Lí do chọn đề tài Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển cùng với toàn cầu hóa ngày càng cao nền kinh tế đã và đang đối mặt với mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Nhung
Ban chủ nhiệm khoa Người hướng dẫn
TS Vũ Như Vân
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và trân thành nhất tới thầy giáo
TS Vũ Như Vân - Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lí, các thầy
cô khoa Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Nhân dịp này, tác giả xin trân thành cảm ơn UBND tỉnh, thành phố và các cơ quan ban ngành tỉnh Hà Giang đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu và nhiều thông tin hữu ích cho quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới BGH trường PTDT Nội trú tỉnh Hà Giang, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân luôn động viên, giúp đỡ, chia sẻ để tác giả hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tuy bản thân đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cũng như các bạn đồng nghiệp để luận văn thạc sĩ của tôi được hoàn thiện và mang tính thực tiễn cao hơn
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Hồng Nhung
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan………i
Lời cảm ơn……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt……… iv
Danh mục các bảng……… v
Danh mục các hình……….vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Định nghĩa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 9
1.1.2 Năng lực cạnh tranh 9
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 16
1.1.4 Các nhân tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh 21
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24
1.2.1 Năng lực cạnh tranh toàn cầu / quốc gia của Việt Nam 24
1.2.1 Hiện trạng NLCT vùng miền núi phía Bắc nói chung và một số tỉnh tiêu biểu trong vùng 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
Chương 2 CÁC YẾU TỐ ĐỊA LÍ ẢNH HƯỞNG TỚI CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH GIANG GIAI ĐOẠN 2006 – 2012 36
2.1 Các yếu tố địa lý ảnh hưởng tới năng lực canh tranh của tỉnh Hà Giang 36
2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 36
2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội 43
2.2.1 Khái quát chung về nền kinh tế 49
2.2 Thực trạng PCI của tỉnh Hà Giang 55
iii
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.1 PCI của tỉnh Hà Giang 2007 – 2012 55
2.2.2 Những điểm mạnh, điểm yếu của năng lực cạnh tranh Hà Giang theo các chỉ số PCI 60
2.2.3 Năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Giang trong cách tiếp cận của phương pháp SWOT 66
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH HÀ GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 72
3.1 Mục tiêu, định hướng, quan điểm nâng cao PCI tỉnh Hà Giang 72
3.1.1.Mục tiêu chung 72
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 72
3.1.3 Định hướng, quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh Hà Giang…… 75
3.2 Kiến nghị một số giải pháp nâng cao NLCT của tỉnh Hà Giang 81
3.3 Giải pháp đột phá nâng cao PCI tỉnh Hà Giang 88
3.3.1 Đẩy mạnh xây dựng Mô hình tỉnh vùng cao biên giới gắn Xây dựng NTM với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư " 88
3.2.2 Xây dựng hệ thống đô thị và các khu công nghiệp gắn với tổ chức lãnh thổ 3 tiểu vùng kinh tế 90
3.3.3 Tập trung khai thác Khu kinh tế kinh tế của khẩu Thanh Thuỷ và các của khẩu biên giới Việt Trung 96
3.3.4 Phát huy vai trò trụ cột của thành phố Hà Giang 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh
Provincial Competitiveness Index GCI Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn
cầu
Global Competitiveness Index
VCCI Phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam
Vietnam Chamber of Commerce and Industry NLCT Năng lực cạnh tranh
KTCK Kinh tế cửa khẩu
NTM Nông thôn mới
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam 2013 - 2014 28
Bảng 1.2 Một số nước Đông Nam Á được xếp hạng GCI toàn cầu 2012 – 2013 và so sánh với năm trước đó 28
Bảng 1.3 Chỉ số PCI miền núi phía Bắc các năm 2006 - 2012 29
Bảng 1.4 Chỉ số PCI biên giới Việt – Trung các năm 2006 - 2012 30
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình trong năm của tỉnh Hà Giang ( 0 C) 39
Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng đất tỉnh Hà Giang năm 2006 và năm 2010 41
Bảng 2.3 Dân số, lao động làm việc trên địa bàn 2001 - 2012 43
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động theo ngành của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2001 - 2012 45
Bảng 2.5 Hiện trạng các đường tỉnh đến năm 2011 47
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu 50
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất sản xuất khu vực nông nghiệp Hà Giang 52
Bảng 2.8 GTSX và cơ cấu GTSX ngành công nghiệp tỉnh Hà Giang 54
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất và cơ cấu GTX ngành công nghiệp Hà Giang 54
Bảng 3.1 Các đô thị hiện có và định hướng tại Quyết định số 1151/QĐ-TTg, ngày 30/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt - Trung đến năm 2020 92
v
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc thị trường cạnh tranh 14
Hình 1.2 GCI Việt Nam 2013 – 2014 24
Hình 1.3 Các chỉ số thành phần của Lào Cai 31
Hình 1.4 Các chỉ số thành phần của Cao Bằng 32
Hình 1.5 Các chỉ số thành phần của Lạng Sơn 33
Hình 1.6 Các chỉ số thành phần của một số tỉnh Đông Bắc so với Hà Giang năm 2012 37
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 44
Hình 2.2 Quy mô và gia tăng dân số tỉnh Hà Giang giai đoạn 2001 – 2012 49
Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006 - 2012 51
Hình 2.4.Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 – 2012 (giá 2010) ……… 52
Hình 2.5 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006 - 2013 56
Hình 2.6 Các chỉ số thành phần của Hà Giang so với cả nước 56
Hình 2.7 Diễn biến các chỉ số thành phần của Hà Giang 57
vi
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển cùng với toàn cầu hóa ngày càng cao nền kinh tế đã và đang đối mặt với mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, đòi hỏi Chính phủ trung ương và chính quyền các địa phương, trước hết là cấp tỉnh phải nghiên cứu khai thác các nguồn lực bên trong cũng như tranh thủ cơ hội từ bên ngoài nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) hướng tới phát triển bền vững Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) là xây được môi trường cạnh tranh cấp tỉnh riêng của mỗi tỉnh, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Vì vậy, NLCT của mỗi tỉnh góp phần làm thay đổi bộ mặt NLCT quốc gia Nắm bắt được xu thế toàn cầu hóa thì vai trò NLCT càng đóng vai trò quyết định Trong giữa một thế giới xô bồ chúng ta phải vươn lên thoát khỏi sự tụt hậu chỉ bằng cách nâng cao NLCT của mình trên trường quốc tế Các chỉ số NLCT cũng góp phần hỗ trợ quá trình phân cấp quản lí hiện nay bằng việc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách khắc phục những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách từ cấp TW xuống cấp địa phương, qua đó giúp chính quyền tỉnh nâng cao năng lực và hiệu quả thu hút đầu tư theo hướng không ngừng cải thiện tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, văn bản pháp luật nhằm tuân thủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
Là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ còn yếu kém về trình độ phát triển cũng như NLCT trong nền kinh tế thị trường, tỉnh Hà Giang
đã có những nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện các chỉ số PCI bằng việc xây dựng Chương trình nâng cao NLCT giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng tới năm 2020 Kết quả ban đầu đáng khích lệ là sự năng động sáng tạo của lãnh đạo cấp tỉnh đã được nâng lên đáng kể, nhiều tiêu chí cạnh tranh được cải thiện
rõ rệt, đem lại nguồn cảm hứng mới cho lãnh đạo cấp tỉnh, các doanh nghiệp
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cũng như lãnh đạo các địa phương trong xây dựng chiến lược phát triển kinh tế thị trường trên cơ sở khai thác các điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu, tranh thủ các cơ hội và đón trước những thách thức mới
Tuy nhiên, nâng cao PCI trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đặc biệt phải đối mặt với sự cạnh tranh từ Vân Nam Trung Quốc, bên cạnh lòng nhiệt tình và nguồn cảm hứng do những thành tựu ban đầu đem lại, tỉnh Hà Giang cần tới một chiến lược hội nhập và phát triển trên cơ sở phương pháp luận khoa học và thực tiễn Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tôi
chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ với tên gọi: "Năng lực cạnh tranh của tỉnh
Hà Giang giai đoạn 2006 - 2012: Hiện trạng và giải pháp"
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
NLCT và chỉ số NLCT không phải là vấn đề mới mẻ và xa lạ đối với các học giả kinh tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam Rất nhiều tác giả trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu và đưa ra những học thuyết cạnh tranh nổi tiếng như: Các học giả của trường phái cổ điển A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác và trường phái hiện đại GS Michael Porter và GS Jeffrey Shach (Đại học Harvard, Hoa Kỳ) và nhiều đồng nghiệp khác Các tác giả thuộc trường phái hiện đại đã xây dựng được hệ thống thống kê chỉ số NLCT toàn cầu và xuất bản các cuốn niên giám hàng năm
Từ năm 2006 đến nay, hàng năm nước ta đều có báo cáo về NLCT cấp tỉnh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cùng DA nâng cao NLCT Việt Nam do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tài trợ thực hiện Trải qua 6 năm ứng dụng, việc nghiên cứu chỉ số NLCT cấp tỉnh đã thu được những kết quả khả quan thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.[12]
Về Báo cáo NLCT Việt Nam (VCR), năm 2009, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đề nghị Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện NLCT Châu Á của Singapore (ACI) phối hợp xây dựng Báo cáo NLCT Quốc gia đầu tiên của Việt Nam GS Michael E.Porter tham gia vào DA này với vai
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trò là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Quốc tế của ACI và thông qua sự tham gia chỉ đạo về mặt chuyên môn của nhóm cộng sự nghiên cứu của ông tại Học viện Chiến lược và NLCT, Đại học Harvard trong quá trình xây dựng báo cáo Báo cáo này đã được công bố vào cuối tháng 11 năm 2010.[16, 7, 8]
Cùng với việc đề xuất nghiên cứu về NLCT nói chung, của một số viện nghiên cứu và các nhà khoa học, Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thấy nhận thấy tầm quan trọng của việc xây dựng luật về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, định huớng xã hội chủ nghĩa Luật canh tranh đã được công bố ngày 14/12/2004 (Số 23/2004/L-CTN) Theo đó, Doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà Nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của luật này [4, 9]
Xét trên góc độ địa lý học, chỉ số NLCT cấp tỉnh là đối tượng của chuyên ngành địa lý kinh tế và có thể nghiên cứu để phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy
về địa lý doanh nghiệp, địa phương, và các phân ngành/hoạt động kinh tế Nhận thức tầm quan trọng của nghiên cứu NLCT nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế các doanh nghiệp và địa phương, các nhà địa lí đã vận dụng trong nghiên cứu vùng Đông Bắc, coi đó là hướng đi hợp lý và cần thiết [6, 8]
Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy đây là lĩnh vực khoa học và thực tiễn mới mẻ, cần được nghiên cứu sâu hơn, trên các chiều cạnh kinh tế cũng như chiều cạnh địa lí KTXH nhằm góp phần đổi mới phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Địa lí Việt Nam vì mục đích đổi mới và phát triển Trong nước đã có rất nhiều nghiên cứu về PCI: Báo cáo nghiên cứu khoa học: Những nút thắt trong điều hành kinh tế ở Nghệ An nhìn từ chỉ số NLCT cấp tỉnh; Chỉ số NLCT cấp tỉnh - PCI 2008 ở Đồng bằng sông Cửu
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Long của Đậu Anh Tuấn, phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam; Báo cáo nghiên cứu chính sách VNCI của TS Edumund Malesky [4]
Có điều lý thú là chính quyền địa phương tỉnh Hà Giang rất quan tâm nghiên cứu và vận dụng kết quả nghiên cứu PCI trong điều kiện của tỉnh bằng việc soạn thảo Chương trình hành động nâng cao chỉ số NLCT (PCI) [21] Đây cũng là mối quan tâm của chúng tôi trong một báo cáo khoa học tại Hội nghị
Khoa học Địa lý Việt Nam lần thứ 7 (10 / 2013) với đề tài “NLCT của tỉnh Hà Giang: Hiện trạng và giải pháp nâng cao chỉ số PCI” [6]
Tuy vấn đề mới mẻ và phức tạp, nhưng việc triển khai đề tài chúng tôi
đã khám phá một nguồn thông tin tư liệu phong phú; Trực tiếp về nội hàm và
thực tiễn NLCT có Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam qua các năm 2006 – 2013; Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013 – 2014.[12, 13] Các nguồn thông tin có giá trị được khai thác từ Niên giám thống kê Hà
Giang các năm 2001 – 2013 [15], nhiều DA, quy hoạch phát triển KTXH vùng biên giới Việt Trung quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Hà Giang giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 [17, 18, 19, 21, 22, 23] Có giá trị trong số tư liệu nguồn đó là hai tư liệu của tỉnh Hà Giang về đánh giá thực tiễn nghiên cứu và triển khai vận dụng PCI bước đầu có hiệu quả [23, 23]
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài dựa vào các nguồn
có độ tin cậy cao như: “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học“; "Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội" [24]
Mặc dù có nguồn thông tin tư liệu phong phú như nói ở trên, nhưng vấn đề về NLCT còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, nếu không nói là còn khá trừu tượng Đối với vùng miền núi khó khăn, phần lớn là rất khó khăn, thì càng khó hiểu phải bắt đầu
từ đâu khi nghiên cứu và hành động triển khai NLCT phát triển kinh tế xã hội Nhưng không vì thế trong giảng dạy cũng như nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Hà Giang không thể không tiếp cận nội dung và phương pháp PCI
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về NLCT, so sánh các nhân tố cấu thành PCI của tỉnh Hà Giang, đánh giá hiện trạng, giải thích nguyên nhân, đồng thời đề xuất một số giải pháp và phương hướng nâng cao NLCT của tỉnh trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các nguồn thông tin tư liệu về lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Thu thập thông tin, tư liệu, số liệu về PCI tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006 - 2012
- Nghiên cứu các chỉ số cạnh tranh, luật cạnh tranh góp phần nâng cao PCI của tỉnh Hà Giang
- Đề xuất những giải pháp thiết thực góp phần nâng cao PCI cho tỉnh Hà Giang
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu về NLCT của tỉnh Hà
Giang trong đó có liên hệ với một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam
- Giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu về NLCT của tỉnh Hà Giang thời kì
2006 – 2012 Tuy nhiên trong triển khai đề tài tham khảo, cập nhật thông tin,
tư liệu, vấn đề tại các báo cáo mới về NLCT toàn cầu các năm 2013 – 2014 và NLCT của Việt Nam năm 2013 [12, 13]
5.1.1 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của địa lí học, theo quan điểm này đòi hỏi xem xét tình hình và triển vọng của tỉnh Hà Giang và giải pháp trong việc nâng cao PCI một cách khá toàn diện, trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực
5.1.2 Quan điểm hệ thống
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu để có cái nhìn tổng thể về vấn
đề cần nghiên cứu, thấy được mối quan hệ logic – biện chứng giữa các yếu tố
cấu thành hệ thống trong quá trình vận động và phát triển
5.1.3 Quan điểm không gian lãnh thổ
Đây là quan điểm đặc thù của Địa lí học Hà Giang là tỉnh thuộc vùng trung
du và miền núi Bắc Bộ có lịch sử từ lâu đời, có nhiều nét văn hóa và bản sắc riêng Do đó cần phải vận dụng quan điểm lãnh thổ để có thể đánh giá được những mặt thuận lợi và khó khăn của tỉnh Hà Giang trong việc phát triển kinh
tế, cụ thể nâng cao PCI của riêng mình trong tương lai trên cơ sở là một bộ phận cấu thành nền kinh tế cả nước, góp phần xóa đi khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng miền trong cả nước
5.1.4 Quan điểm lịch sử
Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu để thấy được sự phát triển kinh tế của tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2006 - 2012 từ đó nhận ra được những lợi thế bên cạnh những tồn tại trong phát triển kinh tế
5.1.5 Quan điểm viễn cảnh
Dựa vào thực trạng, tình hình phát triển của Hà Giang trong thời gian qua và
mối quan hệ mật thiết kinh tế với các tỉnh miền núi Bắc Bộ trong phát triển kinh tế để xác lập được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả PCI
5.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài
5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lí thông tin tư liệu nguồn
Vận dụng phương pháp này sau khi tiến hành thu thập các thông tin về tỉnh
Hà Giang: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, số liệu,…thì nguồn tài liệu được
xử lí sao cho phù hợp với thực tế khách quan phù hợp với nội dung của đề tài
từ đó có thể rút ra những kết luận khách quan cho đề tài Trong xử lý thông tin
tư liệu nguồn, cần vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, số liệu thống kê Phân tổ thống kê: Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau Đồ thị thống kê được sử dụng trong báo cáo này với sự kết hợp giữa các con số với các hình vẽ và màu sắc để trình bày một cách sinh động các đặc trưng về số lượng và xu hướng phát triển về mặt lượng của hiện tượng
5.2.2 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng thường xuyên trong suốt quá trình
nghiên cứu Vận dụng phương pháp này sẽ giúp có cái nhìn vừa bao quát vừa
cụ thể nội dung nghiên cứu Từ số liệu thống kê có thể nhận xét được nhiều mặt trong một vấn đề và giúp phát hiện và lược bỏ những nội dung không cần thiết, bổ sung những nội dung còn thiếu
5.2.3 Phương pháp phân tích SWOT (phân tích các điểm mạnh / yếu /
cơ hội / thách thức / lực chọn chiến lược chiến lược phát triển
SWOT là từ viết tắt của các chữ S - Strengths (Điểm mạnh), W - Weakness (Điểm yếu), O - Opportunities (Cơ hội) và T - Threats (Đe dọa) Phương pháp SWOT là một công cụ phân tích để có được một cái nhìn toàn thể nhanh chóng của một tình thế phức tạp Phương pháp này được sao chép từ các xí nghiệp tư nhân đã sử dụng nó như một hướng dẫn để xác định những điểm nút kẹt chính yếu trong tiến trình sản xuất của họ hoặc để xác định các cơ
hội nhằm hướng đến các lợi nhuận nhiều hơn trong tương lai
5.2.4 Phương pháp sơ đồ, biểu đồ
Vận dụng phương pháp này để trực quan hóa các mối quan hệ về các số
liệu, các sự kiện địa lí bằng hình vẽ
Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, nhà chuyên môn, nhà quản lý về việc sử dụng đất nông nghiệp hiện nay thông qua phỏng vấn sâu và trực tiếp Phương pháp chuyên gia cần được thực hiện bằng việc trao đối tham vấn với các vị lãnh đạo tỉnh Hà Giang, đặc biệt là các cán bộ trực tiếp tham gia xây
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dựng báo cáo Chương trình nâng cao NLCT tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006 –
2012 và định hướng tới năm 2015 - 2020
6 Những đóng góp của đề tài
Đề tài đã tìm hiểu nội hàm và ý nghĩa thực tiễn lý thuyết về NLCT cấp
tỉnh (PCI) nhằm vận dụng trong nghiên cứu NLCT của tỉnh Hà Giang giai đoạn
2006 – 2012, có tham khảo 2013 nhằm khẳng định các cơ chế, chính sách của tỉnh Hà Giang đã tạo niềm tin về môi trường đầu tư bình đẳng, minh bạch đối với cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra những hạn chế của tỉnh Hà Giang theo các tiêu chí trong cơ cấu chỉ số PCI, đồng thời xác định rõ những giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu của tỉnh trong giai đoạn tới
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể vận dụng trong nghiên cứu bộ môn Địa
lý địa phương tỉnh Hà Giang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế sâu rộng thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ kinh tế đối ngoại với châu Văn Sơn, Vân Nam, Trung Quốc
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao NLCT cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hà Giang giai
đoạn 2006 - 2012
Chương 3: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hà
Giang trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực
như kinh tế, thương mại, luật chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong các sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều những khái niệm khác nhau về “cạnh tranh” Rất nhiều các học giả đã đi vào nghiên cứu để tìm ra một khái niệm chung nhất về “cạnh tranh” nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào thống nhất
Phạm vi của đề tài chỉ xin đề cập đến mặt cạnh tranh về kinh tế Năm 1980
Michael Porter đã đưa ra khái niệm về cạnh tranh trong kinh doanh như sau: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản
lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải
thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi [9, 14]
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam tồn tại rất nhiều các chỉ số liên quan đến thuật ngữ “cạnh tranh” như: Chỉ số NLCT toàn cầu (GCI), Chỉ số NLCT và hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) Việc công bố báo cáo các chỉ số hàng năm giúp ích rất nhiều cho công tác điều hành kinh tế
1.1.2 Năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm Năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh
Trong giai đoạn kinh tế thế giới và hội nhập, NLCT là nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia cũng như các doanh nghiệp Khái niệm chuẩn về NLCT đến nay chưa có khái niệm nào được thừa nhận rộng rãi Trong luận văn, NLCT của doanh nghiệp được hiểu là sự thể hiện thực lực và lợi thế của
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực
và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí
so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
NLCT còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh, đó là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia) Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được
Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ
sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và
đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương” Các yếu tố quyết định
của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Ngoài
ra, còn có 2 biến số bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ [4, 14] Theo M Porter không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất
cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
số ngành nào đó Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của quốc gia đó [14, 18]
Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hoá cao độ Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất Các Công ty của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp
có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và
sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Lý luận của M Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào
đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: Lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững; và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành
Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó của một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện
tự nhiên, tài nguyên hay con người Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển Tuy nhiên đây
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mới chỉ là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho sự thành công trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như: Khách hàng, nhà đầu tư hoặc các đối tác kinh doanh và tạo giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp [7]
1.1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Ngày nay, vấn đề NLCT đang được đặt ra ngày càng gay gắt trên thế giới
và ở Việt Nam, bởi lẽ khi đi vào thị trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế, NLCT trở thành một tiêu thức quan trọng bậc nhất đối với các quốc gia
NLCT hiện nay được chia theo các cấp khác nhau, ít nhất bao gồm ba cấp độ là:
- NLCT quốc gia: Xét trong quan hệ giữa các quốc gia trên phạm vi toàn
cầu; NLCT quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững, hấp dẫn, thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, bảo đảm được sự ổn định xã hội và góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Cạnh tranh quốc gia được phản ánh qua một loạt các chỉ tiêu và được nghiên cứu ngày càng nhiều từ những năm 1970 - 1980 Nổi tiếng là những công trình của nhà kinh tế học M Porter với nhiều công trình về cạnh tranh nói chung, trong một số lĩnh vực và của một số nước quan trọng như Nhật Bản,
Mỹ, Tây Âu, v.v…
Theo Porterr, không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo [14]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hoá cao độ Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất Các Công ty của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp
có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và
sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Lý luận của M Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào
đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: Lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ
có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một
số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Lợi
thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để
thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh
- NLCT doanh nghiệp: Xét trong quan hệ giữa các tập đoàn công ty, giữa
các ngành hàng; là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng xuất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tạo ra thu nhập và phát triển bền vững
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- NLCT sản phẩm (ngành): Cạnh tranh sản phẩm xét trong quan hệ với
các sản phẩm cùng loại hoặc có khả năng gây tranh chấp trên thị trường trong
và ngoài nước
Mô hình 5 lực lượng của Michael E.Porter giáo sư trường quản trị kinh doanh Harvard là mô hình phân tích môi trường cạnh tranh cấp ngành của doanh nghiệp Mô hình giúp các nhà quản trị nhận ra các cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp phải đương đầu trong một ngành
Hình 1.1 Cấu trúc thị trường cạnh tranh [14]
Có năm lực lượng định hướng cạnh tranh trong phạm vi ngành, đó là: (1) Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng; (2) Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện có trong ngành; (3) Sức mạnh thương lượng của người mua; (4) Sức mạnh thương lượng của người bán; (5) Đe dọa của các sản phẩm thay thế Theo mô hình xác định 5 lực lượng cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết
định phương án sản phẩm của doanh nghiệp.[14]
1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ tiềm năng
Sản phẩm thay thế
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NLCT cấp tỉnh là khả năng của một địa phương trong thu hút Đầu tư phát triển KTXH theo những mục tiêu đã định Việc đánh giá NLCT cấp tỉnh được thực hiện trên cơ sở đánh giá của các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư tư nhân, với hoạt động của chính quyền cấp tỉnh Thực chất của việc nâng cao NLCT cấp tỉnh
là việc đổi mới hoạt động của chính quyền cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy cải cách, cải thiện môi trường Kinh doanh của mỗi tỉnh
NLCT của địa phương cấp tỉnh được hiểu là khả năng thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu đã định trên cơ sở lợi thế của địa phương trên mối quan hệ liên kết với các địa phương khác trên cơ sở quốc gia Khả năng cạnh tranh của quốc gia/vùng lãnh thổ sẽ quyết định đến sự thịnh vượng của vùng/lãnh thổ đó Mặt khác, khả năng cạnh tranh này lại phụ thuộc vào năng lực sáng tạo để nâng cao năng suất
Vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter nghiên cứu xác định NLCT cấp tỉnh cho thấy trong điều kiện phân cấp mạnh, chính quyền có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp; tích cực hay tiêu cực đến sức hấp dẫn của các đầu vào (như lao động kĩ năng, cơ cấu hạ tầng, nguồn tri thức ); và Các điều kiện
yếu tố của đầu ra (Thị trường, phong tục tập quán của địa phương )
Michael Porter đã đưa ra mô hình phân tích tại sao một vài quốc gia lại có lợi thế cạnh tranh hơn các quốc gia khác Mô hình này đưa ra các yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, các yếu tố này được xem như là
“Viên kim cương của Michael Porter – Porter’s Diamond” Lý thuyết này cho
rằng điểm tựa quốc gia của một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên lợi thế cạnh tranh toàn cầu Điểm tựa này cung cấp các yếu tố cơ bản,
hỗ trợ các tổ chức trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh toàn cầu [14]
Mỗi quốc gia có một nhóm các điều kiện yếu tố cụ thể vì thế nên mỗi quốc gia sẽ phát triển những ngành công nghiệp mà nhóm điều kiện các yếu tố đầu vào của nó là tối ưu Điều này cũng giải thích được sự tồn tại của các quốc gia gọi là “quốc gia có nguồn lao động rẻ”, các nước nông nghiệp (đất nước
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
rộng lớn với nguồn tài nguyên đất đai dồi dào) Các yếu tố này không phải có
từ thiên nhiên hay được thừa hưởng mà nó có thể thay đổi hay phát triển như các sáng kiến về chính trị, tiến bộ công nghệ hoặc thay đổi về văn hóa xã hội có thể hình thành nên những yếu tố đầu vào của quốc gia
Việc xếp hạng NLCT cấp tỉnh thực chất là so sánh sức hấp dẫn của môi trường đầu tư các tỉnh, qua đó đánh giá mức độ hiệu quả trong hoạt động của chính quyền cấp tỉnh trong việc đảm bảo các điều kiện thu hút đầu tư, từ đó tạo
áp lực thúc đẩy ganh đua trong đổi mới của hoạt động chính quyền cấp tỉnh Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện sức hấp dẫn đầu tư, kinh doanh với các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.1.3.1 Xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Về cơ bản, Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) tập hợp “tiếng nói” của hàng nghìn doanh nghiệp dân doanh tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước Điều tra PCI với quy mô lớn đã thu thập đánh giá của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân về chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền tỉnh Phản hồi của doanh nghiệp sau đó được điều chỉnh với các loại dữ liệu khác đã được công bố
để khắc phục những thành kiến trong cảm nhận chủ quan của doanh nghiệp và sau cùng được tính toán lại thành điểm số ở cấp tỉnh Kết quả cuối cùng là chỉ
số tổng hợp xếp hạng 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam dựa trên kết quả công tác điều hành của từng tỉnh, thành phố trong 10 lĩnh vực có vai trò then chốt đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Nhờ đó, chỉ số PCI đưa ra được thước đo sẵn có khách quan để đánh giá tác động của những cải cách kinh tế và hành chính ở cấp tỉnh và cấp quốc gia [12]
PCI là chỉ số xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh PCI là con số nói lên NLCT giữa các địa phương trong vấn đề tạo điều kiện cho lực lượng doanh nghiệp phát triển PCI đảm bảo
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mang tính đại diện của cộng đồng DN vừa và nhỏ, đồng thời là kênh thông tin tốt đối với chính quyền địa phương cũng như các cấp lãnh đạo trung ương trong việc xác định môi trường kinh doanh của địa phương, giúp lãnh đạo địa phương định hướng trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, cũng như nâng cao NLCT để thu hút các nguồn lực đầu tư
Thứ bậc xếp hạng trong bảng chỉ số PCI chỉ có ý nghĩa tương đối Điều quan trọng sau chỉ số NLCT cấp tỉnh PCI là chính quyền mỗi địa phương phải thấy luôn có cảm nhận của DN và nhân dân địa phương mình - như một công
cụ giám sát về điều hành, quản lý KTXH, từ đó nỗ lực cải cách Cạnh tranh trong PCI là sự cạnh tranh về sự hài lòng của DN với chất lượng dịch vụ công Vấn đề không phải là thứ hạng cao thấp, mà vấn đề nằm ở mức độ thân thiện, làm hài lòng cộng đồng DN ở địa phương đó Ở nhiều quốc gia, thay vì xem GDP/đầu người là bao nhiêu để đánh giá sự thành công của điều hành, quản lý, chỉ số hạnh phúc và hài lòng của dân chúng được đặt là ưu tiên hàng đầu PCI chính là dạng chỉ số như vậy, đo sự hài lòng của DN với quản trị địa phương Chỉ số PCI được xây dựng nhằm đánh giá môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành kinh tế và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành phố của Việt Nam, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong nước Mục đích của việc cải thiện xếp hạng PCI là: 1/ Thu hút phát triển kinh tế xã hội địa phương; 2/ Khai thác mối quan hệ liên vùng, liên ngành, liên địa phương trong phạm vi cả nước
1.1.3.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) là chỉ số định lượng để đo lường NLCT cấp tỉnh Một tỉnh có PCI cao thể hiện sự hấp dẫn đầu tư, Kinh doanh với các doanh nghiệp, nhà đầu tư PCI được xác định thông qua sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá hay các chỉ số thành phần Mỗi chỉ số thành phần lại bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành được lượng hoá (cho điểm) và xác định trọng số dựa vào kết quả điều tra để xác định PCI sử dụng để so sánh, xếp hạng NLCT của các tỉnh
ở Việt Nam, là cơ sở để chính quyền tỉnh xác định trọng tâm đổi mới, cải thiện
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
môi trường Kinh doanh Việc xếp hạng PCI thực chất là so sánh sự hấp dẫn của môi trường Đầu tư của các tỉnh, qua đó đánh giá mức độ hiệu quả trong hoạt động của chính quyền cấp tỉnh trong việc bảo đảm các điều kiện thu hút đầu tư,
từ đó tạo áp lực thúc đẩy đổi mới (ganh đua nhau đổi mới) hoạt động chính quyền cấp tỉnh trong đảm bảo điều kiện đầu tư
Chỉ số NLCT được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 42 tỉnh, thành Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm
Nội dung của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh [12]
Chỉ số PCI gồm 9 chỉ số thành phần, phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh tế có tác động đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Một địa
phương được coi là có chất lượng điều hành tốt khi có: (1) Chi phí gia nhập thị trường thấp; (2) Doanh nghiệp dễ dàng Tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định; (3) Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp
có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản
pháp luật cần thiết; (4) Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra kiểm tra hạn chế nhất (Chi phí thời gian); (5) Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu; (6) Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong; (7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp; (8) Có chính sách đào tạo lao động tốt; (9) Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả
1 Gia nhập thị trường: Chỉ số thành phần này đo lường thời gian một
doanh nghiệp cần để đăng ký kinh doanh và nhận được mọi loại giấy phép, hoàn tất mọi thủ tục cần thiếtđể bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh
2 Tiếp cận đất đai: Chỉ số thành phần này được tính toán căn cứ vào
tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có
đủ mặt bằng để đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh hay không, mức giá đất thực chất tại các địa phương trong mối tương quan giữa nhu cầu và quỹ đất của địa phương và chất lượng các chính sách về khu công nghiệp (KCN)
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Chỉ số thành phần này đánh giá
khả năng doanh nghiệp có thể tiếp cận được những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho công việc điều hành kinh doanh của mình, sự bình đẳng trong tiếp cận thông tin của các tài liệu này, sự cập nhật thông tin về chính sách, quy định mới cho doanh nghiệp, tính tiên liệu của việc triển khai thực
hiện những chính sách quy định đó và mức độ phổ biến của trang web tỉnh
4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước: Chỉ số thành phần này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra khi thực hiện các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh
nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan pháp luật của tỉnh thực hiện
việc thanh tra, kiểm tra
5 Chi phí không chính thức: Chỉ số thành phần này đo lường mức chi
phí không chính thức doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
6 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: Chỉ số thành phần này đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân
7 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số thành phần này đo lường mức
độ ưu tiên của chính quyền tỉnh đối với các DNNN về các khoản ưu đãi, chính sách và việc tiếp cận nguồn vốn
8 Chất lượng đào tạo lao động: Là chỉ số thành phần đánh giá đào tạo
nghề và phát triển kĩ năng người lao động Gồm các chỉ tiêu đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kĩ năng nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm
kiếm việc làm
9 Thiết chế pháp lý: Là chỉ số thành phần đánh giá thiết chế pháp lý ở
địa phương Gồm các chỉ tiêu đo lường lòng tin của DN đối với hệ thống tòa án,
tư pháp của tỉnh; mức độ hiệu quả của thiết chế pháp lý này trong giải quyết
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tranh chấp hoặc khiếu nại của DN với các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền ở địa phương
PCI năm 2013 bổ sung thêm chỉ số mới "cạnh tranh bình đẳng" nhằm phản ánh yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp về một môi trường kinh doanh bình đẳng Mặc dù vậy, chỉ số vẫn đảm bảo cách xếp hạng nhất quán và hợp lý,
chú trọng đến những lĩnh vực quản lý quan trọng đối với DN và cần cải cách
1.1.3.3 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Có hai loại dữ liệu được sử dụng để xây dựng các chỉ số nêu trên Loại thứ nhất là dữ liệu “mềm”, phản ánh đánh giá của doanh nghiệp, được thu thập
từ hình thức gửi phiếu điều tra đến 15.400 doanh nghiệp ở 42 tỉnh và nhận được 2.020 phiếu trả lời
Việc điều tra bằng hình thức gửi thư làm cần thiết vì hình thức này đảm bảo doanh nghiệp cảm thấy thoải mái và khách quan khi trả lời những câu hỏi nhạy cảm về tính minh bạch và chi phí không chính thức, đồng thời, không e ngại vì sự có mặt của cán bộ công quyền hay bị cán bộ công quyền biết mặt nếu
sử dụng hình thức phỏng vấn doanh nghiệp Mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa theo thang điểm từ 1-10, sau đó lấy điểm trung bình của tất cả các chỉ tiêu để tính điểm chín chỉ số thành phần
Tính trọng số cho từng chỉ số thành phần: Sau khi xây dựng từng chỉ số
thành phần, không dùng phương pháp đơn giản là cộng tổng điểm các chỉ số thành phần lại với nhau mà tính toán trọng số cho từng chỉ số thành phần Lý
do là vì trong chín chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh
Để xác định tầm quan trọng tương đối của từng chỉ số thành phần, cần phân tích tác động của từng chỉ số tới một số chỉ tiêu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, sau khi loại trừ tác động của các điều kiện truyền thống như chất lượng nguồn nhân lực, điều kiện cơ sở hạ tầng và khoảng cách địa lý tới thị trường lớn Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động là những chỉ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiêu mà nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn ở Việt Nam nhận định là
có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế tư nhân
1.1.4 Các nhân tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh
Có nhiều cách phân loại nội dung các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số NLCT cấp tỉnh như theo phạm vi ảnh hưởng, đối tượng ảnh hưởng, tích chất ảnh hưởng và cấp độ ảnh hưởng [12]
1.1.4.1 Nhóm các nhân tố bên trong
Nhân tố bên trong là những nhân tố có thể tác động để cải thiện theo ý chí của mình Năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lí và chất lượng đội ngũ công chức cấp tỉnh có ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc nhất tới chỉ
số NLCT cấp tỉnh Hiệu lực hoạt động thể hiện ở việc thực hiện đúng, có kết quả chức năng của bộ máy để đạt được mục tiêu nhiệm vụ đề ra Hiệu qủa hoạt động biểu hiện là những kết quả đạt được của bộ máy trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
1.1.4.2 Nhóm các nhân tố bên ngoài
Nhân tố bên ngoài là tập hợp những nhân tố mà chính quyền tỉnh không
có khả năng hoặc rất ít khả năng tác động thay đổi được Trong phạm vi một tỉnh, những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến chỉ số NLCT bao gồm:
(i) Điều kiện kinh tế xã hội của mỗi địa phương
Các tỉnh có vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên khác nhau Có những tỉnh được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều lợi thế phát triển, ngược lại có những tỉnh không được thiên nhiên ưu đãi, hàng năm phải đối mặt với nhiều thiên tai, hạn hán
Về văn hóa: Trình độ dân trí, đời sống kinh tế của các tỉnh không đồng
đều, có tỉnh ở mức cao, tỉnh ở mức thấp Những vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu tư, sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế chung của tỉnh Tuy nhiên, nếu các tỉnh biết phát huy lợi thế, tận dụng những thế mạnh sẵn có, tăng cường liên kết, hợp tác với các tỉnh khác thì vẫn có thể tạo ra sức hấp dẫn khai thác đầu tư có hiệu quả, ví dụ về đất nước Nhật Bản là một minh
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chững điển hình về một đất nước không có sự ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên song có nền kinh tế phát triển
(i) Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa
Định hướng XHCN của mô hình kinh tế thị trường mà chúng ta đang lựa chọn thể hiện bản chất nhân văn của nó Có thể quy tụ lại ở những chuẩn mực sau đây:
Để khắc phục những hậu quả xã hội của nền kinh tế thị trường, chính phủ cần phải thành lập và tăng cường hoạt động của các cơ quan bảo hiểm - từ thiện để bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho những người đã rời khỏi đội quân lao động Chính phủ ngày càng tăng mức chi tiêu cho các hàng hóa dịch vụ công cộng, chăm sóc y tế, giáo dục, đầu tư thích đáng cho việc tái sản xuất ra sức lao động của thế hệ hiện tại và mai sau
Đầu tư cho mai sau một cách tốt nhất là tìm cách thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu cầu của hiện tại Sự tốt đẹp của nền kinh tế trong những chu kỳ sau phải được bắt đầu ngay từ sự đầu tư cho hiện tại Do đó, trong nền kinh tế thị trường hướng tới ở nước ta nên tăng trưởng kinh tế theo đường lối tác động vào cầu, tăng mức cầu để từ đó tăng mức cung một cách vững chắc
Chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước không phải là việc làm trong một sớm một chiều, tức khắc có ngay được, đây phải là một quá trình gồm nhiều bước chuyển Theo đó, những việc cần làm là:
(iii) Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước
Vai trò kinh tế của Nhà nước là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Nhằm mục đích đó, Nhà nước với
tư cách là cơ quan điều tiết nền kinh tế thị trường, cần phải:
- Thứ nhất, hoàn thiện một hệ thống luật dân sự bảo đảm điều chỉnh một
cách kín kẽ và đồng bộ các quan hệ hàng hóa - tiền tệ trong nền kinh tế
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thứ hai, đổi mới hoạt động kế hoạch của Nhà nước Kế hoạch hóa phát
triển KTXH là cần thiết, nhưng phải thay đổi phương pháp, công nghệ kế hoạch hóa Mô hình kế hoạch hóa nhà nước sẽ là dạng tổ hợ
mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau, những chương trình đó được triển khai theo hình thức đấu thầu
- Thứ ba, xây dựng và duy trì hệ thống tài chính - tín dụng ổn định và
điều tiết lưu thông tiền tệ Phát huy đầy đủ vai trò các đòn bẩy kinh tế như giá
cả, thuế, tín dụng, tiền lương, khối lượng tiền mặt phát hành, giá cả và tỉ giá hối đoái, dự trữ và vàng, ngoại tệ Đồng thời, coi trọng công cụ pháp luật, tăng cường kiềm chế, kiểm soát của Nhà nước
- Thứ tư, chính sách xã hội Chức năng, vai trò và bản chất của Nhà nước
ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cần phải xây dựng những chương trình của Nhà nước về phát triển giáo dục, y tế, bảo vệ xã hội đối với người lao động Thực hiện tốt chính sách xã hội, phát huy nhân tố con người, hạn chế sự bóc lột, sự phân cực giàu nghèo, phát triển các sự nghiệp phúc lợi công cộng, bảo đảm công bằng xã hội
(iv) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
Ngày nay, sau hơn 20 năm chuyển đổi sang kinh tế thị trường, đã có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học đáng tin cậy về quá trình chuyển đổi Vấn
đề chủ yếu là có tạo ra được những nguyên tắc và tiền đề cần thiết để các thể chế của kinh tế thị trường có thể hoạt động một cách bình thường hay không Nếu không tạo được những điều kiện, tiền đề như vậy, các thể chế kinh tế thị trường có thể tồn tại trên danh nghĩa nhưng không thể phát triển được hoặc sẽ phát triển một cách méo mó, các quan hệ thị trường bị biến dạng, gây tổn thất ở các mức độ khác nhau cho nền kinh tế
Đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, sẽ không thể có kinh tế thị trường nếu không tiến hành tự do hoá thương mại Đây là một trong những đặc trưng chủ yếu và cũng là nội dung quan trọng nhất của việc vận hành nền kinh
tế theo cơ chế thị trường Với việc từng bước thực hiện những quá trình mang
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tính quy luật của bước chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, với tự do hóa giá cả và thương mại hoá nền kinh tế là khâu trung tâm đột phá, Việt Nam đã tiến những bước dài trên con đường đổi mới
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Năng lực cạnh tranh toàn cầu / quốc gia của Việt Nam
Chỉ số NLCT tổng hợp (Global Competitiveness Index) lần đầu tiên được công
bố trong Báo cáo NLCT toàn cầu 2004 - 2005 và hiện nay được Diễn đàn Kinh tế thế giới sử dụng làm chỉ số chính đo lường NLCT quốc gia Như vậy, trong ba lần công
bố, thứ hạng của Việt Nam xếp theo Chỉ số NLCT tổng hợp liên tục giảm: Hạng 61 năm 2004, 74 năm 2005 và 77 năm 2006 Một chỉ số đáng lưu ý là điểm xếp hạng Việc so sánh điểm số xếp hạng của từng nước qua các năm cho phép so sánh sự thay đổi NLCT của bản thân quốc gia đó Năm 2005, điểm số xếp hạng NLCT tổng hợp của Việt Nam tăng so với năm 2004, nhưng Việt Nam vẫn bị giảm hạng do nhiều quốc gia khác có tiến bộ hơn [13]
Trong năm qua, các thước đo quốc tế về NLCT quốc gia của Việt Nam đều cho kết quả xấu Theo Chỉ số Cạnh tranh toàn cầu 2013/2014 (Global Competitiveness Index) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Việt Nam xếp
vị trí thứ 70 trên 148 quốc giá, cao hơn
so với năm 2012/2013 (75/144) nhưng lại thấp hơn nhiều so với năm 2010/2011 (59/144) và năm 2011/2012 (65/144) Riêng về Thể chế kinh tế, Việt Nam xếp thứ 98 trong năm 2013/2014, tụt 9 bậc so với vị trí 89 trong năm 2012/2013 Chỉ số Môi trường Kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2013 xếp Việt Nam ở vị trí 99, tụt 9 bậc so với năm 2012 Tuy các
Hình 1.4 Năng l?c c?nh tranh toàn c?u c?a Vi?t
Nam 2013 - 2014
0 2 4 6 1
2 3
4
5 6 7
8 9
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thước đo này còn nhiều khiếm khuyết nhưng đều là những nguồn thông tin tham khảo được nhiều nhà đầu tư sử dụng Một trong những điểm yếu của các chỉ số toàn cầu này là chúng chấm điểm dựa trên cảm nhận của các chuyên gia nhưng không đưa
ra một mốc chung để so sánh Do đó, kết quả thu được khá mơ hồ và so sánh giữa các quốc gia không có cơ sở vững chắc (Bảng 1.1)
Khảo sát PCI của VCCI đã khắc phục điểm yếu này và cho một cái nhìn rõ ràng hơn về vị thế của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế So với các nền kinh tế khác trong khu vực, nhìn chung Việt Nam được các doanh nghiệp FDI đánh giá cao hơn về: Rủi ro thu giữ tài sản; ổn định chính sách; khả năng tham gia hoạch định chính sách và mức thuế thấp
Bảng 1.1 Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam 2013 - 2014
Tiêu mục Trong số 148 nước /
8 Phát triển thị trường tài chính ………… 93 3.8
Nguồn: GCI 2013 – 2014, p 288 [13]
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Điểm yếu của Việt Nam so với các địa điểm đầu tư khác bao gồm: Tham nhũng; hạn chế về quy định pháp luật; cơ sở hạ tầng và dịch vụ hàng chính công Trong các chỉ số này, Việt Nam không hề được đánh giá cao hơn bất cứ nền kinh tế trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Căm-pu-chia, In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia, Lào, Phi-líp-pin, Đài Loan và Mi-an-ma)
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố Báo cáo NLCT toàn cầu
2012 - 2013 (GCI), đây là kết quả khảo sát NLCT của các nền kinh tế toàn cầu Trong đó Thụy Sỹ năm thứ tư liên tiếp giành ngôi đầu bảng, còn Việt Nam bị tụt 10 bậc từ hạng 65 xuống 75
Báo cáo NLCT toàn cầu 2012 – 2013 được WEF tiến hành khảo sát với
144 nền kinh tế dựa trên bộ 12 tiêu chí (hạng mục trụ cột) được chia thành (Các năm truớc dùng 10 tiêu chí) 3 nhóm gồm:
Nhóm thứ nhất: (1) Các yếu tố cơ bản: (1) Thể chế/tổ chức, (2) Hạ tầng,
và (ii) các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế
Nhóm thứ hai: Các yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế: (3) Kinh tế vĩ mô, (4)
Y tế và giáo dục cơ bản, (5) Giáo dục và đào tạo đại học, (6) Thị trường hàng hóa, (7) Lao động, (8) Tài chính, (9) Mức độ hấp thu công nghệ, (10) Quy mô thị trường,
Nhóm thứ ba: Các yếu thúc đẩy đổi mới nền kinh tế: (11) Độ tinh sảo
kinh doanh và (12) Đổi mới sáng tạo
Theo số liệu mà WEF đưa ra, năm 2011, GDP của Việt Nam là 122,7 tỉ
USD, GDP bình quân đầu người là 1.374 USD [13]
GDP (tính theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam hiện chiếm
0,38% GDP toàn cầu
Việt Nam được chấm tổng cộng 4,11 điểm, xếp ở hạng 75, tụt 10 bậc so với năm ngoái (vị trí 65) Trong bộ 3 chỉ tiêu được dùng để chấm điểm, bộ chỉ tiêu thúc đẩy hiệu suất nền kinh tế được đánh giá cao nhất với 4,02 điểm (đứng hạng 71), trong đó bao gồm các yếu tố về giáo dục và đào tạo đại học (thứ 96),
độ hiệu quả của thị trường hàng hóa (91), độ hiệu quả của thị trường lao động
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(51), mức độ phát triển thị trường tài chính (88), mức độ hấp thu công nghệ (98) và quy mô thị trường (32)
Trong khi đó ở bộ chỉ tiêu các yếu tố cơ bản (bao gồm các yếu tố về thể chế/tổ chức, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, và y tế và giáo dục cơ bản) Việt Nam xếp hạng thấp nhất về môi trường kinh tế vĩ mô, đứng ở vị trí thứ 106 Ở nhóm này, xếp hạng cao nhất dành cho Việt Nam thuộc về tiêu chí chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản, với hạng 64 Xếp hạng chung của Việt Nam ở cả nhóm các yếu tố cơ bản là hạng 91
Ở bộ tiêu chí còn lại là các yếu tố đổi mới sáng tạo và độ tinh sảo kinh doanh (xếp hạng 90), cụ thể, nhóm yếu tố về đổi mới sáng tạo (thứ 81) và độ tinh sảo kinh doanh (thứ 100)
Trong phần nhận xét chi tiết về Việt Nam, Báo cáo của WEF lưu ý:
"Trong 2 lần xếp hạng gần nhất Việt Nam đã tụt tổng cộng 16 bậc và hiện là nước có thứ hạng thấp thứ hai trong số 8 thành viên ASEAN được khảo sát Quốc gia này đã để mất điểm tại 9 trong tổng số 12 hạng mục trụ cột của Báo cáo Tất cả các hạng mục trụ cột của Việt Nam đều bị xếp dưới hạng 50 và rất nhiều tiêu chí gần sát hạng 100" Cụ thể hơn, các chuyên gia của WEF cho rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn mong manh và rất dễ biến động Việt Nam đã tụt 41 bậc trong bộ tiêu chí về môi trường kinh tế vĩ mô, xuống hạng 106 sau khi đã tăng 20 bậc trong lần xếp hạng trước Trong năm 2011, lạm phát ở Việt Nam đã
ở mức rất cao, báo cáo nhận định: “Nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thắt chặt tiền tệ Tuy nhiên, điều này lại khiến khả năng tiếp cận tín dụng trở nên khó khăn hơn.”
WEF cho rằng cơ sở hạ tầng (xếp hạng 95/114) của Việt Nam hiện đã bị quá tải do kinh tế tăng trưởng nhanh và sẽ tiếp tục là thách thức lớn trong thời gian tới bất chấp đã được cải thiện trong vài năm gần đây Trong đó chất lượng đường và cảng biển bị đánh giá là đáng lo ngại với vị trí lần lượt là 120 và 113 trong số 144 nền kinh tế được khảo sát Ngoài ra, mức độ tôn trọng đối với bản
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quyền và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng bị xem là chưa đầy đủ nên chỉ được
ở các mức xếp hạng 113 và 123 Báo cáo cho rằng các doanh nghiệp tư nhân vẫn kém về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm giải trình đặc biệt yếu
Những điểm mạnh đáng kể nhất của kinh tế Việt Nam đó là thị trường lao động khá hiệu quả (xếp hạng 51), quy mô thị trường lớn (hạng 32) và hoạt động chăm sóc sức khỏe cũng như giáo dục cơ bản được đánh giá ở mức thỏa đáng (hạng 64)
Bảng 1.2 Một số nước Đông Nam Á được xếp hạng GCI toàn cầu
2012 – 2013 và so sánh với năm trước đó
GCI 2012-2013
Thứ hạng GCI 2011 -2012
Chỉ có 2 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng thua Việt Nam về NLCT
là Campuchia, đứng ở vị trí thứ 84 và Timor Leste ở vị trí 136 Lào và Mianma chưa có tên trong bảng xếp hạng này {Nguồn: The Global Competitiveness Report 2012–2013, World Economic Forum, 2012 (Bảng 1.2)
1.2.1 Hiện trạng NLCT vùng miền núi phía Bắc nói chung và một số
tỉnh tiêu biểu trong vùng
1.2.1.1 Tổng quan về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh vùng Trung du và miền núi Đông Bắc Bộ
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
● Vùng trung du miền núi phía Bắc, trước năm 1954 còn gọi là Trung du
và thượng du là khu vực sơn địa và bán sơn địa ở miền Bắc Việt Nam
Theo quy hoạch vùng công nghiệp của Chính phủ Việt Nam đến năm 2020, hầu hết vùng trung du và miền núi phía Bắc (trừ Quảng Ninh) nằm trong vùng 1 gồm các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái (thuộc Tây Bắc); Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang và Quảng Ninh (thuộc Đông Bắc) Đây là vùng lãnh thổ
có diện tích lớn nhất nước ta (trên 101 nghìn km2), số dân hơn 12 triệu người (năm 2006) chiếm khoảng 30,5% diện tích và 14,2% số dân cả nước
Bảng 1.3 Chỉ số PCI miền núi phía Bắc các năm 2006 - 2012
hạng
Nhóm xếp hạng
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
● Thực trạng NLCT cấp tỉnh vùng Miền núi Bắc Bộ
Trên bản đồ NLCT cấp tỉnh PCI - 2012, miền núi phía bắc có sự tương phản khá lớn Đứng trong tốp đầu PCI - 2012 cả nước là Lào Cai, rất tốt, 63.08, trong khi đó Điện Biên đứng hàng cuối cùng trong số 63 tỉnh/thành phố với Các tỉnh Cao bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang cũng ở tốp cuối PCI – 2012, tương ứng 61/ 60/62 Thuộc tốp nhóm xếp hạng Tốt là Lào Cai, Thái Nguyên, tương ứng 63.08 (3) / 60,07 (17)
Trong giai đoạn tới, các vùng cần tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng,
cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng KTXH đồng bộ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Trung ương IV và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-
2020 đã đề ra; phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường; bảo đảm quốc phòng an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển KTXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc [12]
1.2.1.2 Vùng biên giới Đông Bắc
a Khái quát về PCI vùng biên giới Đông Bắc
Bảng 1.4 Chỉ số PCI biên giới Việt – Trung các năm 2006 - 2012
hạng
Nhóm xếp hạng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 1.3 Các chỉ số thành phần của Lào Cai
05
101- Gia nhập thị trường
Năm 2006 lần đầu tiên áp dụng cách tính PCI cho các tỉnh/thành phố trong cả nước, theo đánh giá chung, đại bộ phận các tỉnh vùng Việt Trung thuộc diện thứ hạng thấp Thấp nhất là Lào Cai, Phú Thọ, Hà Giang Vậy mà sau 6 năm phấn đấu Lào Cai vươn lên thứ hạng cao thứ 3 cả nước Các tỉnh Phú Thọ, Hà Giang, Lạng Sơn thuộc diện Khá Chỉ còn hai tỉnh Cao Bằng, Điện Biên thuộc diện Tương đối thấp
Theo cách tính PCI mới cho năm 2013, một số tỉnh xuống hạng đáng kể: Lào Cai từ thứ hạng 67 bứt lên hạng thứ 3 trong cả nước Các tỉnh khá, tuy sụt thứ hạng, nhưng giá trị tuyệt đối của PCI vẫn tăng khá ( Bảng 1.4)
b Một số tỉnh tiêu biểu
(1) Tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam, giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng, là cơ sở để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản Cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai -
Hà Khẩu nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Hải Phòng,
là cửa ngõ lớn và thuận lợi nhất để phát triển thương mại, du lịch giữa Việt Nam với vùng Tây Nam - Trung Quốc (Hình 1.3 / Phụ lục 2)
Hình 1.3 Chỉ số các thành phần của Lào Cai
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 1.4 Các chỉ số thành phần của Cao Bằng
0 5
(2) Tỉnh Cao Bằng
Chỉ số PCI năm 2013, nhóm tỉnh thấp nhất PCI vẫn còn nhiều tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, trong đó, Cao Bằng xếp thứ 61/63 tỉnh, thành, chỉ xếp trên Hòa Bình và Tuyên Quang Chỉ số PCI của Cao Bằng năm 2013: 52.3, Xếp
hạng PCI năm 2013: 61, Xếp hạng trong vùng 2013: 12 Căn cứ
14 tháng 3 năm 2013; Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 - 2015, cụ thể như sau: Tăng cường xây dựng, tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư của tỉnh thực sự thông thoáng, minh bạch và thuận lợi nhằm thu hút sự tham gia đầu tư, sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh