1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

118 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm TTCK bùng nổ, cũng đã có khá nhiều tác giả viết về chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam, nay, thông qua đề tài: “Tăng cường tính hiệu quả c

Trang 1

LÊ THỊ QUỲNH YÊN

TĂNG CƯỜNG TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN NGỌC ẢNH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

{

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các thông tin

và số liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, trung thực và được phép công bố

Tác giả luận văn

Lê Thị Quỳnh Yên

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC CÔNG THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 CỔ TỨC 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc chi trả cổ tức 5

1.1.3 Giá trị của cổ tức 5

1.1.4 Lãi suất hay cổ tức 5

1.2 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 6

1.2.1 Khái niệm 6

1.2.2 Đo lường chính sách cổ tức 6

1.2.1.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức 6

1.2.1.2 Tỷ suất cổ tức 7

1.2.3 Quá trình trả cổ tức 9

1.2.4 Các chính sách chi trả cổ tức 11

1.2.5 Các phương thức trả cổ tức 13

1.2.5.1 Trả cổ tức bằng tiền mặt 13

1.2.5.2 Trả cổ tức bằng cổ phiếu 14

1.2.5.3 Cổ tức trả bằng tài sản 14

1.2.5.4 Mua lại cổ phần 14

Trang 4

1.3 PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU 15

1.3.1 Cơ sở đánh giá quy mô của một đợt chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 15

1.3.2 Những thuận lợi và bất lợi của phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu 15

1.3.2.1 Những điểm thuận lợi của phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu 16

1.3.2.2 Những điểm bất lợi của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 18 1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của Doanh nghiệp 19

1.4 THỜI KỲ CỦA TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TÍNH HIỆU QUẢ PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 34

2.1 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2005 – NAY 34

2.1.1 Về môi trường pháp lý 34

2.1.2 Về thể chế 36

2.1.3 Về quy mô thị trường 37

2.2 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THỜI GIAN VỪA QUA 41

2.2.1 Tổng quan chung về tình hình chi trả cổ tức toàn thị trường 41

2.2.2 Thống kê tỷ lệ lợi nhuận chi trả cổ tức 44

2.2.3 Thống kê tỷ suất chi trả cổ tức 47

2.3 PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU 50

2.3.1 Thực trạng việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết tại Việt Nam 51

2.3.1.1 Sự gia tăng của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 51

2.3.1.2 Có sự tập trung trong việc lựa chọn phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết 53

2.3.1.3 Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu cao hơn nhiều so với tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt 55

2.3.1.4 Phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ cao khá phổ biến và được nhà đầu tư đánh đồng như một hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu 56

2.3.2 Tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các Công ty niêm yết giai đoạn 2005 – 2010 59

2.3.2.1 Tác động đến giá cổ phiếu 59

Trang 5

2.3.2.2 Tác động đến hiệu quả sử dụng vốn 62

2.3.2.3 Tác động đến khả năng thanh toán 63

2.3.2.4 Tác động đến hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính 65

2.3.2.5 Tác động đến hiệu quả hoạt động đầu tư dự án 67

2.3.2.6 Tác động đến các chỉ tiêu sinh lời 69

2.3.3 Những tồn tại rút ra từ thực trạng trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 73

2.3.3.1 Chưa quan tâm tới các yếu tố tác động khi ra quyết định trả cổ tức bằng cổ phiếu 73

2.3.3.2 Chưa có kế hoạch dài hạn đối với các quyết định trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các Công ty niêm yết 73

2.3.3.3 Chưa có sự cân bằng giữa lợi ích cổ đông và lợi ích Công ty trong các đợt chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 75

2.3.3.4 Những quan điểm lệch lạc về việc sử dụng phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu 76

2.3.3.5 Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu quá cao 77

2.3.3.6 Chưa minh bạch thông tin dẫn đến làm lợi cho một nhóm cổ đông 77 2.3.3.7 Phương thức chi trả cổ tức chưa đặt trong mối liên hệ với thuế TNCN phải nộp 78

CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 81

3.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU 81

3.2 CÂN NHẮC MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CỔ TỨC HỢP LÝ TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU 83

3.3 CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ NHẰM TĂNG CƯỜNG TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 87

3.3.1 Lập kế hoạch tài chính dài hạn bao gồm trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các Công ty niêm yết 87

3.3.2 Phát hành cổ phiếu trả cổ tức theo đặc điểm chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp 91

3.3.3 Lựa chọn tỷ lệ chi trả hợp lý 94

Trang 6

3.3.4 Hạn chế những quan điểm lệch lạc về trả cổ tức bằng cổ phiếu 98 3.3.5 Lựa chọn phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu trên cơ sở xem xét mối quan hệ với thuế thu nhập 99

3.3.5.1 Thực tiễn việc đánh thuế thu nhập lên cổ tức tại Việt Nam 100 3.3.5.2 Lựa chọn phương thức chi trả cổ tức trong mối liên hệ với thuế

TNCN 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

EPS : Thu nhập trên mỗi cổ phần

HNX : Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HOSE : Sở Giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh

TTLKCK : Trung tâm lưu ký Chứng khoán

UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Upcom : Thị trường Giao dịch cổ phiếu của Công ty đại chúng chưa niêm yết VSD : Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam

Trang 8

Bảng 1 – 4 Danh sách các Công ty nhỏ trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ

tức cao trong năm 2010 28

Bảng 2 – 1 Top các Công ty có mức chi trả cổ tức cao nhất từ năm 2005 – 2010

44

Bảng 2 – 2 Top các Công ty niêm yết trả cổ tức cao, ổn định 46 Bảng 2 – 3 So sánh tỷ suất cổ tức của TTCK Việt Nam và S&P 500 49 Bảng 2 – 4 Top 10 các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu giai đoạn 2005 – 2010

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

{

Biểu đồ 1 – 1 Tình hình biến động của tỷ suất cổ tức các Công ty S&P 500

giai đoạn 1881 – nay 8

Biểu đồ 2 – 1 Số lượng Công ty niêm yết trên 2 sàn HOSE, HNX giai đoạn 2005 –

Biểu đồ 2 – 4 Tỷ lệ lợi nhuận chi trả cổ tức của các Công ty Niêm yết 45

Biểu đồ 2 – 5 Cơ cấu tỷ lệ chi trả cổ tức của các Công ty niêm yết giai đoạn

55

Biểu đồ 2- 11 Tình hình gia tăng phát hành cổ phiếu thưởng của các Công ty 57 Biểu đồ 2- 12 Cơ cấu tỷ lệ chi trả cổ phiếu thưởng của các Công ty Niêm yết 58 Biểu đồ 2 – 13 Diễn biến giá cổ phiếu ILC từ ngày 01/02/2007 – 29/03/2007 59 Biểu đồ 2 – 14 Diễn biến thị giá cổ phiếu S99 trước và sau các đợt chi trả cổ tức

trả cổ tức bằng cổ phiếu giai đoạn 2005 – 2010 70

Biểu đồ 2 – 19 Tình hình biến động ROE – ROA bình quân toàn thị trường

giai đoạn 2005 – 2010 71

Biểu đồ 2 – 20 Diễn biến EPS bình quân từ năm 2005 – 2010 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

{

Sơ đồ 1-1 Quy trình chi trả cổ tức .11

Sơ đồ 3-1 Quy trình ra quyết định trả cổ tức 90

DANH MỤC CÁC CÔNG THỨC

{

Công thức 1.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức 6 Công thức 1.2 Tỷ suất cổ tức 7 Công thức 1.3 Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng

quyền 10

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thị trường Chứng khoán Việt Nam – với lịch sử hình thành còn quá non trẻ

so với sự phát triển lâu đời của các nền tài chính lớn trên thế giới – đã thực sự đối mặt với không ít khó khăn khi liên tục đón nhận nhiều biến động, thử thách xuất phát từ những nguyên nhân cả trong và ngoài nước những năm vừa qua

Sau thời gian tăng trưởng quá nóng với các đợt phát hành chứng khoán liên tục cùng số lượng Công ty đăng ký niêm yết ngày càng nhiều, nguồn cung sản phẩm trên thị trường cũng theo đó gia tăng đột biến Tính đến thời điểm 30/06/2011, tổng cộng đã có 288 Công ty niêm yết trên sàn HOSE, 384 Công ty niêm yết trên sàn HNX và 127 Công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên sàn UpCom, tăng hơn 19 lần so với năm 2005

Với lượng cung dồi dào và phong phú, những năm vừa qua, nhà đầu tư càng

có thêm nhiều sự lựa chọn cho danh mục của mình nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho các Công ty niêm yết Để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, chi trả cổ tức là một trong những chính sách được rất nhiều Công ty cổ phần áp dụng Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, khi thị trường vốn trở nên khó tính hơn với các đợt phát hành, các Công ty bắt đầu đẩy mạnh việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn mà vẫn đảm bảo mức cổ tức cho các cổ đông Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hiện nay tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực gì? Tỷ lệ chi trả có hợp lý hay không? Nguồn vốn được sử dụng như thế nào? Quyền lợi cổ đông sau mỗi đợt chi trả ra sao? Đang là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu Trong những năm TTCK bùng nổ, cũng đã có khá nhiều tác giả viết về chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam,

nay, thông qua đề tài: “Tăng cường tính hiệu quả của Phương thức chi trả cổ

tức bằng cổ phiếu tại các Công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam”, tôi xin được đi sâu phân tích thêm phương thức chi trả cổ tức bằng

cổ phiếu nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản nêu trên

Trang 12

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Với những vấn đề đã đặt ra, có thể khái quát mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm:

§ Đánh giá khái quát thực trạng chi trả cổ tức nói chung của các Công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010;

§ Đánh giá các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết;

§ Phân tích thực trạng việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết trong khoảng thời gian từ năm 2005 – 2010;

§ Phân tích những ưu điểm và hạn chế trong việc lựa chọn phương thức chi trả

cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết thời gian qua;

§ Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn của chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 để đưa ra những giải pháp gợi ý nhằm nâng cao hiệu quả của các đợt chi trả cổ tức bằng cổ phiếu trong tương lai

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam từ năm 2005 đến hết năm 2010 bởi trước năm 2005, số lượng các Công ty niêm yết ít ỏi, chính sách chi trả cổ tức chưa phong phú và sự ảnh hưởng của những chính sách này lên giá cổ phiếu và quyền lợi của nhà đầu tư là không đáng kể

Giới hạn đối tượng nghiên cứu là các Công ty niêm yết vì hiện nay, ngoài Ngân hàng thương mại, chỉ có các Công ty niêm yết mới bị bắt buộc công bố thông tin về các đợt chi trả cổ tức; số liệu báo cáo tài chính cũng được cập nhật từng quý

và có tính minh bạch cao nhất trong hệ thống các doanh nghiệp tại Việt Nam

§ Các chính sách pháp luật hiện hành điều chỉnh đến cổ tức và các phương pháp phân phối lợi nhuận của các Công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam

Trang 13

§ Các số liệu, hình thức cổ tức đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng của Công ty niêm yết ở Việt Nam từ năm 2005 – 2010

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở lý thuyết về chính sách

cổ tức và những diễn biến thực tế trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam nhằm đưa ra nhận xét, đánh giá khái quát về tình hình chi trả cổ tức, đi sâu vào phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Qua đó, đề xuất các phương án cũng như biện pháp nâng cao tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Công ty niêm yết nói riêng và các Công ty cổ phần nói chung

Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp như:

§ Phương pháp thống kê nhằm tập hợp các số liệu và đánh giá thực trạng

§ Phương pháp mô tả nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về những chính sách cổ

tức đang được áp dụng tại các Công ty niêm yết

§ Phương pháp lịch sử nhằm so sánh, đối chiếu các thông tin trong quá khứ

để tìm hiểu nguyên nhân và có các kết luận phù hợp

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm:

§ Số liệu sơ cấp: số liệu chi trả cổ tức của các Công ty niêm yết đã công bố

trong Bản cáo bạch cũng như trong các Bản tin Chứng khoán của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) qua các năm Trong đó, số lượng Công ty niêm yết được chốt đến cuối tháng 06/2011: tương ứng 288 Công ty ở sàn HOSE và 384 Công ty ở sàn HNX

§ Số liệu thứ cấp: các thống kê về lạm phát, lãi suất của Tổng cục Thống kê,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các số liệu thống kê cổ tức cũng như các phân tích về chính sách cổ tức của các tác giả, các chuyên gia trong và ngoài nước, và các phân tích, tổng hợp số liệu về thị trường chứng khoán Việt Nam của các Công ty chứng khoán, quỹ đầu tư

Trang 14

6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được trình bày theo kết cấu sau:

§ CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

§ CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TÍNH HIỆU QUẢ PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

§ CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

e Ø f 1.1 CỔ TỨC

1.1.1 Khái niệm

Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của

một Công ty cổ phần Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc chi trả cổ tức

Xét trên khía cạnh kinh tế, bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào đứng ra thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thì mục tiêu quan trọng nhất của họ là thu được lợi nhuận Khi Công ty hoạt động hiệu quả và tạo ra lợi nhuận, một phần lợi nhuận được tái đầu tư vào việc kinh doanh và lập các quỹ dự phòng; phần lợi nhuận còn lại được chi trả cho các cổ đông, gọi là cổ tức

Việc thanh toán cổ tức làm giảm lượng tiền lưu thông phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhưng là cần thiết để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư vì

cổ tức là một trong những cách thức cơ bản nhất để việc kinh doanh thực hiện được nhiệm vụ chuyển lợi nhuận của Công ty trở thành thu nhập của cổ đông

1.1.3 Giá trị của cổ tức

Giá trị của cổ tức được xác định theo từng năm tại Đại hội cổ đông thường niên của Công ty, và nó được thông báo cho các cổ đông hoặc là bằng lượng tiền mặt mà họ sẽ nhận được tính theo số cổ phiếu mà họ đang sở hữu hay số phần trăm trong lợi nhuận của Công ty

Đối với cùng một loại cổ phiếu (cổ phiếu ưu đãi hoặc cổ phiếu phổ thông) thì cổ tức được chia là như nhau Sau khi đã được thông báo, cổ tức trở thành khoản phải trả của Công ty

1.1.4 Lãi suất hay cổ tức

Tại Mỹ, các hiệp hội tín dụng nói chung sử dụng thuật ngữ "cổ tức" để nói đến các thanh toán lãi suất mà họ thực hiện cho những người gửi tiền Chúng không thể được coi là cổ tức theo nghĩa thông thường của nó và không bị đánh

Trang 16

thuế như cổ tức; chúng chỉ là lãi suất tiền gửi Các hiệp hội tín dụng gọi chúng là

cổ tức vì về mặt kỹ thuật thì các hiệp hội tín dụng được sở hữu bởi các thành viên của nó, và lãi suất tiền gửi vì vậy là sự thanh toán cho chủ sở hữu

Trên thực tế, các nhà đầu tư thường so sánh cổ tức với lãi suất tiền gửi ngân hàng, coi như đó là một kênh đầu tư thay thế cho việc góp vốn vào Công ty

Do vậy, để có thể hấp dẫn các nhà đầu tư, tỷ lệ chi trả cổ tức thường phải cao hơn lãi suất tiền gửi của ngân hàng

1.2 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC

1.2.1 Khái niệm

Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận sau thuế của Công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông

Trong khi lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần thì cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên

Một chính sách cổ tức bao gồm 2 nội dung chính là mức cổ tức và thời gian trả cổ tức

1.2.2 Đo lường chính sách cổ tức

1.2.1.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức là phần trăm của thu nhập được dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông Nói cách khác, tỷ lệ chi trả cổ tức phản ánh mức cổ tức mà cổ đông được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập trong kỳ do Công ty tạo ra Các Công ty đang ở trong giai đoạn phát triển sung mãn thường có một tỷ

lệ chi trả cổ tức cao hơn các giai đoạn khác

Tỷ lệ chi trả cổ tức được tính như sau:

(1.1)

Trang 17

Hoặc tương đương với:

Ví dụ:

Cổ tức mỗi cổ phần năm 2010 của Công ty cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM) : 2.000 đồng/cổ phần Thu nhập mỗi cổ phần trên Báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh năm 2010 : 4.499 đồng/cổ phần

Điều này cho thấy, Công ty cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí đã sử dụng 44,45% thu nhập để trả cổ tức cho các cổ đông và giữ lại hơn 55% thu nhập phục vụ cho việc phát triển kinh doanh

Tỷ suất cổ tức là một cách để đo lường dòng tiền thu được cho mỗi đồng đầu tư vào một đơn vị vốn là bao nhiêu Những nhà đầu tư mong muốn nhận được một mức tối thiểu cho dòng tiền từ danh mục của mình có thể đầu tư vào những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao và ổn định

Để giải thích rõ hơn, ta có thể xem xét ví dụ sau:

(đồng/cổ phần)

Giá thị trường 31/12/2010

Tỷ suất

cổ tức Công ty CP Sữa Việt Nam (VNM) 5.000 86.000 đồng 5,81%

Công ty cổ phần FPT (FPT) 1.500 64.500 đồng 2,33%

(1.2)

Trang 18

Như vậy, nếu giả sử các yếu tố khác là như nhau, một nhà đầu tư tìm kiếm khoản lợi nhuận tăng thêm từ cổ tức cho thu nhập của anh ta sẽ lựa chọn đầu tư vào cổ phiếu VNM hơn là cổ phiếu FPT bởi vì: với mỗi đồng vốn bỏ ra, Vinamilk

sẽ mang lại cho nhà đầu tư một khoản thu nhập từ cổ tức nhiều hơn là FPT

Biểu đồ 1 – 1 Tình hình biến động của tỷ suất cổ tức các Công ty S&P 500

giai đoạn 1881 – nay 1

Dễ dàng nhận thấy tỷ suất cổ tức của S&P 500 ngày càng biến động theo chiều hướng giảm với mức thấp kỷ lục vào tháng 08/2000 (1,11%) Cùng với tình hình biến động của nền kinh tế vĩ mô, sự né tránh các khoản thuế thu nhập đánh vào cổ tức cũng như sự gia tăng đáng kể về thị giá cổ phiếu theo thời gian thì xu thế suy giảm của tỷ suất cổ tức cũng là điều tất yếu Tính từ đầu năm 2011 đến nay, tỷ suất cổ tức bình quân của các Công ty S&P 500 chỉ duy trì xung quanh mức 2% với top 10 Công ty có mức DY cao nhất cũng chỉ giao động trong khoảng 5,80% - 10,39% Chi tiết như bảng thống kê dưới đây:

Trang 19

Bảng 1 – 1 Top 10 Công ty có tỷ suất cổ tức cao nhất của S&P 500 tính đến

thời điểm 28/08/2011 2

1 Frontier Communications Corporation FTR 10,39%

2 CenturyLink, Inc CTL 8,42%

3 Windstream Corporation WIN 8,29%

4 Pitney-Bowes, Inc PBI 7,76%

5 R.R Donnelley & Sons Company RRD 7,31%

6 Altria Group, Inc MO 6,24%

7 Cincinnati Financial Corporation CINF 6,06%

9 Health Care REIT Inc HCN 5,88%

10 Reynolds American, Inc RAI 5,80%

1.2.3 Quá trình trả cổ tức

Ở hầu hết các doanh nghiệp, Hội đồng quản trị thường triệu tập các cuộc họp hàng quý hay hàng nửa năm để thẩm định thành quả vừa qua của doanh nghiệp và quyết định mức cổ tức chi trả cho kỳ tới Sau khi thống nhất được mức

cổ tức chi trả, Hội đồng quản trị sẽ đề xuất để Đại hội đồng cổ đông thông qua và tiến hành thanh toán theo trình tự như dưới đây:

§ Ngày công bố cổ tức: Vào ngày này, đợt chi trả cổ tức tiếp theo sẽ được

thông báo bởi Hội đồng quản trị của Công ty Nội dung thông báo sẽ bao gồm các thông tin như mức chi trả cổ tức, ngày giao dịch không hưởng quyền và ngày thanh toán cổ tức

Một khi đã được công bố, cổ tức trở thành nghĩa vụ nợ hợp pháp mà Công

Trang 20

định, từ đó dẫn đến những phản ứng của cổ đông bằng việc mua hay bán

cổ phiếu đó trên thị trường

§ Ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền: là ngày nếu nhà đầu tư

mua cổ phiếu sẽ được hưởng cổ tức

Sau ngày này, nhà đầu tư mua cổ phiếu thì sẽ không được hưởng cổ tức nhưng đổi lại, giá tham chiếu của cổ phiếu sẽ được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá và ngược lại

Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền được tính bằng giá đóng cửa của cổ phiếu trong phiên trước đó trừ đi giá trị cổ tức

§ Ngày chốt danh sách cổ đông hay ngày đăng ký cuối cùng: là ngày

Công ty khóa sổ, chốt danh sách những cổ đông được hưởng cổ tức Ở Việt Nam, do quy chế giao dịch là T+3 nên ngày chốt danh sách cổ đông thường sau 3 ngày so với ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền

§ Ngày thanh toán cổ tức: là ngày mà các cổ đông sẽ nhận được cổ tức

(thường là 3 - 4 tuần sau ngày chốt danh sách cổ đông)

Sơ đồ 1-1 Quy trình chi trả cổ tức

Ngày công bố

Ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền

Ngày chốt danh sách

Ngày thanh toán cổ tức

Trang 21

1.2.4 Các chính sách chi trả cổ tức

1.2.4.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động

Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động xác nhận rằng: một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi có các cơ hội đầu tư hứa hẹn mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi

Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách:

§ Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong

những năm có nhu cầu vốn cao Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm

cổ tức

§ Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do

đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào

đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số

nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp

Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các Công ty

“tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các Công ty đang trong giai đoạn sung mãn (bão hòa)

1.2.4.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định

Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định - được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác

Trang 22

Chính sách cổ tức ổn định được ưu tiên vì những lý do sau:

− Các nhà đầu tư cho rằng việc thay đổi chính sách cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin – họ đánh đồng các thay đổi trong mức cổ tức của doanh nghiệp với mức sinh lợi Cắt giảm cổ tức như một tín hiệu là tiềm năng lợi nhuận về dài hạn của doanh nghiệp đã sụt giảm và ngược lại một sự gia tăng trong lợi nhuận như một minh chứng rằng lợi nhuận tương lai sẽ gia tăng

− Nhiều cổ đông cần và lệ thuộc vào dòng cổ tức không đổi cho các nhu cầu lợi nhuận của mình Mặc dù họ có thể bán bớt cổ phần nhưng do chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ nên phương án này không thể thay thế hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn

− Các Giám đốc Tài chính nhận thấy một chính sách cổ tức tăng trưởng và

ổn định thường có xu hướng làm giảm sự lo lắng của nhà đầu tư về các dòng cổ tức tương lai Họ tin rằng các nhà đầu tư sẽ trả một giá cao hơn cho cổ phần Công ty chi trả cổ tức ổn định, do đó làm giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần của doanh nghiệp

− Cổ tức ổn định là một đòi hỏi mang tính pháp lý Nhiều định chế điều phối tài chính thường bị giới hạn về loại cổ phần thường mà họ được phép sở hữu Để đủ tiêu chuẩn liệt kê trong các danh sách hợp pháp này, một doanh nghiệp phải có một thành tích cổ tức liên tục và ổn định

1.2.4.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác

Ngoài ra, các Công ty còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như:

Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi: Nếu lợi nhuận của doanh

nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo

Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm: Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có

lợi nhuận hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc

Trang 23

cả hai Ngay cả khi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn

có thể trông cậy vào một mức chi trả cổ tức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổ tức thưởng cuối năm Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợi nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận được một mức cổ tức “bảo đảm” Tóm lại, hiện nay, có rất nhiều chính sách cổ tức để nhà quản trị lựa chọn cho phù hợp với tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp trên cơ sở thỏa mãn mức cổ tức yêu cầu của các cổ đông Với vai trò là một trong ba quyết định tài chính quan trọng, việc lựa chọn chính sách cổ tức cũng cần phải được xem xét kỹ lưỡng bởi nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông mà còn tác động sâu sắc tới sự phát triển của Công ty trong tương lai

1.2.5 Các phương thức trả cổ tức

1.2.5.1 Trả cổ tức bằng tiền mặt

Cổ tức tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà Công ty thanh toán cho chủ sở hữu tính trên một cổ phần

Chính sách cổ tức bằng tiền mặt có những điểm cần lưu ý như:

− Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán, tức giảm nguồn vốn chủ sở hữu

− Chi trả cổ tức bằng tiền mặt gây ra sự sụt giảm của giá cổ phiếu tương ứng với khoản cổ tức chi trả Ví dụ, khi Công ty thông báo sẽ chi trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 10%, các cổ đông có thể nhận thấy một sự sụt giảm 10% về giá trong cổ phiếu của Công ty – đây là kết quả của việc chuyển giao giá trị kinh tế từ cổ tức nhận được sang thị giá cổ phần

− Một hệ quả khác của chi cổ tức bằng tiền mặt là người nhận cổ tức phải chi trả thuế cho phần cổ tức được nhận, làm giảm giá trị kinh tế của khoản cổ tức đó

Trang 24

1.2.5.2 Trả cổ tức bằng cổ phiếu

Trả cổ tức bằng cổ phiếu là Công ty chi trả thêm cổ phần cho các cổ đông theo tỷ lệ nhất định và Công ty không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông Phương thức chi trả này mang một số đặc điểm chính như:

− Khi thực hiện giao dịch này không có sự thay đổi (tăng hay giảm) nào về vốn cổ đông cũng như tài sản của Công ty Về cơ bản, số lượng cổ phiếu sẽ tăng lên và làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên nhưng tỷ lệ nắm giữ của các

cổ đông hiện hữu không đổi

− Cổ tức bằng cổ phiếu, nói cách khác, là một sự gia tăng khối lượng cổ phần của Công ty bằng việc phát hành cổ phiếu mới cho cổ đông Giả sử, nếu Công ty thông báo chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 10%, điều này sẽ làm gia tăng số lượng cổ phần thêm 10% (1 cổ phần mới cho 10 cổ phần đang sở hữu); Nếu Công ty có 1 triệu cổ phiếu đang lưu hành thì sẽ có 100.000 cổ phiếu được tăng thêm

1.2.5.3 Cổ tức trả bằng tài sản

Đây là hình thức Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của Công ty khác do doanh nghiệp sở hữu Tuy nhiên, hình thức này rất hiếm xảy ra trong thực tiễn

1.2.5.4 Mua lại cổ phần

Theo chính sách cổ tức giữ lại thụ động, một doanh nghiệp có nhiều vốn hơn

số cần để đầu tư nên chi trả cổ tức tiền mặt cho các cổ đông Thay vì chi trả cổ tức tiền mặt, đôi khi một vài doanh nghiệp cũng mua lại các cổ phần đang lưu hành

Cổ phần được mua lại được gọi là cổ phần ngân quỹ (cổ phiếu quỹ) Từ giác

độ của cổ đông, việc mua lại cổ phần làm tăng lợi nhuận mỗi cổ phần đang lưu hành và cũng làm tăng giá cổ phần

Việc mua lại này có thể thực hiện theo nhiều thể thức khác nhau như:

− Chào mua với giá cố định (hay còn gọi là giá đệm, là một mức giá thường cao hơn giá thị trường);

Trang 25

− Mua lại cổ phần ở thị trường tự do;

− Mua lại cổ phần thông qua thương lượng riêng với những người nắm giữ lượng lớn các cổ phần…

1.3 PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU

1.3.1 Cơ sở đánh giá quy mô của một đợt chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

Theo một số nghiên cứu mới đây, sau khi tiến hành chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, mặc dù tổng mức vốn chủ sở hữu của cổ đông được duy trì như cũ, nhưng một chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu đòi hỏi ghi nhận một khoản đầu vào để chuyển giao nguồn tiền từ khoản mục lợi nhuận giữ lại sang khoản mục vốn góp cổ đông trên Bảng cân đối kế toán Khoản chuyển giao phụ thuộc vào việc liệu doanh nghiệp trả cổ tức bằng cổ phiếu là một chính sách nhỏ hay một chính sách lớn

Một chính sách trả cổ tức bằng cổ phiếu ở mức độ “nhỏ” khi mà số lượng

cổ phiếu mới được phát hành nhỏ hơn 20 – 25% tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành trước khi chi trả cổ tức, và ngược lại một chính sách cổ tức bằng cổ phiếu được coi là ở mức độ “lớn” khi mà số lượng cổ phiếu mới được phát hành lớn hơn 20 – 25% tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành trước khi chi trả cổ tức Vào ngày công bố trả cổ tức bằng cổ phiếu ở cấp độ “nhỏ”, một khoản đầu

vào được tạo nên để chuyển giá trị thị trường của cổ phiếu sắp được phát hành

từ khoản mục lợi nhuận giữ lại sang khoản mục vốn góp cổ đông trong nguồn vốn chủ sở hữu

Còn vào ngày công bố trả cổ tức bằng cổ phiếu ở cấp độ “lớn”, một

khoản đầu vào được tạo nên để chuyển mệnh giá của cổ phiếu sắp được phát

hành từ khoản mục lợi nhuận giữ lại sang khoản mục vốn góp cổ đông trong nguồn vốn chủ sở hữu

1.3.2 Những thuận lợi và bất lợi của phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu

Với một tỷ lệ cổ tức được định sẵn, nhà quản trị có rất nhiều phương thức chi trả cho cổ đông như đã trình bày ở mục 1.2.5 của Luận văn này Nhìn chung, trả cổ tức dưới hình thức nào cũng dẫn đến một sự sụt giảm trong thị giá cổ phiếu

Trang 26

đúng bằng tỷ lệ chi trả, tuy nhiên mỗi phương thức chi trả lại mang đến một số điểm lợi riêng cũng như những hạn chế đặc thù nhất định Do mục tiêu nghiên cứu của Luận văn hướng tới đi sâu vào phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, nên dưới đây tôi xin trình bày khái quát những điểm thuận lợi và bất lợi của việc lựa chọn cổ phiếu là hình thức phân phối cổ tức trên cơ sở các yếu tố tác động tới việc lựa chọn chính sách cổ tức và so sánh với phương thức chi trả cổ tức phổ biến là

bằng tiền mặt

1.3.2.1 Những điểm thuận lợi của phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu

v Đối với hoạt động của Công ty

Bảo toàn được lượng tiền mặt: Phát hành cổ phiếu cho phép các Công

ty công bố một đợt chi trả cổ tức mà không cần sử dụng tiền mặt, do vậy lượng tiền mặt này có thể được sử dụng để tài trợ cho những cơ hội đầu

tư có lợi nhuận và do đó Công ty có thể duy trì vị thế thanh khoản của mình Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp thực sự cần vốn để kinh doanh nhưng cổ đông cũng mong muốn thu được lợi ích sau quá trình đầu tư thì trả

cổ tức bằng cổ phiếu vừa giúp doanh nghiệp không phải san sẻ phần tiền mặt của mình mà cổ đông của họ vẫn nhận được một chút lợi ích nào đó

Hạn chế sự gia tăng của chi phí lãi vay: Mục đích của chi trả cổ tức là sự

hoàn lại tài sản cho cổ đông của Công ty Có hai hình thức chi trả cổ tức chủ yếu là bằng tiền mặt và bằng cổ phiếu Thay vì trả cổ tức bằng tiền mặt, dòng tiền hoạt động của Công ty sẽ bị sụt giảm, nếu chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, Công ty có thể sử dụng tiền cho những hoạt động kinh doanh của mình mà không cần phải trả lãi như trường hợp vay ngân hàng hay phát hành trái phiếu

Khắc phục khó khăn về tài chính và các hạn chế hợp đồng: Khi một Công

ty phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng về tiền mặt và không ở một vị thế phù hợp để thực hiện phân phối cổ tức bằng tiền; hoặc Công ty

đó bị hạn chế trả cổ tức bằng tiền mặt được thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 27

vay, cách duy nhất, hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu và duy trì sự tin tưởng của các cổ đông chính là phát hành cổ phiếu trả cổ tức

Chủ động về vốn đầu tư: Khi trả cổ tức bằng cổ phiếu, Công ty có thể giữ

lại các khoản lợi nhuận hoạt động, điều này không chỉ đảm bảo tính thanh khoản mà còn giúp Công ty sẵn sàng đón nhận các cơ hội đầu tư bất thường, đem lại lợi ích kinh doanh cho Công ty Bên cạnh đó, trả cổ tức bằng cổ phiếu làm gia tăng số lượng cổ phiếu của Công ty hay nói cách khác làm tăng vốn cổ phần, giúp Công ty ổn định tình hình tài chính, tạo điều kiện cho việc thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu, kinh doanh hiệu quả

Mở rộng thị trường cổ phiếu: Nếu thị giá cổ phiếu của Công ty là quá

cao, nó có thể không hấp dẫn các nhà đầu tư nhỏ Bằng cách phát hành cổ phiếu trả cổ tức, tỷ lệ cổ tức giảm, giá cổ phiếu trên thị trường cũng giảm đến mức mong muốn và do đó hoạt động giao dịch sẽ tăng lên, giúp các nhà đầu tư nhỏ có cơ hội đầu tư tiền vào cổ phiếu giá thấp và thị trường cổ phiếu của Công ty được mở rộng

Tiết kiệm chi phí phát hành: Chi phí phát hành cổ tức bằng cổ phiếu

thưởng là thấp nhất vì hình thức phát hành này không cần trả phí bảo lãnh phát hành, phí môi giới Cổ đông hiện hữu được phân phối cổ phiếu theo tỷ lệ nắm giữ hiện tại của họ Chính vì thế, trả cổ tức bằng cổ phiếu có chung đích đến với phát hành cổ phiếu tăng vốn nhưng chi phí phát hành lại thấp hơn rất nhiều

v Đối với lợi ích cổ đông

Không phải trả tiền mặt cho lượng cổ phiếu mới phát hành: Bằng việc nhận

những cổ phiếu mới phát hành, mỗi cổ đông sẽ có cơ hội được hưởng một giá trị sở hữu tăng lên do vốn cổ phần của Công ty tăng lên mà không phải

bỏ tiền ra mua cổ phần Ví dụ, nếu một cổ đông sở hữu 100.000 đơn vị tiền của một Công ty có số vốn cổ phần 1.000.000 đơn vị tiền (tương đương tỷ lệ

sở hữu 10%), sau khi Công ty phát hành 5% cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm gia

Trang 28

tăng giá trị vốn cổ phần của Công ty lên 1.050.000 đơn vị tiền và làm tăng giá trị sở hữu của cổ đông lên 105.000 đơn vị tiền (vẫn tương đương tỷ lệ sở hữu là là 10%) nhưng cổ đông đó không phải bỏ ra 5.000 đơn vị tiền mặt

Trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thuế: Do cổ tức bằng cổ phiếu không bị

đánh thuế ngay tại thời điểm nhận cổ tức như các khoản thu nhập khác, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là một biện pháp hữu hiệu giúp cổ đông của Công

ty giãn được thời gian nộp các khoản thuế thu nhập như trường hợp nhận

cổ tức bằng tiền mặt, và cổ phiếu có thể được giữ thay cho tiền

Thêm sự lựa chọn cho cổ đông: Sau khi chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, giá trị

của Công ty vẫn giữ nguyên, nhưng giá cổ phiếu sẽ giảm xuống để điều chỉnh cho số cổ tức chi trả Ích lợi của chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là sự lựa chọn Nhà đầu tư có thể giữ cổ phiếu mới và hy vọng rằng Công ty có thể sẽ sử dụng số tiền không trả cổ tức đó để đem lại một mức thu nhập cao hơn hoặc cổ đông cũng có thể bán bớt số cổ phiếu mới đó để gia tăng

cổ tức bằng tiền của mình

Có cơ hội gia tăng cổ tức bằng tiền mặt trong tương lai: Khi một Công

ty thực hiện chính sách trả cổ tức ổn định và tiếp tục theo đuổi chính sách này cả sau khi phát hành cổ phiếu, cổ đông sẽ nhận được một khoản cổ tức bằng tiền mặt lớn hơn trong tương lai Hơn nữa, chính điều này có thể tạo một ảnh hưởng thuận lợi đến giá của cổ phiếu trên thị trường

Tạo dấu hiệu tốt trên thị trường: Việc công bố chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

có thể đem đến một hiệu ứng tâm lý thuận lợi đối với cổ đông Nó gửi gắm

ấn tượng về sự thịnh vượng của Công ty đồng thời giúp cho việc gia tăng giá trị vốn hóa của Công ty trên thị trường

1.3.2.2 Những điểm bất lợi của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

Làm giảm sự thu hút đối với cổ đông nếu áp dụng trong thời gian dài: Cổ

tức bằng cổ phiếu có tính lợi ích, tuy nhiên, nếu Công ty duy trì chính sách chi trả cổ tức này trong thời gian dài thì nó sẽ không cung cấp cho các cổ

Trang 29

đông dòng thu nhập đều đặn như là cổ tức bằng tiền mặt, và do đó có thể làm giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trường, nhất là khi thị trường có nhiều nhà đầu tư ưa chuộng được nhận tiền mặt cho những đợt chi trả cổ tức

Áp lực lên chỉ tiêu sinh lời: Trả cổ tức bằng cổ phiếu làm gia tăng lượng

vốn cổ phần, điều này gây áp lực lên các chỉ tiêu sinh lời của Doanh nghiệp, nhất là khi Công ty không có những cơ hội đầu tư hấp dẫn để nâng cao lợi nhuận

Hạn chế đầu tư của cổ đông: Khi Công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, sẽ

là một sự hạn chế đầu tư cho cổ đông của Công ty đó vì không được tái đầu tư cổ tức bằng tiền của mình cho một kênh đầu tư khác

Có thể không đem lại lợi ích về thu nhập cho cổ đông: Trong trường hợp

các cổ đông đã nhận cổ phiếu phát hành thêm thay cho cổ tức nhưng tình hình Công ty không tốt hơn sau khi chia cổ tức bằng cổ phiếu nên giá mỗi

cổ phiếu thường giảm Hay nói cách khác, vì Công ty vẫn như trước khi chia cổ tức bằng cổ phiếu, tổng giá trị thị trường của Công ty giữ nguyên nhưng bởi vì có thêm n% cổ phiếu lưu hành nên mỗi cổ phiếu sẽ bị giảm giá Với phần trăm cổ phần tăng thêm mà mỗi cổ đông nhận được và giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu giảm xuống, mỗi cổ đông thường kết thúc với tổng giá trị thị trường đúng bằng thời điểm trước khi chia cổ tức

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của Doanh nghiệp

Một chính sách cổ tức được Hội đồng quản trị quyết định dựa trên sự cân nhắc kỹ càng các yếu tố tác động Về cơ bản, có một số yếu tố chính tác động đến việc lựa chọn phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu của Doanh nghiệp như sau:

1.3.3.1 Yếu tố nội sinh

v Khả năng thanh khoản

Chi trả cổ tức là dòng tiền chi ra, vì vậy, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức Thực tế cho

Trang 30

thấy, ngay cả khi một doanh nghiệp đã từng có quá khứ là tái đầu tư lợi nhuận cao, số dư lợi nhuận giữ lại lớn, vẫn có thể không có khả năng chi trả cổ tức nếu không có đủ tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt Khả năng thanh khoản là vấn đề luôn được nhiều doanh nghiệp quan tâm và thường trở nên hết sức nhạy cảm trong giai đoạn kinh doanh gặp khó khăn, khi cả lợi nhuận và dòng tiền đều sụt giảm Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng có nhiều các cơ hội đầu tư sinh lợi cũng thường thấy khó khăn khi phải vừa duy trì đủ thanh khoản, vừa phải chi trả cổ tức cùng một lúc

Do tính thanh khoản của Công ty phụ thuộc rất lớn vào các quyết định đầu

tư và quyết định tài trợ., cho nên, nếu Công ty bị rơi vào tình trạng thiếu tiền mặt

và khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính của Công ty còn hạn chế thì chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nên được sử dụng nhằm mục đích bảo toàn lượng tiền mặt tại Công ty, đồng thời tạo điều kiện cho cổ đông có cơ hội nhận được những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai

v Tính ổn định của thu nhập

Một doanh nghiệp có một lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵn lòng chi trả

cổ tức cao hơn một doanh nghiệp có thu nhập không ổn định Sự ổn định của các khoản thu nhập phụ thuộc rất lớn vào tính chất của lĩnh vực kinh doanh và do đó, tính chất của lĩnh vực kinh doanh có một sự liên quan mật thiết đến chính sách cổ tức, cụ thể: những nhóm ngành có thu nhập ổn định sẽ giúp nhà quản trị tính toán được một chính sách cổ tức chắc chắn hơn những nhóm ngành có các dòng thu nhập thất thường bởi việc dự báo các khoản tiết kiệm cũng như thu nhập của những ngành này khá dễ dàng

Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực hàng hóa thiết yếu thường ít phải gánh chịu sự dao động của thu nhập hơn là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực hàng xa xỉ và hàng đặc phẩm Chính vì vậy, những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thiết yếu thường có xu hướng trả cổ tức bằng tiền mặt và các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kém ổn định hơn tùy thuộc vào tình hình tài chính cụ thể thì bên cạnh trả cổ tức bằng tiền mặt nên trả cổ tức bằng cổ phiếu

Trang 31

để giảm thiểu sự rủi ro trong trường hợp thị trường có biến động hoặc Công ty có những nhu cầu khẩn cấp về vốn

v Khả năng vay mượn

Như đã nói ở trên, khả năng thanh khoản là rất cần thiết cho doanh nghiệp không chỉ trong việc bảo vệ cho doanh nghiệp trong trường hợp khủng hoảng tài chính mà nó còn cung cấp cho doanh nghiệp một khả năng linh hoạt cần thiết để tận dụng các cơ hội đầu tư và tài chính bất thường Để đạt được khả năng linh hoạt và an toàn tài chính, doanh nghiệp có thể có nhiều cách khác nhau như vay

nợ hay tham gia vào các thị trường tài chính

Những doanh nghiệp lớn, có uy tín thường có thể đi trực tiếp vào các thị trường tín dụng bằng một phát hành trái phiếu hay bán thương phiếu và nhờ đó,

có nhiều khả năng chi trả cổ tức Ngược lại, những doanh nghiệp nhỏ, có cổ phần được kiểm soát chặt chẽ và ít giao dịch thường xuyên, khó khăn khi bán cổ phần thường mới trên thị trường thì việc chi trả cổ tức thường không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, do vậy, thường có xu hướng xây dựng nguồn dự trữ vốn bằng cách giảm tỷ lệ trả cổ tức hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu để đáp ứng bất cứ nghĩa vụ tài chính nào đòi hỏi kinh phí lớn

v Những khoản trả nợ vay

Một Công ty có vay nợ thường công bố sẽ để một tỷ lệ lợi nhuận giữ lại cao nhằm đảm bảo sự an toàn cho các hệ số thanh toán và do đó, nó sẽ làm giảm mức độ chi trả cổ tức một cách tự nhiên Đôi khi, các chủ nợ (chủ yếu là các tổ chức cho vay) đặt ra những hạn chế về việc phân phối cổ tức trong thời hạn nợ bằng cách yêu cầu một tiêu chuẩn nhất định về tính thanh khoản và khả năng thanh toán phải duy trì được quy định rõ trong Hợp đồng cho vay Chính vì thế, nếu phải đưa ra các quyết định chi trả cổ tức, lẽ dĩ nhiên phương thức được các Công ty này ưu tiên lựa chọn chính là phát hành cổ phiếu thay cho tiền mặt

v Triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng có nhu cầu vốn lớn để tài trợ

Trang 32

cho các cơ hội đầu tư hấp dẫn của mình Thay vì chi trả cổ tức nhiều và sau đó cố gắng bán cổ phần mới để huy động đủ số vốn mới cần thiết, doanh nghiệp thuộc loại này thường chi trả cổ tức ở mức thấp, giữ lại một phần lớn lợi nhuận và tránh bán cổ phần mới ra công chúng vừa tốn kém vừa bất tiện Chính sách cổ tức được điều chỉnh theo các dao động của chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp Một chính sách điều hành khôn ngoan trong thời kỳ bùng nổ, sẽ tạo ra nguồn dự trữ cho những sự kiện bất ngờ của thời kỳ khó khăn chẳng may sẽ xảy ra sau đó Vì vậy, khi Doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng cao, các nhà quản trị cũng

sẽ phải cân nhắc rất nhiều trong quyết định chi trả cổ tức sao cho vừa thỏa mãn được nhu cầu của cổ đông, vừa có thể dự trữ được nguồn vốn cho tương lai – và chính lúc này, phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ là một trong những lựa chọn phù hợp và hiệu quả

Ngoài ra, bởi vì những tỷ lệ chi trả cổ tức cao có thể được sử dụng như là một công cụ để quảng bá cổ phiếu khi thị trường giảm điểm, nên thay vì chi trả cổ tức ồ ạt trong thời kỳ toàn thị trường đều tốt sẽ không tạo ra hiệu ứng như mong đợi, Doanh nghiệp sẽ được đánh giá cao hơn nếu vị thế thanh khoản được chứng

tỏ và duy trì cả trong những năm ảm đạm do đã chuẩn bị đầy đủ khoản dự trữ tương xứng ở giai đoạn trước đó Vì thế, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu trong giai đoạn tăng trưởng tốt để tích lũy nguồn vốn và sau đó chi trả cổ tức bằng tiền mặt khi toàn thị trường đang chật vật về thanh khoản là một phương thức hiệu quả cho các nhà quản trị khi hoạch định chiến lược quảng bá dài hạn cho Công ty

v Nhu cầu tăng vốn

Những Công ty nhỏ thường gặp phải khó khăn khi muốn gia tăng nguồn tài trợ cho những nhu cầu vốn lưu động hay các chương trình mở rộng sản xuất kinh doanh của mình Do đó, họ không còn sự lựa chọn nào khác là sử dụng phần lợi nhuận đã được tạo ra để tăng cường vị thế tài chính của mình Vì vậy, những Công ty này thường sẽ chia cổ tức ở mức thấp hoặc lựa chọn phương thức phát hành cổ phiếu để trả cổ tức và giữ lại phần lớn lợi nhuận bổ sung vốn kinh doanh

Trang 33

v Thâm niên của Doanh nghiệp

Thâm niên của Doanh nghiệp cũng là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định chính sách cổ tức Những Doanh nghiệp mới thành lập thường có nhu cầu giữ lại thu nhập nhiều hơn để mở rộng và triển khai các kế hoạch phát triển kinh doanh, trong khi đó, những Công ty có thâm niên lâu năm lại thường đưa ra các quyết định chi trả cổ tức khá mạnh dạn Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cổ đông cũng như gia tăng sự tin tưởng của nhà đầu tư về triển vọng tương lai của doanh nghiệp, trả cổ tức bằng cổ phiếu là một lựa chọn hợp lý cho những Công ty

có kết quả kinh doanh khả quan nhưng thâm niên còn mỏng

v Mức chi trả cổ tức trong quá khứ

Trong khi xây dựng chính sách cổ tức, các nhà quản trị Công ty phải ghi nhớ những mức cổ tức đã được trả trong những năm vừa qua, bởi vì, một tỷ lệ chi trả hiện tại hợp lý nên nằm trong khoảng trung bình của các mức chi trả trước đó Theo lý thuyết về thị trường hiệu quả, bất kỳ thông tin nào cũng đều phát

đi một tín hiệu về giá tương ứng Nếu nhà quản trị công bố một mức cổ tức tăng lên bất thường, cổ phiếu đó ngay lập tức sẽ bị đầu cơ; và ngược lại, nếu tỷ lệ chi trả cổ tức bị cắt giảm đột ngột, cổ phiếu đó có thể bị bán tháo do tâm lý lo ngại sự sụt giá trong tương lai Vì vậy, trong những thời điểm khó khăn, khi Công ty thực

sự cần vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh mà lại phải chịu áp lực chi trả cổ tức thì phát hành cổ phiếu trả cổ tức là một lựa chọn hàng đầu giúp nhà quản trị vừa đảm bảo được tỷ lệ chi trả, vừa không để thất thoát lượng tiền mặt cần thiết ra bên ngoài Trong một mối quan tâm mới, các Công ty cũng nên xem xét chính sách cổ tức của những Công ty đối thủ để việc lựa chọn phương thức chi trả được sáng suốt và toàn diện hơn

v Tính đều đặn và ổn định trong trả cổ tức

Về cơ bản, cổ tức nên được thanh toán thường xuyên bởi vì các nhà đầu tư thường ưa thích sự thanh toán thường xuyên của cổ tức Nhà quản trị – mặc dù thường xuyên ra các công bố chi trả cổ tức – nhưng cũng cần xem xét để mức cổ tức được chi trả gần như là hằng số vì như đã nói ở trên, bất cứ một công bố tăng,

Trang 34

giảm nào về cổ tức cũng đem lại những phản ứng nhất định đối với giá cổ phiếu trên thị trường Nhằm giữ ổn định và đều đặn của các đợt chi trả cổ tức kể cả khi tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty thuận lợi hay khó khăn, bên cạnh việc duy trì quỹ cân bằng cổ tức thì sử dụng phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng là một sự lựa chọn cần thiết cho các nhà quản trị

v Mức độ phân phối của cổ phần

Bản chất của quyền sở hữu cũng ảnh hưởng đến quyết định chia cổ tức Nếu Công ty có cổ phần được nắm giữ bởi một số ít cổ đông sẽ rất dễ dàng nhận được sự tán thành của các cổ đông cho quyết định không chi trả cổ tức hoặc nếu chi trả thì sẽ chi trả bằng cổ phiếu Nhưng, nếu Công ty có cổ phần được phân phối cho một số lượng đáng kể các cổ đông và hình thành nhóm cổ đông có mức thu nhập thấp hoặc trung bình thì sẽ rất khó để có thể thực hiện quyết định không chi trả hoặc chi trả bằng cổ phiếu bởi họ luôn đòi hỏi những mức cổ tức cao hơn nhằm cải thiện tình hình thu nhập thực tế của chính mình

Tóm lại, tùy thuộc đặc điểm, mức độ phân phối quyền kiểm soát và tính đồng thuận của cổ đông, mỗi Công ty sẽ phải lên các phương án chi trả cổ tức thích hợp nhằm dung hòa được lợi ích của các nhóm cổ đông cũng như đạt được mục tiêu tài chính của các nhà quản trị

Tùy theo quy mô Công ty cùng khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài mà phương thức chi trả cổ tức được các nhà quản trị cân nhắc lựa chọn có thể bằng cổ phiếu hay tiền mặt

v Bảo vệ chống lại loãng giá

Nếu một doanh nghiệp chấp nhận chính sách sử dụng phần lớn lợi nhuận của mình để chi trả cổ tức, thì khi có các dự án tiềm năng sinh lời doanh nghiệp có thể cần phải bán cổ phần mới nhằm huy động thêm vốn đầu tư cho dự án Nếu các nhà đầu tư hiện hữu của doanh nghiệp không mua hay không thể mua một tỷ lệ cân xứng cổ phần mới phát hành, quyền lợi chủ sở hữu theo phần trăm của họ trong doanh nghiệp sẽ bị giảm xuống (bị loãng) Do đó, một vài doanh nghiệp

Trang 35

chọn cách giữ lại lợi nhuận nhiều hơn và chi trả cổ tức thấp hơn để tránh rủi ro loãng giá

Bên cạnh giữ lại một mức lợi nhuận cao, doanh nghiệp có thể áp dụng biện pháp huy động vốn từ bên ngoài qua hình thức nợ Nhưng nếu sử dụng cách này thì doanh nghiệp phải lưu ý vì nó làm tăng rủi ro tài chính của đơn vị, tăng chi phí sử dụng vốn cổ phần và ở một thời điểm nào đó sẽ làm giảm giá

cổ phiếu Mặt khác, nếu doanh nghiệp đã có sẵn một cấu trúc vốn tối ưu, chính sách huy động vốn từ bên ngoài dưới hình thức nợ rất có thể phản tác dụng, trừ khi doanh nghiệp giữ lại hay mua lại được vốn cổ phần mới trong thị trường vốn

đủ để bù trừ cho nợ gia tăng

1.3.3.2 Yếu tố ngoại sinh

v Các hạn chế pháp lý

Hầu hết các quốc gia đều có luật để điều tiết việc chi trả cổ tức của những doanh nghiệp đã đăng ký hoạt động kinh doanh ở quốc gia đó Về cơ bản, các luật này quy định:

§ Không thể dùng vốn của một doanh nghiệp để chi trả cổ tức hay còn

được gọi là hạn chế suy yếu vốn Ở một số các quốc gia, vốn được định

nghĩa chỉ bao gồm mệnh giá của cổ phần thường, trong khi ở một số các quốc gia khác, vốn được định nghĩa rộng hơn, bao gồm cả phần thặng dư

§ Cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và trong thời gian

qua hay còn được gọi là hạn chế lợi nhuận ròng, đòi hỏi một doanh nghiệp

phải có phát sinh lợi nhuận trước khi được phép chi trả cổ tức tiền mặt Điều này ngăn cản các chủ sở hữu rút đầu tư ban đầu của họ và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp

§ Không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

hay còn được gọi là hạn chế mất khả năng thanh toán, quy định rằng: một

Công ty mất khả năng thanh toán có thể không chi trả cổ tức tiền mặt Khi một Công ty mất khả năng thanh toán, nợ nhiều hơn tài sản, chi trả cổ tức

Trang 36

sẽ cản trở các trái quyền ưu tiên của các chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp và vì vậy bị ngăn cấm

Như vậy, trong việc ra quyết định chi trả cổ tức, các nhà quản trị nhất thiết phải cân nhắc đến những quy định về pháp lý Theo quy định tại khoản 2 Điều 93

Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005: “Cổ tức trả cho

cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của Công ty Công ty

cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế

và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn” Như vậy, để có thể chi trả cổ

tức tiền mặt, Công ty cổ phần trước hết cần phải đảm bảo thực hiện các khoản phải trả khác bởi vì Chính phủ vẫn ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ của Công ty hơn là quyền lợi của cổ đông

Tuy nhiên, nếu trả cổ tức bằng cổ phiếu, lượng tiền mặt của Công ty vẫn giữ nguyên, khả năng thanh khoản không thay đổi thì những quy định nói trên của Chính phủ nghiễm nhiên được đảm bảo

v Những chính sách của Chính phủ

Như tất cả các thành phần khác trong nền kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị chi phối rộng rãi bởi những thay đổi về chính sách tài chính, công nghiệp, lao động và những quy định khác của Chính phủ

Vì vậy, khi đưa ra bất kỳ phương thức chi trả cổ tức nào, nhà quản trị phải cân nhắc kỹ càng trên cơ sở phân tích các quy định, chính sách của Chính phủ nhằm tận dụng được những điểm thuận lợi, hạn chế được các bất lợi từ quy định của Chính phủ gây ra

Với tình hình hiện tại, khi chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát đang được Chính phủ ưu tiên thực hiện, việc hạn chế dòng tiền ra khỏi Doanh nghiệp là một tính toán khôn ngoan nhằm tiết giảm chi phí sử dụng vốn và đảm

Trang 37

bảo khả năng thanh toán Chính vì thế, quyết định chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

có thể coi là phù hợp trong giai đoạn này

Mặt khác, với quyết định không trả cổ tức bằng tiền mặt, Công ty niêm yết cũng có thể qua đó sàng lọc lại các cổ đông thực sự tâm huyết và đồng lòng với mục tiêu phát triển dài hạn của Doanh nghiệp Tuy vậy, áp lực đặt ra ở đây

là nhà quản trị cần phải chứng tỏ được hiệu quả sử dụng những đồng lợi nhuận giữ lại đó để tạo niềm tin cho cổ đông và đạt được sự đồng thuận cần thiết

v Các điều khoản hạn chế

Các điều khoản hạn chế nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản và các thỏa thuận cổ phần ưu đãi Chúng cơ bản là để giới hạn tổng mức cổ tức một Công ty có thể chi trả thông qua quy định:

§ Không thể chi trả cổ tức cho đến khi lợi nhuận đạt đến một mức nhất định nào đó;

§ Một phần dòng tiền phải được dành để trả nợ;

§ Vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỷ lệ nợ hiện hành không cao hơn một mức định sẵn nào đó…

v Các ảnh hưởng của thuế

Chính sách thuế là một trong những yếu tố có ảnh hưởng sát sao đến việc

ra các quyết định tài chính của Doanh nghiệp trong đó có quyết định về chi trả cổ tức Nếu Chính phủ quy định một mức thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp cao

sẽ làm giảm lợi nhuận sau thuế của các Công ty và gây ra sự sụt giảm của tỷ lệ chi trả cổ tức

Song song với Thuế TNDN, thuế suất thuế TNCN đối với cổ tức cao cũng làm hạn chế sự ưa thích cổ tức bằng tiền mặt của nhà đầu tư, và khi đó, cổ tức bằng cổ phiếu là một lựa chọn hợp lý được các nhà đầu tư chờ đợi

Tùy theo mỗi quốc gia mà có sự khác biệt hay không giữa thuế suất đánh trên thu nhập cổ tức và thu nhập lãi vốn Nhưng thuế suất biên tế đánh trên thu

Trang 38

nhập lãi vốn thường thấp hơn thuế suất biên tế đánh thu nhập cổ tức là biện pháp để chính phủ khuyến khích các Công ty giữ mức cổ tức thấp để các cổ đông có thể nhận được một phần lớn hơn tỷ suất sinh lợi trước thuế dưới hình thức lãi vốn

Tuy nhiên, với thực tế quy định về chính sách thuế TNCN tại Việt Nam hiện nay, cổ tức bằng tiền mặt đang có lợi thế hơn về thuế Do đó, nếu chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, đòi hỏi Doanh nghiệp phải có mục tiêu sử dụng vốn rõ ràng, hiệu quả, từ đó đạt được những mức lợi nhuận cao hơn nhiều ở các năm tiếp theo

để gia tăng thu nhập cho cổ đông trong tương lai

v Lạm phát

Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, vốn tích lũy từ khấu hao thường không đủ để bù đắp cho việc thay thế tài sản của một doanh nghiệp khi các tài sản này cũ kỹ, lạc hậu Khi đó, một doanh nghiệp có thể buộc phải giữ lại một tỷ

lệ lợi nhuận cao hơn để duy trì năng lực hoạt động cho tài sản của mình

Lạm phát cũng có một tác động trên nhu cầu vốn luân chuyển của doanh nghiệp, thể hiện: trong môi trường giá cả tăng, số tiền thực tế đầu tư vào kho hàng và các khoản phải thu có chiều hướng tăng để hỗ trợ cho cùng một khối lượng hiện vật kinh doanh Mặt khác do giá cả tăng, để đảm bảo thanh toán cho các tài khoản phải trả, đòi hỏi một khoản chi tiền mặt lớn, dẫn đến số dư tiền mặt giao dịch thường cũng phải tăng

Như vậy, lạm phát có thể buộc một doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để duy trì vị thế vốn luân chuyển giống như trước khi có lạm phát và do đó, ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp đó

Trong thực tế còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách cổ tức như: cấu trúc cổ đông, hình thức sở hữu, quy mô doanh nghiệp, khả năng tạo lợi nhuận, đặc điểm phát triển của doanh nghiệp, lãi suất ngân hàng … Hội đồng quản trị của doanh nghiệp nên cân nhắc ảnh hưởng các yếu tố này tùy trường hợp để đạt đến một chính sách cổ tức tối ưu

1.4 THỜI KỲ CỦA TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU

Nhiều nghiên cứu gần đây về sự quay trở lại của phương thức trả cổ tức

Trang 39

bằng cổ phiếu đã đưa đến những gợi ý và cách nhìn mới mẻ cho nhà đầu tư trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế toàn cầu thời gian vừa qua

Khi các nhà kinh tế tin rằng 2011 sẽ lại là một năm tăng trưởng thấp đối với Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản, đồng thời, các Công ty đại chúng sẽ không thể thu được mức lợi nhuận cao hơn so với những năm trước đây, nhiều Công

ty đã nhận biết được nhu cầu của nhà đầu tư và chấp nhận chia sẻ lợi nhuận bằng phương thức phân phối cổ tức bằng cổ phiếu

Trong một bối cảnh kinh tế tăng trưởng chậm, cổ tức bằng cổ phiếu được đánh giá như một bước đi đúng đắn vì sự thật là các nhà đầu tư kinh nghiệm hoàn toàn có thể nhận thấy rằng sự tăng trưởng trong giá cổ phiếu thường đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế Bên cạnh đó, bằng việc nhận cổ tức cổ phiếu, nhà đầu tư

có thể thu được một khoản cổ tức tăng thêm trực tiếp từ lợi nhuận của Công ty Trước đây, đã có một thời kỳ cổ tức bằng cổ phiếu thường gắn liền với các Công ty tăng trưởng chậm nhưng ổn định, tổng lợi nhuận mà các nhà đầu tư thu được là khá chắc chắn và có triển vọng hơn so với trái phiếu Trong tình hình của Thị trường Chứng khoán ngày nay, cổ tức bằng cổ phiếu trở lại mới mẻ hơn và đa dạng hơn với sự tham gia của nhiều loại hình Công ty trả cổ tức Tổng lợi nhuận của một vài Công ty trong số đó thực sự xuất sắc và không hề thua kém khi

so sánh với các Công ty như Apple

Như chúng ta đã biết, cổ tức cổ phần là một khoản thanh toán cho các cổ đông từ thu nhập của Công ty Thanh toán này có thể dưới hình thức tiền mặt hoặc cổ phiếu, tuy nhiên việc chi trả cổ tức là không bắt buộc đối với các Công ty

cổ phần Số lượng cổ tức chi trả, ngày thanh toán và những điều kiện thanh toán khác được quyết định bởi Hội đồng quản trị của Công ty tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải Công ty nào cũng thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

Trong khi hầu hết các Công ty chi trả cổ tức đều cố gắng để việc chi trả của mình được diễn ra thường xuyên thì không có luật lệ nào quy định rằng

họ bắt buộc phải làm điều đó Do vậy, rủi ro với lợi tức cổ phần chính là một Công ty có thể giảm tỷ lệ thanh toán cổ tức hoặc hủy bỏ hoàn toàn việc chi trả cổ

Trang 40

tức phụ thuộc vào nhu cầu và các đợt phát hành của Công ty Thông thường, các Công ty không tiến hành việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu trừ khi họ cảm thấy

họ có thể đảm bảo các khoản thanh toán này trong tương lai gần

Quan sát tình hình lợi nhuận thực tế của những Công ty thực hiện chi trả

cổ tức bằng cổ phiếu – đồng thời cũng là những Công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức hấp dẫn – để thấy được bằng chứng tuyệt vời của những nhận xét ở trên Sự thực

là trong số đó, một vài Công ty tăng trưởng chậm cùng với nền kinh tế, tuy nhiên vẫn có những Công ty tăng trưởng nhanh hơn hẳn tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như kết quả tăng trưởng trước đây của chính mình

Bảng 1 – 2 Danh sách các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao

Ngày đăng: 10/08/2015, 12:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 – 1. Top 10 Công ty có tỷ suất cổ tức cao nhất của S&P 500 tính đến - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 1 – 1. Top 10 Công ty có tỷ suất cổ tức cao nhất của S&P 500 tính đến (Trang 19)
Bảng 1 – 2. Danh sách các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 1 – 2. Danh sách các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao (Trang 40)
Bảng 1 – 3. Danh sách các REITs trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 1 – 3. Danh sách các REITs trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao (Trang 41)
Bảng 1 – 4. Danh sách các Công ty nhỏ trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 1 – 4. Danh sách các Công ty nhỏ trả cổ tức bằng cổ phiếu có tỷ suất cổ (Trang 42)
Bảng 2 – 1. Top các Công ty có mức chi trả cổ tức cao nhất từ năm 2005 - 2010 8 - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 – 1. Top các Công ty có mức chi trả cổ tức cao nhất từ năm 2005 - 2010 8 (Trang 54)
Bảng 2 – 2. Top 5 các - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 – 2. Top 5 các (Trang 56)
Bảng 2 – 4. Top 10 các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu giai đoạn 2005 - 2010 17 - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 – 4. Top 10 các Công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu giai đoạn 2005 - 2010 17 (Trang 62)
Bảng 2 – 5. Danh sách các Công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu từ 3 năm trở lên 18 - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 – 5. Danh sách các Công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu từ 3 năm trở lên 18 (Trang 64)
Bảng 2 – 6. Tóm tắt diễn biến giá cổ phiếu S99 sau các đợt trả cổ tức bằng cổ phiếu 21 - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 – 6. Tóm tắt diễn biến giá cổ phiếu S99 sau các đợt trả cổ tức bằng cổ phiếu 21 (Trang 70)
Sơ đồ 3-1. Quy trình ra quyết định trả cổ tức - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Sơ đồ 3 1. Quy trình ra quyết định trả cổ tức (Trang 100)
Bảng 3 – 1. Tình hình thuế suất bình quân toàn cầu 26 - Tăng cường tính hiệu quả của phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 3 – 1. Tình hình thuế suất bình quân toàn cầu 26 (Trang 109)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w