Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhờ có những thành tựu của khoa học công nghệ con người đã có những bước tiến vượt bậc trong công cuộc cải biến tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đã xuất hiện nhiều xu hướng tiêu cực đang ngày một ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của con người, đặc biệt là vấn đề suy thoái môi trường. Những biểu hiện của tình trạng suy thoái môi trường như: tài nguyên thiên nhiên suy kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, khủng hoảng sinh thái toàn cầu… luôn ở tình trạng báo động và là vấn đề bức xúc, mối lo ngại của toàn xã hội. Sự phát triển của con người, của sản xuất xã hội và các vấn đề môi trường kể trên thể hiện mâu thuẫn giữa giữa sản xuất xã hội và môi trường tự nhiên. Mâu thuẫn này luôn tồn tại trong mọi thời đại nhưng ngày nay nó đã trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nguyên nhân là do chúng ta đã phạm sai lầm trong giải quyết mâu thuẫn. Sự phát triển nếu chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sống của mình và sự phát triển xã hội mà không quan tâm đến tự nhiên – môi trường sống của con người và xã hội loài người sẽ làm mất cân bằng trong mối quan hệ tương tác giữa xã hội con người với tư cách là một hệ thống sống với môi trường xung quanh. Điều đó đòi hỏi con người cần phải nhận thức lại vấn đề này và có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng trên.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -ĐÀO THU TRANG
TÍNH CHỦ THỂ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở VÙNG ĐÔ THỊ MỚI
ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Quang Mạnh
Hà Nội, 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 5
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Kết cấu của đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH CHỦ THỂ CỦA CON NGƯỜI TRONG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN 7
1.1 Hệ sinh thái nhân văn và phát triển bền vững 7
1.1.1 Hệ sinh thái nhân văn 7
1.1.1.1 Khái niệm hệ sinh thái nhân văn 7
1.1.1.2 Hệ sinh thái đô thị 10
1.1.2 Phát triển bền vững 13
1.1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 14
1.1.2.2 Vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam 15
1.1.2.3 Phát triển bền vững hệ sinh thái đô thị 17
1.2 Tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn 20
1.2.1 Tính chủ thể của con người 20
1.2.1.1 Khái niệm chủ thể 20
1.2.1.2 Đặc trưng của tính chủ thể của con người trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên 22
1.2.2 Vai trò của tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn 25
1.2.2.1 Con người – chủ thể nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn 25
1.2.2.2 Con người – chủ thể hoạt động trong hệ sinh thái nhân văn 27
1.2.2.3 Con người – chủ thể giáo dục ý thức sinh thái nhân văn 30
Trang 3Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: TÍNH CHỦ THỂ CỦA CON NGƯỜI TRONG CẤU TRÚC CỦA HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở VÙNG ĐÔ THỊ MỚI ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 Khảo sát tính chủ thể của con người trong cấu trúc sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 35
2.1.1 Đặc điểm của vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 37 2.1.1.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên 37
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa – xã hội 40
2.1.1.3 Đặc điểm con người và cộng đồng dân cư 43
2.1.2 Tính chủ thể của con người trong cấu trúc sinh thái nhân văn của vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 45
2.2 Vai trò của việc phát huy tính chủ thể trong sự phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 64
2.2.1 Vai trò chủ thể của các cơ quan công quyền 64
2.2.2 Vai trò chủ thể của các tổ chức xã hội 67
2.2.3 Vai trò chủ thể của mỗi cá nhân và cộng đồng 69
2.3 Các giải pháp góp phần phát huy tính chủ thể của con người trong việc xây dựng hệ sinh thái nhân văn bền vững ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 71
2.3.1 Giải pháp về phía các tổ chức chính trị - xã hội 72
3.2.2 Giải pháp về phía mỗi cá nhân và cộng đồng 76
Tiểu kết chương 2 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhờ có những thành tựu củakhoa học công nghệ con người đã có những bước tiến vượt bậc trong côngcuộc cải biến tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựuđạt được đã xuất hiện nhiều xu hướng tiêu cực đang ngày một ảnh hưởngnghiêm trọng tới cuộc sống của con người, đặc biệt là vấn đề suy thoái môitrường Những biểu hiện của tình trạng suy thoái môi trường như: tài nguyênthiên nhiên suy kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, khủng hoảngsinh thái toàn cầu… luôn ở tình trạng báo động và là vấn đề bức xúc, mối longại của toàn xã hội
Sự phát triển của con người, của sản xuất xã hội và các vấn đề môitrường kể trên thể hiện mâu thuẫn giữa giữa sản xuất xã hội và môi trường tựnhiên Mâu thuẫn này luôn tồn tại trong mọi thời đại nhưng ngày nay nó đãtrở nên gay gắt hơn bao giờ hết Nguyên nhân là do chúng ta đã phạm sai lầmtrong giải quyết mâu thuẫn Sự phát triển nếu chỉ nhằm mục đích thỏa mãnnhu cầu sống của mình và sự phát triển xã hội mà không quan tâm đến tựnhiên – môi trường sống của con người và xã hội loài người sẽ làm mất cânbằng trong mối quan hệ tương tác giữa xã hội con người với tư cách là một hệthống sống với môi trường xung quanh Điều đó đòi hỏi con người cần phảinhận thức lại vấn đề này và có những biện pháp cụ thể để khắc phục tìnhtrạng trên
Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trướctình trạng suy thoái nghiêm trọng về môi trường Việt Nam đang đẩy nhanhcông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển đất nước,nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân Gắn liền với công cuộc côngnghiệp hóa, quá trình đô thị hóa cũng đang tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất
Trang 5lượng Sự phát triển nhanh quá trình đô thị hóa bên cạnh những điểm tích cựccũng đã bộc lộ nhiều bất cập đáng lo ngại: công tác quy hoạch và quản lý quyhoạch chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưađồng bộ… điều đáng lo ngại hơn cả là những hệ quả về môi trường khiến chocác đô thị hiện nay đang đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững.
Thực trạng hệ sinh thái nhân văn đô thị hiện nay cũng có nhiều bức xúcđặt ra như ô nhiễm môi trường sống, sự gia tăng bạo lực và các hành vi tộiác… đòi hỏi chúng ta với tư cách là một yếu tố cấu thành, chủ thể xây dựng
hệ sinh thái nhân văn phải có những biện pháp để khắc phục những bất cậpcủa quá trình đô thị hóa nói chung, những mặt trái của hệ sinh thái đô thị nóiriêng Chính vì vậy, vấn đề phát huy vai trò chủ thể của con người trong xâydựng hệ sinh thái nhân văn bền vững cho các khu đô thị hiện nay là một vấn
đô thị mới Tân Lập, khu đô thị sinh thái cao cấp Đan Phượng…) Với những
ưu thế trên, tác giả lựa chọn vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội
làm đối tượng nghiên cứu và thực hiện đề tài “Tính chủ thể của con người
trong sự phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội”.
Trang 62 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hệ sinh thái nhân văn là sự tương tác chặt chẽ, cân bằng động giữa bayếu tố: tự nhiên, con người và xã hội Một hệ sinh thái nhân văn bền vững là
cơ sở để con người có điều kiện tồn tại và phát triển tốt nhất Với vị trí và vaitrò như vậy, vấn đề sinh thái nhân văn và xây dựng hệ sinh thái nhân văn bềnvững được nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu quan tâm
Ăngghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” viết năm 1873 –
1883 và được bổ sung thêm vào những năm 1885 – 1886 đã có nhiều tư tưởngbiện chứng trong nhận thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, chỉ rađược thực chất của sự điều khiển một cách tự giác các mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên đó là “Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự
nhiên như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta khác với tất cả các sinh vật khác, chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được quy luật đó một cách chính xác” [45].
Ở Việt Nam vấn đề sinh thái nhân văn cũng được nhiều tác giả quantâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Đình Khoa viết
“Môi trường sống và con người” năm 1987 đã đề cập đến mối quan hệ giữa
loài người và môi trường sống ở một số khía cạnh: Sự sử dụng của con ngườivới các tài nguyên thiên nhiên như năng lượng, khoáng sản, tài nguyên phụchồi và hệ nông nghiệp; ô nhiễm và bảo vệ môi trường; những vấn đề liênquan đến dân số - sức khỏe – bệnh tật… [12]
Lê Trọng Cúc trong cuốn “Một số vấn đề sinh thái nhân văn ở Việt
Nam” viết năm 1995 đã bước đầu làm rõ được những khái niệm cơ bản của
sinh thái nhân văn, hệ sinh thái, sinh thái nông nghiệp, con người và đa dạngsinh học, sinh thái nhân văn và phát triển ở Việt Nam Trong đó tác giả tập
Trang 7trung làm rõ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên: dân số, chính sáchkinh tế - xã hội – môi trường ở Việt Nam [7].
Trong cuốn “Sinh thái nhân văn” của tác giả Nguyễn Hoàng Trí xuất
bản năm 2007 cũng đã cho người đọc tiếp cận với sinh thái nhân văn và đặtvấn đề “con người là công dân sinh thái” Ở đây, tác giả đã đặt ra và giảiquyết nhiều vấn đề của sinh thái nhân văn: phân tích mối quan hệ giữa dân số,chất thải và vấn đề ô nhiễm môi trường; nâng cao được nhận thức về xã hội
và chất lượng cuộc sống; đặc biệt, tác giả làm rõ các yêu cầu của sự phát triểnbền vững, nhất là trong kinh tế - xã hội và phân tích được mối tương quangiữa sức khỏe hệ sinh thái và lối sống của con người [38]
Bàn về vấn đề mối quan hệ giữa con người và môi trường tác giả
Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Con người, Môi trường và Văn hóa” đã đề
cập và giải quyết một số vấn đề: con người và môi trường; ứng xử của người
Việt đối với nước…[13] Gần đây trong cuốn “Môi trường và con người sinh
thái học nhân văn” xuất bản năm 2011 của các tác giả Vũ Quang Mạnh và
Hoàng Duy Chúc đã khảo sát, phân tích và giải quyết vấn đề mối quan hệtương tác của con người trong hệ thống “Con người – tự nhiên – xã hội” liênquan đến sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nhân văn…[22]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có một số bài viết củacác tác giả nghiên cứu về vấn đề sinh thái nhân văn và mối quan hệ của sinhthái nhân văn với các vấn đề của con người và xã hội loài người Tiêu biểu
như: Tác giả Vũ Minh Tâm có bài viết về “Văn hóa sinh thái, nhân văn và hệ
thống tự nhiên, con người, xã hội” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội năm
2002 [35] Trong bài viết này tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề sinh thái –nhân văn và đặc biệt nhấn mạnh đến văn hóa sinh thái – nhân văn với tư cách
là cách ứng xử của chủ thể – con người đối với khách thể – tự nhiên, tức là
Trang 8chú trọng đến đạo đức sinh thái Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số địnhhướng góp phần xây dựng đạo đức sinh thái mới cho con người….
Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đềcập và trình bày một cách khái quát và hệ thống thực trạng và các vấn đề củasinh thái nhân văn Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu, lí giải những vấn đề cơ bản của sinh thái nhân văn mà chưa đềcập một cách trực tiếp đến vấn đề phát huy tính chủ thể của con người trongxây dựng hệ sinh thái bền vững Với tính cấp thiết của đề tài và sự thôi thúc
tìm tòi nghiên cứu khoa học, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tính chủ
thể của con người trong sự phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng
đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình
nhằm góp phần làm rõ tính chủ thể của con người trong xây dựng hệ sinh tháinhân văn; đề xuất giải pháp góp phần phát huy tính chủ thể của cộng đồngdân cư vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong việc phát triểnbền vững hệ sinh thái nhân văn của vùng
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu tính chủ thể của con người trong hệ
sinh thái nhân văn trên cơ sở khảo sát cộng đồng dân cư vùng đô thị mới ĐanPhượng, thành phố Hà Nội Từ các phân tích đó đề tài đề xuất một số giiarpháp góp phần phát huy tính chủ thể của con người trong việc phát triển bềnvững hệ sinh thái nhân văn ở vùng nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là cấu trúc sinh thái nhânvăn và tính chủ thể của của cộng đồng dân cư vùng đô thị mới Đan Phượng,thành phố Hà Nội
4 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Để đạt được mục đích đề ra của luận văn, chúng tôi tiến hành nghiêncứu trên các luận điểm cơ bản sau:
Trang 9- Nghiên cứu tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn.
- Khảo sát tính chủ thể của con người trong cấu trúc của hệ sinh tháinhân văn ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Đề xuất giải pháp góp phần phát huy tính chủ thể của cộng đồng dân cưvùng nghiên cứu trong xây dựng hệ sinh thái nhân văn bền vững của vùng
Đóng góp mới của luận văn: luận văn làm rõ tính chủ thể của con ngườitrong hệ sinh thái nhân văn nói chung, ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thànhphố Hà Nội nói riêng và qua đó đề xuất các giải pháp phát huy tính chủ thểcủa cộng đồng dân cư ở vùng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biên chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng kết hợpcác phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, thống kê
- Phương pháp khảo sát thực địa
- Phương pháp điều tra
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm 2 chương, 5 tiết
Trang 10NỘI DUNGChương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH CHỦ THỂ
CỦA CON NGƯỜI TRONG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
1.1 Hệ sinh thái nhân văn và phát triển bền vững
1.1.1 Hệ sinh thái nhân văn
1.1.1.1 Khái niệm hệ sinh thái nhân văn
Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại vớimôi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định
đa dạng về các loài và các chu trình vật chất Nó là một hệ chức năng baogồm các nhân tố vô sinh và sinh vật luôn luôn tác động tương hỗ với nhaulàm thành một hệ thống thống nhất Hoạt động của hệ sinh thái tuân theo cácquy luật chung của lý thuyết hệ thống Nó được xác định như một tập hợp cácđối tượng hoặc các thuộc tính liên kết bằng nhiều mối tương tác và có xuhướng tự điều chỉnh để tiến tới cân bằng làm cho các thành phần của hệ nằmtrong sự tác động hài hòa và ổn định Hệ sinh thái được chia thành hệ sinhthái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên trong đó, hệ sinh thái nhân văn là mộtdạng của hệ sinh thái nhân tạo
Hệ sinh thái nhân văn có thể hiểu là hệ sinh thái chịu ảnh hưởng trựctiếp hay gián tiếp của loài người Nó “là một hệ sinh thái bao gồm các hệ sinhthái nông nghiệp, công nghiệp; hệ sinh thái vùng núi, đại dương, thảo nguyên,vùng cực, vũ trụ… Như vậy, tính chất của hệ sinh thái nhân văn là nó gắn liềnvới sự có mặt, với hoạt động của loài người và phụ thuộc vào đặc điểm củamỗi vùng địa lý cụ thể” [22, tr 175]
Xét về bản chất, hệ sinh thái nhân văn là một kiểu hệ thống đặc biệtđược cấu tạo từ các hệ xã hội và hệ sinh thái, giữa các hệ này có mối quan hệtác động qua lại lẫn nhau dựa trên nguyên tắc quan hệ có tính hệ thống giữa
Trang 11xã hội loài người và tự nhiên Hệ sinh thái là đối tượng nghiên cứu chính củasinh học, hệ xã hội là đối tượng nghiên cứu chính của các ngành khoa học xãhội Trong hệ sinh thái nhân văn có sự kết hợp phức tạp của một tập hợp cácyếu tố nhân văn (kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tâm lý…) và các yếu tốsinh học – vật lí của môi trường Tiếp cận hệ sinh thái nhân văn là tiếp cậnđồng thời cả hai hệ trong quá trình chúng tương tác với nhau và thông qua đó
tự tổ chức, sắp xếp thành một thể thống nhất Như vậy, thực chất “hệ sinh tháinhân văn là tổng thể của hai hệ thống, bao gồm hệ xã hội của loài người và hệ
tự nhiên mà hai hệ thống đó tác động qua lại với nhau trong sự thống nhấttương hỗ của tự nhiên và xã hội” [40, tr.15]
Giống như hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái nhân văn cũng bao gồmquần xã sinh vật và môi trường sống, trong đó con người là một sinh vật trongquần xã nhưng là một sinh vật có vị trí và vai trò đặc biệt Sự xuất hiện củacon người đã làm biến đổi các hệ sinh thái tự nhiên, làm phá vỡ sự cân bằngcủa chúng Không giống với các sinh vật khác trong các hệ tự nhiên (thườngphụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên), con người có trí tuệ, có khoa học côngnghệ, họ sáng tạo ra các hệ giá trị văn hóa, đạo đức, hình thành các tổ chức xãhội… nên quần thể người khác với quần thể sinh vật và được gọi là quần thểnhân văn Việc quần thể người thích nghi một cách chủ động và khai thác môitrường sinh thái để nhằm đạt được những mục đích riêng của mình đã tácđộng vào cân bằng sinh thái của hệ sinh thái tự nhiên Thời nguyên thủy, khiloài người mới xuất hiện, con người đã bước đầu biết khai thác tự nhiên,nhưng do mức độ còn thấp nên chưa gây ảnh hưởng, tác động nhiều tới sự cânbằng của môi trường sống Trong quá trình tồn tại và phát triển, con ngườihình thành và phát sinh năng lực sáng tạo văn hóa với nhịp độ ngày càng tăng.Cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển của khoa học, tài nguyên thiênnhiên bị con người khai thác một cách triệt để dẫn đến mất cân bằng sinh thái
Trang 12Bắt đầu từ cuộc cách mạng kĩ thuật đầu tiên trong lịch sử - cách mạng nôngnghiệp thời đại Đồ đá mới, loài người đã nước vào nền văn minh của mình vàquan trọng hơn, những tác động của loài người vào tự nhiên lúc này đã tácđộng mạnh mẽ vào hệ sinh thái tự nhiên làm cho các hệ sinh thái tự nhiênchuyển dần thành các hệ sinh thái nhân văn Ngày nay, với sự phát triển củakhoa học công nghệ, sự ảnh hưởng, tác động của con người đến tự nhiên là vôcùng lớn Loài người không chỉ biết tác động làm biến đổi hệ sinh thái và môitrường tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu phát triển ngày càng cao của mình màcòn chủ động xây dựng nên những hệ sinh thái nhân tạo theo những mục đíchriêng Nhìn tổng thể, hiện nay không một hệ sinh thái nào lại không chịu tácđộng ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của loài người, toàn bộ trái đất là một phức
hệ sinh thái nhân văn khổng lồ luôn chịu tác động của loài người Điều đó thểhiện vai trò quyết định của loài người trong sự hình thành và phát triển của các
hệ sinh thái nhân văn
Trong hệ sinh thái nhân văn, quần thể người được gọi là quần thể nhânvăn và theo đó môi trường sống của con người cũng được gọi là môi trường
sinh thái nhân văn Đối với con người, môi trường sinh thái nhân văn là tổng
hòa tất cả các yếu tố vô cơ và hữu cơ, tự nhiên và xã hội, liên quan đến sựsống của con người và liên quan đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Conngười là hệ thống vật chất sống, tồn tại như một cơ thể sống hoàn chỉnh trongmôi trường tự nhiên giống như các loài sinh vật khác Song con người khôngchỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên mà còn tồn tại trong những mối quan hệtác động qua lại lẫn nhau giữa người với người trong quá trình sản xuất gọi làmôi trường xã hội Sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường xãhội tạo thành môi trường sinh thái nhân văn Do đó, môi trường sinh thái nhânvăn chính là môi trường sống của con người Ở đó, con người vừa đóng vaitrò là một loài sinh học, vừa đóng vai trò là thực thể xã hội Như vậy, trong
Trang 13quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người đã tạo ra một môi trườngsống mới – môi trường xã hội, khác về chất với môi trường tự nhiên, song sựsống của con người và sự tồn tại, phát triển của xã hội không thể tách rời khỏimôi trường tự nhiên “Nếu theo cách hiểu truyền thống, môi trường sinh học
là tập hợp toàn bộ những vấn đề có liên quan đến sự tác động qua lại giữa thếgiới sinh vật tự nhiên trong đó bao gồm con người, với môi trường sống thìvấn đề sinh thái nhân văn lại bao gồm tất cả các vấn đề có liên quan đến mốiquan hệ tương tác, giữa xã hội con người với tư cách là một hệ thống sống vớimôi trường xung quanh” [22, tr 175] Như vậy, xét về mặt cấu trúc hệ sinhthái nhân văn là một hệ thống thống nhất bao hàm sự tương tác chặt chẽ vàcân bằng động giữa ba nhóm yếu tố tự nhiên, con người và xã hội Trong đó,
tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan, còn con người và xãhội loài người là những thành phần cấu trúc đặc thù, gắn bó chặt chẽ với thếgiới tự nhiên
Nhìn chung, sự can thiệp, tác động của con người và xã hội loài ngườivào các hệ sinh thái tự nhiên chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự ra đờicủa các hệ sinh thái nhân văn Một khi sự can thiệp, tác động ấy trở thành sựchi phối có tính quyết định đến các hệ sinh thái tự nhiên thì con người đã làmcho hệ sinh thái tự nhiên trở thành hệ sinh thái nhân văn Ngày nay, sự tácđộng của con người vào tự nhiên đang ngày càng trở nên sâu sắc hình thànhnhiều hệ sinh thái nhân văn, căn cứ vào tác động và mức độ tham gia hoạtđộng của con người mà tính nhân văn của các hệ sinh thái được biểu hiện ởcác mức độ khác nhau
1.1.1.2 Hệ sinh thái đô thị
Đô thị là tên gọi chung của các thành phố, thị xã, thị trấn Đây là nơitập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với các hoạtđộng kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ Con người xây dựng đô thị
Trang 14do dân số tăng nhanh, kéo theo đó là nhu cầu ngày càng cao trong việc cungcấp nơi ở, phát triển kinh tế và thỏa mãn những nhu cầu khác của con người.Tiếp cận trên quan điểm sinh thái học thì các thành phố, thị trấn là những hệsinh thái đô thị Nghiên cứu hệ sinh thái đô thị thực chất là nghiên cứu mốiquan hệ giữa con người và môi trường xung quanh trên địa bàn đô thị để từ đóđưa ra các giải pháp quy hoạch đô thị, tổ chức sản xuất và đề ra các biện phápbảo vệ môi trường sống Các hệ sinh thái đô thị được xây dựng theo nhu cầucủa con người từ cấu trúc sinh thái, cảnh quan đô thị, các công trình đường
xá, cầu cống, thậm chí động thực vật trong đô thị… tồn tại cũng đều do tácđộng của con người, do con người can thiệp Như vậy, trong hệ sinh thái đôthị, hoạt động của con người có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triểncủa hệ vì vậy nó là hệ sinh thái mà trong đó tính nhân văn được biểu hiện rõràng nhất
Về đặc điểm của hệ sinh thái đô thị, tác giả Vũ Quang Mạnh và tácgiả Hoàng Duy Chúc đã cho chúng ta tiếp cận một cách khá cơ bản Theotác giả, “nhìn các thành phố, các đô thị là một hệ sinh thái, với ý nghĩachúng được con người xây dựng và con người là thành phần ưu thế củaloại hệ sinh thái này
Con người sống trong các khu đô thị, thành phố dường như độc lậphoàn toàn với thiên nhiên và điều kiện môi trường xung quanh Trong thànhphố ta gặp các công trình: nhà cửa, đường sá, phương tiện giao thông, ánhsáng và nguồn nước nhân tạo Trong từng căn hộ sống con người đã chế ngựđược thời tiết, luôn đảm bảo có nhiệt độ tối ưu cho hoạt động sống của conngười Con người trong thành phố bị tách khỏi cơ sở thiên nhiên của họ
Thành phố có rất ít sinh vật sống tự nhiên, bởi vì điều kiện sinh tháiquá nhân tạo và chỉ thích hợp cho sự sống của con người Chó mèo do ngườinuôi và chó mèo hoang dại cũng gây ra một số phiền phức cho con người
Trang 15Gián và chuột là những động vật hoang, có vai trò như những “véctơ” mangbệnh cho người Trong thành phần tự nhiên cũng có rất ít cây cỏ và chúngthường được trồng nhân tạo trong các công viên.
Dân thành phố ít có dịp tiếp xúc với môi trường thiên nhiên, với cácsinh vật sống và với cả thế giới vô sinh Họ chỉ tiếp xúc con người với nhau,với nhà cửa, giao thông và với công việc
Hệ sinh thái đô thị luôn cần cây xanh để làm giảm nhiệt độ, làm sạchkhông khí, làm dịu tiếng ồn Nhưng ngay cả khi có nhiều cây xanh, thành phốvẫn là một hệ sinh thái không tự duy trì được Nó luôn cần được cung cấplương thực, tài nguyên và năng lượng từ các môi trường xung quanh và giảiphóng các loại phế thải ra môi trường bên ngoài
Thành phố cần có nguồn vào là nguyên vật liệu và năng lượng Nguyênvật liệu là tất cả các vật chất được cấu tạo từ các thành phần như các kim loại,hay nhiều thành phần như gỗ Các vật liệu còn có thịt, lương thực, áo quần…
Loại nguồn vào thứ hai là năng lượng Năng lượng ở đây có thể kể nhưnăng lượng tích trữ cho các hoạt động máy móc (xăng, dầu, than đá); haynăng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể người (lương thực, thứcăn) Năng lượng của hệ sinh thái đô thị dưới nhiều dạng như điện lực, gió, hơinước, ánh sáng mặt trời, chất đốt… Năng lượng còn đến dưới dạng các liênkết hóa học cần cho người và động vật trong thành phố Cho dù ở dạng nàothì năng lượng luôn tuân theo các quy luật nhiệt động học Mà cụ thể là: Nănglượng không bị mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác và trong tất
cả các biến hóa của năng lượng luôn có một phần năng lượng được sử dụng
có ích
Thông thường các nguyên liệu thu vào của thành phố được chuyểnthành một số dạng khác Chẳng hạn sắt thép được chế biến thành các sảnphẩm xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc Còn lương thực và thực
Trang 16phẩm được tạo thành những mô cấu trúc của cơ thể Nói chung các sản phẩmcủa đầu vào hệ sinh thái đô thị được chế biến thành những sản phẩm cần thiếtcho hoạt động của nó Nhưng cũng có một phần đáng kể trong số đó trở thànhnhững phế liệu và rác thải của hệ sinh thái này.
Các hệ sinh thái tự nhiên có khả năng tự duy trì, còn hệ sinh thái đô thị
sẽ sụp đổ nếu nó không được liên tục tiếp nhận các nguồn nguyên liệu vànăng lượng vào từ các vùng quê xung quanh
Khi xem xét thành phố như một hệ sinh thái thì phải đánh giá nguồn vậtliệu là năng lượng vào cũng như các vật liệu ra của đầu ra một cách kĩ càng
và chính xác Nhiều chuyên gia có tay nghề cao phải làm việc trên nhiềulĩnh vực chuyên môn, phục vụ các hoạt động bình thường của các thànhphố Các nhóm sinh vật sống ở trong thành phố và ở các môi trường xungquanh thành phố cũng phải hoạt động nhịp nhàng để cung cấp các sảnphẩm, đảm bảo cho sự sống của thành phố” [22, tr 247]
Qua đó, chúng ta có thể thấy, với vai trò quyết định của hoạt động conngười đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thì tính nhân văn của hệ sinh thái
đô thị được biểu hiện rõ ràng hơn cả Chính vì vậy, trong nghiên cứu, tìm hiểu
hệ sinh thái đô thị cần đánh giá đúng mức vai trò của hoạt động của con ngườitác động vào môi trường sinh thái theo những nguyên lí của sinh thái học
1.1.2 Phát triển bền vững
Xã hội ngày càng phát triển, loài người hiện nay đã có những bước tiếnvượt bậc trong công cuộc cải biến giới tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu tồntại và phát triển của mình Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, loài người
đã và đang phải đứng trước các vấn đề tiêu cực của xã hội và đặc biệt là nguy
cơ mất cân bằng sinh thái Thực trạng đó là biểu hiện của mâu thuẫn giữa sựphát triển của sản xuất xã hội với môi trường tự nhiên và yêu cầu bức thiết đặt
ra là con người cần phải nhìn nhận và đánh giá lại mục tiêu, cách thức phát
Trang 17triển cho phù hợp Đó là một trong những cơ sở quan trọng dẫn tới sự ra đờicủa quan điểm về phát triển bền vững.
1.1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ phát triển bền vững (Sustainble Development) được Hiệphội Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên nêu lần đầu tiênnăm 1980 Nhưng phải đến năm 1987 định nghĩa về phát triển bền vững mớiđược Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới của Liên hiệp quốc chính thức
nêu lên trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta (1987) Theo đó: “Phát
triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
[44, tr 43] Qua định nghĩa này chúng ta thấy phát triển bền vững không chỉ ởvấn đề sinh thái mà còn bao hàm cả các vấn đề xã hội Ngoài yêu cầu giữ gìn,bảo vệ tự nhiên, duy trì mối quan hệ hài hòa giữa con người với tự nhiên, pháttriển bền vững còn đặc biệt chú ý tới các vấn đề xã hội Nhìn chung, nó quantâm tới yêu cầu phát triển xã hội một cách toàn diện
Nội hàm của khái niệm phát triển bền vững được Liên hiệp Quốc táikhẳng định và được bổ sung đầy đủ tại Hội nghị Rio 1992, Hội nghịJohannesburg 2002 và Hội nghị Rio+20 (6/2012) Tại các Hội nghị này, kháiniệm phát triển bền vững được mở rộng và cụ thể hóa hơn Các vấn đề về dân
số và cạn kiệt tài nguyên không còn là trọng tâm mà trọng tâm được đề cậpđến là con người Con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu cần hướng tớicủa phát triển bền vững Nhìn chung, có thể hiểu phát triển bền vững là “sựphát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay vàkhông ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn cácnhu cầu của họ” [1, tr 3]
Trang 18Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “phát triển là mộtphạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từđơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật” [42,tr.188] Theo đó, phát triển không chỉ là sự tăng lên, giảm đi đơn thuần vềlượng mà còn là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn của
sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn Còn thuật ngữ “bền vững” có thểhiểu là một thuộc tính thể hiện sự tồn tại có tính ổn định và tương đối lâu dài
về mặt thời gian của sự vật Nói như vậy không có nghĩa “bền vững” là sự tồntại bất biến, vĩnh cửu mà thực chất nó chỉ là sự phát triển nằm trong một giớihạn vận động nào đó của sự vật Bản thân nó vẫn là một quá trình vận độngphát triển liên tục nhưng lại mang tính ổn định, lâu dài Như vậy, theo cáchtiếp cận này, sự phát triển được gọi là bền vững khi và chỉ khi nó được cânnhắc và đánh giá cho phù hợp, các nguồn lực của sự phát triển phải luôn đượcduy trì trong trạng thái cân bằng, phát triển hài hòa, hướng tới mục tiêu pháttriển lâu dài, đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội
1.1.2.2 Vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước những biến động sinh thái toàn cầu, vấn đề pháttriển bền vững đã và đang là nội dung quan trọng được toàn xã hội quan tâm.Các chiến lược nhằm đưa đất nước phát triển theo hướng bền vững đang từngbước được thực hiện Gần đây nhất, trong “Quyết định phê duyệt Chiến lượcPhát triển bền vững Việt Nam” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cácquan điểm, mục tiêu và định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững giaiđoạn 2011 – 2020 cũng đã được vạch rõ Cụ thể:
Quan điểm về phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020 được xác định:
“Con người là trung tâm của phát triển bền vững Phát huy tối đa nhân
tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của pháttriển bền vững; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần
Trang 19của mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hộinhập quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đấtnước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển
xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật
tự an toàn xã hội
Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơhội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung và đượctham gia, đóng góp và hưởng lợi, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức vàvăn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tàinguyên, đặc biệt là loại tài nguyên không thể tái tạo, gìn giữ và cải thiện môitrường sống; xây dựng xã hội học tập; xây dựng lối sống thân thiện môitrường, sản xuất và tiêu dùng bền vững
Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vữngđất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưutiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất” [50, tr 1,2 ]
Về mục tiêu của phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020:
Mục tiêu tổng quát được xác định là: “tăng trưởng bền vững, có hiệuquả, đi đôi với tiến độ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường,giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”[50, tr 2]
Mục tiêu cụ thể:
“Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững
an ninh năng lượng, an ninh tài chính Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sangphát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng
Trang 20trưởng xanh, phát triển kinh tế cácbon thấp Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọinguồn lực.
Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công băng, văn minh;nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnhphúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần,năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật Giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng Giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường.Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặcbiệt là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm,suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng,bảo tồn đa dạng sinh học Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng cóhiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng” [50, tr 2]
Nhìn chung, phát triển bền vững không đơn giản chỉ là sự phát triểnđơn thuần ở bất cứ một lĩnh vực nào mà nó là sự phát triển hài hòa của mọinguồn lực nhằm hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người và xã hội,bảo vệ môi trường sống, đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội
1.1.2.3 Phát triển bền vững hệ sinh thái đô thị
Theo tác giả Vũ Quang Mạnh, một xã hội được coi là bền vững sinhthái khi: 1 – Bảo vệ được các hệ sinh thái cung cấp sự sống và tính đa dạngsinh học; 2 – Bảo đảm việc sử dụng tài nguyên tái tạo bền vững và giảm tốithiểu việc làm giảm nguồn tài nguyên không tái tạo; 3 – Giữ trong khả năngchịu đựng được của các hệ nuôi dưỡng sự sống [22, tr 202]
Hệ sinh thái đô thị là một hệ sinh thái nhân văn điển hình Nó là một hệsinh thái nhân tạo, được xây dựng theo nhu cầu của con người Muốn cho hệ
Trang 21sinh thái đô thị tồn tại, cân bằng và phát triển lâu bền cần phải xem xét vàphân tích các tác động của con người vào môi trường theo những nguyên lícủa sinh thái học Theo đó, hệ sinh thái đô thị muốn giữ được mức độ ổn địnhtương đối trước hết cần phải đảm bảo các nguyên tắc sinh thái trong quyhoạch như sau:
“Nguyên tắc 1: Tổ chức quy hoạch đô thị một cách hợp lý – xác địnhmột cách rõ ràng ranh giới của các vùng đô thị thông qua việc phân vùng theokhu vực Sự phân vùng này phải được dựa trên các yếu tố: theo không gian;theo cơ cấu chức năng; theo hệ thống kỹ thuật công nghệ để đảm bảo chodòng năng lượng của hệ sinh thái được ổn định
Nguyên tắc 2: Tổ chức tối ưu mạng lưới giao thông đô thị hạn chế tớimức tối thiểu việc đi lại bên trong thành phố (để giảm bớt lượng tiếng ồn và ônhiễm không khí)
Nguyên tắc 3: Tạo lập và giữ gìn các không gian xanh ở trong vùng trungtâm, đồng thời bảo bên đất rừng tự nhiên ở bên cạnh các khu đô thị” [36, tr 75]
Xuất phát từ quan điểm về phát triển bền vững, nhiều nhà khoa học,dưới sự chi phối của các lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra nhiều quanniệm phát triển đô thị bền vững khác nhau Tiêu biểu:
“Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vữngnhư sau: (1) Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vậtliệu và mặt bằng; (2) Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên; (3) Tránh xây dựngthành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở; (4) Bảo vệ và pháttriển cây xanh đô thị; (5) Khuyến khích tiết kiệm nước; (6) Hạn chế sử dụngphương tiện di chuyển có động cơ; (7)Tái sinh vật liệu phế thải
Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính Theo họ, pháttriển đô thị bền vững có 4 tiêu chí: (1) Đảm bảo và phát triển khả năngcạnh tranh của thành phố; (2) Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn; (3)
Trang 22Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);(4) Quản lý đô thị tốt.
Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối: (1) Lấy chỉtiêu HDI (chỉ số phát triển của con người) để đánh giá đô thị chứ không dựavào quy mô dân số, kinh tế hay xây dựng như trước đây; (2) Giải quyết hàihòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị; (3) Sự phối hợp hài hòa giữaphát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý” [37, tr 83]
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiên nêu ra những kinh nghiệm xây dựng
đô thị theo yêu cầu phát triển bền vững dựa trên kinh nghiệm của Cộng hòa
Liên bang Đức như sau: (1) Đánh giá đô thị dựa trên chỉ tiêu chất lượng cuộcsống; (2) Phát triển đô thị gắn chặt với phân vùng; (3) Thành phần tham giavào quy hoạch đô thị không chỉ có chính quyền, mà còn có người tiêu dùng,người dịch vụ, nhà doanh nghiệp và đại diện các tổ chức xã hội và tôn giáo;(4) Chức năng của đô thị có tính chất toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hóa vàquản lý, trong đó chức năng quản lý bao trùm, làm điều kiện thực hiện cácchức năng khác [9, tr.43]
Nhìn chung, vấn đề phát triển bền vững hệ sinh thái đô thị là một vấn
đề cấp thiết đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và mạnh như hiện nay.Các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau đưa ra các tiêu chíkhác nhau cho sự phát triển bền vững, điều đó thể hiện tính đa dạng, đa chiềucủa một đô thị Nhưng nhìn chung, muốn phát triển đô thị theo hướng pháttriển bền vững đòi hỏi phải phối hợp phát triển hài hòa nguồn lực của sự pháttriển: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… và đặc biệt phải quan tâm tới vấn đềmôi trường đô thị
Tiếp cận hệ sinh thái đô thị trên góc độ là một trong những hệ sinh tháinhân văn điển hình và đi sâu vào nghiên cứu tính chủ thể của con người trong
hệ sinh thái nhân văn, theo tác giả, để hệ sinh thái nhân văn đô thị phát triển
Trang 23bền vững thì bên cạnh những nguyên tắc sinh thái học cần phải nhấn mạnhyếu tố con người với tư cách là chủ thể của hệ sinh thái đô thị Con người làchủ thể của xã hội và là mục tiêu của sự phát triển xã hội Với tư cách là chủthể đòi hỏi bản thân mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chungphải chủ động, tích cực trong nhận thức và hành động để không chỉ phát triển
đô thị đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao của con người mà còn cóđịnh hướng phát triển bền vững trong tương lai Để làm được điều đó đòi hỏiphải có sự nhất quán trong chính sách quy hoạch phát triển và có ý thức thựchiện, bảo vệ và giữ gìn môi trường sinh thái nhân văn đô thị của các cá nhân
và tổ chức trong cộng đồng
1.2 Tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn
1.2.1 Tính chủ thể của con người
1.2.1.1 Khái niệm chủ thể
Theo cách tiếp cận triết học, khái niệm chủ thể là một khái niệm có vịtrí quan trọng trong nhận thức luận Khái niệm “chủ thể” lúc đầu có nghĩa làcái mang những đặc tính, trạng thái, hoạt động – đồng nhất với với khái niệmthực thể Từ thế kỷ XVII khái niệm chủ thể được đặt trong mối quan hệ vớikhái niệm khách thể và mang ý nghĩa nhận thức luận “Ngày nay, người taquan niệm chủ thể là con người hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và
ý chí Còn khách thể là cái mà hoạt động nhận thức và hoạt động khác củachủ thể hướng vào đó” [51, tr.93]
Chúng ta thấy rằng, khái niệm chủ thể và khách thể là hai khái niệmtương quan nên khái niệm chủ thể chỉ mang đầy đủ nội dung ý nghĩa khi đượcđặt trong mối quan hệ với khái niệm khách thể Trong lịch sử triết học, cónhiều quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Chủnghĩa duy vật trước Mác coi khách thể là cái tồn tại không phụ thuộc vào chủthể và hiểu nó là thế giới khách quan, còn theo nghĩa hẹp thì là đối tượng của
Trang 24nhận thức Đồng thời chủ thể được coi là cái gì đó thụ động, chỉ tiếp thu cáctác động từ bên ngoài Chủ thể được quan niệm là các cá thể biệt lập mànhững đặc điểm của nó là do nguồn gốc tự nhiên của nó quyết định, bởi vìngười ta còn chưa khám phá ra cơ sở thật sự của tính tích cực của chủ thể.Chủ nghĩa duy tâm lại cho rằng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể vàkhách thể, thậm chí chính bản thân sự tồn tại của khách thể cũng là được bắtnguồn từ hoạt động của chủ thể Trên cơ sở đó, họ đi lí giải vai trò tích cựccủa chủ thể trong nhận thức.
Khắc phục những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủnghĩa duy vật trước Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã xem xét mối quan
hệ giữa chủ thể và khách thể trong sự thống nhất biện chứng và khẳng địnhkhách thể luôn tồn tại khách quan không phụ thuộc vào chủ thể, chủ thể giữvai trò là lực lượng tích cực trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể.Theo đó, “khách thể không phải là mặt đối lập trừu tượng của chủ thể, vì tínhchủ thể tích cực cải tạo khách thể, và cơ sở của sự tác động qua lại giữa chúng
là thực tiễn lịch sử xã hội của loài người Chính trong thực tiễn đó mà các mặt
và các đặc tính của hiện thực trở thành khách thể của hoạt động thực tiễn và líluận mà thông qua việc cải tạo nó, ý thức tiếp thu được nội dung của thực tạikhách quan” [40, tr93] Như vậy, chúng ta có thể thấy tính tích cực của chủthể luôn được hình thành và biến đổi trong quá trình tiến hành cải tạo thế giới,con người chỉ trở thành chủ thể trong lịch sử, trong xã hội và vì vậy là thựcthể xã hội mà năng lực và khả năng của nó là do thực tiễn tạo ra
Con người chủ thể luôn là lực lượng tích cực trong mối quan hệ giữachủ thể và khách thể Tuy nhiên, đó không phải là hoạt động tùy tiện vì kháchthể luôn vạch ra những ranh giới và giới hạn nhất định trong hoạt động củachủ thể Chính trên cơ sở đó nảy sinh sự cần thiết phải nhận thức các quy luậtcủa khách thể để làm cho hoạt động của khách thể phù hợp với quy luật đó
Trang 25Từ những quan điểm trên chúng ta có thể thấy, tính chủ thể của conngười thực chất là khả năng con người đưa ra lựa chọn và thực thi lựa chọn đómột cách phù hợp Tính chủ thể thể hiện ra là sự năng động mang tính lịch sử– xã hội trong hoạt động của con người Theo quan điểm của C Mác, tính chủthể chỉ có ở con người như một thực thể xã hội, trong tổ chức để hành độngtrong sự phối hợp với người khác, với nhóm, tập thể và với xã hội Do vậy,tính chủ thể của con người khi tồn tại ở cấp độ nhóm, cộng đồng, tộc người vàdân tộc mang bản sắc văn hóa của cộng đồng, tộc người và dân tộc.
1.2.1.2. Đặc trưng của tính chủ thể của con người trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Trong mối quan hệ với tự nhiên, giới tự nhiên chính là “thân thể vô cơ”của con người Tất cả thể xác và tinh thần của con người đều gắn liền khăngkhít với tự nhiên vì con người là bộ phận của tự nhiên, là giai đoạn cao nhấttrong quá trình phát triển của giới tự nhiên vì vậy con người phải tuân theocác quy luật của tự nhiên và hòa vào tự nhiên Không những thế, con ngườicòn có khả năng cải tạo tự nhiên và giữ vị trí chủ động trong mối quan hệ với
tự nhiên Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con ngườiđóng vai trò là chủ thể, còn tự nhiên là khách thể
Con người, xét về mặt tiến hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩmcủa tự nhiên – một sinh vật có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất Conngười khác các loài sinh vật khác không chỉ về mặt sinh vật học mà còn vềtính chất sinh hoạt xã hội do chính hoạt động của con người tạo ra Sự khácnhau đó thể hiện trong khả năng con người biết chế tạo và sử dụng công cụlao động nhằm cải tạo tự nhiên một cách có kế hoạch và mục đích
Loài người khi mới hình thành cuộc sống phần lớn phụ thuộc vào tựnhiên, trải qua quá trình phát triển lâu dài, thông qua lao động con người dầnbiết cách biến đổi tự nhiên để tạo ra những điều kiện tồn tại, những trạng thái
Trang 26hay môi trường phù hợp với sự tồn tại của mình Hoạt động của loài ngườinhằm chinh phục tự nhiên ngày càng làm giảm bớt sự phụ thuộc và làm tăng
“quyền hành” của họ trước tự nhiên Từ chỗ dựa vào tự nhiên một cách thụđộng con người đã biết biến đổi nó một cách chủ động, có phương pháp vàtuân theo những quy luật vốn có của nó Từ chỗ bị các lực lượng tự nhiên chiphối, con người dần dần biết cách cải biến tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ chonhững mục đích lớn hơn của mình Đó là một thắng lợi hết sức vĩ đại của nềnvăn minh nhân loại Ngoài ra, quan hệ giữa con người và tự nhiên còn đượchình thành trong chính quá trình lao động, sản xuất, thông qua hoạt động cảibiến giới tự nhiên của con người Thông qua lao động, con người đã làm thayđổi, cải biến giới tự nhiên “con vật chỉ sản xuất ra chính bản thân nó, còn conngười thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [47, tr 29] Cũng chính tronghoạt động sản xuất vật chất con người xác lập cho mình các quan hệ xã hội.Con người lúc này mang đầy đủ bản chất xã hội đồng thời hình thành nhâncách cá nhân trong cộng đồng xã hội
Việc con người ngày càng hiểu biết sâu sắc hơn về giới tự nhiên, cókhả năng chinh phục tự nhiên không có nghĩa là con người ngày càng trởthành “kẻ thù” hủy diệt tự nhiên Giữa con người và tự nhiên có mối quan hệtác động qua lại lẫn nhau, vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn Tự nhiên tácđộng mạnh mẽ tới mọi mặt hoạt động của con người và xã hội, song sự tácđộng ấy là hoàn toàn mang tính tự phát Con người bằng hoạt động thực tiễncũng không ngừng tác động vào tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của bảnthân và đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển xã hội Trong quá trình hoạt động,nếu con người hiểu biết và tác động cùng chiều với quy luật của tự nhiên,khai thác, sử dụng và tái tạo hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì conngười sẽ tác động tích cực, làm phong phú tự nhiên và mang lại hiệu quảtrong hoạt động thực tiễn Nhưng nếu hành động của con người trái với quy
Trang 27luật tồn tại và phát triển của tự nhiên hoặc do lợi ích trước mắt mà bất chấpcác quy luật của giới tự nhiên, tàn phá tự nhiên, phá vỡ sự cân bằng vốn cócủa hệ thống tự nhiên, con người và xã hội thì hiển nhiên sẽ phải gánh chịunhững hậu quả nặng nề Lịch sử đã chứng minh những cuộc khủng hoảng sinhthái trên quy mô toàn cầu có tác động lớn như thế nào đến xã hội loài người.Con người càng tàn phá tự nhiên bao nhiêu thì con người sẽ phải gánh chịuhậu quả bấy nhiêu Điều đó: “nhắc nhở chúng ta từng giờ từng phút rằngchúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một ket đi xâmlượng thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tựnhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu ócchúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, vàtất cả sự thống trị của chúng ra đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khácvới tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tựnhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [48, tr.665] Con người không thể tác động vào tự nhiên một cách tùy tiện theo ýmuốn chủ quan Nếu bất chấp quy luật, cố tình đi ngược lại quy luật, conngười sẽ phải trả giá Hoạt động thực tiễn của con người chỉ thực sự có hiệuquả khi con người nhận thức được quy luật của tự nhiên, nắm vững chúng vàđiều quan trọng là phải biết vận dụng chúng một cách chính xác Từ đó, conngười có thể tác động tích cực vào tự nhiên, làm giàu tự nhiên, mang lại lợiích cho con người và xã hội loài người.
Như vậy, tính chủ thể của con người trong mối quan hệ con người và tựnhiên được thể hiện ở tính chủ động, tích cực của con người trong nhận thức vàhoạt động cải tạo giới tự nhiên theo hướng có lợi cho bản thân con người Đó làtính tích cực trong hoạt động thực tiễn nhằm điều khiển có ý thức mối quan hệgiữa con người và tự nhiên Để làm được điều đó, loài người cần phải nhận thứcđược rằng mình là một bộ phận của hệ sinh thái, bất cứ sự tác động nào của con
Trang 28người đều làm thay đổi các bộ phận khác của hệ và từ đó làm thay đổi toàn hệ.Con người cần hiểu được các quy luật của tự nhiên, cấu trúc của các hệ thống tựnhiên, các quy luật cơ bản như quy luật cân bằng sinh thái, cân bằng nănglượng sử dụng những quy luật đó một cách chính xác vào thực tiễn xã hội, vàolĩnh vực sản xuất tạo ra của cải vật chất như: khai thác trong khả năng có giớihạn của các hệ sinh thái, tái tạo lại các nguồn tài nguyên
1.2.2 Vai trò của tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn
1.2.2.1 Con người – chủ thể nhận thức trong hệ sinh thái nhân văn
Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giớikhách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nó thể hiện ra trong sựtác động giữa con người với thế giới xung quanh Trong đó, con người có vaitrò là chủ thể và thế giới khách quan là khách thể của quá trình nhận thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “chủ thể nhận thức làcon người – thành viên xã hội, sản phẩm của sự phát triển lịch sử Năng lựcnhận thức của con người là sự kết tinh năng lực trí tuệ với vốn tri thức, cácphương tiện và phương thức nhận thức, kinh nghiệm nhận thức thế giới mànhân loại có được ở mỗi một thời đại Theo nghĩa như vậy, chủ thể nhận thứckhông chỉ là những cá nhân – thành viên xã hội mà còn là các nhóm cộng đồngngười trong xã hội, những thế hệ người, cả xã hội và loài người Còn khách thểnhận thức là bộ phận thực tại khách quan, do tác động và đòi hỏi của thực tiễn,gia nhập vào mối quan hệ, vào sự tác động qua lại với chủ thể nhận thức” [34,
tr 320] Về mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức, kháchthể nhận thức giữ vai trò quyết định nội dung của nhận thức, nhưng chủ thểnhận thức cũng có tính tích cực trong đi sâu nắm bắt bản chất sự vật
Trong hệ sinh thái nhân văn, con người và xã hội loài người tham giavào chu trình sinh học vừa như yếu tố sinh học, vừa như thực thể xã hội Yếu
Trang 29tố con người trong hệ thống tự nhiên, con người và xã hội có một vai trò quantrọng trong việc duy trì sự cân bằng, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội vàcũng là nhân tố có ý thức duy nhất trong cấu trúc của hệ sinh thái nhân văn Ởđây, con người đóng vai trò là chủ thể nhận thức Sự vận động và phát triểncủa xã hội loài người đã cho chúng ta thấy một thực tế là từ khi con ngườibằng những hoạt động tự phát của mình tác động vào tự nhiên đã làm biến đổigiới tự nhiên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng khiến cho môi trường tựnhiên suy kiệt cả về số lượng lẫn chất lượng, kéo theo đó là sự trả thù của tựnhiên mà chính bản thân con người cũng chưa lường hết được Đó là hậu quảcủa việc con người đã không tính hết những quy luật tồn tại và phát triển tấtyếu của tự nhiên, những quy luật sinh thái học, vẫn chưa nhận thức được rằng
“Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược
đi thống trị một dân tộc khác Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả
sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta khác với tất
cả các sinh vật khác, chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên
và có thể sử dụng những quy luật đó một cách chính xác”[48, tr 665] Việcchưa ý thức được đầy đủ các quy luật tồn tại và phát triển của yếu tố tự nhiêntrong chỉnh thể xã hội và tự nhiên chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết của conngười, do trình độ phát triển của nhận thức còn thấp Ngoài ra, trong quá trìnhphát triển, việc con người chỉ chú trọng tới mục đích là thỏa mãn nhu cầusống ngày càng cao của mình và sự phát triển của xã hội mà không quan tâmđến những hậu quả tiêu cực không lường trước được của môi trường sinh tháicũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những biến đổi môitrường sinh thái hiện nay Chính vì vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn các quyluật vận động và phát triển của tự nhiên, các quy luật sinh thái học để giảiquyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên hiện nay đang là một vấn đề líluận cấp bách Con người cần phải hướng tới một sự phát triển cân bằng,
Trang 30không chỉ vì lợi ích của con người và xã hội mà còn phải tính đến sự tồn tại
và phát triển của tự nhiên, “hướng đến sự tồn tại trong mối quan hệ hài hòathật sự giữa xã hội và tự nhiên với tư cách là những yếu tố cấu thành của một
hệ thống toàn vẹn” [22, tr 198] Để làm được điều đó đòi hỏi con người phải
“nhận thức được quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật
đó một cách chính xác” [48, tr 665], bởi vì có như vậy, con người mới có thểtác động một cách có ý thức hay điều khiển hoạt động thực tiễn của mình mộtcách tự giác nhằm hạn chế làm tổn hại tới sự cân bằng trong mối quan hệ giữacon người với tự nhiên
Như vậy, nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức của con người trong hệsinh thái nhân văn thực chất là nhấn mạnh vai trò của con người – nhân tố có ýthức duy nhất trong cấu trúc hệ sinh thái nhân văn cần phải nhận thức được đúng
và đầy đủ những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên, về vị trí và vai tròcủa con người và xã hội loài người trong trong hệ thống tự nhiên, con người và
xã hội, từ đó có những định hướng đúng đắn chỉ đạo cho hoạt động thực tiễn đểloài người có thể chung sống tích cực, tự giác và hài hòa với tự nhiên
1.2.2.2 Con người – chủ thể hoạt động trong hệ sinh thái nhân văn
Con người và con vật trong quá trình sống đều phải hoạt động nhằmthỏa mãn những nhu cầu nào đó của mình Nhưng nếu như con vật chỉ hoạtđộng theo bản năng sinh tồn của loài thì con người lại hoạt động một cách có
ý thức Con người sống, hoạt động không phụ thuộc vào những bản năng ditruyền có sẵn như động vật mà theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ lịch
sử - xã hội Đó chính là bản chất xã hội của con người Mác đã có nhận địnhrất sâu sắc khi khẳng định rằng: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng
ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân conngười bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sảnxuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ
Trang 31thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình,như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”[47, tr 29] Nếu thế giới loài vật dựa vào những thứ có sẵn từ tự nhiên thì conngười lại thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thếgiới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong hệ sinh thái nhân văn, hoạt động của con người có vai trò vôcùng quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái của hệ thống tựnhiên, con người và xã hội Con người chính là nhân tố xây dựng nên hệ sinhthái nhân văn, mức độ tham gia hoạt động và tác động của con người là cơ sở
để đánh giá tính nhân văn của hệ sinh thái nhân văn Bởi vậy, con người làchủ thể hoạt động trong hệ sinh thái nhân văn Lịch sử đã chứng minh, bằnghoạt động của mình, con người đã từng bước can thiệp vào tự nhiên, làm biếnđổi giới tự nhiên nhằm thỏa mãn các nhu cầu sống, tồn tại và phát triển Mặc
dù chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong hệ sinh vật trên trái đất nhưng tác độngcủa con người tới thiên nhiên lại vô vùng to lớn Cho đến ngày nay, do sự mởrộng ảnh hưởng của con người, số lượng những môi trường tự nhiên chưachịu ảnh hưởng của con người đang giảm dần với tốc độ nhanh chóng, thayvào đó là các “môi trường nhân tạo” chịu ảnh hưởng, tác động ít nhiều từ conngười cũng tăng lên tương ứng Sự phát triển vượt bậc của khoa học côngnghệ đã cho loài người những công cụ hữu ích trong công cuộc chinh phục vàcải biến giới tự nhiên, cho phép loài người khai thác tài nguyên thiên nhiên tốthơn và phần nào làm giảm bớt được những rủi ro từ thiên tai Tuy nhiên, cùngvới những tiến bộ đó chúng ta không thể không tính đến những hậu quả của
sự biến đổi môi trường luôn luôn song hành với nó Những vấn đề như giatăng dân số, phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức, khí thải côngnghiệp, những tai biến như tràn dầu hay thậm chí chỉ là những thói quen sinhhoạt hàng ngày của con người cũng đang dần dần từng bước gây ra những
Trang 32thiệt hại to lớn làm mất cân bằng sinh thái, đe dọa đến sự sống của nhiều loàiđộng vật và thực vật.
Những hoạt động can thiệp ngày càng sâu rộng vào tự nhiên của conngười tính đến ngày nay phần lớn đều là những hoạt động mang tính tự phát,chưa có sự tính toán đầy đủ trên những quy luật tồn tại và phát triển của tựnhiên Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là con người và xã hội loài người phải làm
gì để cải thiện được những vấn đề sinh thái môi trường, hạn chế những tácđộng tiêu cực lên môi trường sinh thái Đây là một vấn đề cấp thiết đòi hỏicon người bên cạnh việc phát huy vai trò của chủ thể nhận thức cần phải địnhhướng được hoạt động của mình cho phù hợp, đảm bảo cân bằng sinh thái của
hệ thống tự nhiên, con người và xã hội
Trước những biến đổi bất lợi của tự nhiên, con người ngày nay đangngày càng nhận ra được nguyên nhân chủ yếu là do chính bản thân mình, vìvậy con người cũng đã và đang cố gắng để có những hành động tích cực hơn.Cũng nhờ có sự phát triển của khoa học công nghệ con người đã tìm ra một sốcách để nhằm hạn chế sự thay đổi của môi trường Loài người đã biết cách tậndụng các dạng năng lượng tự nhiên mới thay thế cho các năng lượng truyềnthống như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… điều này góp phần làm hạnchế việc khai thác sử dụng năng lượng cũ, giảm thiểu sự phát thải các chất khíđộc hại gây ra hiệu ứng nhà kính Việc phục hồi dần dần một số diện tích rừng
bị thu hẹp trước đây cũng giúp cải thiện một phần môi trường sống… Nhữngbiểu hiện trên thể hiện sự cố gắng của con người trong việc bù đắp lại nhữngthiệt hại về môi trường, nhưng nhìn chung sự cố gắng đó vẫn là chưa đủ
Để có thể phát huy được vai trò chủ thể hoạt động trong hệ sinh tháinhân văn thì con người trên cơ sở nhận thức được các quy luật của tự nhiêncon người phải điều khiển một cách có ý thức hoạt động của mình một cáchchủ động, tích cực nhằm giảm thiểu tác động lên môi trường Bản chất của
Trang 33môi trường nói chung là tính thống nhất biện chứng, tính vật chất của các yếu
tố trong hệ thống tự nhiên, con người và xã hội, bởi vậy, con người cần tạo ramột môi trường nhân văn phù hợp với hệ thống đó Chính trong quá trình tácđộng vào tự nhiên, con người không những cải biến, phát triển tự nhiên bênngoài mà còn cải tạo, sáng tạo lại tự nhiên ngay bên trong bản thân mình Tácgiả Vũ Quang Mạnh đã khẳng định: “Con người đã tác động xấu đến môitrường tự nhiên, giờ đây con người cần nắm vững những quy luật của tựnhiên, vận dụng những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn: trước hết cần thayđổi nhận thức về mọi phương tiện thuộc lĩnh vực quan hệ gữa con người xãhội và tự nhiên Từ sự nhận thức đó con người mới hành động thiết thựcnhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sinh thái vì sự sống của conngười và sự phát triển của xã hội” [22, tr 191] Như vậy, muốn sinh quyểnchấp nhận con người và xã hội loài người như một thành viên thật sự của nóthì con người cần phải hoàn thành chức năng tái tạo các nguồn tài nguyênthiên nhiên đã sử dụng Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc thực hiệnchức năng điều khiển một cách có ý thức đối với sinh quyển Để làm đượcđiều đó con người cần phải biết dựa vào chính sự phát triển của khoa học, kỹthuật và công nghệ mới giúp sinh quyển tiếp tục phát triển, hoàn thiện vàchuyển dần sang một trạng thái mới về chất – Trí tuệ quyển – một giai đoạnphát triển mới của sinh quyển, một môi trường sống mới được điều khiển bởihoạt động có ý thức của con người
1.2.2.3 Con người – chủ thể giáo dục ý thức sinh thái nhân văn
Không chỉ có vai trò là chủ thể nhận thức và chủ thể hoạt động trong hệsinh thái nhân văn, con người còn đóng vai trò là chủ thể giáo dục ý thức sinhthái nhân văn Con người là một thực thể sinh vật – xã hội, hoạt động sốngcủa con người không chỉ theo những bản năng di truyền có sẵn như các độngvật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ lịch
Trang 34sử – xã hội Khác con vật, con người ngoài những gì được di truyền cònđược kế thừa về mặt xã hội bằng con đường giáo dục Hoạt động giáo dục
là một bộ phận của đời sống xã hội Từ khi xã hội loài người xuất hiện, cácthế hệ loài người đã gắn bó kết hợp với nhau trong tất cả các lĩnh vực hoạtđộng sáng tạo, thông qua giáo dục, kinh nghiệm, những thành tựu văn hóacủa xã hội loài người từ thế hệ này được chuyển giao đến thế hệ khác, từthế hệ trước đến thế hệ sau
Trong quan hệ giữa con người và tự nhiên, hoạt động giáo dục môitrường đóng vai trò quan trọng Giáo dục môi trường là một quá trình thôngqua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp conngười có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham giavào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái Mục đích của giáo dục môitrường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sửdụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai
Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằmtăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tậndụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tàinguyên Giáo dục môi trường còn bao hàm cả việc đạt được những kỹnăng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân haytập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừanhững vấn đề mới nảy sinh
Giáo dục môi trường là trách nhiệm của mọi cá nhân và cộng đồngtrong xã hội Trong phạm vi luận văn này, tác giả nhấn mạnh vai trò chủthể giáo dục ý thức sinh thái nhân văn của con người trong hệ sinh tháinhân văn nhằm hướng tới vấn đề xây dựng ý thức sinh thái nhân văn trênphạm vi toàn xã hội để mỗi người sẽ hiểu được đúng vị trí và vai trò củamình trong hệ sinh thái, trên cơ sở tri thức, kỹ năng và thái độ tham gia có
Trang 35hiệu quả và có trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ hệ sinh thái – môi trường tựnhiên của sự tồn tại xã hội.
Ý thức sinh thái có thể coi là “sự nhận thức một cách tự giác của conngười về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên và các phương thứcđiều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó nhằm đảm bảo sự hài hòa thật
sự giữa xã hội và tự nhiên, tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lâubền của xã hội” [22, tr 199] Ý thức sinh thái chỉ có được khi nhận thức conngười phát triển ở giai đoạn cao, những tư duy cũ của con người phải đượcthay bằng tư duy mới – tư duy sinh thái đối với tất cả các vấn đề thuộc lĩnhvực tác động lẫn nhau giữa con người, xã hội và tự nhiên
Ý thức sinh thái thể hiện trong các lĩnh vực sản xuất xã hội là sự thựchiện sinh thái hóa nền sản xuất, cả sản xuất công nghiệp lẫn sản xuất nôngnghiệp, là sự kết hợp chặt chẽ mục tiêu sinh thái trong đời sống xã hội, việcxây dựng đạo đức sinh thái, thẩm mĩ sinh thái… trong điều kiện của cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Muốn xây dựng được ý thức sinhthái nhân văn trước hết con người cần phải nhận thức đúng vị trí và vai tròcủa mình trong hệ sinh thái nhân văn Con người là một bộ phận của tự nhiên,
là sản phẩm của xã hội, là yếu tố động nhất trong hệ thống tự nhiên, conngười và xã hội, chính vì vậy, mỗi người cần phải có ý thức tự giác và có hoạtđộng thực tiễn nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Đây là điềukiện tiên quyết và cơ bản đối với sự sinh tồn và phát triển bền vững của conngười và xã hội, và để làm được điều đó thì giáo dục luôn đóng vai trò là nềntảng và động lực
Giáo dục ý thức sinh thái nhân văn ở đây không chỉ ở phạm vi hẹp làgiáo dục trong nhà trường mà là giáo dục toàn xã hội Thông qua giáo dục ýthức sinh thái nhân văn, mỗi cá nhân sẽ hình thành cho mình ý thức, nhậnthức, lối sống và hành vi mang tính sinh thái nhân văn nhằm bảo vệ và cải tạomôi trường sinh thái Khi đã hình thành ý thức sinh thái nhân văn, con người
Trang 36sẽ chủ động tham gia tích cực vào hoạt động bảo vệ và cải thiện môi trườngsinh thái nhân văn chung của toàn xã hội.
Hướng tới sự phát triển bền vững đã và đang là yêu cầu bức thiết, nhậnđược sự quan tâm của toàn xã hội Phát triển bền vững là sự phát triển mà ở
đó các nguồn lực của sự phát triển phải luôn được duy trì trong trạng thái cânbằng, phát triển hài hòa, hướng tới các mục tiêu lâu dài, đảm bảo lợi íchchung của toàn xã hội Đối với hệ sinh thái đô thị, để phát triển bền vững cầnphải được đánh giá trên các nguyên tắc sinh thái học, trong quá phát triển cầnphải phối hợp phát triển hài hòa các nguồn lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, môi trường đặc biệt là phát huy được vai trò chủ thể của con ngườitrong hệ sinh thái nhân văn đô thị
Nhấn mạnh vai trò chủ thể của con người trong phát triển bền vững hệsinh thái nhân văn, tác giả đi vào khai thác tính chủ thể của con người trong
Trang 37hệ sinh thái nhân văn ở ba nội dung cơ bản sau: Thứ nhất là vai trò chủ thểnhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn Con người là nhân tố có
ý thức duy nhất trong hệ sinh thái nhân văn phải nhận thức được những quyluật tồn tại và phát triển của tự nhiên, về vị trí và vai trò của con người trong
hệ sinh thái từ đó định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn; Thứ hai làvai trò chủ thể hoạt động của con người trong hệ sinh thái nhân văn Trên cơ
sở nhận thức được các quy luật của tự nhiên, con người cần điều khiển mộtcách có ý thức hoạt động của mình nhằm tác động, cải biến giới tự nhiênnhưng vẫn đảm bảo tính cân bằng, ổn định của hệ thống tự nhiên – con người– xã hội; Thứ ba là vai trò chủ thể giáo dục ý thức sinh thái nhân văn của conngười trong hệ sinh thái nhân văn Giáo dục ý thức nhân văn giúp định hướngnhận thức, hành vi và hoạt động của con người và xã hội loài người theohướng cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn một cách tự giác
Với vị trí và vai trò quan trọng như vậy, việc phát huy tính chủ thểcủa con người trong hệ sinh thái nhân văn có ý nghĩa vô cùng to lớn trongviệc phát triển bền vững hệ sinh thái đô thị nói riêng, hệ sinh thái nhânvăn nói chung
Trang 38Chương 2: TÍNH CHỦ THỂ CỦA CON NGƯỜI TRONG CẤU TRÚC CỦA HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở VÙNG ĐÔ THỊ MỚI ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khảo sát tính chủ thể của con người trong cấu trúc sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Đan Phượng là một huyện trực thuộc thành phố Hà Nội từ tháng8/2008, theo Nghị quyết 15–NQ/QH Là một huyện đồng bằng, nằm ở phíaTây Bắc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 18km, huyện Đan Phượng códiện tích tự nhiên là 7735,48 ha Về vị trí tiếp giáp, phía Bắc của huyện giáphuyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp huyện Hoài Đức; phía Đônggiáp huyện Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Phúc Thọ Huyện Đan Phượngđược chia thành 16 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn bao gồm: thị trấnPhùng, Đan Phượng, Đồng Tháp, Hạ Mỗ, Hồng Hà, Liên Hà, Liên Hồng,Liên Trung, Phương Đình, Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập, Thọ An, ThọXuân, Thượng Mỗ và Trung Châu
Trong Quyết định số 2843/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạchchung xây dựng huyện Đan Phượng đến năm 2030 của Chủ tịch Ủy ban nhândân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã ký, thì theo Quy hoạch chung xâydựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, huyện Đan Phượng được xác định: Phầnphía Đông vành đai 4 là khu đô thị sinh thái gắn với các dịch vụ công chấtlượng cao về y tế, giáo dục thuộc phân khu đô thị S1; phần phía Tây vành đai
4 nằm trong khu vực hành lang xanh
Đối với khu đô thị hướng phát triển đô thị sinh thái tập trung gắn vớitrục phát triển mới Tây Thăng Long, tập trung phát triển dân cư mật độ cao.Đồng thời phát triển một tổ hợp dịch vụ công cộng với các bệnh viện cao cấp,đào tạo nghề dịch vụ du lịch, chuyển giao công nghệ… Tại các khu đô thị sẽkhai thác các không gian cây xanh, mặt nước vùng nông nghiệp năng suất cao
Trang 39vào tổ chức mạng lưới không gian đô thị; xác định các vùng đệm bảo vệ sựphát triển của các làng xóm trong khu vực phát triển đô thị; chuyển đổi các cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm sang các chức năng dân dụng
Khu hành lang xanh, phát triển các mô hình trang trại, nghiên cứu khoahọc phục vụ nông nghiệp Khoanh vùng bảo vệ và bảo tồn các làng nghềtruyền thống, vùng đa dạng sinh thái, vùng nông nghiệp năng suất cao; pháttriển hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật cho toàn đô thị, đặc biệt là hệthống giao thông kết nối liên đô thị
Khu vực làng xóm, dân cư nông thôn hướng phát triển làng xã theo môhình nông thôn mới, bổ sung hoàn thiện hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹthuật và cơ sở sản xuất Phát triển các trung tâm dịch vụ, hỗ trợ sản xuất Bảo
vệ các không gian cảnh quan di tích tôn giáo, tín ngưỡng Khắc phục triệt đểcác vấn đề gây ô nhiễm môi trường
Khu vực thị trấn huyện lỵ sẽ hình thành các trung tâm dịch vụ côngcộng, không gian xanh, công viên vui chơi giải trí, dịch vụ hỗ trợ du lịch, hỗtrợ sản xuất…
Theo Quyết định này, diện tích đất phát triển đô thị và đất tự nhiênnông thôn sẽ được xác định bảo đảm phù hợp với Quy hoạch chung xây dựngThủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Dự báo tổng quy
mô dân số huyện Đan Phượng đến năm 2030 khoảng 183.000 người, trongđó: Khu vực đô thị khoảng 63.000 người, khu vực nông thôn 120.000 người
Nhìn chung, với tầm nhìn quy hoạch và phát triển huyện Đan Phượngnhư trên của thành phố Hà Nội, trong tương lai, Đan Phượng sẽ trở thành mộtvùng đô thị mới với sự phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội Để thựchiện có hiệu quả quyết định xây dựng và phát triển trên của Ủy ban nhân dânthành phố Hà Nội đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu, đánh giá đúng thực
Trang 40trạng và hoạch định chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái nhân văn củavùng theo hướng phát triển bền vững.
2.1.1 Đặc điểm của vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội 2.1.1.1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
Đan Phượng là vùng trũng của đồng bằng sông Hồng, đất đai bằngphẳng Địa hình có độ dốc biến đổi từ phía Tây Bắc sang Đông Nam Cơ bảnđịa hình của huyện được chia thành hai vùng chính là vùng bãi bồi và vùngđồng bằng
Tài nguyên đất đai của vùng: theo Báo cáo thuyết minh thống kê đấtđai năm 2014 của huyện Đan Phượng, số liệu thống kê đất đai đến ngày01/01/2014, tổng địa giới hành chính huyện Đan Phượng là: 7.735,48 ha.Trong đó: đất nông nghiệp là 3523,00 ha; đất phi nông nghiệp là 3346,98 ha;đất chưa sử dụng là 865,50 ha Đan Phượng nằm trong vùng châu thổ sôngHồng nên đất đai của huyện chủ yếu được sự bồi lắng của phù sa với 2 nhómđất chính là đất phù sa và đất glây
Nhóm đất phù sa (Fluvisoils) có tổng diện tích 4147,96 ha, chiếm95,64% tổng diện tích đất của huyện, phân bố ở tất cả các xã trong huyện.Nhóm đất này chia làm 4 loại: Một là, đất phù sa được bồi đắp hàng nămtrung tính, ít chua Diện tích: 1.174,37 ha, chiếm 27,08% diện tích vùng, phân
bố nhiều nhất ở xã Hồng Hà, Trung Châu, Thọ An, Liên Hồng, Liên hà, LiênTrung và Thọ Xuân Loại đất này đang được sử dụng để trồng các loại câymàu, một số diện tích được dùng cho trồng đay; Hai là, đất phù sa ít được bồi,trung tính, ít chua Diện tích: 365,97 ha, chiếm 8,44% diện tích vùng, phân bố
ở các xã: Đồng Tháp, Thọ An, Phương Đình, Song Phượng và Trung Châu.Đây là loại đất tốt, thích hợp với phát triển cây màu nhiều vụ trong năm, đặcbiệt là rau, ngô, đậu tương và các loại cây ưa sinh thái khô, không ngập nước;
Ba là, đất phù sa trung tính có diện tích: 1.1917,41 ha Chiếm 44,21% diện