1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên

28 594 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự gia tăng của bệnh mạch vành nói riêng và bệnh lý tim mạch nói chung được xác định bởi sự gia tăng của một số yếu tố nguy cơ như: đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, béo

Trang 1

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Trang 2

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Dương Hồng Thái

Bộ môn Nội - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng

Bộ môn Nội - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Phản biện 2: TS Lê Thị Hương Lan

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng khoa học

Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên :

Vào hồi 15 giờ 30 ngày 25 tháng 11 năm 2013

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên

- Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

- Phòng Quản lý và Đào tạo Sau đại học - Trường ĐH Y Dược TN

Trang 3

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 4

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tim mạch ngày càng gia tăng nhanh chóng, là nguyên

nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và cũng đang gia

tăng ở nước ta Trong các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh

mạch vành, đột quỵ bệnh mạch vành chiếm từ 1/3 đến một nửa các

bệnh tim mạch ở những nước đang phát triển và có nguy cơ tử vong

cao ở người trưởng thành [22] Sự gia tăng của bệnh mạch vành nói

riêng và bệnh lý tim mạch nói chung được xác định bởi sự gia tăng

của một số yếu tố nguy cơ như: đái tháo đường, tăng huyết áp, rối

loạn lipid máu, béo phì, hút thuốc lá, lối sống tĩnh tại…

Ngoài những yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển đã được

khẳng định, y học ngày nay còn nêu lên vai trò quan trọng của hiện

tượng viêm trường diễn thành mạch trong cơ chế bệnh sinh của các

bệnh xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành Quá trình viêm trường

diễn sẽ lắng đọng các loại lipid, dẫn đến gây xơ vữa động mạch Yếu

tố viêm giữ vai trò chính trong tất cả các giai đoạn của mảng xơ vữa,

từ giai đoạn sớm hình thành đến giai đoạn mảng xơ vữa phát triển và

bị vỡ, gây tắc nghẽn dòng chảy trong động mạch vành, làm xuất hiện

các biến cố tim mạch

Quá trình viêm này có thể phát hiện được bằng xét nghiệm

CRP (Protein phản ứng C, C- Reactive Protein ), đây là một yếu tố

chỉ điểm nhạy nhất của viêm và nhiễm trùng Khi có phản ứng viêm

thì nồng độ CRP tăng, tuy nhiên trong viêm do xơ vữa động mạch là

hiện tượng viêm mạn ở mức độ thấp nên không gây tăng CRP thông

thường Nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật, qua xét nghiệm hs - CRP (high

sensitivity C- Reactive Protein, CRP độ nhạy cao) có thể phát hiện

CRP ở giới hạn rất thấp, từ 0,1 - 0,2 mg/l Xét nghiệm hs - CRP phát

hiện những thay đổi rất nhỏ của CRP trong quá trình viêm thành

mạch mặc dù nồng độ CRP trong máu vẫn trong giới hạn bình

thường (≤ 10 mg/l) Những thay đổi đó của hs - CRP cộng với các

chỉ số về lipid máu giúp tiên lượng các nguy cơ xơ vữa động mạch,

bệnh mạch vành và dự báo các biến cố tim mạch trong tương lai ở

những người có “ bề ngoài” bình thường

Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về mối liên quan giữa nồng độ

hs - CRP ở bệnh nhân béo phì, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa,

đột quỵ… bước đầu đã có những ứng dụng trong điều trị và theo dõi

Trang 5

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

bệnh [3], [7], [21], [39], [46], [55] Với mong muốn tìm hiểu thêm về

nồng độ hs - CRP và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện

bảo vệ sức khoẻ tỉnh Thái Nguyên, nhằm phát hiện các yếu tố nguy

cơ tim mạch, từ đó xây dựng chiến lược phòng và điều trị thích hợp

để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cán bộ trong diện quản lý tốt hơn,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối liên quan

giữa nồng độ hs - CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán

bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh Thái Nguyên” với hai mục tiêu:

1 Xác định nồng độ hs - CRP và một số yếu tố nguy cơ tim

mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh Thái Nguyên

2 Phân tích mối liên quan giữa nồng độ hs - CRP với một số

yếu tố nguy cơ tim mạch

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Dịch tễ học bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch (BTM) đã và đang là vấn đề sức khoẻ rất được

quan tâm trên thế giới, tỷ lệ tử vong và di chứng do BTM vẫn chiếm

hàng đầu không những ở các quốc gia đã phát triển mà đang có xu

hướng gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển [82] Tử

vong do BTM chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới, trong đó

80% tập trung ở các quốc gia đang phát triển Nếu không có một

hành động tích cực thì đến năm 2015 sẽ có 20 triệu người chết do

BTM [82], [84]

Tại Mỹ có khoảng 12 triệu người mắc bệnh mạch vành

(BMV); 4,7 triệu người bị đột quỵ và hàng triệu người Mỹ mắc

chứng đau cách hồi do bệnh động mạch ngoại vi Mỗi năm trong số

800.000 người Mỹ bị đột quỵ, 5 - 15 % sẽ bị tái phát sau một năm Sau

5 năm, có tới 40% số bệnh nhân này sẽ bị đột quỵ tái phát với gần

50% trong số đó sẽ tử vong, thường do một bệnh lý tim mạch [1]

Tại Việt Nam, mặc dù gánh nặng của thấp tim và các bệnh van

tim do thấp vẫn còn khá nhiều, song tai biến mạch máu não và bệnh

mạch vành đang trở thành những nhóm bệnh chính gây tử vong và

nhập viện [22] Tình hình bệnh lý tim mạch và đột quỵ tăng dần theo

sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, dự đoán đến năm 2017 sẽ

có trên 20% người Việt sẽ mắc các bệnh tim mạch tức là cứ 5 người sẽ

Trang 6

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

có 1 người bị bệnh tim mạch [14] Thông thường tần suất BTM ở các

nước đã phát triển cao hơn các nước đang phát triển, nhưng một

nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố nguy cơ tim mạch ở Việt Nam -

một quốc gia đang phát triển - đã ngang bằng với yếu tố nguy cơ

BTM trong dân số Mỹ [27]

1.2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch

Yếu tố nguy cơ (YTNC) của BTM là yếu tố liên quan với sự

gia tăng khả năng mắc BTM Một người mang một hoặc nhiều yếu tố

nguy cơ có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh Thường thì

các YTNC hay đi kèm nhau, thúc đẩy nhau phát triển và làm cho

nguy cơ bị bệnh tăng theo cấp số nhân Kiểm soát các yếu tố nguy cơ

của bệnh lý tim mạch là vô cùng quan trọng trong việc giảm tỷ lệ

mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch

1.2.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được

1.2.1.1 Tuổi

Nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch tăng lên khi tuổi đời càng

cao, các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tuổi tác là một trong những

yếu tố dự đoán bệnh tật quan trọng nhất [62], [81] Tuổi càng lớn thì

bệnh mạch máu càng nhiều mà trước hết là xơ vữa động mạch, khi

tuổi càng lớn thì tích tụ càng nhiều yếu tố nguy cơ [11] Hơn một nửa

số người bị đột quỵ tim mạch và tới 4/5 số người chết vì bị đột quỵ

có tuổi cao hơn 65

1.2.1.2 Giới

Ở tuổi trẻ, nam giới có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột quỵ

và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới, tuy nhiên nữ giới

tuổi cao, sau mãn kinh cũng có nguy cơ bị bệnh tim mạch không

khác nhiều so với nam giới Hiện nay, tuổi thọ của nữ giới nói chung

cao hơn nam giới trung bình 4 - 6 năm [66]

1.2.1.3 Yếu tố gia đình

Nếu trong gia đình có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (Nam

< 55 tuổi, nữ < 65 tuổi) sẽ có nguy cơ bị BTM cao hơn những người

khác

Có thể coi tuổi, giới, tiền sử gia đình là những yếu tố nguy cơ

nhận dạng khá quan trọng mặc dù không thể nào thay đổi được

nhưng nó giúp chúng ta tầm soát tích cực hơn các yếu tố nguy cơ

khác

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

Trang 7

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.2.2.1 Tăng huyết áp

Tăng huyết áp được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt

quá 140/90 mmHg THA là yếu tố nguy cơ rõ ràng của các biến cố

tim mạch như: BMV, tử vong do BMV, đột quỵ, suy tim ứ

huyết…Điều trị thành công THA làm giảm rõ rệt các yếu tố nguy cơ

của nó Ở người THA thành mạch máu thường bị xơ vữa nên rất kém

co giãn, do đó để tống máu vào hệ thống huyết quản, tim phải co bóp

mạnh hơn, như vậy tim phải gắng sức liên tục, hệ quả là cơ tim sẽ

dày lên và cứng hơn, sự cố gắng liên tục sẽ làm tim suy yếu Do áp

lực lên thành động mạch tăng cùng với sự vữa xơ làm mạch máu dễ

bị vỡ ở những nơi xung yếu, tăng nguy cơ tai biến mạch máu não,

nhồi máu cơ tim…

1.2.2.2 Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid liên quan

Tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu (cholesterol và

triglycerid) rất thường gặp và liên quan chặt chẽ với quá trình xơ vữa

mạch máu Tăng nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố

dự báo mạnh về nguy cơ mắc BMV và bệnh đột quỵ, nồng độ

cholesterol toàn phần trong máu < 5,2 mmol/l được coi là bình

thường, khi cholesterol tăng cao đồng nghĩa với nguy cơ đột quỵ tim

mạch tăng cao theo tuyến tính Nồng độ LDL-C > 3,4 mmol/l là yếu

tố nguy cơ của BTM, LDL-C có thể coi là yếu tố “chỉ điểm” để dự báo

các biến cố bệnh lý tim mạch, ngược lại HDL - C được xem là có vai

trò bảo vệ, chống lại việc hình thành các mảng xơ vữa và bệnh lý

mạch vành Tỷ lệ thấp của HDL-C là điều kiện thuận lợi cho quá

trình tạo xơ vữa và hình thành các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh

mạch vành, hàm lượng HDL-C trong máu càng cao thì nguy cơ mắc

BTM càng thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1mmol/l)

1.2.2.3 Hút thuốc lá

Hút thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ gây đột quỵ và

bệnh mạch vành nhưng cũng là nguyên nhân gây tử vong có thể

phòng tránh được Trong khoảng 500.000 trường hợp chết vì BMV

hàng năm có tới 30 - 40% có nguyên nhân từ thuốc lá Các nghiên

cứu đã chứng minh rằng, so với những người không hút thuốc lá

cùng nhóm tuổi, những đối tượng hút một bao thuốc mỗi ngày có

nguy cơ đột quỵ cao hơn 10 lần ở nam giới, cao hơn 5 lần ở nữ giới và

có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cao gấp 2 lần [54], [56], [75]

Trang 8

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Hút thuốc lá làm tăng nhanh quá trình xơ vữa động mạch từ đó

gây ra các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tai

biến mạch máu não, bệnh động mạch ngoại vi…

1.2.2.4 Đái tháo đường và kháng Insulin

Những người mắc bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ xuất hiện sau

40 tuổi (type 2) có tỷ lệ mới mắc BMV và đột quỵ cao hơn người

bình thường Bệnh cảnh kháng insulin trong máu có thể gây THA và

tăng lắng đọng cholesterol vào mảng xơ vữa động mạch, hiệu quả

thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó Kiểm soát chặt

chẽ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường có lợi ích làm giảm các

biến chứng vi mạch, giảm nguy cơ của bệnh tim mạch

1.2.2.5 Béo phì

Người béo phì dễ bị tăng cholesterol máu, THA và là nguy cơ

của BTM Béo phì liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ của xơ vữa

động mạch và bệnh tim mạch bao gồm tăng huyết áp, kháng insulin,

rối loạn dung nạp đường, cholesterol tăng cao, tăng triglycerid, giảm

HDL-C và tăng fibrinogen trong huyết tương Có hai dạng béo phì:

- Ở dạng thứ nhất mỡ thừa thường tập trung tại vùng bụng và

thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả

táo).Kiểu béo phì ở bụng có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ mắc

BTM, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột quỵ

- Ở dạng thứ hai được đặc trưng bởi sự tích luỹ mỡ nhiều ở

vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê)

1.2.2.6 Rượu

Hiện nay các khuyến cáo cho rằng nếu sử dụng điều độ, tức là

không quá 1 đơn vị rượu mỗi ngày (một đơn vị rượu tương đương

khoảng 125 ml rượu vang hoặc 300ml bia hoặc 30ml rượu mạnh) thì

uống rượu không gây nguy cơ tim mạch và trong chừng mực nào đó

có thể giúp ngăn ngừa VXĐM và BMV [22], có thể rượu đã làm tăng

lượng HDL - C trong máu (rượu vang đỏ) Việc uống quá nhiều rượu

hàng ngày (> 2 đơn vị rượu/ngày) có thể gây hại cho sức khỏe, lúc đó

rượu có thể làm tăng áp lực máu, tăng kết tập tiểu cầu, tăng đông

máu, tăng triglycerid, cơn rung nhĩ kịch phát, bệnh cơ tim, tăng men gan

cũng như gây ra rất nhiều những rối loạn khác, một vài trong số đó lại là

các rối loạn về tim mạch

1.2.2.7 Lối sống tĩnh tại

Trang 9

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ trong các nguy cơ tim

mạch Hoạt động thể chất thường xuyên với cường độ vận động từ

vừa đến nặng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch Để dự phòng tiên

phát, mức độ hoạt động thể lực phù hợp trong suốt đời là đi bộ

nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội tối thiểu 30phút/ngày, từ 4 đến 6

ngày/1 tuần là hữu ích

Các yếu tố nguy cơ có khuynh hướng xuất hiện cùng nhau và tác

động cộng hưởng Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng

xuất hiện các biến cố tim mạch sẽ cao hơn nhiều Khi đánh giá nguy

cơ, không thể chỉ đơn thuần dựa vào một yếu tố nguy cơ mà cần tính

nguy cơ tim mạch chung cho từng cá thể

1.3 Protein phản ứng C (CRP, C- Reactive Protein)

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ kinh điển, vai trò của các chỉ

điểm viêm trong bệnh lý tim mạch đặc biệt là BMV ngày càng được

quan tâm Trong số đó, protein phản ứng C đã được nhiều nghiên cứu

trên thế giới đánh giá là một “chỉ điểm vàng” của quá trình viêm

trong các giai đoạn khác nhau của bệnh [50], [61], [73], [74]

1.3.1 Nguồn gốc và cấu tạo của CRP

CRP được phát hiện vào năm 1930 bởi William Tillett và

Thomas Francis, có trong huyết thanh bệnh nhân bị viêm phổi do phế

cầu, có chứa một loại protein có khả năng kết tủa với các

polysaccaride C lấy từ vỏ phế cầu khuẩn và đặt tên là protein phản

ứng C (C-Reactive Protein) CRP là một protein thuộc nhóm

pentaxin, dưới kính hiển vi điện tử, phân tử CRP có cấu trúc dạng đĩa

với 5 chuỗi peptid có hình dạng tương tự nhau Chúng được sắp xếp

một cách đối xứng xung quanh một lỗ trung tâm Kích thước CRP

với đường kính ngoài 102A0, đường kính lỗ trung tâm 30A0

và đường kính của mỗi chuỗi Polypeptid là 36A0 Mỗi chuỗi Polypeptid có 206

acid amin, với trọng lượng phân tử 120.000 daltons [51]

Trang 10

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Hình 1.3 Phân tử CRP

CRP được tổng hợp chủ yếu tại gan, dưới tác dụng kích thích

của các Cytokin viêm như IL-6, IL-1 và IFN- α nhưng chủ yếu là do

IL-6 khi cơ thể đang có hiện tượng viêm Ngoài gan ra mô mỡ cũng

đóng vai trò quan trọng trong sản xuất CRP CRP cũng được sản xuất

bởi tế bào cơ trơn trong ĐMV, nó hiện diện ở những mảng xơ vữa

Hình 1.4 Mô hình cấu tạo và hoạt động của CRP

(Nguồn: Subodh Verma et al (2004), “CRP: Structure affects

function”, Circulation, 109, pp.1914-17)

1.3.2 Chức năng của CRP

* Chức năng nhận biết

CRP liên kết với phosphorylcholin, một thành phần chủ yếu

của màng tế bào và lipoprotein, liên kết của CRP với những phần tử

như thế đã tăng cường khả năng khử độc, tăng tính thực bào và kết

hợp bổ thể của các tế bào thực bào CRP bám trên bề mặt của 60%

các tế bào bạch cầu đơn nhân, 40% bạch cầu đa nhân trung tính Sự

liên kết giữa CRP với LDL-C và màng tế bào đã làm cho protein này

Trang 11

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

trở nên hấp dẫn trong việc nghiên cứu sinh lý bệnh học xơ vữa động

mạch

* Chức năng hoạt hóa

CRP hoạt hóa bổ thể theo con đường cổ điển, nhiều nghiên

cứu đã chỉ ra rằng thiếu CRP làm cho hoạt hóa bổ thể không được

đầy đủ CRP gắn với các ligand polysaccarid hay phospholipid của vi

khuẩn hay màng tế bào sẽ hoạt hóa C3 convertase, tách C3 thành C3a

và C3b sẽ gắn lên ligand, phức hợp CRP - ligand - C3b sẽ nhập nội

bào và chuyển hóa tại lysosom [39]

CRP làm giảm sự phát triển của vi khuẩn trong giai đoạn đầu

của quá trình nhiễm khuẩn, cơ chế của quá trình này là do sự thực

bào qua trung gian bổ thể, trong đó bổ thể có chức năng opsonin hoá

CRP kích thích tổng hợp yếu tố mô bởi tế bào đơn nhân và làm tăng

hoạt hoá bổ thể

CRP giữ vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát

triển BMV và xuất hiện các biến cố mạch vành Yếu tố viêm giữ vai

trò chính trong tất cả các giai đoạn mảng xơ vữa, ngay từ giai đoạn

sớm hình thành đến giai đoạn mảng xơ vữa phát triển và cả lúc mảng

xơ vữa bị vỡ và gây tắc nghẽn dòng chảy trong ĐMV CRP gắn chọn

lọc với LDL-C, đặc biệt là chất LDL thừa được tìm thấy ở các mảng

xơ vữa và thường đi kèm với nó một bổ thể được hoạt hoá trong các

mảng vữa như vậy Phức hợp gắn CRP đó hoạt hoá bổ thể, là một yếu

tố tiền viêm, góp phần vào bệnh sinh của xơ vữa động mạch

Khi có phản ứng viêm thì nồng độ CRP tăng Tuy nhiên trong

viêm do XVĐM là hiện tượng viêm mãn ở mức độ thấp nên không

gây tăng CRP thông thường

Hiện nay, nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật, bằng những phương

pháp có độ nhạy cao người ta có thể đo được nồng độ protein phản

ứng C ở những mức rất thấp (< 0,2mg/l) tạm dịch là protein phản ứng

C độ nhạy cao (high sensitivity Reactive, hs - CRP) Từ đó xét

nghiệm định lượng hs - CRP đã được dùng phổ biến trong các BTM

và cả bệnh chuyển hoá, ĐTĐ [45], [61], [63], [74] Xét nghiệm hs -

CRP phát hiện những thay đổi rất nhỏ của CRP trong quá trình viêm

thành mạch mặc dù nồng độ CRP trong máu vẫn trong giới hạn bình

thường (≤ 10mg/l) Những thay đổi đó của CRP cùng với các chỉ số

cholesterol, HDL-C, LDL-C giúp ta tiên lượng các nguy cơ XVĐM,

nguy cơ BMV, thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim ngay cả ở những

Trang 12

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

người có vẻ là bình thường, đồng thời giúp theo dõi và điều trị các

bệnh nói trên và đánh giá hiệu quả điều trị [31] Có nhiều trường hợp

BTM mà cholesterol vẫn bình thường, vì vậy một số nghiên cứu nói

rằng: hs - CRP là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc tiên lượng, theo

dõi điều trị BTM [70], [73]

Khác với CRP, nồng độ hs - CRP trong bệnh tim mạch thường

trong giới hạn thấp < 10mg/l do đó người ta đã đặt ra trị số cắt (Cut -

off value, CV) để đánh giá [46], [61], [64], [74]:

- Nếu CV thấp, hs - CRP < 1mg/l: ít hoặc không có nguy cơ

BTM

- CV trung bình, hs - CRP 1- 3mg/l: nguy cơ vừa phải

- CV cao, hs - CRP > 3mg/l: nguy cơ cao

Nồng độ CRP trong máu bình thường < 10mg/l, còn nồng độ

hs - CRP trong máu bình thường thì thấp hơn nhiều, một công trình

nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy hs - CRP: 0,84 ± 0,93 mg/l [32]

Lợi điểm của sự đo lường nồng độ hs - CRP so với các dấu ấn

viêm khác là: tính ổn định của hs - CRP trong ngày, nồng độ hs -

CRP không bị ảnh hưởng bởi tuổi, giới, nhịp ngày đêm, tính ổn định

cao, cho phép đo lường dễ dàng, chính xác và cho kết quả giống nhau

từ nhiều mẫu huyết tương tươi, lưu trữ hoặc đông lạnh Điều này

phần nào do CRP có thành phần Pentaxin ổn định và có thời gian nửa

đời dài 18 - 20 giờ, giá thành được dễ chấp nhận, do đó hs - CRP được

coi là một dấu ấn hoàn hảo nhất Hàng năm, cùng với đánh giá các

thông số lipid máu nên làm thêm test hs - CRP sẽ giúp ta phỏng đoán

nguy cơ các hiện tượng tim mạch trong tương lai 6-8 năm sau [17]

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Các trường hợp đang có các bệnh nhiễm trùng cấp và mạn

tính, có kèm theo các bệnh lý tự miễn như: lupus ban đỏ, viêm khớp

dạng thấp, các bệnh lý ác tính được phát hiện qua thăm khám lâm

sàng và xét nghiệm

- Đang dùng các thuốc kháng viêm không Steroid, Corticoid

hoặc các thuốc làm rối loạn lipid máu

- Bệnh nhân mới chấn thương hoặc sau phẫu thuật trong vòng

hai tháng

- Xét nghiệm hs - CRP huyết thanh > 10 mg/l (do nghi ngờ

nhiễm trùng kín đáo mà không phát hiện được trên lâm sàng)

7/2013 tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cán bộ tỉnh Thái Nguyên và khoa Sinh hoá - Bệnh viện Đa khoa

Trung ương Thái Nguyên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang

:

, sau đây gọi là đối tượng nghiên cứu

* Nồng độ hs - CRP huyết thanh

2.1 Phân loại nguy cơ tim mạch theo nồng độ hs - CRP

huyết thanh (AHA/CDC-2003) [71]

Nguy cơ tim mạch Nồng độ hs - CRP

Để đánh giá mức độ nguy cơ tim mạch (NCTM) của nồng độ

hs - CRP huyết thanh chúng tôi chia các giá trị hs - CRP thu được từ

đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm:

Trang 14

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Định lượng hs - CRP huyết thanh, định lượng đường máu

tĩnh mạch khi đói, định lượng cholesterol, triglycerid, HDL-C,

mạch ở đối tƣợng nghiên cứu

Bảng 3.1 Nồng độ hs - CRP huyết thanh trung bình (mg/l)

Ngày đăng: 10/08/2015, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Phân tử CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Hình 1.3. Phân tử CRP (Trang 10)
Bảng 3.2. Phân loại  nồng độ hs - CRP huyết thanh theo mức nguy cơ tim - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Phân loại nồng độ hs - CRP huyết thanh theo mức nguy cơ tim (Trang 14)
Bảng 3.4. Tỷ lệ thừa cân, béo bụng của đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Tỷ lệ thừa cân, béo bụng của đối tượng nghiên cứu (Trang 16)
Bảng 3.6. Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở đối tượng nghiên cứu (Trang 17)
Bảng 3.7. Tỷ lệ thiếu máu cơ tim ở đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Tỷ lệ thiếu máu cơ tim ở đối tượng nghiên cứu (Trang 17)
Bảng 3.8. Nồng độ hs - CRP huyết thanh với tuổi - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Nồng độ hs - CRP huyết thanh với tuổi (Trang 17)
Bảng 3.10. Nồng độ hs - CRP với thói quen ít vận động thể lực, - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Nồng độ hs - CRP với thói quen ít vận động thể lực, (Trang 18)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP (Trang 18)
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP (Trang 18)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP (Trang 19)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP (Trang 19)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ hs - CRP (Trang 19)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ (Trang 20)
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ - Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ hs   CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở cán bộ diện bảo vệ sức khỏe tỉnh thái nguyên
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ của nồng độ (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w