẹp, dễ thay đổi mẫu mã, có sức sống và sức cạnh tranh cao

Với đặc điểm chung như vậy, CNPT có thể được xem là một ngành phù hợp cho một nền công nghiệp đang tiến vào giai đoạn đuổi bắt với các nước đi trước như Việt Nam

II Sự cần thiết phải phát triển CNPT cho ngành xe máy ở Việt Nam.

1 Phát triển CNPT để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH

Vào WTO mở ra cho nhiều cơ hội mới cho Việt Nam đẩy mạnh quá trình CNH – HĐH, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đạt được mục tiêu này, bên cạnh sự

nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta cần phải xác định những mũi đột phá mang tính chiến lược, phù hợp với xu thế phát triển ngày nay CNPT chính là một lựa chọn phù hợp Phát triển CNPT có ý nghĩa rất quan trọng đối

Trang 19

với sự phát triển của toàn ngành công nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung Nhận định này được lý giải bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Nội dung chính của quá trình CNH – HĐH là sản xuất ra các TLSX và TLTD Trong khi đó, các sản phẩm của CNPT suy cho cùng chính

là các linh phụ kiện để lắp ráp thành sảm phẩm tiêu dùng và các công cụ để sản xuất ra các linh phụ kiện đó Như vậy, mục đích của phát triển hệ thống CNPT cũng chính là mục đích của quá trình CNH – HĐH Chính vì thế, phát triển CNPT chính là việc cụ thể hoá nội dung của quá trình CNH

Mặt khác, CNPT có vai trò hết sức to lớn trong việc gia tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính do có trình độ chuyên môn hoá cao, góp phần khai thác hợp lý các nguồn lực trong nước và nước ngoài, giảm tỷ lệ xuất khẩu các sản phẩm thô, bảo đảm tính chủ động và tăng giá trị gia tăng của của ngành sản xuất ở khu vực hạ nguồn Sự phát triển của hệ thống CNPT cũng tạo nên những mắt xích quan trọng, có ảnh hưởng lan toả trong hệ thống công nghiệp ở những khu vực có lợi thế, giúp đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH theo hướng vừa mở rộng, vừa thâm sâu

Thứ hai, quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam hiện nay phải được đặt trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới Do đó, việc lựa chọn cơ cấu sản phẩm công nghiệp làm bước đột phá phải đặt trong đặc điểm CNH của các quốc gia trong khu vực

Quá trình CNH ở khu vực Đông Á diễn ra với những đặc điểm hết sức độc đáo theo nghĩa của riêng nó Sự chênh lệch tương đối về trình độ phát triển giữa các nền kinh tế trong khu vực đã làm phát sinh một quá trình “đuổi bắt – catch up”nhiều tầng, liên tục trong ngành công nghiệp – các nước đi sau đuổi theo các nước đi trước nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển.3 Song hành với quá trình này là sự chuyển giao các ngành công nghiệp từ quốc gia này sang quốc gia khác, thường xuất phát ở Nhật Bản sang đến Hàn Quốc, Đài Loan, rồi đến ASEAN – 44, sau đó đến Trung Quốc… Là một quốc gia

có trình độ thấp, Việt Nam nằm ở phần “gần cuối” của chuổi đuổi bắt và

3 Hi n t ệ ượ ng này th ườ ng đ ượ c miêu t b ng mô hình “Đàn s u bay” – NEU, ả ằ ế Giáo trình kinh tế

phát tri nể , Nxb Lao đ ng xã h i, 2004.ộ ộ

4 ASEAN – 4: Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philipin.

Trang 20

chuyển giao này Đến nay, chúng ta đã tiếp nhận được các ngành công nghiệp thuộc “ thế hệ thứ nhất”5 và chuẩn bị tiếp nhận các ngành thuộc “thế hệ thứ hai”6: điện tử, xe máy, ô tô…Để có thể cạnh tranh được với các quốc gia và vùng lãnh thổ có trình độ phát triển tương đương, chúng ta phải xây dựng được hệ thống CNPT như là một điều kiện cần thiết để tiếp nhận sự chuyển giao và phát triển dài hạn các ngành này.

Tuy nhiên, phát triển CNPT để thực hiện quá trình CNH không có nghĩa

là phát triển sản xuất tất cả các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chính yếu, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay.Trong điều kiện hội nhập muộn, chúng ta nên lựa chọn phát triển những sản phẩm hỗ trợ có lợi thế so sánh, đặc biệt là có tiềm năng phát triển trong tương lai Giai đoạn đầu nên lựa chọn một số sản phẩm hỗ trợ có tầm phục vụ rộng rãi, có thể cung cấp được cho những ngành công nghiệp cơ bản: Sản xuất linh phụ kiện bằng nhựa và kim khí, gia công xử lý nhiệt, khuôn mẫu, rèn, đúc…

2.Phát triển CNPT là điều kiện cơ bản để thu hút FDI vào ngành công nghiệp nói chung, công nghiệp chế tạo và lắp ráp nói riêng.

Đối với nền công nghiệp với các ngành chủ yếu đang trong tình trạng lắp ráp – gia công như Việt Nam hiện nay, hiệu quả lan toả từ khu vực FDI tới sự phát triển của các khu vực khác trong nền kinh tế đóng vai trò rất to lớn cho sự phát triển của của hệ thống công nghiệp nói chung Sự đầu tư và tham gia liên kết với các doanh nghiệp trong nước của các doanh nghiệp FDI sẽ thúc đẩy sự chuyển giao về công nghệ, kỹ năng quản lý … cho Việt Nam và tạo nên những nền tảng ban đầu cho việc phát triển công nghiệp nội địa Chính vì vậy, thu hút FDI là một yêu cầu cấp thiết đặt ra

Sự kém phát triển của hệ thống CNPT nói chung đã gây rất nhiều khó khăn cho Việt Nam trong việc thu hút FDI trong thời gian qua Các phân tích

và điều tra cho thấy, có ba mục tiêu để bảo đảm tính cạnh tranh của sản phẩm

5 Bao g m các ngành: Các ngành khai thác,ch bi n và các ngành s n xu t theo h p đ ng gia ồ ế ế ả ấ ợ ồ công: D t may, da gi y ệ ầ

6 Bao g m các ngành đòi h i trình đ công ngh cao h n: c khí ch t o, đi n t , công ngh ồ ỏ ộ ệ ơ ơ ế ạ ệ ử ệ

Trang 21

công nghiệp là chất lượng cao, giao hàng đúng hạn và giá cả hợp lý Hai yếu

tố đầu tiên có thể đạt được nhờ việc sắp xếp lại nội bộ công ty của các doanh nghiệp Còn yếu tố thứ ba là hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành CNPT tại quốc gia sở tại Phân tích cấu thành chi phí sản xuất của các ngành lắp ráp thì tỷ lệ chi phí trung gian chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng chi phí sản xuất (ngành ôtô – xe máy chiếm đến 70%-80%), chi phí cho lao động chiếm rất ít, chỉ vào khoảng 10% Do vậy, dù được đánh giá là có ưu thế về lao động như Việt Nam hiện nay, nếu không có hệ thống CNPT phát triển thì cũng không thể tạo ra sức hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài vào trong lĩnh vực công nghiệp nói chung, công nghiệp chế tạo - lắp ráp nói riêng

CNPT phải đi trước một bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp CNPT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu sản phẩm hỗ trợ Hơn thế nữa, những đầu vào cần thiết cho ngành lắp ráp có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Phát triển được hệ thống cung cấp nội địa đủ mạnh sẽ làm giảm đáng kể chi phí sản xuất của các doanh nghiệp

Tuy nhiên, cũng không phải là CNPT phải phát triển đồng bộ rồi mới thu hút FDI Có nhiều trường hợp FDI đi trước và lôi kéo các công ty khác (kể cả công ty nước ngoài và công ty bản xứ) đầu tư phát triển CNPT Do đó, có sự quan hệ tương hỗ giữa FDI và CNPT

Trong những năm qua, đối với khu vực cơ khí chế tạo, dòng chảy FDI

từ phía Nhật Bản, Đài Loan… vào Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh Chúng ta đã và đang được các nhà sản xuất Nhật Bản so sánh, cân nhắc với Thái Lan về mức độ hấp dẫn đầu tư như là một “địa điểm phân tán rủi ro” khi

họ đã đầu tư quá nhiều ở thị trường Trung Quốc Điều các nhà sản xuất Nhật Bản quan tâm nhất chính là tình hình phát triển của hệ thống CNPT Hiện tại Thái Lan đang có ưu thế hơn vì họ đã phát triển được một hệ thống CNPT tương đối phát triển với hàng ngàn nhà cung cấp chuyên nghiệp Tuy nhiên họ

Trang 22

vẫn còn những hạn chế và những “đoạn thị trường” còn bỏ trống7 của họ mà chúng ta có thể tận dụng và tạo thành điểm mạnh để thu hút đầu tư cho mình Điều quan trọng là chính phủ và các doanh nghiệp phải biết nắm bắt và đưa ra những chiến lược hành động cụ thể để tận dụng được cơ hội này.

Trong ngành xe máy Việt Nam hiện nay, sản lượng chủ yếu được quyết định bởi các doanh nghiệp FDI (HVN, Yamaha, Suzuki, SWM) Việc phát triển CNPT cho ngành xe máy sẽ là điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp này tích cực đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới và chuyển giao công nghệ cho các nhà sản xuất nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp trong nước Đồng thời, thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài vào hệ thống sản xuất CNPT sẽ là nền tảng để phát triển các ngành công nghiệp chế tạo có đặc điểm tương đồng, có thể sử dụng chung hệ thống CNPT của ngành như: điện

tử, ô tô…

3 Xuất phát từ đặc điểm của ngành xe máy Việt Nam.

Quá trình phát triển của ngành công nghiệp xe máy thường được chia thành năm giai đoạn phát triển

- Nhập khẩu linh kiện và lắp ráp cơ bản

- Thực hiện nội địa hoá >70%

- Thực hiện nội địa hoá >90%, phát triển được CNPT và các nhà cung cấp phụ tùng linh kiện từ đơn lẻ đến trọn bộ chi tiết

- Kiểm soát được chất lượng sản phẩm và dịch vụ bán hàng, đủ năng lực

để cung ứng đủ bộ ba yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng (QCD) và có thể trực tiếp tham gia sản xuất

- Thực hiện phân công hợp tác quốc tế và xuất khấu sản phẩm - chuyển giao công nghệ và nghiên cứu phát triển

Theo đánh giá của Bộ công nghịêp, xe máy Việt Nam đang ở trong quá trình kết thúc giai đoạn II, bắt đầu giai đoạn III của quá trình phát triển Hiện nay, tỷ lệ nội địa hoá toàn ngành đã đạt mức từ 70% - 80%, số lượng các nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng tăng lên nhanh chóng - hệ thống CNPT hỗ trợ cho ngành đã được “thai nghén” hình thành và ngày càng phát triển Do đó,

7 7 Hi n nay, trình đ s n xu t và x lý nguyên v t li u thô, công ngh x lý b m t c a Thái ệ ộ ả ấ ử ậ ệ ệ ử ề ặ ủ

Trang 23

phát triển CNPT vừa là xu hướng tất yếu, vừa là điều kiện cần thiết để ngành

có thể tiếp tục phát triển lên các giai đoạn cao hơn

Xe máy thuộc ngành công nghiêp chế tạo - một trong những ngành có tỷ

lệ chi phí nguyên vật liệu và phụ tùng linh kiện cao nhất trong các ngành công nghiệp.Tỷ lệ chi phí trung gian của ngành trong tổng chi phí luôn chiếm khoảng 70 -80% Phát triển CNPT là một yếu tố cơ bản để giảm chi phí trung gian, nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm công nghiệp

Là ngành định hướng nội địa, đã đạt được mức độ cao về quy mô, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh, xe máy là ngành công nghiệp mũi nhọn duy nhất hiện nay ở Việt Nam có khả năng tăng trưởng mà không cần dựa vào xuất khẩu Nhờ quy mô thị trường nội địa khá lớn trong thời gian qua và vẫn đang còn có tiềm năng mở rộng nên hệ thống CNPT cho ngành sẽ được đảm bảo về mặt thị trường trong dài hạn Mặt khác, hệ thống CNPT cho ngành xe máy có thể được sử dụng chung cho cả một số ngành lắp ráp - chế tạo khác như điện tử, ô tô… Do vậy, khi thị trường xe máy đạt đến điểm bão hoà, các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có thể chuyển sang cung cấp cho các ngành này Hay nói cách khác, phát triển CNPT ngành xe máy có khả năng trở thành nền tảng để phát triển CNPT cho các ngành công nghiệp chính yếu khác

Mặc dù mới mới phát triển được hơn 10 năm, các doanh nghiệp lắp ráp trong nước và nước ngoài qua một thời gian kinh doanh đã và đang thiết lập được mối liên kết với các nhà cung cấp nôi địa Sự phát triển của ngành xe máy Việt Nam cho đến hiện nay là kết quả của quá trình cạnh tranh của hai kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh là mo-dun hoá và tích hợp hoá8 Quá trình này đã mang lại những tác động tích cực đối với sự phát triển cúa CNPT: Tạo nên mạng lưới sản xuất linh kiện rộng lớn giúp, cho các doanh nghiệp lắp ráp

mở rộng khả năng lựa chọn nhà cung cấp một cách hiệu quả nhất

8 8 Mo-dun hoá đ ượ c hi u là xu h ể ướ ng tăng c ườ ng s d ng chung m t lo i linh ki n chung ử ụ ộ ạ ệ trong quá trình t thi t k , mua s m linh ki n đ s n xu t ừ ế ế ắ ệ ể ả ấ

Tích h p hoá ợ

Trang 24

4 Phát triển CNPT là góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp địa phương.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận rất quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và phát triển đất nước Đây là bộ phận doanh nghiệp chiếm đại đa

số trong nền kinh tế và chủ yếu là các doanh nghiệp địa phương Hàng năm,

bộ phận này luôn là nguồn đóng góp chủ yếu vào ngân sách của các địa phương, cũng là bộ phận tạo ra phần lớn việc làm mới cho nền kinh tế

Sau khi luật Doanh nghiệp mới bắt đầu được thực thi vào năm 2000, số lượng DNTN tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là các DNVVN Đây là đội ngũ doanh nghiệp có tính năng động, nhạy bén, có tư duy kinh tế và cung cách quản lý tiến bộ hơn so với các DNNN Do đó, các doanh nghiệp này rất phù hợp với việc sản xuất các sản phẩm CNPT theo hướng chuyên môn hoá cao

Trong thời gian qua, các DNVVN ở từng địa phương có quan hệ liên kết với các doanh nghiệp lớn tại đó trong việc cung cấp nguyên vật liệu, thực hiện thầu phụ, dần hình thành mạng lưới CNPT và đặc biệt là tạo ra mạng lưới vệ tinh cung cấp linh kiện phụ tùng Số lượng DNVVN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng Vì vậy, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống CNPT chính là tiếp tục phát huy vai trò của bộ phận này trong nền kinh tế

III Những yếu tố cần thiết để phát triển CNPT cho ngành xe máy.

1 Dung lượng thị trường đủ lớn.

Dung lượng thị trường đủ lớn đóng vai trò rất quan trọng trong quyết định đầu tư của các doanh nghiệp phụ trợ Ta biết rằng, sản phẩm CNPT là những linh kiện, phụ tùng … cung cấp cho các nhà lắp ráp để họ hoàn chỉnh sản phẩm cuối cùng Vì vậy, nhu cầu các sản phẩm hỗ trợ phụ thuộc vào quy

mô lắp ráp của các doanh nghiệp, tức là sẽ phụ thuộc và nhu cầu các sản phẩm lắp ráp cuối cùng trên thị trường Do vậy, quy mô của khu vực hạ nguồn phải đủ lớn để tạo ra thị trường ổn định cho khu vực thượng nguồn hay nói cách khác, các ngành CNPT nói chung luôn đòi hỏi phải có được một lượng đơn đặt hàng tối thiểu tương đối lớn thì mới có thể tham gia vào thị

Trang 25

trường Điều này phản ảnh một thực tế là các ngành CNPT thường đòi hỏi phải đầu tư vốn nhiều hơn ngành lắp ráp Các ngành CNPT cơ bản như tạo khuôn mẫu, gia công kim khí, phun nhựa… đều phải đầu tư nhiều máy móc đắt tiền và chỉ cần rất ít nhân công, trong khi ngành lắp ráp lại đòi hỏi ngược lại Hơn thế nữa, những máy móc này lại không thể chia nhỏ (tức là không thể đầu tư từng phần), một khi đã đầu tư lắp đặt máy móc thì chi phí vốn cố định luôn ở một mức tương đối lớn Do vậy chi phí vốn đơn vị (tổng chi phí chia cho số sản phẩm sản xuất) sẽ giảm tỷ lệ nghịch với số lượng sản phẩm đầu ra Đây chính là lý do tại sao các nhà sản xuất linh kiện phụ tùng cần bảo đảm dung lượng thị trường phải đủ lớn (hoặc thị trường sẽ phát triển, dung lượng thị trường sẽ lớn trong tương lai) trước khi họ đầu tư.

Đối với ngành xe máy, các nhà cung cấp thường tham gia thị trường khi mức cầu đạt tối thiểu 200.000 – 300.000 bộ linh kiện/năm Quy mô sản xuất tối ưu được đánh giá khoảng 1triệu bộ/ năm Hiện nay, lượng tiêu thụ xe máy của nước ta vào khoảng từ 2 – 2.2 triệu xe/ năm và có còn có khả năng duy trì mức cầu này trong vòng 10 năm nữa Đây là mức cầu đủ lớn để hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước quyết định tham gia đầu tư vào sản xuất các sản phẩm hỗ trợ một cách nghiêm túc và có chiến lược phát triển trong dài hạn

Để vượt qua sự hạn hẹp của thị trường trong nước, đặc biệt là ở các quốc gia mới đang ở giai đoạn đầu như Việt Nam, có thể tính đến khả năng xuất khẩu các sản phẩm hỗ trợ Điều này có thể thực hiện trực tiếp thông qua xuất khẩu linh kiện hay gián tiếp thông qua cung cấp linh kiện cho các nhà lắp ráp

có khả năng xuất khẩu sản phẩm cuối cùng Một số doanh nghiệp FDI hiện đã

có những lô hàng linh kiện xuất khẩu đầu tiên như HVN, VMEP…và cũng đã

có chiến lược xuất khẩu trong dài hạn với mục tiêu trở thành nhà cung cấp linh kiện xe máy hàng đầu của khu vực Đây là những tín hiệu tốt, phản ánh khả năng phát triển của hệ thống CNPT cho ngành ở Việt Nam

2 Nguồn nhân lực chất lượng cao.

Khi vấn đề dung lượng thị trường được giải quyết một cách tương đối thì nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển lâu dài của các ngành công nghiệp chế tạo, trong đó có CNPT cho ngành xe máy Nó là nhân tố tạo nên khả năng

Trang 26

cạnh tranh quốc tế của Việt Nam trên thị trường sản phẩm CNPT trong khu vực, đặc biệt là với các sản phẩm của Thái Lan và Trung Quốc Nguồn nhân lực chất lượng cao ở đây được hiểu bao gồm các kỹ sưu quản lý dây chuyền sản xuất, kỹ sư khuôn mẫu có nhiều kinh nghiệm và công nhân lắp ráp có trình độ cao.

Kỹ sư quản lý dây chuyền sản xuất là những người có khả năng quản lý và cải tiến toàn bộ quy trình sản xuất của một nhà máy chứ không chỉ là một kỹ năng cụ thể

Kỹ sư khuôn mẫu có nhiều kinh nghiệm là những người có thể thiết kế và điều chỉnh những sản phẩm khuôn mẫu đạt đến trình hoàn hảo và những người này có thể cảm nhận sự khác biệt đến từng milimet đối với các sản phẩm

Công nhân lắp ráp kỹ thuật cao là những người có khả năng lắp ráp toàn

bộ một sản phẩm hoàn chỉnh và vì thế, họ có thể có những gợi ý để cải thiện từng chi tiết trong sản phẩm đó

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, trong một vài thập kỷ tới, lợi thế so sánh động của Việt Nam chính là nguồn lao động kỹ thuật cao Lực lượng lao động Việt Nam hiện đang rất dồi dào, dự báo đến năm 2020 có khả năng đạt đến “kỷ nguyên vàng” của cơ cấu dân số Tuy vậy, chất lượng lao động vẫn còn rất thấp so với mặt bằng chung của khu vực.Quá trình hội nhập kinh tế một mặt đặt ra rất nhiều thách thức cho nguồn lao động, nhưng đồng thời mở ra cơ hội đa dạng hoá các loại hình đào tạo lao động Người Việt Nam lại có truyền thống cần cù, ham học hỏi, tiếp thu nhanh…Đây chính là những yếu tố đặc thù, tạo nên lợi thế rất phù hợp với nhu cầu của các ngành CNPT mà chúng ta nên tận dụng

3 Xây dựng được “Vòng tuần hoàn tích cực giữa công nghiệp lắp ráp

và CNPT.

Các ngành công nghiệp chủ đạo muốn phát triển trong dài hạn đòi hỏi sự phát triển song song của hệ thống CNPT cho nó Đồng thời sự phát triển của các ngành lắp ráp cũng kích thích sự phát triển của CNPT, đặc biệt là trong

Trang 27

giai đoạn đầu Các nhà lắp ráp và các nhà sản xuất linh phụ kiện luôn tồn tại mối liên kết chặt chẽ mang tính chất tương hỗ Có thể hình dung, CNPT như phần chân núi, tạo phần cứng để hình thành nên thân núi và đỉnh núi là ngành công nghiệp sản xuất - lắp ráp sản phẩm công nghiệp hoặc sản phẩm tiêu dùng Điều này cũng hàm ý rằng, để phát triển CNPT cần “con đường hai chiều” - từ các nhà lắp ráp đến các nhà cung ứng và ngược lại.

Hình 5: Vòng tuần hoàn tích cực giữa doanh nghiệp lắp ráp

và nhà cung cấp

Nguồn: Tác giả

Để xây dựng được một vòng tuần hoàn như trên cần bảo đảm tham gia

và phối hợp thống nhất từ cả chính phủ, doanh nghiệp lắp ráp và nhà cung ứng nội địa

Về phía nhà nước, việc xây dựng chính sách thuế nhập khẩu linh kiện

một cách hợp lí, có lộ trình cụ thể và công khai cho các doanh nghiệp tham gia trên thị trường là một yêu cầu cấp thiết Giảm thuế nhập khẩu linh kiện xe máy là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh cho hệ thống CNPT Việc giảm thuế sẽ tạo những tác động tích cực đối với cả doanh nghiệp lắp ráp lẫn doanh nghiệp sản xuất phụ tùng

Thứ nhất, nó làm tăng khả năng cạnh tranh về chi phí của các nhà lắp ráp, biến Việt Nam trở thành một cứ điểm xuất khẩu xe máy hoàn chỉnh Thứ hai, tự do hoá nhập khẩu linh kiện sẽ buộc các nhà sản xuất trong nước phải

Nâng cao năng lực sản xuất linh kiện trong nước và thu hút FDI

Sự tập trung và tích tụ trong ngành CNPT tăng nhanh

Tăng đầu tư của

DN phụ trợ trong nước và NN

Sự tăng đầu tư của DN lắp ráp

Trang 28

nỗ lực đổi mới, đầu tư công nghệ, không kinh doanh theo kiểu “chộp giật”

Nó cũng khuyến khích xu hướng chuyên môn hoá một số linh kiện phụ tùng – giúp hệ thống CNPT cho ngành xe máy ở Việt Nam định vị được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu Hiện nay, Thái Lan, Malaysia… đã tích cực chủ động hội nhập vào chuỗi giá trị công nghiệp trong khu vực và đã tìm được cho mình những linh kiện cơ bản để sản xuất và xuất khẩu

Trong giai đoạn đầu phát triển, các ưu đãi về thuế, tài chính… của nhà nước đối với các nhà cung cấp CNPT là rất cần thiết Miễn, giảm thuế thu nhập trong những năm đầu kinh doanh; giảm thuế nhập khẩu máy móc, công nghệ… sẽ tăng sức hấp dẫn của ngành đối với các nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung trong ngành, để ngành có cơ hội phát triển

Về phía doanh nghiệp: Tham gia vào vòng tuần hoàn, các doanh nghiệp

(cả lắp ráp và sản xuất phụ tùng) vừa là đối tượng chịu tác động của các nhân

tố bên ngoài, vừa chính là đối tượng trực tiếp thực hiện các mối quan hệ hợp tác Sự chủ động tham gia và thái độ tích cực từ cả hai phía là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công cho việc hình thành vòng tròn tích cực này

Trên thực tế, doanh nghiệp lắp ráp thường được phát triển bắt đầu từ các doanh nghiệp FDI nên luôn có một khoảng cách nhất định về nhận thức và thông tin giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung cấp nội địa Chính vì thế, các nhà lắp ráp cần đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong việc kêu gọi đầu tư FDI vào sản xuất linh phụ kiện bởi sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI sẽ có tác động nhất định đến sự nhận thức và phát triển của các doanh

Trang 29

nghiệp cung ứng nội địa Bên cạnh đó, sự trợ giúp về mặt kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… từ phía doanh nghiệp lắp ráp cũng là rất cần thiết Phía doanh nghiệp cung ứng nội địa cần nỗ lực đầu tư, đổi mới công nghệ, có thái

độ tích cực, cầu thị trong việc tìm kiến đối tác và nhận sự trợ giúp Chính thái

độ kiên nhẫn, linh hoạt, sáng tạo là một điều kiện đủ làm chất xúc tác làm cho quá trình liên kết và hỗ trợ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả

IV Kinh nghiệm quốc tế về phát triển CNPT ngành xe máy và bài học cho Việt Nam.

1 Kinh nghiệm quốc tế

1.1 Kinh nghiệm của Thái lan

Ngành công nghiệp xe máy Thái Lan bắt đầu xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ 70s, cho đến nay đã có trên 40 năm phát triển Ngành đã có một thời gian dài phát triển dưới sự bảo hộ chặt chẽ của chính phủ thông qua việc thực thi một loạt chính sách bảo hộ như: Duy trì quy định tỷ lệ nội địa hoá tới 26 năm, thời gian cấm nhập khẩi xe máy nguyên chiếc là 18 năm Chính vì thế, trong giai đoạn đầu phát triển ngành đã tránh được sự cạnh tranh quốc tế, có đủ thời gian để xây dựng những nền tảng ban đầu cho sự phát triển

Đến thời điểm hiện nay, công nghiệp xe máy Thái Lan đang trong khoảng cuối gian đoạn IV, đầu giai đoạn V của quá trình phát triển Do đó, đã hình thành một hệ thống các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng tương đối hoàn chỉnh, Các nhà cung cấp đã có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhà lắp ráp theo bộ

Về phía doanh nghiệp: Thành công của các nhà sản xuất linh phụ kiện Thái

Lan chính là việc giảm chi phí sản xuất Họ cố gắng cải thiện năng suất lao động của máy móc và công nhân thay bởi vì khó có thể trông chờ vào việc giảm giá được nguyên liệu đầu vào.Ví dụ, các nhà sản xuất đề xuất việc phân

Trang 30

tích giá trị để làm giảm phần hao phí trong quá trình ép kim loại Thêm vào

đó, họ cũng hợp tác chặt chẽ với các nhà lắp ráp để tìm cách giảm giá thành ngay từ khâu thiết kế Ví dụ: họ đề xuất giảm bề rộng của lốp xe mà vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng và độ an toàn của xe Nhờ thế mà chi phí cuối cùng nhỏ hơn đáng kể Việc liên kết hợp tác còn được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác như đầu tư vào thiết bị, phụ tùng mới, nghiên cứu và phát triển…

Về phía chính phủ: Ngay từ giai đoạn đầu, chính phủ Thái Lan đã nhận

thức được tầm quan trọng của FDI với sự phát triển của CNPT Chính vì thế,

họ luôn đề cao vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà sản xuất Nhật Bản, tạo mọi điều kiện có thể để nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia BOI là cơ quan đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy FDI vào Thái Lan Khả năng tiếp thị hình ảnh chính là một thành công của BOI trong việc thu hút FDI Các thông tin về kinh tế - xã hội, các cơ hội đầu tư tại Thái Lan, các chính sách hỗ trợ của nhà nước… thường được công khai và cập nhật liên tục trên các tạp chí, sách hướng dẫn, website do BOI phát hành hoặc quản

lý Chính thái độ hợp tác cởi mở này đã tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư Kết quả là Thái Lan đã nhận được dòng chảy vốn FDI khổng lồ trong những năm thập kỷ 80s và 90s, đặc biệt là tận dụng được cơ hội di chuyển các cơ sở sản xuất trong ngành lắp ráp (trong đó có cả xe máy và hệ thống CNPT) từ Nhật Bản

Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan còn thành lập các cơ quan hỗ trợ phát triển CNPT: Viện nghiên cứu ôtô – xe máy; văn phòng phát triển CNPT - trực thuộc ban hỗ trợ công nghiệp Các cơ quan này chủ yếu là tham mưu cho chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách phát triển Đây cũng chính là những kênh thông tin thường xuyên giữa chính phủ và doanh nghiệp.Điều đó làm cho khối doanh nghiệp luôn hài lòng về việc điều chỉnh các chính sách vì

họ được tham gia việc dự thảo, thực hiện và kiểm tra chính sách đó Chính vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài luôn muốn tìm cơ hội làm ăn lâu dài tại Thái Lan - đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ôtô – xe máy vì hệ thống chính sách rõ ràng, ổn định và hệ thống CNPT phát triển Hiện nay, BOI vẫn tiếp

Trang 31

tục thu hút các nhà sản xuất linh kiện cao cấp bằng cách giành những ưu đãi

cụ thể cho các nhà đầu tư như: Miễn thuế tối đa 8 năm; miễn thuế nhập khẩu một số máy móc như khuôn đúc, cán ép kim loại…để sản xuất các linh kiện còn đang thiếu vắng ở Thái Lan BOI cũng khuyến khích đặc biệt các hoạt động phát triển dài hạn cho CNPT như dự án cho R&D (khoảng 150 triệu USD), dự án phát triển nguồn nhân lực (khoảng 37.5 triệu USD)…

1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản.

Nhật Bản là nước có nền công nghiệp sản xuất xe máy phát triển sau so với các nước phát triển lâu đời như Pháp, Italia…tuy nhiên đã có sự phát triển nhanh chóng ngay từ giai đoạn đầu Năm 1950 mới chỉ chiếm 2 –3%, , đến năm 1955 đã chiếm tới 20% tổng sản lượng của các nước phát triển

Thời kỳ đầu (tính đến năm 1955), Nhật Bản thực hiện phương thức sản xuất với khối lượng nhỏ Nhiều doanh nghiệp sản xuất xe máy thực hiện mua phụ tùng về lắp ráp nên đã tránh đựoc khâu đầu tư thiết bị và khai thác sản phẩm

Đến thập kỷ 60, các nhà máy sản xuất với sản lượng lớn, nhiều công đoạn được thực hiện liên tục Ngành đã tận dụng được lợi thế về chi phí do

mở rộng quy mô, cải tiến mạnh mẽ công nghệ, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới theo nhu cầu thị trường, nhờ đó, đã phát triển vượt bậc và vươn lên

Thập kỷ 80, thị trường xe máy Nhật Bản bước vào thời kỳ bão hoà, lợi thế cạnh tranh mất đi nên các các cơ sở sản xuất trong nước bắt đầu giảm dần, công nghiệp xe máy Nhật Bản chuyển hướng mở rộng sản xuất ra nước ngoài Điểm đến chủ yếu chính là các nước khu vực Đông Á(Thái Lan, MalayCNPTa…) Thập kỷ 90, các doanh nghiệp đã đạt được mục tiêu giảm

Trang 32

thiểu sản xuất trong nước và đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu.Tuy nhiên lúc này công nghiệp xe máy Nhật Bản cũng phải đối mặt với những khó khăn, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghiệp xe máy Trung Quốc Cấu trúc kinh doanh của các doanh nghiệp vì thế cũng dần thay đổi đểt thích ứng với điều kiện mới Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng chuyển sang liên kết với các doanh nghiệp Trung Quốc, sử dụng hiệu quả các phụ tùng giá rẻ của Trung Quốc.

Nhật Bản là quốc gia thành công trong việc thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào các ngành CNPT, trong đó có ngành xe máy Trong

số rất nhiều chính sách mà chính phủ thực thi, đáng chú ý nhất là chính sách

hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ - đối tượng chính của CNPT Trước khi thành lập Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ (năm 1948) và Bộ kinh tế công nghiệp và thương mại Nhật Bản, chính phủ đã thành lập một ngân hàng chuyên hỗ trợ vốn vay cho đối tượng doanh nghiệp này để phát triển sản xuất kinh doanh Sau đó, chính phủ mở tiếp hai tổ chức tín dụng chuyên cung vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp có thể được giải quyết cho vay vốn chỉ trong 3 ngày kể từ khi đệ trình đơn Việc hỗ trợ vốn ngay từ thời gian đầu phát triển có tác dụng rất lớn, giúp các cở sở sản xuất có điều kiện đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu phát triển sản phẩm, từ đó xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng và xây dựng được thương hiệu ngay từ đầu

Nhật Bản cũng là quốc gia thành công trong việc xây dựng các kênh thông tin giữa các doanh nghiệp tư nhân và các cơ quan chính phủ, Điều này

đã có tác dụng rất lớn cho các doanh nghiệp trong quá trình mới gia nhập thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh một cách nhanh chóng và hiệu quả

1.3 Kinh nghiệm của Malaysia

So với một số nước trong khu vực và Châu Á, công nghiệp xe máy MalayCNPTa hình thành khá sớm và đã phát triển tốt từ nửa đầu thập kỷ

1960

Ngành cũng bắt đầu với quy mô nhỏ lẻ, lắp ráp là chủ yếu, sản xuất phụ

Trang 33

các bộ phận sản xuất tại đây, nhưng giá trị thực của những đóng góp này thấp hơn do Malaysia còn phải nhập nhiều loại bán phụ tùng, bán thành phẩm và đặc biệt là nguyên liệu thô Từ năm 1981, ngành sản xuất phụ tùng đã chuyển

từ cung cấp cho thị trường thay thế đơn thuần sang cung cấp cho thị trường sản xuất và lắp ráp xe hoàn chỉnh theo chương trình nội địa hoá Đến nay, ngành sản xuất phụ tùng xe máy đã mở rộng sang xuất khẩu để nắm bắt lợi thế và tiềm năng to lớn của thị trường quốc tế cũng như khai thác tối đa năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Ngành sản xuất phụ tùng xe máy phát triển liên tục và nhiều nhà sản xuất đã bắt đầu xuât khẩu linh kiện thông qua quan hệ hợp tác với các nhà sản xuất linh kiện nước ngoài Do đó đã tạo được

cơ sở cần thiết đề trở thành một ngành có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Để làm được như vậy, ngành phụ tùng xe máy đã chuyển hướng chiến lược phát triển từ một ngành sản xuất các loại phụ tùng cho thị trường nội địa sang một ngành sản xuất xe máy hoàn chỉnh để xuất khẩu với giá cạnh tranh Những kinh nghiệm phát triển hệ thống CNPT cho ngành xe máy của Malaysia bao gồm:

Khuyến khích đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động của MIDA : Những hỗ trợ về thuế thông qua vị trí tiên phong và hỗ trợ thuế (ITA) cho sản xuất máy móc và linh kiện; sản xuất các thiết bị giao thông và linh kiện phụ tùng; các ngành CNPT; sản xuất các thiết bị và linh kiện điện tử; sản xuất các sản phẩm nhựa

Các chương trình hỗ trợ phát triển bao gồm: Chương trình hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp sản xuất linh kiện (với các công ty đa quốc gia); Tổ chức hội chợ các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng (SMI EXPO) và các hội chợ công nghiệp; Nghiên cứu và phân đoạn thị trường cho các sản phẩm linh kiện phụ tùng); Xây dựng cơ sở dữ liệu các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng

có chất lượng và thông tin về nhu cầu linh phụ kiện của các doanh nghiệp đa quốc gia

Xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp sản xuất linh kiện phụ tùng Mục tiêu chính của chương trình là tạo ra một thị trường công nghiệp mà các doanh nghiệp SEMs của Malaysia có thể trở thành những nhà

Trang 34

sản xuất và cung cấp đáng tin cậy các sản phẩm đầu vào công nghiệp, máy móc, thiết bị… cho các công nghiệp lớn hơn Hơn thế nữa, chương trình cũng tạo điều kiện hội nhập lớn hơn và các liên kết giữa các doanh nghiệp được thúc đẩy nhiều hơn.

2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Công nghiệp xe máy Việt Nam còn non trẻ, phát triển chưa có định hướng rõ ràng Kéo theo đó, hệ thống CNPT cho nó cũng chỉ mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, chưa đồng bộ và hoàn chỉnh Nghiên cứu quá trình phát triển và những kinh nghiệm của các nước trong quá trình xây dựng hệ thống CNPT cho ngành xe máy, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây

2.1 Bài học về thúc đẩy FDI vào CNPT.

Thúc đẩy FDI là hết sức cần thiết cho sự phát triển của CNPT đặc biệt

là trong giai đoạn đầu phát triển Cả chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp cần phải nhận thức được rõ tầm quan trọng này, từ đó có những động thái và

nỗ lực để thu hút FDI

Về phía chính phủ: Việt Nam cần học tập Thái Lan và Malaysia trong việc tiếp thị hình ảnh đất nước và cơ hội làm ăn cho các nhà đầu tư Điều đó thể hiện qua việc xây dựng hệ thống chính sách ổn định, rõ ràng và hợp lý hơn Chính phủ cũng nên có những chương trình hỗ trợ cụ thể để thu hút FDI chứ không nên dừng lại ở một số chính sách chung chung như hiện nay Các biện pháp khuyến khích về thuế, tự do hoá thương mại, hỗ trợ thông tin… là những định hướng chính phủ nên theo đuổi để có thể tạo ra được một “cú huých” cho dòng chảy FDI

Về phía doanh nghiệp: Các doanh nghiệp sản xuất chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếm đối tác, liên kết, hợp tác với các đối tác nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường khả năng tài chính, trình độ quản lý Thái độ tích cực hợp tác của các doanh nghiệp trong nước cũng chính là một nhân tố tác động tới quyết định của các nhà đầu tư khi đến với Việt Nam

Trang 35

2.2 Bài học về xây dựng mối liên kết giữa chính phủ và các doanh nghiệp và giữa

doanh nghiệp lắp ráp với các nhà cung ứng.

Chính phủ cần thành lập các tổ chức chuyên về phát triển CNPT Cơ quan này sẽ là cầu nối không chỉ giữa chính phủ với doanh nghiệp mà còn bảo đảm luồng thông tin đa chiều giữa các doanh nghiệp với nhau (xúc tiến liên kết giữa các nhà thầu phụ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các công ty lớn; kết nối các nhà cung cấp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài )

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp lắp ráp với các nhà cung ứng, đặc biệt

là các nhà cung ứng trong nước nên được thực hiện ngay từ những khâu đầu tiên (nghiên cứu, thiết kế sản phẩm) Sự liên kết này nên được thực hiện một cách chủ động từ hai phía nhằm tăng cường khả năng khai thác và năng lực

kỹ thuật, đa dạng hoá sản phẩm với các tính năng ngày càng vượt trội Những

hỗ trợ của nhà nước không phải là can thiệp trực tiếp vào mối quan hệ này (quy định tỷ lệ nội địa hoá, tăng thuế nhập khẩu linh kiện….) mà nên có những chính sách hỗ trợ gián tiếp như: xây dựng cơ sở dữ liệu về các nhà cung cấp trong nước, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức các hội chợ công nghiệp CNPT…

2.3 Bài học về sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn khu vực

Quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia phải biết trao đổi hàng hóa công nghiệp với nhau thay vì cố gắng tự sản xuất mọi thứ trong nước Chính

vì vậy, chúng ta cần trở thành một nối kết quan trọng trong mạng lưới sản xuất xe máy ở Đông Á bằng việc chuyên môn hóa một số quy trình và nhập khẩu các hàng hóa trung gian Các quốc gia Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc… đã định vị được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 36

Hình 6: Tham gia vào chuỗi giá trị khu vực trong ngành xe máy.

Nguồn:Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam

Các quốc gia có nền công nghiệp xe máy phát triển đều có sự chuyển hướng chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang chiến lược hướng về xuất khẩu Việt Nam nên học tập kinh nghiệm này, đặc biệt là từ phía các nhà sản xuất Nhật Bản, Thái Lan trong quá trình tham gia vào chuỗi giá trị trong khu vực Chúng ta cần phải tìm ra công đoạn sản xuất mà có lợi thế so sánh, sản xuất với quy mô lớn và trở thành nhà cung cấp cho toàn khu vực chứ không nên hướng tới mục tiêu sản xuất mọi thứ ở trong nước.Thái Lan và Việt Nam hiện đang là hai ứng cử viên hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng Đây là lĩnh vực còn nhiều phân đoạn thị trường bỏ ngỏ (mặc dù Thái Lan đã có hệ thống CNPT tương đối phát triển nhưng họ vẫn chưa tham gia được hết vào tất cả các khâu trong chuỗi giá trị do vậy Việt Nam vẫn còn cơ hội tham gia) Điều cần làm là chúng ta phải thể hiện có tiềm năng hơn các nhà sản xuất Thái Lan trong lĩnh vực này để giành được sự quan tâm của các nhà đầu tư

Nhật Bản:

R&D và thiết kế

Đài Loan Nguyên liệu

HồngKông

Marketing

Trang 37

Chương II Đánh giá thực trạng phát triển của CNPT

của ngành xe máy ở Việt Nam

I Tình hình phát triển của ngành xe máy Việt Nam.

1 Lịch sử phát triển và vị trí của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam.

1.1 Lịch sử phát triển.

Lịch sử phát triển của ngành xe máy Việt Nam bắt đầu từ giữa thập kỷ 1990s, khởi đầu bằng sự xuất hiện của các nhà lắp ráp nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan Trước năm 1995, số lượng xe được đưa vào sử dụng tại Việt Nam tương đối thấp, vào khoảng 2-3 triệu xe và hàng năm tăng thêm khoảng

10 ngàn xe Phần lớn xe máy được nhập khẩu

Bảng 1: Quá trình phát triển của ngành công nghiệp xe máyViệt Nam.

Sản xuất

Sản lượng

khẩu CKD

IKD Nội địa

(Bộ)

FDI (Bộ)

HVN

1996

Giai

Trang 38

Hình 7: Tốc độ tăng trưởng của sản lượng lắp ráp xe máy

giai đoạn 1996 – 2003.

Nguồn: Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam.

Ghi chú: NA –chưa có số liệu

Trước năm 2000, tổng sản lượng sản xuất khoảng vài trăm nghìn xe/năm hầu hết là do các doanh nghiệp FDI và một ít nhà sản xuất nội điạ sản xuất Giá xe máy vào thời điểm đó tương đối cao và điều này dẫn tới có hàng loạt doanh nghiệp nội địa muốn tham gia vào thị trường sản xuất lắp ráp xe máy nhằm sản xuất các xe máy giá rẻ có nguồn gốc Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2002 Sản lượng của các công ty này tăng trưởng nhanh chóng và chiếm lĩnh khoảng 87% thị phần xe máy trong năm 2001 do giá xe máy của các doanh nghiệp lắp ráp nội địa này phù hợp với mức thu nhập của người tiêu dùng,

Tuy nhiên, trong năm 2003-2004, hầu hết các doanh nghiệp lắp ráp xe máy đều phải giảm sản lượng do các lý do liên quan đến chính sách quản lý của nhà nước, bao gồm việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu linh phụ kiện, chính sách hạn chế đăng ký xe máy tại một số địa phương, và các chính sách quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nghiêm ngặt đối với các doanh nghiệp lắp ráp xe máy Tuy nhiên, đến năm 2005, các chính sách hạn chế kiểm soát các nhà lắp ráp được dỡ bỏ và sản lượng sản xuất bắt đầu tăng lên Dưới sức

ép về xe giá rẻ từ các nhà sản xuất lắp ráp xe máy Trung Quốc (hoặc công nghệ, phụ tùng của Trung Quốc), các doanh nghiệp sản xuất xe máy FDI đã

Trang 39

điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình, tái cơ cấu tổ chức sản xuất, phát triển hệ thống nhà cung cấp mới và phát triển hệ thống bán hàng và dịch vụ sau bán hàng và dần dần chiếm lĩnh lại thị trường Đến năm 2005, thị phần của các nhà sản xuất lắp ráp xe máy FDI đã tăng lên 53,6% Trong khi đó, số lượng xe máy giá rẻ có nguồn gốc Trung Quốc đã giảm mạnh do chất lượng kém

Đến năm 2006, thị trường xe máy đã đạt khoảng gần 2triện xe/năm và có

xu hướng tăng cao hơn trong tương lai, năng lực sản xuất - lắp ráp toàn ngành

đã đạt khoảng 3 triệu xe/ năm Dung lượng thị trường trong nước đã đủ lớn để các doanh nghiệp lắp ráp giới thiệu nhiều model xe mới và thu hút các nhà cung cấp linh kiên phụ tùng đến Việt Nam

1.2 Vị trí của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam trong bản đồ công nghiệp xe

máy thế giới.

So sánh với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, công nghiệp xe máy Việt Nam còn rất non trẻ, tuy nhiên vẫn là một quốc gia có vị thế nhất định trên thị trường quốc tế

Châu Á là thị trường xe máy lớn nhất thế giới chiếm khoảng 95% tổng sản lượng Thị trường Châu Á đang tăng trưởng nhanh khác hẳn với thị trường đã bão hoà của các quốc gia phát triển Trung Quốc, Ấn Độ, IndoneCNPTa là ba nước sản xuất xe máy lớn nhất với sản lượng cung ứng hàng năm lần lượt vào khoảng 17.2, 12.7 và 5.1 triệu xe Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan cũng có sản lượng tương đối vào khoảng 1.8, 1.5 và 1.4 triệu xe trong năm 2005 Với khối lượng sản xuất dự báo khoảng hơn 2 triệu xe/ năm, Việt Nam thuộc vào nhóm nước sản xuất xe máy lớn nhất trên thế giới

Trang 40

Hình 8: Các nhà sản xuất xe máy lớn ở Châu Á

Nguồn: Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam- 2003.

Hiện nay, Việt Nam đang đứng thứ 6 trên thị trường xe máy toàn cầu về năng lực sản xuất và thứ 5 về thị trường tiêu thụ

2 Quy mô và lực lượng lao động

2.1 Cơ sở sản xuất và lực lượng lao động

Công nghiệp xe máy Việt Nam là ngành non trẻ mới được hình thành và phát triển trong khoảng 10 năm trở lại đây Tuy vậy, theo nhận định của các chuyên gia trong và ngoài nước, ngành xe máy Việt Nam phát triển khá nhanh chỉ trong một thời gian ngắn Để đi từ giai đoạn lắp ráp thuần tuý đến sản xuất linh kiện trong nước thay thế một phần nhập khẩu như Việt Nam bây giờ, ngành xe máy Thái Lan phải mất gần 20 năm

Trong giai đoạn 2001-2004, có khoảng 67 doanh nghiệp lắp ráp sản xuất

xe máy phân bố khắp cả nước với tổng sản lượng khoảng 2,2 triệu xe vào thời điểm phát triển nhất Ngành CNPT bắt đầu hình thành, các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau với chủ sở hữu đến

từ nhiều quốc gia và lãnh thổ khác nhau như Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Đến năm 2005, số lượng các nhà lắp ráp giảm xuống do sự “thanh lọc”các doanh nghiệp hoạt động yếu kém của ngành Theo thống kê của của Cục Đăng kiểm Việt Nam, hiện có có 52 doanh

Ngày đăng: 15/04/2013, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Phùng- Khoa Kế hoạch và phát triển - Đại học Kinh tế quôc dân. “Giáo trình Kinh tế phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
2. DAVID A. AAKER – “Triển khai chiến lược kinh doanh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai chiến lược kinh doanh
3. Kenichi Ohno. Nguyễn Văn Thường - Diễn đàn phát triển Việt Nam “Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam
5. Bộ Công nghiệp - Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách Công nghiệp. “ Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNPT đến năm 2010. tầm nhìn 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNPT đến năm 2010. tầm nhìn 2020
6. Bộ Công nghiệp - Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách Công nghiệp. “Dự thảo quy hoạch tổng thể công nghiệp xe máy giai đoạnh 2006 – 2015. có xét đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch tổng thể công nghiệp xe máy giai đoạnh 2006 – 2015. có xét đến năm 2020
7. Bộ kế hoạch và đầu tư. “ Chiến lược phát triển công nghiệp xe máy đến năm 2015. tầm nhìn 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển công nghiệp xe máy đến năm 2015. tầm nhìn 2020
8. Nguyễn Thuý – Diễn đàn phát triển Việt Nam . “ CNPT. khái niệm và sự phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNPT. khái niệm và sự phát triển
9. Kenichi Ohno - Diễn đàn phát triển Việt Nam- Báo cáo điều tra. “ Xây dựng và tăng cường ngành CNPT tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và tăng cường ngành CNPT tại Việt Nam
10. Diễn đàn phát triển Việt Nam. “ Tóm tắt kết quả điều tra năng lực của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam – tháng 9/2003” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt kết quả điều tra năng lực của ngành công nghiệp xe máy Việt Nam – tháng 9/2003
11.Trần Văn Thọ - Giảng viên đại học WASEDA – Tokyo. “Quá trình CNH ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Đông Ấ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình CNH ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Đông Ấ
4. Diễn đàn phát triển Việt Nam. “ CNPT Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản Khác
12.Tạp chí công nghiệp Việt Nam. số 9 (năm 2007), số 37, số 48, số 31 (năm 2006) Khác
13.www.vdf.org.vn 14.www.home.vnn.vn 15.www.vnexpress.vn 16.www.mpi.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phạm vi các ngành CNPT - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 1 Phạm vi các ngành CNPT (Trang 8)
Hình 2: Quan hệ giữa công nghệ phụ trợ và công nghệ lắp ráp trong quá  trình sản xuất xe máy. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 2 Quan hệ giữa công nghệ phụ trợ và công nghệ lắp ráp trong quá trình sản xuất xe máy (Trang 11)
Hình 3: Cấu trúc hệ thống CNPT của các ngành lắp ráp. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 3 Cấu trúc hệ thống CNPT của các ngành lắp ráp (Trang 12)
Hình 5: Vòng tuần hoàn tích cực giữa doanh nghiệp lắp ráp và nhà cung cấp - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 5 Vòng tuần hoàn tích cực giữa doanh nghiệp lắp ráp và nhà cung cấp (Trang 27)
Hình 6: Tham gia vào chuỗi giá trị khu vực trong  ngành xe máy. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 6 Tham gia vào chuỗi giá trị khu vực trong ngành xe máy (Trang 36)
Bảng 1: Quá trình  phát triển của ngành công nghiệp xe máyViệt Nam. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 1 Quá trình phát triển của ngành công nghiệp xe máyViệt Nam (Trang 37)
Bảng 2: Tình hình phát triển lắp ráp sản xuất xe máy - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 2 Tình hình phát triển lắp ráp sản xuất xe máy (Trang 41)
Bảng 4: Tổng hợp cơ cấu vốn đầu tư theo loại hình doanh nghiệp - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 4 Tổng hợp cơ cấu vốn đầu tư theo loại hình doanh nghiệp (Trang 45)
Bảng 5: Lượng xe máy lưu hành  giai đoạn 1990 –2005. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 5 Lượng xe máy lưu hành giai đoạn 1990 –2005 (Trang 47)
Bảng 6: Nhập khẩu xe máy và linh kiện xe máy - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 6 Nhập khẩu xe máy và linh kiện xe máy (Trang 48)
Bảng 7: Số lượng đăng ký xe máy qua các năm. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 7 Số lượng đăng ký xe máy qua các năm (Trang 50)
Hình 15: Chu trình sản xuất xe máy. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 15 Chu trình sản xuất xe máy (Trang 52)
Hình 16: Phân loại doanh nghiệp nội địa theo tỷ lệ nội địa hoá đạt được. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 16 Phân loại doanh nghiệp nội địa theo tỷ lệ nội địa hoá đạt được (Trang 56)
Bảng 9: Tình hình sản xuất - nội địa hoá của HVN. - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Bảng 9 Tình hình sản xuất - nội địa hoá của HVN (Trang 57)
Hình 17: Cơ cấu thu mua linh kiện của các nhà sản xuất Nhật Bản - Giải pháp phát triển CNPT cho ngành xe máy của Việt Nam
Hình 17 Cơ cấu thu mua linh kiện của các nhà sản xuất Nhật Bản (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w