Tốc ñộ tăng củ thâm hụt thương mại của và ñộng lực nào thúc ñẩy nhanh như trên là vấn ñề Cơ cấu hàng xuấ hệ thương mại Việt-Trun thuận tiện cho lưu thông quả phát triển kinh tế củ Hình I
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG KHÁNH DƯƠNG
THƯƠNG MẠI HAI CHIỀU VIỆT NAM – TRUNG QUỐC, ĐỘNG LỰC GIA TĂNG VÀ CƠ CẤU HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG KHÁNH DƯƠNG
THƯƠNG MẠI HAI CHIỀU VIỆT NAM – TRUNG QUỐC, ĐỘNG LỰC GIA TĂNG VÀ CƠ CẤU HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH CÔNG KHẢI
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các thầy, cô giáo trong Trường Fulbright ñã tận tâm giảng dạy và truyền ñạt cho tôi những kiến thức hết sức quý báu qua 2 năm học Tôi cũng xin ñược bày tỏ sự biết ơn tới thầy, Tiến sĩ Đinh Công Khải ñã rất nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Và cám ơn các nhân viên trong trường, các bạn lớp MPP2 ñã tạo ñiều kiện và giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại ñây
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2011
Dương Khánh Dương
Trang 4Lời cam ñoan
Tôi, Dương Khánh Dương, xin cam ñoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các
ñoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn ñều ñược dẫn nguồn và có ñộ chính xác
cao nhất trong phạm vị hiểu biết của tôi
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan ñiểm của Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2011
Dương Khánh Dương
Trang 5Tóm tắt
Với bộ số liệu thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc giai ñoạn
2000-2008 ñược khai thác từ UN-Comtrade, ñề tài ñã sử dụng các phương pháp Thị phần không ñổi (CMS), chỉ số lợi thế so sánh RCA và phân lớp cấu trúc công nghệ hàng hóa của Lall (2000) nhằm phân tích ñộng lực, cơ cấu hàng hóa XNK và nguyên nhân của thâm hụt thương mại Việt Nam hiện nay
Đề tài ñã chỉ ra ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là từ sức
cầu nhập khẩu của Trung Quốc Lực cản lớn nhất trong tăng trưởng xuất khẩu của hàng Việt Nam chính là năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam còn hạn chế Trong khi ñó, hàng Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh rất lớn, làm cho tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam rất nhanh chóng
Thâm hụt của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung Quốc chủ yếu bắt nguồn từ chính cơ cấu của nền kinh tế Hàng xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là hàng sơ cấp, thâm dụng tài nguyên Cơ cấu hàng xuất khẩu này không vững chắc khi tình hình sản xuất phụ thuộc vào trữ lượng hữu hạn Trong khi ñó, các ngành thâm dụng lao ñộng lại chưa nâng cao ñược năng suất, nên trong bối cảnh cạnh tranh với hàng hóa tương tự của Trung Quốc, hàng Việt Nam bị mất dần lợi thế ñã ñược khẳng ñịnh ở các nghiên cứu trước và trong luận văn này Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu là ñiều tất yếu cần ñược các nhà hoạch ñịnh chính sách xem xét Tạo ra những liên kết thuận – những sản phẩm thứ cấp trong chuỗi hàng hóa sơ cấp là một trong những hướng ñi nhằm làm cho cơ cấu xuất khẩu hàng sơ cấp mang tính bền vững hơn Đồng thời, dịch chuyển nền sản xuất trong nước lên tầm mức công nghệ cao hơn cũng sẽ ñảm bảo rổ hàng xuất khẩu của Việt Nam ña dạng và có giá trị gia tăng cao hơn Thu hút dòng vốn FDI vào các ngành công nghệ cao và nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong nước là một trong những ñiều kiện tiên quyết của quá trình này
Qua các phân tích trong bản luận văn này cũng cho thấy sự gia tăng nhanh chóng nhập khẩu từ Trung Quốc có liên quan ñến cơ cấu tăng trưởng dựa vào ñầu tư,
ñặc biệt là sự tập trung vào bất ñộng sản của dòng vốn tín dụng, FDI và của cả khu vực
kinh tế nhà nước vào những năm 2007, 2008 Xu hướng này không chỉ làm gia tăng thâm hụt thương mại mà còn tiềm ẩn nguy cơ về lạm phát và sự chèn lấn về nguồn vốn cho các ngành sản xuất khác Do ñó, ñổi mới mô hình tăng trưởng một cách bề vững hơn, ưu tiên phát triển các khu vực kinh tế có hiệu quả hơn, sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu sẽ thu hẹp ñược nguồn vốn “chảy” ra ngoài do nhập khẩu
Với các lập luận trên, ñề tài ñã ñưa ra những khuyến nghị nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu và hạn chế các luồng nhập khẩu không cần thiết, qua ñó góp phần cải thiện cán cân thương mại vốn ñang bị thâm hụt rất lớn của Việt Nam hiện nay
Trang 6Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng số liệu v
Danh sách các hình vi
Chương I - Giới thiệu 1
I.1 Đặt vấn ñề nghiên cứu 1
I.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan 4
I.3 Mục tiêu nghiên cứu 5
I.4 Câu hỏi nghiên cứu 6
I.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
I.6 Phương pháp nghiên cứu 6
I.7 Số liệu sử dụng trong ñề tài 7
I.8 Cấu trúc luận văn 8
Chương II - Tổng quan về khung phân tích và các nghiên cứu trước 9
II.1 Phương pháp Thị phần không ñổi CMS 9
II.1.1 Tổng quan 9
II.1.2 Mô hình phân tích “2 cấp ñộ” của Leamer và Stern (1970) 10
II.2 Phân lớp cấu trúc công nghệ hàng hóa xuất – nhập khẩu 13
II.3 Phân tích chỉ số Lợi thế so sánh bộc lộ RCA 13
II.3.1 Mô hình 13
II.3.2 Các nghiên cứu trước sử dụng RCA 14
Chương III - Kết quả phân tích 15
III.1 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc 15
III.2 Phân tích ñộng lực tăng trưởng thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc 16 III.2.1 Động lực xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam 16
III.2.2 Động lực xuất khẩu của hàng hóa Trung Quốc 19
III.2.3 Tiểu kết 21
Trang 7III.3 Cấu trúc và lợi thế cạnh tranh của hàng hĩa xuất – nhập khẩu 22
III.3.1 Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 22
III.3.2 Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam 29
III.3.3 Tiểu kết 33
III.4 Tác động của tỷ giá hối đối thực đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc 34
Chương IV - Phản biện và kiến nghị chính sách 37
IV.1 Nhĩm chính sách về thúc đẩy xuất khẩu 37
IV.2 Nhĩm chính sách về hàng nhập khẩu 39
IV.3 Chính sách về tỷ giá 40
Chương V - Kết luận 41
V.1 Tĩm tắt kết quả của đề tài 41
V.2 Những hạn chế và đề xuất các nghiên cứu tiếp theo 42
A Tài liệu tham khảo 43
B Các phụ lục 47
Phụ lục 1 – Diễn giải phương pháp nghiên cứu 47
B.1.1 Mơ hình CMS phân tích “2 cấp độ” của (Leamer và Stern 1970) 47
B.1.2 Phân lớp cấu trúc cơng nghệ hàng hĩa xuất – nhập khẩu 50
Phụ lục 2 - Các bảng số liệu 52
Phụ lục 3 – Các hình 66
Trang 8Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
1 ACFTA – viết đầy đủ: ASEAN-China Free Trade Agreement - Hiệp định Thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc;
2 ADBI – viết đầy đủ: Asian Development Bank Institute - Viện Ngân hàng Phát triển Châu Á;
3 ASEAN – viết đầy đủ: Association of South-East Asia Nations - Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á;
4 ASEAN5 – là nhĩm nước Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thailand
5 CEPII – viết đầy đủ Centre d'Etudes Prospectives et d'Informations Internationales;
6 CMS – viết đầy đủ Constant Market Share, theo nghĩa tiếng Việt là phương pháp Thị phần khơng đổi;
7 CSDL – Cơ sở dữ liệu;
8 ECB – viết đầy đủ: European Central Bank - Ngân hàng Trung Ương Châu Âu;
9 EU – viết đầy đủ: European Union – Liên minh Châu Âu
10.FDI – viết đầy đủ: Foreign Direct Investment - đầu tư trực tiếp nước ngồi;
11.FETP – viết đầy đủ: Fulbright Economics Teaching Program – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright;
12.FTA – viết đầy đủ: Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do;
13.GSO – viết đầy đủ: General Statistics Office - Tổng cục Thống kê Việt Nam;
14.GDP – viết đầy đủ: Gross Domestic Products - tổng sản phẩm nội địa;
15.GDP per-capita: thu nhập bình quân đầu người;
16.HT1, HT2, HT3 – viết đầy đủ: High technology – hàng cơng nghệ cao Chi tiết tại: Phụ lục 1 - B.1.2 Phân lớp cấu trúc cơng nghệ hàng hĩa xuất – nhập khẩu;
17.NIE – viết đầy đủ: Newly Industrializing Economy, các nước cơng nghiệp mới;
18.NEER– viết đầy đủ: Nominal effective exchange rate – tỷ giá hối đối danh nghĩa hiệu dụng;
19.MNC, MNE – viết đầy đủ: Multinational corporation (enterprise), tập đồn đa quốc gia;
20.Mơ hình H-O – Mơ hình Heckscher-Ohlin;
21.MT1, MT2, MT3 – viết đầy đủ: Medium technology – hàng cơng nghệ vừa Chi tiết tại: Phụ lục 1 - B.1.2 Phân lớp cấu trúc cơng nghệ hàng hĩa xuất – nhập khẩu;
22.LT1, LT2,– viết đầy đủ: Low technology – hàng cơng nghệ thấp Chi tiết tại: Phụ lục 1 - B.1.2 Phân lớp cấu trúc cơng nghệ hàng hĩa xuất – nhập khẩu;;
23.ODA – viết đầy đủ: Official Development Assistance – Hỗ trợ phát triển chính thức;
24.R&D – viết đầy đủ: Research and Development – nghiên cứu và phát triển;
Trang 925.RB1, RB2 – viết đầy đủ: Resource based – hàng dựa trên tài nguyên Chi tiết tại: Phụ lục 1 - B.1.2 Phân lớp cấu trúc cơng nghệ hàng hĩa xuất – nhập khẩu;
26.RCA – viết đầy đủ: Revealed Competitive Advantage - phân tích chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ;
27.REER– viết đầy đủ: Real Effective Exchange Rate – tỷ giá hối đối thực hiệu dụng;
28.RMB – viết đầy đủ: Renminbi – đồng tiền của Trung Quốc
29.SITC Rev 2, SITC Rev 3 – là những kiểu phân loại hàng hĩa ngoại thương của CSDL Comtrade;
30.SME – viết đầy đủ: Small Medium Enterprise - doanh nghiệp vừa và nhỏ;
31.UN-Comtrade – tên thường gọi của CSDL Thống kê Thương mại Liên Hiệp Quốc (United Nations Commodity Trade Statistics Database) Cơ sở dữ liệu này là tổng hợp hàng năm số liệu ngoại thương của hơn 170 quốc gia trên thế giới;
32.USD – viết đầy đủ: United States Dollar, đơ la Mỹ;
33.VND – viết đầy đủ: Vietnam Dong; đồng tiền Việt Nam;
34.XK, NK, XNK: xuất khẩu, nhập khẩu, xuất-nhập khẩu;
Trang 10Danh mục các bảng số liệu
Bảng III-1 - Động lực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc giai ñoạn 2000-2008 16Bảng III-2 - Phân tích ñộng lực xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang Việt Nam giai
ñoạn 2000-2008 19
Bảng - B-1 - Kim ngạch thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và các ñối tác chính từ 2000-2008 53 Bảng - B-2- Tổng quan về thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc 53Bảng - B-3 - Các hàng hóa chủ yếu Việt Nam xuất sang Trung Quốc giai ñoạn 2000-
2008 54Bảng - B-4- Các hàng hóa chủ yếu Trung Quốc xuất sang Việt Nam giai ñoạn 2000-
2008 55Bảng - B-5 - Kết quả phân tích CMS – ñộng lực xuất khẩu các ngành hàng của Việt Nam 59Bảng - B-6 - Kết quả phân tích CMS – ñộng lực xuất khẩu các ngành hàng của Trung Quốc 59Bảng - B-7- Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc 60Bảng - B-8 - Cơ cấu hàng xuất khẩu Trung Quốc sang Việt Nam 60Bảng - B-9 – Chỉ số RCA các mặt hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 61Bảng - B-10 – Chỉ số RCA các mặt hàng chính Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam 61Bảng - B-11 - Cấu trúc hàng hóa phân mục theo chuẩn SITC Rev3 – 1 chữ số 63Bảng - B-12 - Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành than trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Quảng Ninh 63Bảng - B-13 - Xuất khẩu các mặt hàng cao su sang Trung Quốc 64Bảng - B-14 – Nhập khẩu máy móc và thiết bị cho dự án nhiệt ñiện từ Trung Quốc 65
Trang 11Danh sách các hình
Hình I-1 - Thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc và thâm hụt của Việt Nam 1Hình I-2 - Cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc từ năm 2000 ñến 2008 2Hình I-3 - Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Trung Quốc từ năm 2000 ñến 2008 3Hình III-1 - Thương mại hai chiều và GDP bình quân ñầu người của Việt Nam, Trung Quốc 15 Hình III-2 – Cấu trúc hàng xuất khẩu của Việt Nam theo phân lớp của Lall (2000) 22Hình III-3 – Chỉ số RCA các mặt hàng sơ cấp (PP) xuất khẩu chính của Việt Nam 25Hình III-4 – Chỉ số RCA các mặt hàng dựa trên tài nguyên (RB) xuất khẩu chính của Việt Nam 26Hình III-5 - Thị phần hàng xuất khẩu sang Trung Quốc của Việt Nam theo phân lớp công nghệ của Lall (2000) 27Hình III-6 - Cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam theo phân lớp của (Lall, 2000) 29Hình III-7 - Thị phần hàng nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam theo phân lớp công nghệ của (Lall, 2000) 30Hình III-8 - Chỉ số RCA các mặt hàng công nghệ thấp LT2 xuất khẩu chính của Trung Quốc 31Hình III-9– Tỷ giá hiệu dụng ñồng Việt Nam thực và danh nghĩa (gốc là năm 2000) 35Hình III-10 - Tỷ giá hiệu dụng Nhân dân tệ thực và danh nghĩa (gốc là năm 2000) 35Hình - B-1 - Cấu trúc ngành hàng theo mã SITC – 1 chữ số hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 66 Hình - B-2 - Cấu trúc ngành hàng theo mã SITC – 1 chữ số hàng Việt Nam nhập khẩu
từ Trung Quốc 66
Trang 12I.1 Đặt vấn ñề nghiên c
Năm 2010, Trung
trên thế giới Tác ñộng củ
ñặc biệt là tới kinh tế Vi
Biểu hiện lớn nhất của tá
Quốc tăng nhanh qua các
Nam luôn bị thâm hụt lớn
Hình I-1 - Thương m
Năm 2008, lượng
USD (gấp hơn 7,5 lần so
Việt Nam Năm 2009, tỷ
mại hai chiều Việt Nam
Việt Nam hiện nay
Thâm hụt thương
mô Và thực tế từ cuối nă
lạm phát tăng cao, dự trữ
thể nói, thâm hụt thương
và ñang tăng nhanh là mộ
ng Quốc ñã vượt qua Nhật Bản ñể trở thành nề
ủa sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc tới cá
Việt Nam là rất lớn, trên các phương diện như t
a tác ñộng này là ở thương mại hai chiều giữa V
ác năm Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại vớ
n, nhất là trong thời gian gần ñây (Hình I-1)
mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc và thâm
(Nguồn: Tác giả tính từ UN-Comtrade;
ng thâm hụt của Việt Nam so với Trung Quốc
so với năm 2004), chiếm hơn 50% tổng thâm h
lệ này lên tới gần 90%1 Do ñó, có thể nói, thâ
m – Trung Quốc phản ánh gần như toàn bộ bối
ng mại lớn, trong thời gian dài sẽ tiềm ẩn nhiềunăm 2010 ñến nay (tháng 4/2011), tình hình kinh
ữ ngoại tệ suy giảm ñã gây nên những mối qu
ng mại nói chung và thâm hụt với Trung Quốc nó
ột trong những nguyên nhân chính của tình trạng
a Việt Nam và Trung
ới Trung Quốc, Việt
âm hụt của Việt Nam
e; ñơn vị: triệu USD)
ñã lên tới hơn 10 tỷ
m hụt thương mại của thâm hụt trong thương
i cảnh thâm hụt của
u nguy cơ bất ổn vĩ inh tế vĩ mô rất bất ổn, quan ngại sâu sắc Có nói riêng lớn, kéo dài
ng này
XK của Việt Nam
XK của Trung Quốc Thâm hụt
Trang 13Năm 2000, thươn
chưa ñến 900.000 USD
nhanh qua các năm với t
bình của tổng nhập khẩu
Trong khi ñó, xuất khẩu
tăng tổng nhập khẩu của
xỉ 20%)2 Tốc ñộ tăng củ
thâm hụt thương mại của
và ñộng lực nào thúc ñẩy
nhanh như trên là vấn ñề
Cơ cấu hàng xuấ
hệ thương mại Việt-Trun
thuận tiện cho lưu thông
quả phát triển kinh tế củ
Hình I-2 - Cơ cấu hàn
Trên 65% các m
cấp, ñơn giản, thâm dụn
thủy sản và hoa màu… (
i tốc ñộ trung bình 34%, nhanh hơn nhiều so vớ
u Việt Nam (gần 24%) và tổng xuất khẩu Trun
u sang Trung Quốc tăng chỉ 17%/năm, tương ñ
a Trung Quốc (xấp xỉ 23%) và tổng xuất khẩu
ủa xuất khẩu chỉ bằng phân nửa tốc ñộ tăng củ
a Việt Nam là hệ quả tất yếu Động lực nào ñ
y nhập khẩu từ Trung Quốc mà qua ñó làm gi
ề mà các nhà nghiên cứu chính sách cần phải giất-nhập khẩu (XNK) là hình ảnh của nền kinh
rung ñặc biệt, không chỉ vì 2 nước gần về ñịa l
ng hàng hóa, mà còn phản ánh gần như toàn bộ
a Việt Nam
hàng xuất khẩu sang Trung Quốc từ năm 2000
(Nguồn: Tác giả tính
mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc của Vi
ng tài nguyên thiên nhiên như dầu thô, than (Hình I-2, chi tiết: Phụ lục 2 – Bảng - B-7)
ngại như giá cả bấp bênh (dầu thô…); phụ thu
ủy sản, hoa màu…); chèn lấn tiêu thụ trong n
ần nguyên-nhiên liệu (than ñá…) Và ñặc biệt
Nhiê
ñ á)
t Nam chỉ thâm hụt Trung Quốc tăng rất
ới tốc ñộ tăng trung
rung Quốc (gần 25%) ñối chậm so với mức
u của Việt Nam (xấp
ủa nhập khẩu, vì thế
ñã cản trở xuất khẩu gia tăng thâm hụt rất
i giải ñáp
inh tế quốc gia Quan
a lý, ñường biên giới
ộ năng lực và thành
ñến 2008
tính từ UN-Comtrade)
Việt Nam là hàng sơ
an ñá, quặng, cao su, ) Cơ cấu xuất khẩu thuộc nhiều vào tính
g nước vốn ñang trên
t hơn là nguy cơ về
Trang 14lời nguyền tài nguyên3.
hướng tăng Coxhead (20
Hình I-3, chi tiết: Phụ lụ
vai trò quan trọng trong
này Việt Nam chưa chủ
trội là chủng loại phong p
lẽ không ñơn thuần chỉ ba
Thương mại hai
tiềm ẩn trong tương lai c
cầu nhập khẩu thuộc hàn
hội cho Việt Nam Như
“công xưởng của thế gi
3
Theo Coxhead (2007), lời n
trồng cà phê, các vùng sinh t
chưa ñáp ứng ñược nhu cầu p
gần như không có lợi thế cạnh
(Nguồn: Tác giả tính
ỉệt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc ña số là m
o cho các ngành sản xuất chủ ñạo như: nông ngngành hàng SITC 5, 6, 7 luôn chiếm hơn 70%
ai chiều với Trung Quốc có vai trò quan trọng
ai cả những cơ hội và thách thức Thị trường Thàng lớn nhất thế giới, ñang trên ñà tăng trưởnghưng thách thức cũng rất lớn vì Trung Quốcgiới” Sự trỗi dậy của quốc gia này có thể tổ
i nguyền tài nguyên thể hiện rõ ở Việt Nam khi nhiề
h thái ven biển bị tàn phá nặng nề ñể nuôi tôm xuất kh
u phát triển Trong khi sản phẩm của các ngành công n
N th
H p S H th v M S
ẩu từ Trung Quốc có
Đa số các mặt hàng àng này có ưu thế nổi
ẩu từ Trung Quốc có
ng với Việt Nam và
g Trung Quốc có nhu
ng nhanh - ñây là cơ
c ñang ñược coi là
Hóa ch ấ t và các s ả n
ph ẩ m liên quan SITC 5
-Hàng ch ế tác phân theo nguyên li ệ u ñầ u vào - SITC 6
Máy móc thi ế t b ị SITC 7
Trang 15-cạnh tranh cho các nước láng giềng5, cơ hội cho các nước phát triển sau như Việt Nam
là không nhiều Đồng thời, việc Trung Quốc tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ kéo theo sức
cầu nhập khẩu tài nguyên tăng lên, cùng với ñó là việc mở cửa thị trường mạnh mẽ có thể sẽ khiến cho Việt Nam bị cuốn vào vòng xoáy của “lời nguyền tài nguyên mới” do
phải tiếp tục duy trì cơ cấu xuất khẩu thâm dụng tài nguyên, trong khi các ngành chế tác thâm dụng lao ñộng có nguy cơ bị mất lợi thế do sự cạnh tranh của hàng Trung Quốc6 Láng giềng của Việt Nam, các nước ASEAN5 (gồm Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái Lan) xét trên tổng thể, ñều có thặng dư thương mại với Trung Quốc (Ha Thi Hong Van, 2011, trang 5) Kinh nghiệm của các nước này trong chuyển ñổi cơ cấu, ña dạng hóa, nâng cao tính cạnh tranh và giá trị các mặt hàng xuất khẩu là một trong những phương án cần ñược xem xét trong chính sách ngoại thương7 và chắc chắn hữu ích cho Việt Nam
Có thể nói, không chỉ thâm hụt thương mại, mà ñộng lực tăng trưởng thương mại, cấu trúc hàng hóa XNK, cơ hội và thách thức trong tương lai của thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc cũng phản ánh gần như toàn bộ viễn cảnh kinh tế Việt Nam Chính vì vậy, một nghiên cứu về thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc là cần thiết, nhằm có ñược một cách nhìn tổng thể, khách quan về ñộng lực và cấu trúc thương mại, cũng như ẩn chứa ñằng sau ñó là những kinh nghiệm về cải cách cơ cấu,
ñổi mới chính sách công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh Qua ñó có thể ñưa ra
những chính sách cải thiện cán cân thương mại, ổn ñịnh vĩ mô và quan trọng hơn cả là tăng cường năng lực cho nền kinh tế Việt Nam8
I.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan
Đã có nhiều nghiên cứu về ñề tài tác ñộng của sự trỗi dậy của Trung Quốc tới
Việt Nam như Ha Thi Hong Van và Do Tien Sam (2009); Tran Thi Anh-Dao, Vo Tri Thanh và các cộng sự (2009); Tran Thi Anh-Dao (2010); Ha Thi Hong Van (2011) Ha
5 Theo Coxhead (2007) và Yusuf, Nabeshima và Perkin (2007, trang 45)
6 Theo Coxhead (2007, trang 1112-1113), quá trình tăng trưởng và hội nhập nhanh chóng của Trung Quốc có vẻ như sẽ làm giảm lợi nhuận các ngành thâm dụng lao ñộng, nhưng lại tăng lợi nhuận các ngành khai thác tài nguyên của Việt Nam, Indonesia… Và như thế các ngành giải quyết nhiều việc làm sẽ giảm sút và các nước trên sẽ phải khai thác cạn kiệt tài nguyên của mình ñể xuất khẩu
7 Theo Lall (2000, trang 2), “Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thành công trong xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng hơn trong thành tích phát triển kinh tế Ngoài những tác ñộng tích cực trực tiếp như thu
về ngoại tệ, ñạt ñược khả năng chuyên môn hóa, lợi thế kinh tế theo quy mô và tiếp cận công nghệ mới Xuất khẩu còn có những tác ñộng tích cực gián tiếp khác như tăng hiệu quả và cạnh tranh của các ngành kinh tế Nếu công nghiệp hóa vẫn ñược coi là ñộng lực phát triển kinh tế thì chuyển ñổi cơ cấu, tăng cường công nghệ, hiện ñại hóa và xuất khẩu hàng chế tác là dấu hiệu cho thấy ñộng lực ñó ñang hoạt
ñộng hiệu quả”
8 Rodrik (2006, trang 3) cho rằng, nghiên cứu về sự trỗi dậy của Trung Quốc là rất quan trọng, không chỉ bởi vì Trung Quốc là mẫu hình ñể các nước ñang phát triển noi gương, mà còn bởi vì chính sách tương lai của chính Trung Quốc cũng phụ thuộc vào những bài học này
Trang 16Thi Hong Van và Do Tien Sam (2009) là nghiên cứu ñịnh tính về mối quan hệ rất rộng,
cả về thương mại, ñầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc Tran Thi Anh-Dao, Vo Tri Thanh
và các cộng sự (2009) và Tran Thi Anh-Dao (2010) sử dụng phương pháp ñịnh lượng, nhưng nghiên cứu về viễn cảnh của xuất khẩu Việt Nam trước sự cạnh tranh của Trung Quốc, sử dụng bộ dữ liệu ña phương (dữ liệu tổng xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc) mà chưa ñề cập ñến những ñặc ñiểm trong thương mại hai chiều giữa Việt Nam
và Trung Quốc Ha Thi Hong Van (2011) nghiên cứu ñịnh tính về trao ñổi thương mại hàng thứ cấp giữa Việt Nam và Trung Quốc
I.3 Mục tiêu nghiên cứu
Theo hiểu biết của tác giả luận văn này, chưa có nghiên cứu về các ñộng lực tăng trưởng thương mại, cấu trúc và lợi thế so sánh hàng hóa XNK trong quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc, ñặc biệt là trong giai ñoạn từ 2004-2008, khi mà thâm hụt thương mại Việt-Trung trở nên rất gay gắt (liên tục tăng gấp ñôi qua từng năm từ 2004-2007) Nghiên cứu các ñộng lực tăng trưởng thương mại sẽ cho thấy những nhân tố thúc ñẩy, cũng như cản trở nỗ lực xuất-nhập khẩu, từ ñó sẽ có những chính sách góp phần cải thiện thâm hụt Các phân tích về cấu trúc công nghệ và lợi thế
so sánh của hàng hóa XNK cho thấy những chỉ báo về thành tích xuất khẩu, cũng như hình ảnh công nghiệp hóa của nền kinh tế trong thời gian ñã qua, qua ñó phần nào có thể ñịnh hướng những chính sách dịch chuyển cấu trúc hàng xuất khẩu lên một tầm mức công nghệ cao hơn, ñảm bảo tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai9 Mục tiêu của
ñề tài kỳ vọng sẽ giải quyết ñược những vấn ñề trên
9
Lall (2000, trang 3-4-5) cho rằng, công nghệ giữ vai trò ngày một quan trọng trong thương mại quốc tế Nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự thay ñổi rất nhanh của công nghệ, thì các nước
ñang phát triển, vốn là những nước “ñi sau” và nhập khẩu công nghệ, nên lợi thế cạnh tranh giữa các
nước ñang phát triển chính là khả năng ứng dụng và học hỏi công nghệ, và vai trò của nhà nước trong công cuộc này là rất quan trọng Tác giả nhận ñịnh “cấu trúc hàng xuất khẩu thâm dụng công nghệ sẽ có triển vọng tốt hơn cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai, vì thương mại những sản phẩm này có xu thế tăng nhanh hơn mức ñộ thương mại nói chung, ñộ co giãn với thu nhập cao hơn, tạo ra nhu cầu mới và thay thế những sản phẩm cũ nhanh hơn Chính vì thế mà các ngành công nghiệp công nghệ cao có tăng trưởng nhanh hơn các ngành khác… Các ngành công nghệ cao có sức lan tỏa rộng hơn vì chúng tạo ra những kỹ năng và kiến thức mới Ngược lại, các ngành công nghệ ñơn giản có xu hướng thị trường phát triển chậm hơn, tiềm năng học hỏi giới hạn hơn, quy mô nhỏ và tác ñộng lan tỏa thấp hơn Các ngành công nghệ ñơn giản cũng dễ bị tổn thương bởi các ñối thủ cạnh tranh có chi phí nhân công thấp hơn, bởi các công nghệ thay thế và sự chuyển dịch của thị trường”
Trang 17I.4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Các ñộng lực làm gia tăng thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
giai ñoạn 2000-2008 là gì?
Câu hỏi 2: Cấu trúc, công nghệ và năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất, nhập khẩu
trong quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong giai ñoạn 2000-2008 ra sao?
Câu hỏi 3: Chính sách cải thiện thâm hụt thương mại Việt Nam – Trung Quốc nên như
thế nào?
I.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: quan hệ thương mại và thâm hụt của Việt Nam trong thương mại hai chiều
Việt Nam – Trung Quốc
Phạm vi: ñề tài nghiên cứu về các nhân tố làm gia tăng thương mại, cấu trúc và năng
lực cạnh tranh của các hàng hóa chủ yếu trong quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc từ năm 2000 ñến 2008
I.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp ñược sử dụng trong phân tích các ñộng lực gia tăng xuất-nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc là phương pháp Thị phần không ñổi (CMS - Constant
Market Share) Phương pháp này ñược áp dụng trong ñề tài sẽ cho thấy các tác ñộng tích cực (hay tiêu cực) tới tăng trưởng xuất khẩu của các yếu tố: cơ cấu hàng hóa và năng lực cạnh tranh Qua ñó tìm ra nguyên nhân tại sao xuất khẩu của Việt Nam lại quá chậm, ñâu
là những lực cản, và tương tự, những lực ñẩy nào ñã làm cho xuất khẩu của Trung Quốc tăng rất nhanh, vì thế sẽ thấy ñược những yếu tố gây nên thâm hụt thương mại của Việt Nam hiện nay Những phân tích này sẽ làm rõ, Việt Nam nên ñổi mới và lựa chọn chính sách công nghiệp như thế nào ñể cải thiện thâm hụt thương mại
Phương pháp phân tích cấu trúc công nghệ hàng hóa xuất-nhập khẩu các
hàng hóa chủ yếu trong thương mại hai chiều Việt – Trung ñược sử dụng trong ñề tài sẽ là phương pháp của Lall (2000) Khung phân tích này sẽ cho thấy ñặc ñiểm về công nghệ và các nhân tố thâm dụng trong sản xuất hàng hóa xuất–nhập khẩu của Việt Nam Qua ñó sẽ chỉ ra ñược tính bền vững và hiệu quả của quan hệ thương mại giữa 2 nước
Phương pháp phân tích chỉ số Lợi thế so sánh bộc lộ (RCA - Revealed Competitive Advantage) ñể phân tích lợi thế so sánh các hàng hóa chủ yếu trong quan
hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc Các phân tích chỉ số RCA sẽ nhận diện những hàng hóa XNK của Việt Nam thực sự có lợi thế so sánh, cũng như quá trình chuyên
Trang 18môn hóa, ña dạng hóa trong quan hệ thương mại giữa 2 nước Với những phân tích này,
ñề tài sẽ kiến nghị những chính sách nhằm khai thác tối ña lợi thế so sánh trong thương
mại với Trung Quốc
I.7 Số liệu sử dụng trong ñề tài
Số liệu về thương mại ñược sử dụng sẽ là số liệu XNK hai chiều giữa Việt Nam
và Trung Quốc từ năm 2000 ñến 2008 ñược khai thác tại UN-Comtrade theo hệ thống phân loại SITC Rev3 cùng với các nguồn dữ liệu bổ sung từ GSO, Worldbank Các phân tích ñịnh tính về cấu trúc hàng hóa và phân tích chỉ số RCA sẽ sử dụng dữ liệu mức 3 chữ số Ở mức phân tích này, số liệu không quá tổng hợp nhưng có thể phân biệt các loại hàng hóa ở các cấp ñộ phức hợp công nghệ khác nhau trong cùng một nhóm hàng (Lall, 2000, trang 6) Riêng phương pháp CMS phân tích trên dữ liệu SITC - 1 chữ
số vì mục ñích của ñề tài chỉ dừng lại ở việc tìm ra những ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc ở mức ñộ tổng hợp nhất
Giai ñoạn nghiên cứu 2000 – 2008 có chiều dài 9 năm ñược kỳ vọng sẽ phản ánh tương ñối ñầy ñủ và xác thực về bức tranh thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc trong thời gian gần nhất có thể (ñến tháng 2/2011, UN-Comtrade vẫn chưa có số liệu của Việt Nam các năm 2009, 2010) Xuất phát ñiểm năm 2000, thương mại hai chiều Việt–Trung tương ñối cân bằng Tuy nhiên, từ thời ñiểm này trở ñi, thâm hụt của Việt Nam tăng rất nhanh Vì vậy, nghiên cứu thương mại hai chiều ViệtNam – Trung Quốc trong giai ñoạn này kỳ vọng sẽ nêu bật lên ñược các ñặc ñiểm về cấu trúc hàng hóa, về các lực ñẩy và lực cản (ñộng lực) XNK và qua ñó giải thích ñược phần nào nguyên nhân của thâm hụt Giai ñoạn này cũng ñược ñánh dấu rất nhiều sự kiện kinh tế quốc tế liên quan ñến cả 2 nước Đó là sự hồi phục dần của nền kinh tế Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998; Trung Quốc gia nhập WTO; Hiệp ñịnh thương mại song phương BTA Việt Nam – Hoa Kỳ (quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và là
ñối tác quan trọng bậc nhất trong kinh tế của Việt Nam) có hiệu lực và Việt Nam chính
thức gia nhập WTO Để có thể phân tích rõ ñược sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa XNK,
và sự thay ñổi các ñộng lực xuất-nhập khẩu trong mô hình CMS, giai ñoạn nghiên cứu
sẽ ñược chia thành 2 phân ñoạn: từ năm 2000 ñến 2004 và từ 2004 ñến 2008 Năm 2004
ñược chọn là năm bản lề, ñiểm giao cắt qua 2 phân ñoạn nghiên cứu là do ñây là thời ñiểm giữa của giai ñoạn 2000-2008 Đồng thời, từ thời ñiểm này trở ñi, Trung Quốc
vượt qua Nhật Bản trở thành ñối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch
2 chiều lên tới hơn 7 tỷ USD (Phụ lục 2 – Bảng - B-1)
Trang 19I.8 Cấu trúc luận văn
Chương II trình bày về khung phân tích và các nghiên cứu trước về các phương pháp CMS, phân lớp cấu trúc hàng hóa của Lall (2000) và phương pháp chỉ số lợi thế so sánh RCA Chương III bao gồm các kết quả tính toán và phân tích về ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu, cấu trúc hàng hóa trong thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc Dựa trên các kết quả phân tích ở Chương III, Chương IV sẽ ñưa ra các kiến nghị
và phản biện chính sách nhằm cải thiện thâm hụt thương mại của Việt Nam Chương V
sẽ kết luận những kết quả ñạt ñược, những hạn chế của ñề tài
Trang 20Chương II - Tổng quan về khung phân tích và các nghiên cứu trước
II.1 Phương pháp Thị phần không ñổi CMS
Phương pháp Thị phần không ñổi (CMS – Constant market share) lần ñầu tiên
ñược ñưa ra bởi Tyszynski (1951), nhằm phân tích các luồng thương mại quốc tế Được
phát triển bởi Leamer và Stern (1970) và rất nhiều các tác giả khác tiếp tục sửa ñổi, bổ sung như Richardson (1971), Ichikawa (1996), Memedovic và các cộng sự (2010a) Hiện nay, phương pháp CMS nói chung ñược sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu về thương mại quốc tế, ñặc biệt là phân tích ñộng lực tăng trưởng các luồng xuất khẩu
II.1.1 Tổng quan
Theo Leamer và Stern (1970, trang 171), với giả ñịnh thị phần xuất khẩu của các quốc gia là không ñổi theo thời gian, “xuất khẩu của một quốc gia có thể thất bại (thành công) trong tăng trưởng nhanh bởi 3 nguyên nhân chính: (1) cơ cấu xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các hàng hóa có cầu tăng trưởng chậm (nhanh); (2) quốc gia ñó tập trung xuất khẩu ñến những quốc gia có nền kinh tế trì trệ (tăng trưởng); (3) quốc gia ñó thất bại (thành công) trong việc cạnh tranh với các quốc gia xuất khẩu khác” Với những lập luận ñó, Leamer và Stern (1970) ñã xây dựng phương pháp CMS nhằm phân tích tăng trưởng thương mại với 3 yếu tố kể trên
Mặc dù ñược phát triển với nhiều phiên bản khác nhau và tồn tại một số bất cập
ñược chỉ ra bởi Richardson (1971), nhưng mô hình CMS của Leamer và Stern (1970)
vẫn ñược sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về phân tích nguồn tăng trưởng thương mại của các quốc gia như: ADBI (2002) dùng ñể phân tích liệu các nước Đông Á mới nổi có ñánh mất tính cạnh tranh xuất khẩu trước khủng hoảng 1997; Juswanto và các cộng sự (2003) dùng ñể kiểm chứng năng lực xuất khẩu hàng chế tác của Indonesia trong những năm 1990; Holst và Weiss (2004) sử dụng CMS ñể kiểm ñịnh sự cạnh tranh trong xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Nhật Bản giữa Trung Quốc với khối ASEAN5; Tran Thi Anh-Dao (2010) và Tran Thi Anh-Dao, Vo Tri Thanh và các cộng sự (2009) phân tích ñộng lực tăng trưởng thương mại của Việt Nam và Trung Quốc giai ñoạn 1997-2004
Trong phân tích thương mại song phương, phương pháp ñược sử dụng là mô hình phân tích “2 cấp ñộ”10 của Leamer và Stern (1970, trang 173-174) như các nghiên cứu sau: Rodriguez (1995) ñã sử dụng mô hình CMS phân tích và nhận dạng các biến tác ñộng ñến sự gia tăng nhanh chóng của thương mại song phương giữa New Zealand
10
Nguyên văn Tiếng Anh là: “two-level” analysis
Trang 21và Mexico từ năm 1957 ñến 1995; Vesselovsky và các cộng sự (2010) sử dụng mô hình CMS ñể phân tích nguyên nhân mất thị phần tại thị trường Hoa Kỳ của hàng xuất khẩu Canada giai ñoạn từ năm 1995 ñến 2009
Với mục tiêu nghiên cứu về thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc, mô hình phân tích “2 cấp ñộ” của Leamer và Stern (1970, trang 173-174) ñược cân nhắc sử dụng trong ñề tài này
II.1.2 Mô hình phân tích “2 cấp ñộ” của Leamer và Stern (1970)
Tăng trưởng xuất khẩu trong mô hình “2 cấp ñộ” của Leamer và Stern (1970)
ñược phân rã thành:
X(t) - X(0) = rX(0) + SUM{(r i -r)X i (0)} + SUM{X i (t) - X i (0) - r i X i (0)} (2.1) 11
(a) (b) (c)
Với các biến ñược ñịnh nghĩa trong mô hình:
- X: tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia A tới quốc gia B;
- Xi: kim ngạch xuất khẩu hàng i của quốc gia A tới quốc gia B;
- r: tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu của quốc gia B từ thời ñiểm 0 tới thời ñiểm t;
- ri: tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu hàng i của quốc gia B từ thời ñiểm 0 tới thời ñiểm t; Các nhân tố (ñộng lực) tác ñộng tới sự tăng trưởng xuất khẩu sẽ bao gồm:
(a) Hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu rX(0);
Trong quan hệ thương mại song phương, nếu tổng cầu nhập khẩu của B tăng, thì khi ñó với giả ñịnh thị phần không ñổi, xuất khẩu của A sang B cũng sẽ tăng tương ứng
Có thể nói trong mô hình CMS, nhân tố này phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố liên quan ñến tổng cầu nhập khẩu, ñó là các thông số kinh tế vĩ mô của nước B (Leamer và Stern 1970, trang 176) Diễn giải qua công thức rX(0), nếu nước nhập khẩu có GDP tăng trưởng cao sẽ kéo theo tỷ lệ tăng của cầu nhập khẩu (r) lớn, qua ñó dẫn ñến toán tử rX(0) lớn và ngược lại Hiệu ứng này còn cho thấy tiềm năng thương mại hai chiều giữa
2 nước trong quá trình tăng trưởng kinh tế
(b) Hiệu ứng cơ cấu hàng hóa SUM{(r i -r)X i (0)};
Tốc ñộ gia tăng xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào cơ cấu hàng hóa Vì, khi A xuất khẩu sang B những hàng hóa có nhu cầu tăng nhanh hơn so với tăng trưởng trung bình của tổng cầu nhập khẩu của B thì chắc chắn tổng kim ngạch xuất khẩu của những giai
ñoạn sau sẽ cao hơn giai ñoạn trước và ngược lại Yếu tố này phụ thuộc vào cả bên cầu
và cung nhập khẩu
11 Chứng mính phương trình (2.1) ñược diễn giải tại Phụ lục 1 – B.1.1 Mô hình CMS phân tích “2 cấp ñộ” của (Leamer và Stern 1970)
Trang 22Tác ñộng ở phía cầu, yếu tố này phụ thuộc vào ñộ co giãn của cầu theo thu nhập
và tình trạng cung nhân tố sản xuất của quốc gia nhập khẩu (theo Lu, 1996, trang 1; Türkekul, Günden, Abay và Miran, 2007, trang 5-6; Muhammad và Yaacob, 2008, trang 66) Cụ thể hơn, bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ nhập khẩu nhiều hơn những hàng hóa mà mình thiếu năng lực hay sản xuất hàng hóa ñó với chi phí cao12 Đồng thời, khi thu nhập của quốc gia thay ñổi, sẽ có những nhóm hàng quốc gia ñó nhập khẩu nhiều hơn và có những nhóm hàng ñược nhập khẩu ít hơn trung bình của tổng nhập khẩu
Về phía cung, hiệu ứng cơ cấu hàng hóa sẽ có ñóng góp dương cho tăng trưởng xuất khẩu nếu nước xuất khẩu chuyên môn hóa, tập trung xuất khẩu (liên quan ñến tình trạng cung nhân tố trong sản xuất)13 những hàng hóa có sức cầu tăng nhanh hơn tăng trưởng chung của cầu nhập khẩu (ri>r) hay nói khác ñi, năng lực của quốc gia xuất khẩu
có ñáp ứng ñược thay ñổi nhu cầu nhập khẩu của ñối tác hay không Ngược lại, nếu quốc gia ñó chỉ có năng lực sản xuất những hàng hóa có sức cầu chậm thì quốc gia này
sẽ bị bất lợi trong tăng trưởng xuất khẩu (ri<r)
Minh họa cho tác ñộng của yếu tố cầu-cung tới hiệu ứng này, B là một quốc gia
ñang “khát” tài nguyên vì tăng trưởng nhanh, trong khi nguồn cung trong nước không
ñủ cho tiêu dùng thì A, nếu xuất tài nguyên sang B sẽ có tăng trưởng xuất khẩu nhanh
hơn những nước chỉ xuất sang B những mặt hàng mà B có thể sản xuất ñược với chi phí hợp lý Một minh họa khác, khi một quốc gia có thu nhập tăng lên, thì cầu về các mặt hàng cấp thấp có thể sẽ giảm ñi và cầu các mặt hàng xa xỉ sẽ tăng lên một cách tương
ñối theo quy luật Engel về hiệu ứng thu nhập14
, khi ñó những nước chủ yếu xuất khẩu những mặt hàng cấp thấp (có thể do cung lao ñộng dồi dào, cung vốn ít ỏi…) sẽ có hiệu
ứng cơ cấu hàng hóa bất lợi, và nước xuất khẩu hàng xa xỉ sẽ có cơ cấu hàng hóa xuất
khẩu hợp lý, có lợi cho tăng trưởng xuất khẩu
Có thể nói rằng hiệu ứng cơ cấu hàng hóa thể hiện rất rõ quan hệ “phần bù” trong thương mại hai chiều Quan hệ này cũng ñược khẳng ñịnh trong mô hình thương mại quốc tế của Ricardo và Heckscher-Ohlin (H-O)
12 Mô hình Ricardo, Heckscher-Ohlin (H-O) ñều cho rằng cho rằng, các nước sẽ tập trung xuất khẩu những sản phẩm mà mình có năng suất cao và tương ñối giàu có về nguồn cung các nhân tố sản xuất, và ngược lại, các quốc gia sẽ nhập khẩu những hàng hóa mà mình không có nguồn cung dồi dào hay chi phí sản xuất cao (Tham khảo: Krugman và Obstfeld, 1996)
13 Như trên
14 Tham khảo: Robert S Pindyck và Daniel L Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, Bản dịch của Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1999;
Trang 23(c) Hiệu ứng năng lực cạnh tranh SUM{X i (t) - X i (0) - r i X i (0)};
Theo Leamer và Stern (1970), hiệu ứng này phản ánh sự khác biệt về giả định
“thị phần khơng đổi” trong mơ hình và thành tích xuất khẩu trong thế giới thực (thị phần
cĩ thay đổi), 2 tác giả này gọi đây là phần dư cạnh tranh chưa giải thích được Mặc dù
được gọi là phần dư chưa giải thích được, nhưng yếu tố này vẫn được các nghiên cứu
khi sử dụng mơ hình này như ADBI (2002), Tran Thi Anh-Dao (2010); Memedovic và các cộng sự (2010a) cứu xét như là biểu hiện của thay đổi trong năng lực cạnh tranh quốc gia Tốn tử này cĩ thể được gọi là hiệu ứng năng lực cạnh tranh do:
i) Hiệu ứng này là hàm số của giá tương đối của nước xuất khẩu với giá của thế giới15: SUM{Xi(t) - Xi(0) - riXi(0)} = SUM{g(Pi(t)/WPi(t)) - g(Pi(0)/WPi(0))} với Pi – là giá xuất khẩu mặt hàng i của quốc gia xuất khẩu trong nghiên cứu và WPi – là giá xuất khẩu mặt hàng i của thế giới, hàm g() là nghịch biến16 Như vậy, hiệu ứng năng lực cạnh tranh là yếu tố liên quan đến những thay đổi của giá thành như tỷ giá hối
đối thực hiệu dụng (REER) (Simonis, 2000, trang 5)
ii) Với ri’ là tăng trưởng xuất khẩu hàng i của quốc gia xuất khẩu tới quốc gia nhập khẩu trong nghiên cứu thì: SUM{Xi(t) - Xi(0) - riXi(0)} = SUM{(ri’–ri)Xi(0)} Tổng SUM{(ri’–ri)Xi(0)} sẽ nhỏ (lớn) hơn 0 khi và chỉ khi ri’ < (>) ri Điều này hàm ý, hiệu ứng sẽ bất lợi (cĩ lợi) cho tăng trưởng xuất khẩu khi tốc độ tăng xuất khẩu của quốc gia chậm (nhanh) hơn tốc độ nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu (hay tốc độ tăng xuất khẩu tới quốc gia nhập khẩu của thế giới)
Giải thích trên cho thấy, hiệu ứng này phản ánh thay đổi trong năng lực cạnh tranh của quốc là hợp lý Hiệu ứng lợi thế cạnh tranh phản ánh sự thay đổi lợi thế cạnh tranh của quốc gia qua các yếu tố: giá tương đối – như đã giải thích ở trên và các nhân
tố khác như chất lượng, thương hiệu, tính đặc thù của sản phẩm, mạng lưới phân phối… (theo Lu, 1996, trang 2; Simonis, 2000, trang 5; Memedovic và các cộng sự, 2010a, trang 17); tiến bộ cơng nghệ, sáng tạo (Vesselovsky và các cộng sự, 2010, trang 7) để sản phẩm của quốc gia được tiêu thụ nhiều hơn so với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh khác
Rõ ràng khác với 2 nhân tố trên, đây là nhân tố quốc gia xuất khẩu (phía cung nhập khẩu) cĩ thể chủ động nhất để tăng trưởng xuất khẩu của mình Nhất là trong trường hợp thương mại 2 chiều Việt Nam – Trung Quốc, với lợi thế gần về địa lý,
đường biên giới thuận tiện cho vận chuyển hàng hĩa, am hiểu đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 24của nhau… 2 nước này hoàn toàn có cơ hội ñể nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa của mình tại thị trường ñối tác
II.2 Phân lớp cấu trúc công nghệ hàng hóa xuất – nhập khẩu
Phương pháp phân cấp cấu trúc công nghệ hàng hóa của Lall (2000) ñược xây dựng, kết hợp và mở rộng trên nền tảng của 2 phương pháp: Pavitt, K.17 và của OECD18 Được phân thành 4 lớp chính và 9 lớp con19, phân lớp cấu trúc công nghệ hàng hóa của Lall (2000), dựa trên những chỉ số công nghệ trong hoạt ñộng sản xuất công nghiệp và các hiểu biết của tác giả Khung phân tích của Lall (2000) phân cấp dựa trên hệ thống chuẩn thương mại SITC Rev.2 Tuy nhiên do ñề tài sẽ sử dụng dữ liệu theo hệ thống SITC Rev.3 (chi tiết hơn Rev.2) nên công cụ chuyển mã từ SITC Rev.3 sang mã phân cấp Lall (2000) của Daniela Marconi – Ngân hàng Italy20 sẽ ñược sử dụng trong ñề tài
Các nghiên cứu trước sử dụng phân lớp cấu trúc công nghệ hàng xuất khẩu của Lall (2000): Holst và Weiss (2004) dùng phương pháp này ñể phân lớp hàng xuất khẩu nhằm ñánh giá sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và ASEAN sang thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản
II.3 Phân tích chỉ số Lợi thế so sánh bộc lộ RCA
II.3.1 Mô hình
Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ RCA (Revealed Comparative Advantage) ñược Bela Balassa công bố vào năm 1965 qua nghiên cứu “Trade Liberalization and 'Revealed' Comparative Advantage”, Manchester School 33, trang 99-123 Mục ñích của chỉ số này nhằm ñánh giá lợi thế so sánh hay mức ñộ cạnh tranh trên từng nhóm hàng của quốc gia xuất khẩu so với thế giới
Công thức tính RCA như sau:
RCA i = ௫/
௫
/
(2.2) Trong ñó:
- ݔ là xuất khẩu của quốc gia mặt hàng i
- X là tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia
- ݔ௪ là tổng kim ngạch mặt hàng i của thế giới
- ܺ௪ là tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới
19 Chi tiết tại Phụ lục 1 - B.1.2 Phân lớp cấu trúc công nghệ hàng hóa xuất – nhập khẩu;
20 Tham khảo tại Website Cơ quan Thống kê của Liên minh Châu Âu:
http://ec.europa.eu/eurostat/ramon/documents/sitc/SITC_Rev2_SITC_Rev3.zip (tháng 4/2011)
Trang 25RCAi càng lớn hơn 1 thì quốc gia ñó càng ñược hiểu là có lợi thế so sánh quốc gia ở mặt hàng i Ngược lại, nếu RCAi nhỏ hơn 1 thì quốc gia ñó không có lợi thế so sánh ở mặt hàng i
Theo ADBI (2002, trang 11), “chỉ số RCA là thước ño cấu trúc xuất khẩu của quốc gia, RCA thể hiện mô hình chuyên môn hóa xuất khẩu của quốc gia so với mô hình của thế giới RCA của một mặt hàng càng lớn, thì quốc gia ñó càng chuyên môn hóa và có lợi thế cạnh tranh mặt hàng ñó, theo dõi cấu trúc RCA qua thời gian sẽ cho thấy sự phát triển lợi thế cạnh tranh của quốc gia ñó và quan trọng nhất là tiến trình nâng cấp năng lực xuất khẩu, góp phần ổn ñịnh và phát triển xuất khẩu trong tương lai”
II.3.2 Các nghiên cứu trước sử dụng RCA
Vũ Thắng Bình (2006) ñánh giá lợi thế so sánh hàng xuất khẩu của Việt Nam từ năm 1999 ñến 2003 Tran Thi Anh-Dao, Vo Tri Thanh và các cộng sự (2009); Tran Thi Anh-Dao (2010) sử dụng RCA ñể ñánh giá lợi thế so sánh của hàng Việt Nam trong sự cạnh tranh xuất khẩu ra thế giới với Trung Quốc từ năm 1997 ñến 2004
Coxhead (2007) sử dụng phương pháp so sánh chỉ số RCA các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các nước ASEAN nhằm kiểm chứng về lời nguyền tài nguyên của các nước ASEAN trong cạnh tranh và hợp tác thương mại với Trung Quốc
Trang 26Chương III - Kết quả phân tích
III.1 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc
Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế rất nhanh ở cả 2 nước, thương mại hai chiều Việt Nam và Trung Quốc ñã gia tăng nhanh chóng trong vòng một thập niên qua Hình III-1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc có tốc ñộ tăng trưởng tương ñối sát so với tốc ñộ tăng GDP bình quân ñầu người của mỗi nước
Hình III-1 - Thương mại hai chiều và GDP bình quân ñầu người của Việt Nam,
Trung Quốc
(Nguồn: Tác giả tính từ UN-Comtrade và Worldbank)
Điều này có thể ñược hiểu là khi kinh tế tăng trưởng, sức cầu hàng hóa và khả
năng sản xuất tăng sẽ kéo theo các hoạt ñộng trao ñổi, thương mại hàng hóa giữa 2 nước gia tăng Các nghiên cứu của Depocen (2011), Yinghong và Weiwwei (2006), Nguyen Thanh Xuan và Yuqing Xing (2008)21 sử dụng mô hình hồi quy lực hấp dẫn (gravity model)22 ñã minh chứng cho nhận ñịnh này Các tác giả khẳng ñịnh: các nhân tố về GDP và tăng trưởng có tác ñộng dương tới thành tích xuất khẩu của cả Việt Nam và
21 Các tác giả này nghiên cứu về thành tích xuất khẩu ña phương, trong ñó có Việt Nam và Trung Quốc
22 Ý tưởng chính của mô hình này là giả thuyết: kim ngạch thương mại giữa các quốc gia ñược thúc ñẩy bởi các lực ñẩy và lực kéo Lực ñẩy là GDP của quốc gia xuất khẩu Quá trình tăng trưởng kinh tế ñi cùng với sự gia tăng năng lực sản xuất của quốc gia xuất khẩu Vì thế, kim ngạch xuất khẩu của quốc gia ñó sẽ
ñược nâng lên Tương tự, lực kéo là sự gia tăng nhu cầu hàng hóa nhập khẩu nhờ quá trình tăng thu nhập
của quốc gia nhập khẩu Ngoài ra, còn có các yếu tố khác tác ñộng ñến sự gia tăng thương mại như: khoảng cách về ñịa lý; sự hội nhập vào các ñịnh chế tự do thương mại và một số các biến ñộc lập khác, tùy theo mục ñích nghiên cứu mà các tác giá sẽ ñưa vào mô hình (Tham khảo: Depocen, 2011, trang 5)
Vi ệt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc
Trung Qu ố c xu ấ t kh ẩ u sang Vi ệ t Nam GDP bình quân ñầu người của Việt Nam
GDP bình quân ñầ u ng ườ i c ủ a Trung Qu ố c
Trang 27Trung Quốc Ngoài ra, Nguyen Thanh Xuan và Yuqing Xing (2008) còn cho rằng, phá giá ñồng Việt Nam và thu hút thêm vốn FDI cũng là nhân tố góp phần làm tăng trưởng xuất khẩu
III.2 Phân tích ñộng lực tăng trưởng thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc
III.2.1 Động lực xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam
Kết quả phân tích ñộng lực xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc bằng phương pháp CMS từ năm 2000 ñến 2008 với 2 phân ñoạn 2000-2004 và 2004-2008 (Bảng III-1) cho thấy các ñộng lực ñóng góp cho tăng trưởng xuất khẩu là không ñều giữa các yếu tố, cũng như giữa các ngành hàng (Phụ lục 2 - Bảng - B-5)
Bảng III-1 - Động lực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc giai
ñoạn 2000-2008
2000-2004 2004-2008 2000-2008 Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%)
Tăng trưởng 1.362,74 100 1.950,98 100 3.313,72 100 Hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu 2.294,31 168,4 2.951,33 151,3 6.193,98 186,9 Hiệu ứng cơ cấu hàng hóa -380,09 -27,9 2.777,67 142,4 2.139,97 64,6 Hiệu ứng năng lực cạnh tranh -551,48 -40,5 -3.778,03 -193,6 -5.020,23 -151,5
(Nguồn: Tác giả tính từ UN-Comtrade; ñơn vị: triệu USD)
Kết quả tính toán cho thấy, các ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc là những yếu tố như sau:
(a) Tác ñộng của hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu:
Tác ñộng lớn nhất tới thành tích tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam là hiệu ứng cầu nhập khẩu Trong cả 2 phân ñoạn, hiệu ứng tăng của tổng cầu ñã ñóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam hơn 2 tỷ USD (tương ñương 168% và 151%) cho mỗi phân ñoạn, và cả giai ñoạn là hơn 6 tỷ USD (gần 187%) Điều này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng chủ yếu là tận dụng ñược quy mô thị trường rộng lớn và ngày càng mở rộng do quá trình phát triển kinh tế rất nóng của Trung Quốc trong giai ñoạn 2000-2008 Đồng thời, tác ñộng quá lớn của hiệu ứng này thể hiện xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các ñiều kiện kinh tế vĩ mô của Trung Quốc Rõ ràng, yếu tố này tiềm ẩn nhiều bất trắc, nhất là gần ñây Trung Quốc cũng ñã cho thấy những trục trặc trong mô hình tăng trưởng kinh tế của mình (tăng trưởng chủ yếu dựa vào ñầu tư, lạm phát tăng cao ) Tăng trưởng xuất khẩu thực tế luôn nhỏ hơn rất nhiều so với hiệu ứng
Trang 28tổng cầu nhập khẩu cũng phản ánh xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc là dưới mức tiềm năng
(b) Tác ñộng của cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc:
Trong phân ñoạn 2000-2004, hàng xuất khẩu của Việt Nam có sức tăng trưởng của cầu chậm hơn so với tăng trưởng chung của tổng cầu nhập khẩu của Trung Quốc Biểu hiện là mức ñóng góp cho tăng trưởng xuất khẩu ở mức âm (-380,09 triệu USD, tương ñương -27,9% tăng trưởng xuất khẩu) Giai ñoạn này, mức tăng tổng cầu nhập khẩu của Trung Quốc là 149% Trong khi ñó, chỉ có 6/12 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam có mức cầu tăng nhanh hơn mức tăng trung bình của tổng cầu Tuy nhiên, các mặt hàng này có kim ngạch chỉ chiếm từ 10-20% tổng kim ngạch xuất khẩu Mặt hàng quan trọng như dầu thô (SITC-333) có tỷ trọng trong gói xuất khẩu từ 40-50% có mức cầu tăng chỉ 128% (Phụ lục 2 - Bảng - B-3)
Sang phân ñoạn 2004-2008, hiệu ứng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam ñã có
sự cải thiện rõ rệt khi ñóng góp hơn 2,7 tỷ USD (tương ñương 142,4%) cho tăng trưởng xuất khẩu Giai ñoạn này, mức tăng tổng cầu nhập khẩu của Trung Quốc là 102% Trong khi ñó, có 10 trong gói 14 hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam có mức cầu tăng nhanh hơn mức tăng của tổng cầu (Phụ lục 2 - Bảng - B-3)
Xét theo ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu của từng ngành hàng (Phụ lục 2 - Bảng
- B-5) cho thấy hàng lương thực - thực phẩm (SITC-0) luôn có hiệu ứng hàng hóa bất lợi trong cả giai ñoạn 2000-2008, tức là mức tăng cầu của nhóm này chậm hơn mức tăng tổng cầu Rõ ràng từ năm 2001, Trung Quốc ñã trở thành nước có thu nhập trung bình và tăng trưởng rất nhanh sau ñó, theo quy luật Engel23, cầu về loại hàng cấp thấp này sẽ giảm xuống Nhưng nghịch lý là nhóm hàng này luôn có tỷ trọng rất lớn (thứ 3 sau nhóm hàng nguyên-nhiên liệu SITC-2,3) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (trung bình trên 20% từ 2000-2004 và 18% từ 2000-2008, Phụ lục 2 - Bảng - B-7)
Vì thế, hiệu ứng cơ cấu hàng hóa ngành hàng lương thực, thực phẩm sẽ luôn gây bất lợi cho tăng trưởng xuất khẩu Trong khi ñó, chỉ có hàng nguyên liệu (SITC-2) và hàng dầu, mỡ ñộng, thực vật (SITC-4) luôn có hiệu ứng cơ cấu hàng hóa dương Điều này cho thấy, ñể có ñược tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn, Việt Nam sẽ phải tiếp tục duy trì cơ cấu hàng xuất khẩu thâm dụng tài nguyên
Trong cả giai ñoạn 2000-2008, hiệu ứng cơ cấu hàng hóa có tác ñộng dương tới tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc Tuy nhiên, rất khó ñể có thể nói
23 Tham khảo: Robert S Pindyck và Daniel L Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, Bản dịch của Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1999;
Trang 29tác ñộng này ñến từ việc Việt Nam chủ ñộng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang những hàng hóa có sức cầu (hay giá trị gia tăng) cao hơn hay ñến từ sự thay ñổi về cầu của thị trường Trung Quốc Có 3 nguyên nhân lý giải cho nhận ñịnh này:
- Thứ nhất, từ phân ñoạn 2000-2004 sang 2004-2008, số lượng hàng chủ lực xuất sang Trung Quốc chỉ tăng thêm 3 mặt hàng, ñó là giày dép (SITC-851), gỗ (SITC-246) và cao su tổng hợp (SITC-232) Tuy có sức cầu tăng nhanh hơn tổng cầu, nhưng kim ngạch của 3 mặt hàng này lại tương ñối nhỏ (từ 1-7% tổng kim ngạch)24
- Thứ hai, kim ngạch hàng nhiên liệu (SITC-3) ñi ngược lại với nhu cầu của thị trường Phân ñoạn 2000-2004, hàng nhiên liệu có tỷ trọng trên 50% thì nhu cầu của ngành hàng này lại thấp hơn trung bình (thể hiện ở chỉ số bi nhỏ hơn 0, Phụ lục 2 - Bảng - B-5) Sang phân ñoạn 2004-2008, kinh tế Trung Quốc phát triển “nóng” hơn, nhu cầu
về nhiên liệu tăng cao hơn (chỉ số bi lớn hơn 0), thì kim ngạch xuất khẩu nhiên liệu của Việt Nam lại giảm, tỷ trọng xuống dưới 40%25
- Thứ ba, có thể thấy chỉ số bi của hàng nguyên liệu (SITC-2) trong 2 phân ñoạn luôn lớn hơn 0 và việc tăng cường xuất khẩu nguyên liệu từ xấp xỉ 10% tổng kim ngạch trong phân ñoạn 2000-2004 lên 25% trong phân ñoạn 2004-2008 cho thấy Việt Nam
ñã có phản ứng tích cực trước tín hiệu của thị trường
(c) Về tác ñộng của năng lực cạnh tranh
Các nghiên cứu trước cũng sử dụng phương pháp tương tự như Vũ Thắng Bình (2006) và Tran Thi Anh-Dao (2010) cho rằng, sức cạnh tranh trong thương mại toàn cầu của Việt Nam ñang tăng nhanh và có ñóng góp cho sự tăng trưởng chung của xuất khẩu Tuy nhiên, tính toán của ñề tài chỉ với số liệu xuất khẩu sang Trung Quốc cho thấy kết quả hoàn toàn ngược lại, thay ñổi trong năng lực cạnh tranh là hoàn toàn bất lợi cho tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc và bất lợi lại càng tăng nhanh theo thời gian
Điều này có nghĩa, tốc ñộ tăng xuất khẩu của gói hàng của Việt Nam thấp hơn tốc ñộ
tăng của cầu nhập khẩu hàng hóa ñó tại thị trường Trung Quốc Đặc ñiểm này làm cho tác ñộng của năng lực cạnh tranh tới khả năng tăng trưởng xuất khẩu phân ñoạn 2000-
2004 là -551.48 triệu USD; phân ñoạn 2004-2008, bất lợi do năng lực cạnh tranh thấp tăng lên rất nhanh là -3 tỷ USD Tính chung cho cả giai ñoạn 2000-2008, tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi năng lực cạnh tranh thấp là một con số rất lớn -5 tỷ USD, gấp 1.5 lần so với mức tăng tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả giai ñoạn
24 Xem: Phụ lục 2 - Bảng - B-3;
25
Như trên;
Trang 30Nguyên nhân của sự sụt giảm năng lực cạnh tranh và qua ñó cản trở tăng trưởng xuất khẩu có thể là do việc ñịnh giá Đồng Việt Nam (VND) cao và Nhân dân tệ (RMB) thấp hơn giá trị thực Vấn ñề này sẽ ñược thảo luận ở các phần tiếp theo Tuy nhiên, có thể thấy, tác ñộng âm của năng lực cạnh tranh tới tăng trưởng xuất khẩu một phần là do
có sự thay ñổi cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam Sự thay ñổi cơ cấu này lại “chậm” hơn một cách tương ñối so với cầu nhập khẩu của Trung Quốc Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao (ñặc biệt là dầu thô) giảm rất nhanh, trong khi ñó số lượng hàng xuất khẩu chủ lực gần như không tăng thêm và các mặt hàng khác mặc dù tăng nhanh nhưng không ñủ ñể bù ñắp với sự sụt giảm trên, dẫn ñến tổng gói xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng thấp hơn với mức tăng của tổng cầu nhập khẩu của Trung Quốc
III.2.2 Động lực xuất khẩu của hàng hóa Trung Quốc
Kết quả phân tích ñộng lực xuất khẩu của Trung Quốc bằng phương pháp CMS
từ năm 2000 ñến năm 2008 với 2 phân ñoạn 2000-2004 và 2004-2008 (ñược minh họa ở Bảng III-2 dưới ñây) cho thấy: khác với Việt Nam, trong các ñộng lực xuất khẩu của Trung Quốc không có nhân tố nào quá bất lợi cho tăng trưởng xuất khẩu Mặc dù hiệu
ứng cơ cấu hàng hóa trong phân ñoạn 2000-2004 và cả giai ñoạn 2004-2008 có giá trị
âm, nhưng tác ñộng tương ñối nhỏ (-2.4% phân ñoạn 2004-2008 và trong cả giai ñoạn 2000-2008 là -0.3%)
Bảng III-2 - Phân tích ñộng lực xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang Việt Nam giai ñoạn 2000-2008
2000-2004 2004-2008 2000-2008 Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ
Tăng trưởng 2.722,77 100% 10.862,10 100% 13.584,87 100% Hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu 1.605,66 59,0% 6.495,55 59,8% 6.397,88 47,1% Hiệu ứng cơ cấu hàng hóa 14,21 0,5% -264,77 -2,4% -39,88 -0,3% Hiệu ứng năng lực cạnh tranh 1.102,90 40,5% 4.631,33 42,6% 7.226,88 53,2%
(Nguồn: Tác giả tính từ dữ liệu UN-Comtrade; ñơn vị: triệu USD)
Các nhân tố tác ñộng ñến tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc từ năm 2000
ñến 2008 bao gồm:
(a) Tác ñộng của hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu:
Hiệu ứng của tổng cầu nhập khẩu ñóng góp một phần quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc Tuy nhiên, xét trên cả giai ñoạn 2000-2008, hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu vẫn nhỏ hơn tổng của 2 hiệu ứng cơ cấu hàng hóa và năng lực cạnh tranh (47% so với 53%), ñiều này cho thấy xuất khẩu của Trung Quốc không quá phụ
Trang 31thuộc vào cầu nhập khẩu (ñiều hoàn toàn ngược lại với trường hợp xuất khẩu của Việt Nam)
(b) Tác ñộng của hiệu ứng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu:
Hiệu ứng cơ cấu hàng hóa qua 2 phân ñoạn 2000-2004 và 2004-2008 có tác
ñộng ñổi chiều và trong cả giai ñoạn 2000-2008 có tác ñộng âm (kết quả này cũng giống
với kết luận của Memedovic và các cộng sự (2010a) về cơ cấu hàng hóa xuất ra thế giới của Trung Quốc), nhưng số tuyệt ñối của hiệu ứng này nhỏ cho thấy cung xuất khẩu của Trung Quốc rất sát và cơ bản là ñáp ứng ñược cầu nhập khẩu của Việt Nam Trong phân
ñoạn 2000-2004, tổng cầu nhập khẩu của Việt Nam tăng 104%, thì có 23 trong 41 mặt
hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc có tốc ñộ tăng cầu nhanh hơn tốc ñộ tăng chung của tổng cầu Sang phân ñoạn 2004-2008, con số này là 24 trên 49 Tính cả giai ñoạn 2008-2000 thì có 27 trên 49 mặt hàng có sức cầu tăng nhanh hơn mức trung bình của tổng cầu là 416% (chi tiết tại Phụ lục 2 - Bảng - B-4) Như vậy có thể thấy, ña dạng hóa hàng xuất khẩu của Trung Quốc không quá nhanh nhưng khả quan hơn quá trình này của Việt Nam Đồng thời, quá trình này có thể chưa phân tán ñược rủi ro do biến ñộng của nhu cầu thị trường, nhưng cơ bản hiệu ứng cơ cấu hàng hóa vẫn không quá bất lợi cho tăng trưởng nhập khẩu (-0.3%) Rõ ràng, ña dạng hóa hàng xuất khẩu sẽ dễ dàng chuyển dịch cơ cấu nhằm khai thác tối ña tiềm năng của thị trường hơn…
Đáng chú ý nhất là chỉ số bi của hàng PP trong cả giai ñoạn 2000-2008 luôn có giá trị tương ñối lớn (chi tiết tại Phụ lục 2 - Bảng - B-6) Điều này cho thấy, mặc dù xuất khẩu chủ yếu là hàng sơ cấp, nhưng Việt Nam vẫn có nhu cầu thương mại nội ngành loại hàng này Hai phân ngành lớn nhất trong gói xuất khẩu của Trung Quốc là nguyên phụ liệu ngành dệt may, giày dép (SITC-65) và sắt thép (SITC-67) luôn có tỷ trọng trong cả giai ñoạn từ 15-35% Hai phân ngành này có 11 mặt hàng chủ yếu thì ña
số có sức cầu tăng nhanh hơn trung bình Hàng SITC-65 là nguyên liệu ñầu vào cho hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam là hàng dệt may, giày dép Cùng với ñó, sắt thép cũng là vật liệu quan trọng cho ngành xây dựng vốn ñang rất phát triển của Việt Nam Vì thế, có thể nhận ñịnh rằng, hàng nhập khẩu của Trung Quốc có ñộng lực chính
là từ nhu cầu tăng trưởng của Việt Nam
(c) Tác ñộng của hiệu ứng năng lực cạnh tranh:
Đóng góp của hiệu ứng này cho tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc tăng
theo thời gian Phân ñoạn 2000-2004, ñóng góp của hiệu ứng này là 40.5%, 2004-2008
là 42.6%, trong cả giai ñoạn 2000-2008, hiệu ứng này ñóng góp 53.2% cho tăng trưởng
Trang 32xuất khẩu Có thể nói rằng, không chỉ trong thương mại ña phương26 mà còn trong cả thương mại song phương với Việt Nam Sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc ngoài yếu
tố có lợi do Nhân dân tệ ñược ñịnh giá thấp, mà còn do mẫu mã hàng hóa ña dạng, phong phú và doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận thông tin thị trường Việt Nam rất dễ dàng (Ha Thi Hong Van và Do Tien Sam, 2009)
Kết quả phân tích cũng cho thấy, qua 2 phân ñoạn nghiên cứu, các ñộng lực gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc không có nhiều biến ñộng lớn như trường hợp của Việt Nam, mặc dù hiệu ứng cơ cấu hàng hóa có bất lợi ñôi chút (-2.4%, làm giảm gần 265 triệu USD)
III.2.3 Tiểu kết
Kết quả phân tích ñộng lực tăng trưởng thương mại qua mô hình CMS cho thấy, thương mại giữa 2 nước Việt Nam và Trung Quốc có ñộng lực chính ñến từ hiệu ứng tổng cầu nhập khẩu Mặc dù phương pháp phân tích khác nhau, nhưng kết quả của ñề tài này cũng ñồng nhất với nhận ñịnh của các ñề tài khác sử dụng mô hình hồi quy lực hấp dẫn ñã nêu Đó là, thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc song hành với quá trình tăng trưởng kinh tế Với tiềm năng phát triển còn rất lớn, nên thương mại trong tương lai giữa hai nước sẽ còn tiếp tục ñược mở rộng
Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam còn rất hạn chế ñể có thể
ñảm bảo ñược sự tăng trưởng xuất khẩu bền vững Mặc dù, xuất khẩu của Việt Nam ñã
tập trung vào những ngành hàng có sức cầu cao ở thị trường Trung Quốc, nhưng các bằng chứng cho thấy sự dịch chuyển cơ cấu hàng hóa là chưa rõ ràng nếu xét ñến cả sự dịch chuyển nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc Chính vì thế, chính sách công nghiệp của Việt Nam cần phải ñược ñổi mới nhằm tạo ra ñược những sản phẩm có sức cạnh tranh cao Đồng thời, ñẩy mạnh công tác dự báo thị trường trong dài hạn nhằm khuyến khích xuất khẩu những mặt hàng có triển vọng tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn
Năng lực cạnh tranh là ñộng lực tăng trưởng xuất khẩu chính của Trung Quốc Trong cả giai ñoạn nghiên cứu, yếu tố này ñóng góp tương ñương 50% cho sự gia tăng của tốc ñộ xuất khẩu Chính vì thế, kinh nghiệm của Trung Quốc trong lĩnh vực này chắc chắn sẽ có ích cho Việt Nam
26 Coxhead (2007), Holst và Weiss (2004) ñều cho rằng sức cạnh tranh của Trung Quốc là rất lớn và ñều
có thể ảnh hưởng tới những nước khác trong cạnh tranh nếu những nước này cũng có cùng một mô thức thương mại dựa trên hàng thâm dụng lao ñộng như Trung Quốc
Trang 33III.3 Cấu trúc và lợi thế
III.3.1 Hàng xuất khẩu c
của Việt Nam tương ñối
O), 2 nước sẽ trao ñổi vớ
xuất27 Coxhead (2007, t
tài nguyên trong thương
Trung Quốc của Việt Na
khẩu của Việt Nam là h
trên tài nguyên nông ngh
ế cạnh tranh của hàng hóa xuất – nhập khẩ
của Việt Nam sang Trung Quốc
chủ yếu trong gói xuất khẩu của Việt Nam sang
i tiết về cơ cấu hàng hóa tại Bảng - B-7) là: cá, cao su và các chế phẩm, gỗ, quặng; than ñá; d
; các hàng hóa và giao dịch khác Chi tiết về c B-9
rúc hàng xuất khẩu của Việt Nam theo phân lớp
hãn số liệu theo thứ tự từ dưới lên là: PP, RB1,
(Nguồn: Tác giả tính
n 2000-2004 gói 12 mặt hàng xuất khẩu chínSang phân ñoạn 2004-2008, gói mặt hàng xuất trọng 70-80% tổng kim ngạch Có thể thấy, g
i nghèo nàn về chủng loại Theo mô hình He
ới nhau những mặt hàng mà mình giàu có về
7, trang 1107) nhận ñịnh rằng: Việt Nam là nư
ng mại quốc tế nói chung Số liệu trong quan Nam cũng cho thấy ñặc ñiểm này, 80-90% tổhàng thâm dụng tài nguyên: PP - hàng sơ cấghiệp và RB2 - hàng dựa trên tài nguyên khác
tỷ trọng và thị phần lớn nhất trong gói hàng hướng giảm Trong nhóm này, rau củ (SITC-05
hính với tỷ trọng hơn
t khẩu chính chỉ lên
y, gói hàng xuất khẩu Heckscher-Ohlin (H- cung các yếu tố sản nước giàu và lệ thuộc
an hệ thương mại với
Trang 34(SITC-231) và than ñá (SITC-321) có tốc ñộ tăng nhanh với tỷ lệ tương ứng là 15, 14,
95 lần từ năm 2000 ñến 2008 Mặc dù phân ñoạn 2000-2004 kim ngạch không ñáng kể, nhưng sang 2004-2008, gỗ chính là mặt hàng có tốc ñộ tăng xuất khẩu nhanh nhất, kim ngạch năm 2008 gấp 24 lần năm 2004 Các mặt hàng khác tăng chậm, thậm chí tăng trưởng âm Từ năm 2000 ñến 2005, dầu thô (SITC-333) luôn ñạt 40-50% tổng kim ngạch, nhưng từ 2006 trở ñi, tỷ trọng ñột ngột giảm xuống chỉ còn quanh ngưỡng 10%
Vì vậy, qua các năm, tỷ trọng hàng sơ cấp giảm từ 88% năm 2000, xuống còn hơn 65% vào 2008 Xuất khẩu dầu thô phản ánh rất sát tình hình khai thác của Việt Nam Sản lượng dầu thô tăng liên tục ñến năm 2004 và sau ñó giảm dần28 Mặc dù giá của dầu thô
từ năm 2000 ñến 2008 tăng hơn 300%29, chỉ số giá chung của các mặt hàng sơ cấp khác tăng gấp hơn 2 lần30, nhưng kim ngạch hàng sơ cấp chỉ tăng 1,27 lần từ năm 2000 ñến
2008 Ngoài sự sụt giảm lớn của kim ngạch dầu thô do trữ lượng hữu hạn, một ñặc ñiểm
ñáng lưu ý khác trong xuất khẩu hàng sơ cấp là giá thế giới của than ñá Việt Nam Kim
ngạch than ñá tăng rất nhanh (xuất khẩu than ñá tăng nhanh nhất trong số các mặt hàng chủ yếu, ñến năm 2008 kim ngạch ñạt hơn 750 triệu USD, là mặt hàng có kim ngạch lớn thứ 2 sau cao su tự nhiên), nhưng giá thế giới của than Anthracite (loại than chủ yếu của Việt Nam) chỉ tăng 1,5 lần (từ 40,9 USD/tấn năm 2000 ñến 60,8 USD/tấn năm 2008)31
Có thể nói, xuất khẩu than bất lợi về giá hơn so với các loại hàng sơ cấp khác
Như vậy, mặc dù nhu cầu về hàng sơ cấp của Trung Quốc cũng rất lớn32 - hàm ý hiệu ứng cơ cấu hàng hóa trong mô hình CMS có ñóng góp dương cho tăng trưởng xuất khẩu Nhưng do sản lượng tài nguyên là hữu hạn và do giá than trong nước thấp hơn giá xuất khẩu33 nên xuất khẩu hàng sơ cấp của Việt Nam nói chung không bền vững do phải dịch chuyển sang những mặt hàng bất lợi về giá hơn Đồng thời, việc gia tăng xuất khẩu than gần ñây cũng gây ra những tiêu cực rất lớn về kinh tế - xã hội ở Quảng Ninh – ñịa
31
Nguồn: United States Energy Information Administration (2011), “Table 7.8 Coal Prices, Selected Years, 1949-2009”, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ:
http://www.eia.gov/totalenergy/data/annual/pdf/sec7_19.pdf
32 Tỷ lệ tăng nhập khẩu hàng sơ cấp của Trung Quốc năm 2008 so với năm 2000 là hơn 5 lần, lớn hơn tỷ
lệ tăng trung bình – nguồn: tác giả tính từ UN-Comtrade
33
Nguyên nhân của tình trạng này là do quy ñịnh giá trần của Chính phủ cho tiêu thụ than trong nước Tham khảo: Lan Hương (2009), “Giá than trong nước thấp hơn giá xuất khẩu tối ña 10%”, Báo ñiện tử Dân trí, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ: http://dantri.com.vn/c76/s76-343414/gia-than-trong-nuoc-thap- hon-gia-xuat-khau-toi-da-10.htm
Trang 35phương khai thác và xuất khẩu than chủ yếu Có thể nói, xuất khẩu than tăng nhanh
ñang cho thấy rõ về lời nguyền tài nguyên
Hộp III-1 – Xuất khẩu than và lời nguyền tài nguyên
Nằm ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh có ñường biên giới với Trung Quốc cả trên biển và ñất liền Là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển Nguồn tài nguyên than giàu có ñem lại cho Quảng Ninh nhiều lợi ích, nhưng ñi liền với nó là rất nhiều tác ñộng tiêu cực Công nghiệp của Quảng Ninh chủ yếu là ngành khai thác than Giá trị sản xuất của ngành than trong những năm gần ñây lên tới 70% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh và có xu hướng tăng theo thời gian (Phụ lục 2 - Bảng - B-12) Các ngành công nghiệp chế tác ở ñây gần như không phát triển, do các nguồn lực gần như tập trung cho ngành than
Cùng với sự gia tăng khai thác và xuất khẩu than sang Trung Quốc là những bất ổn
về kinh tế - xã hội ở tỉnh giàu tài nguyên này Tình trạng khai thác than “thổ phỉ” ñi liền với mất trật tự, an toàn xã hội, ñiển hình là những vụ thanh toán ñẫm máu của các băng
ñây là hoạt ñộng siêu lợi nhuận 36
Từ năm 2006 ñến 2009, số lượng than buôn lậu ñược Thanh tra công bố lên tới hơn 2,8 triệu tấn than với giá trị khoảng hơn 32 triệu USD37
34 Tham khảo: K.Nga – M.Ngọc (2008), “Mâu thuẫn do tranh giành bến bãi, mua bán than”, Báo Người lao ñộng Online, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ: http://nld.com.vn/249365P0C1019/mau-thuan-do- tranh-gianh-ben-bai-mua-ban-than.htm
35
Tham khảo: Thanh Sơn (2008), “Tình trạng than lậu: Nhiều lần ñành phải ñể tàu ñi”, Báo Gia ñình và
xã hội Online, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ: nhieu-lan-danh-phai-de-tau-di.htm
http://giadinh.net.vn/21693p0c1000/tinh-trang-than-lau-36 Tham khảo: Minh Ngọc (2009), “TKV tiếp tay cho trùm than lậu”, Báo Người lao ñộng Online, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ: http://nld.com.vn/20090904031050696P0C1002/tkv-tiep-tay-cho-trum-than- lau.htm
37 Tham khảo: Trương Hoàng (2011) “Khai khống ñể xuất khẩu hơn 2,8 triệu tấn than”, Báo Nông thôn ngày nay Online, truy cập tháng 4/2011 tại ñịa chỉ: http://danviet.vn/38127p1c25/khai-khong-de-xuat- khau-hon-28-trieu-tan-than.htm
Trang 36Hình III-3 – Chỉ số RCA các mặt hàng sơ cấp (PP) xuất khẩu chính của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tính từ UN-Comtrade)
Việt Nam có lợi thế so sánh lớn nhất ở nhóm hàng PP (Hình III-3, chi tiết tại Phụ lục 2 - Bảng - B-9) 8 trên 9 mặt hàng trong nhóm này có chỉ số RCA lớn hơn 1, trong ñó có những mặt hàng có RCA rất cao (lớn hơn 10) như cá (SITC-034), tôm (SITC-036), cao su tự nhiên (SITC-231) và gỗ (SITC-246) RCA năm 2008 của dầu thô mặc dù vẫn giữ ở mức có lợi thế, nhưng ñã giảm 1/2 so với năm 2000 Chỉ có 3 mặt hàng cá, gỗ và than là có RCA tăng theo thời gian Tuy nhiên, tỷ trọng cá xuất sang Trung Quốc giảm rất nhanh và sang phân ñoạn 2004-2008 ñã không còn ở trong gói hàng xuất khẩu chính Như vậy, hàng xuất khẩu của Việt Nam trong giai ñoạn 2000-
2008 có xu hướng tập trung vào gỗ và than Đi liền với tăng xuất khẩu gỗ, là diện tích rừng bị phá cũng tăng, tăng xuất khẩu than thì ñi cùng với chất lượng thể chế giảm sút
Có thể nói, hiện tượng Coxhead (2007) gọi là “lời nguyền tài nguyên mới” của Việt Nam trong cạnh tranh thương mại với Trung Quốc ñược khẳng ñịnh lại qua các bằng
chứng của luận văn này
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng sơ cấp không hoàn toàn chỉ ñem lại những tiêu cực,
ñiển hình là cao su Xuất khẩu tăng theo từng năm, từ 4,3% tổng kim ngạch năm 2000, ñến 2008, tỷ trọng của cao su tự nhiên (SITC-231) ñã lên tới 21% Cùng với ñó, một
chế phẩm là cao su ñã qua chế biến (SITC-621) cũng gia tăng nhanh chóng trong phân
ñoạn 2000-2004 (tỷ trọng năm 2000 chỉ là 0,1%, ñến năm 2004 ñã là 4,5%) Sang phân ñoạn 2004-2008, mặt hàng cao su tổng hợp (SITC-232) cũng trở thành mặt hàng chính
trong gói xuất khẩu, ñỉnh ñiểm là năm 2006 với kim ngạch gần 150 triệu USD (4,6% tổng kim ngạch) Như vậy, có thể thấy ngoài những bất cập nêu trên Việt Nam ñã có
Cá - 034
Tôm - 036
Cao su t ự nhiên 231
G ỗ - 246 Than ñ á - 321
D ầ u thô - 333
D ầ u qua s ơ ch ế - 334
Trang 37chút thành công khi thúc ñẩy xuất khẩu hàng sơ cấp, ñó là tạo ra liên kết thuận38 trong chuỗi sản phẩm cao su Tuy nhiên, sang phân ñoạn 2004-2008, xuất khẩu 2 chế phẩm dựa trên tài nguyên nông nghiệp (RB1) này tăng chậm lại, thậm chí có năm còn giảm Chỉ số RCA của các mặt hàng cao su cũng không ñược cải thiện qua các năm (RCA của cao su tự nhiên cũng không có xu hướng tăng có thể là do khai thác gần ñạt ngưỡng) và các chế phẩm (cao su tổng hợp SITC-232, cao su ñã qua chế biến SITC-621) vẫn ở mức kém lợi thế (RCA nhỏ hơn 1, Hình III-4) Mặc dù cao su tự nhiên ñã chiếm ñược thị phần tương ñối lớn ở Trung Quốc (gần 24% từ 2005-2008), nhưng 2 chế phẩm là cao su tổng hợp và cao su ñã qua chế biến vẫn chưa có ñược nhiều thị phần ở ñây (trung bình chưa ñến 6% cho cả 2 mặt hàng) Tốc ñộ tăng của các mặt hàng này nhanh hơn tốc ñộ trung bình của tổng xuất khẩu cho thấy Việt Nam thực sự có năng lực trong xuất khẩu các mặt hàng này Trung Quốc cũng nhập khẩu các mặt hàng này với tốc ñộ nhanh hơn trung bình Như vậy, thị trường Trung Quốc rất tiềm năng và còn nhiều “không gian” ñể hàng cao su Việt Nam có thể cạnh tranh và khai thác Chi tiết về xuất khẩu các mặt hàng cao su tại Phụ lục 2 - Bảng - B-13
Có thể nói, mặc dù bước ñầu ñã tạo ra ñược liên kết thuận trong xuất khẩu hàng
sơ cấp, nhưng chỉ có duy nhất trường hợp thành công với cao su Vì thế, Việt Nam chưa
có hay chưa hiệu quả trong chính sách ñể phát triển các sản phẩm thứ cấp thực sự trở thành những hàng xuất khẩu chủ lực, có năng lực cạnh tranh, trong khi sản lượng hàng
sơ cấp khó có thể tiếp tục tăng nhanh
Hình III-4 – Chỉ số RCA các mặt hàng dựa trên tài nguyên (RB) xuất khẩu chính của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tính từ UN-Comtrade)
38 Theo Perkins (2006), tạo ra liên kết thuận là một trong những lợi ích cơ bản của xuất khẩu hàng sơ cấp Những liên kết thuận-nghịch… là yếu tố ñể xuất khẩu hàng sơ cấp sẽ góp phần làm cho tăng trưởng kinh tế có nền tảng rộng lớn hơn
ch ế bi ế n - 621
Trang 38Trung Quốc trung bình t
Quốc nhập khẩu gạo gần
hàng thông thường39, tăn
gia tăng (kim ngạch nhậ
nhập khẩu chỉ tăng hơn 2
khẩu sang Trung Quốc tr
h khi tốc ñộ xuất khẩu của Việt Nam nhanh hơn
ng Quốc (Phụ lục 2 - Bảng - B-3) Tuy nhiên,
ổng kim ngạch (chưa ñến 5%) Liên quan ñến
c mặt hàng mà Việt Nam ñứng thứ 2 thế giới v
số RCA gần 40 và 20) Nhưng kim ngạch x
h trong cả giai ñoạn chưa ñến 7,5 triệu USD T
n 170 triệu USD/năm Tăng thị phần gạo tại T
ng cách nhằm cải thiện cán cân thanh toán của
t hàng xuất khẩu chính sang Trung Quốc (tỷ
t hàng chiếm tương ñối lớn thị phần nhập khẩu
g (năm 2008 là 42,7%) Không như ña số các (có ñộ co giãn của cầu theo thu nhập nhỏ hơn
t ng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ kéo theo
ập khẩu cà phê năm 2008 gấp 4 lần so với 20
n 2 lần) Vì vậy, cà phê hoàn toàn có thể là mặ trong thời gian tới
n hàng xuất khẩu sang Trung Quốc của Việt N
ên, tỷ trọng mặt hàng
n nông sản, ñáng chú
i về xuất khẩu với lợi
h xuất khẩu gạo sang Trong khi ñó, Trung
Trang 39Năng lực cạnh tranh của nhĩm hàng cơng nghệ thấp LT1 (những sản phẩm dệt may, giày dép) chủ yếu dựa trên giá nhân cơng rẻ Sản phẩm chủ yếu của nhĩm này là giày dép cĩ tốc độ tăng trưởng rất nhanh Tỷ trọng tăng hơn 46 lần từ năm 2000 đến
2008 Thị phần tại Trung Quốc của nhĩm hàng này cũng tăng nhanh trong phân đoạn 2004-2008 (Hình III-5) Cĩ thể thấy, thị phần hàng Việt Nam tại Trung Quốc đang dịch chuyển từ hàng sơ cấp sang hàng thâm dụng lao động, trong khi thị phần của các nhĩm hàng khác gần như khơng cĩ chuyển biến Xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang Trung Quốc tăng với tốc độ nhanh, trong khi chỉ số RCA của nhĩm hàng này tuy vẫn rất cao (lớn hơn 10), nhưng đang giảm rõ rệt trong phân đoạn 2004-2008 (thời đoạn kim ngạch xuất sang Trung Quốc tăng nhanh - Bảng - B-9) cho thấy, thị phần xuất khẩu sang các đối tác khác như EU, Hoa Kỳ… của giày dép đã giảm tương đối Sự giảm sút của giày dép tại các thị trường này cĩ thể do ngành hàng này bị áp thuế chống phá giá40 Trung Quốc vốn là đất nước cĩ lợi thế trong xuất khẩu hàng may mặc, giày dép Kim ngạch tăng nhanh của giày dép cho thấy, sức cạnh tranh của mặt hàng đã được nâng lên
rõ rệt Tuy nhiên, nếu xét tiếp may mặc (SITC-84), mặt hàng cĩ nhiều điểm chung với giày dép, đĩ là thâm dụng lao động, cạnh tranh nhờ lao động rẻ và Việt Nam cũng cĩ lợi thế so sánh ở mặt hàng này (RCA trung bình là 5), nhưng Việt Nam lại bị thâm hụt về mặt hàng này (năm 2008, thâm hụt lên tới gần 180 triệu USD) Tính chung cho cả nhĩm hàng may mặc và giày dép, từ năm 2000-2008 trung bìnhViệt Nam thâm hụt 64 triệu USD/năm Như vậy, bình luận của Coxhead (2007, trang 1112) đã đúng khi cho rằng những nước phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động như may mặc, trong đĩ cĩ Việt Nam, sẽ bị thiệt hại bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc
Năm 2008, với 2 mặt hàng chính là máy văn phịng (SITC-751) và thiết bị viễn thơng (SITC-764) đạt kim ngạch trên 360 triệu USD, HT1 (hàng cơng nghệ cao điện và
điện tử) trở thành nhĩm hàng xuất sang Trung Quốc lớn thứ 3 của Việt Nam (tỷ trọng
7,8%) và là nhĩm cĩ tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Kim ngạch năm 2008 tăng 74 lần
so với năm 2000, trong khi hàng LT1 chỉ tăng 41 lần Xuất khẩu các mặt hàng thâm dụng vốn và cơng nghệ này ở các nước đang phát triển cần phải cĩ sự đầu tư của các tập
đồn đa quốc gia (MNC)41
Năm 2007, xuất khẩu 2 mặt hàng này khơng đáng kể (máy văn phịng chỉ tính bằng nghìn USD và thiết bị viễn thơng là 21 triệu USD) Nhưng sang
40 Tham khảo: Nguyên Phong (2006), “Ngành da giày chuẩn bị đối phĩ với kiện phá giá”, Website của Phịng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam, truy cập tháng 4/2011 tại địa chỉ:
http://chongbanphagia.vn/diemtin/20061206/nganh-da-giay-chuan-bi-doi-pho-voi-kien-pha-gia và B.Hồn (2011), “Da giày bị kiện chống bán phá giá: Thiệt hại 100 triệu USD/năm”, Báo Tuổi trẻ Online, truy cập tháng 4/2011 tại địa chỉ: http://tuoitre.vn/Kinh-te/433543/Da-giay-bi-kien-chong-ban-pha-gia- Thiet-hai-100-trieu-USDnam.html
41
Theo Lall (2000, trang 9)