Tài liệu Sử dụng chiết xuất Beta-Glucan từ rong biển để tăng sức đề kháng cho tôm biển.
Trang 1SỬ DỤNG CHIẾT SUẤT β-GLUCAN TỪ RONG BIỂN ĐỂ TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA TÔM BIỂN:
TỔNG QUAN
Huỳnh Trường Giang 1 , Vũ Ngọc Út 1 và Trương Quốc Phú 1
ABSTRACT
Seaweed is considered to be a rich source of polysaccharides The polysaccharide extracted from seaweed to be described having an interesting biological activity was probably the β-glucan Among seaweed species, agar and carrageenan are names given to various β-glucan extracted from the red seaweeds, which are mainly comprised of galactose and agarose Fucoidan, laminarin, and alginate are β-glucans from the brown seaweeds containing glucose, fucose, manose, and gulose
Shrimp lack an adaptive immune system and their defense mechanisms depend exclusively on innate immunity consisting of physical barrier, cellular and humoral components that can recognize and eliminate foreign particles in which haemocytes play important roles in innate immune response of shrimp β-glucans showed ability to stimulate the proliferation of haemocytes, and triggered release of defensive enzymes and antimicrobial peptides (AMPs) β-glucans have successfully been used to increase immune response and resistance against vibriosis and viral infection in penaeid shrimp such as tiger shrimp Penaeus monodon, kuruma shrimp Marsupenaeus japonicus, white shrimp Litopenaeus vannamei, fleshy shrimp Fenneropenaeus chinensis, yellowleg shrimp Farfantepenaeus californiensis and Sao Paulo shrimp Farfantepenaeus paulensis Administration of β-glucan through immersion is considered as a practical way of stimulating shrimp immunity However, oral administration is non-stressful and allows mass administration regardless of shrimp size For the effective use of β-glucans, the timing, dosages and route of administration need to be taken into consideration
Keywords: seaweed extract, shrimp, immunostimulant, innate immunity, β-glucan, immune response
Tittle: Use of β-glucan extracted from seaweed in shrimp immunity enhancement: A review
Trang 2polysaccharide ly trích được từ rong biển có hoạt tính sinh học như là một glucan Giữa các loài rong biển, agar và carrrageenan là những dạng β-glucan chứa các đường galactose và agarose, chủ yếu ly trích từ nhóm tảo đỏ Trong khi đó, fucoidan, laminarin, và alginate là những β-glucan chứa nhiều đường glucose, fucose, manose, và gulose được ly trích từ tảo nâu
Tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu, quá trình miễn dịch của tôm chủ yếu dựa vào hệ miễn dịch tự nhiên bao gồm hàng rào vật lý (lớp vỏ ki-tin), miễn dịch dịch thể, và miễn dịch tế bào trong đó tế bào bạch cầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc chống lại mầm bệnh β-glucan có khả năng kích thích sự tổng hợp và phóng thích tế bào bạch cầu, từ đó thúc đẩy quá trình phóng thích một
số enzyme miễn dịch cũng như là các peptid kháng khuẩn (AMPs) β-glucan đã được sử dụng thành công trong việc tăng cường sức đề kháng đối với vi khuẩn gây bệnh thuộc nhóm Vibrio, thậm chí đối với vi-rút đốm trắng trên một số loài tôm biển như là tôm sú Penaeus monodon, tôm he Nhật Bản Marsupenaeus japonicus, tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei, tôm he Ấn Độ Fenneropenaeus chinensis, tôm thẻ chân vàng Farfantepenaeus californiensis
và tôm Sao Paulo Farfantepenaeus paulensis Phương pháp ngâm được xem là phương pháp thực tế, dễ thực hiện trong liệu pháp tăng cường miễn dịch tôm Tuy nhiên, cho ăn là phương pháp được đánh giá có tính khả thi cao, dễ thực hiện trên phạm vi rộng, không gây sốc cho tôm và có thể bổ sung β-glucan ở bất cứ giai đoạn phát triển của tôm Để sử dụng β-glucan hiệu quả, thời gian, liều lượng, và phương pháp sử dụng là những điều cần phải được cân nhắc
Từ khóa: ly trích rong biển, tôm biển, chất kích thích miễn dịch, miễn dịch
tự nhiên, β-glucan, phản ứng miễn dịch
1 GIỚI THIỆU
Khu vực châu Á Thái Bình Dương được biết đến như là vùng sản xuất tôm biển lớn nhất Năm 2009, sản lượng tôm nuôi toàn cầu đạt 6 triệu tấn, chiếm 46,3% tổng sản lượng nuôi thuỷ sản (FAO, 2010) Hiện nay, giáp xác đứng ở
vị trí kinh tế quan trọng trong trong nghề nuôi trồng thuỷ sản toàn cầu với tổng
giá trị đạt được lên đến 10 tỉ đô la Mỹ, trong đó tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là hai đối tượng nuôi chủ lực (Johnson et al., 2008) Tuy nhiên, nghề nuôi tôm luôn phải đối mặt với những rủi ro và dịch bệnh đặc hữu mà thiệt hại lớn nhất vẫn là bệnh do Vibrio và vi-rút gây ra (Lo và Kou, 1998; Liu et al., 2004) Quản lý và phòng trị bệnh trên
tôm nuôi đang là mối quan tâm hàng đầu và cũng là chủ đề lớn trong nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu tập trung vào việc nâng cao miễn dịch tôm thông qua việc sử dụng các hợp chất β-glucan ly trích từ rong biển β-glucan đã được nghiên cứu ứng dụng từ lâu, trong đó các hợp chất như là 1,3 glucan, β-1,3-1,6 glucan, zymosan, laminarin đã được báo cáo là tăng cường miễn dịch
tôm trong điều kiện phòng thí nghiệm (Vargas-Albores et al., 1996; Sung et
Trang 3al., 1998; Vidya et al., 2007) Bên cạnh đó, một số hợp chất ly trích thô từ rong
biển cũng có khả năng tăng cường hệ miễn dịch không đặc hiệu của một số loài
tôm biển trong điều kiện thực nghiệm (Huang et al., 2006; Yeh et al., 2006; Yeh và Chen, 2009) Từ đó có thể cho thấy rằng các hợp chất β-glucan đóng
vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức đề kháng, giảm thiểu tác động của dịch bệnh trong giai đoạn hiện nay Trong tổng quan này, những thông tin về các hợp chất β-glucan ly trích từ rong biển, cơ chế kích thích hệ miễn dịch không đặc hiệu trên giáp xác được trình bày làm cơ sở cho việc nghiên cứu ly trích các hợp chất β-glucan từ một số loài rong biển hiện diện ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, góp phần trong việc phát triển nghề nuôi tôm bền vững
2 β-GLUCAN – NGUỒN TÀI NGUYÊN DỒI DÀO TRONG ĐẠI
DƯƠNG
β-glucan là một polysaccharide (PS) được cấu thành từ các monosaccharide Vị trí liên kết của các monosaccharide trong chuỗi đã hình thành nên những hợp chất với tên gọi khác nhau như là: agar (β-1,3-1,4-glucan), alginate (β-1,4 glucan), carrageenan 1,4-glucan) (Wood, 1974), fucoidan (β-1,3-glucan), laminarin (β-1,3-1,6-glucan) (Davis, 2003),… Agar, carrageenan được
ly trích chủ yếu từ các loài rong biển thuộc ngành tảo đỏ (Rhodophyta), trong khi fucoidan, laminarin, alginate lại dồi dào trong các loài thuộc ngành tảo nâu (Phaeophyta) (Wood, 1974) Ngoài ra, một số dạng khác của β-glucan như là chrysolaminarin 1,6-glucan) chứa nhiều trong vi tảo và zymosan (β-1,3-glucan) từ nấm men (Wood, 1974) (Hình 1) Giữa các dạng β-glucan khác nhau, bản chất cũng khác nhau Fucoidan chứa các phân tử đường fucose,
thường hay được gọi là sufate fucan (Patankar et al., 1993) Laminarin,
chrysolaminarin được hợp thành chủ yếu là glucose (Wood, 1974) Alginate
chứa các đường mannose và gulose (Mizuno et al., 1983; Krull và Cote, 1992)
Trong khi đó carrageenan lại chứa đường dạng galactose và cũng được chia
thành nhiều dạng như là Kappa (k), Lambda (λ), Iota ( ) (Duarte et al., 2002; Yeh và Chen, 2009) Về mặt cấu trúc cũng như là đặc tính sinh hóa học của
β-glucan đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ (Novak và Vetvicka, 2009)
PS thường được ly trích bằng nước hoặc các dung môi, tạo thành các hỗn hợp trung tính hoặc các hợp chất cao phân tử mang tính axít Các PS ly trích từ
rong biển đầu tiên được mô tả là có hoạt tính như một β-glucan (Paulsen,
2002) Trong đại dương các dạng của β-glucan cũng được tìm thấy trong vách
tế bào của nấm và vi khuẩn (Novak và Vetvicka, 2009)
Trang 4
Nguồn: (1), (2), (3): Wood (1974); (4), (5): Davis (2003)
Hình 1: Cấu trúc các hợp chất β-glucan
BIỂN
Các hợp chất β-glucan đã được sử dụng từ lâu và hiện có hơn 6.000 bài báo nghiên cứu về nó (Novak và Vetvicka, 2009) Các hợp chất β-glucan được sử dụng rộng rãi trong y học để điều trị các bệnh vi khuẩn, nấm, protozoa, vi-rút,
và kể cả ung thư (Schaeffer và Krylov, 2000; Ponce et al., 2003; Toshihiko et al., 2003) Vách tế bào của một số loài tảo biển chứa các hợp chất fucoidan,
chúng không thể tìm thấy trong các loài thực vật trên cạn có chức năng đặc biệt trong điều hoà ion Hơn nữa, các hợp chất này được sử dung như là chất chống oxy hóa, chất chống đông máu, chống ung thư, chống viêm, kích thích hệ miễn
dịch (Johansson và Söderhäll 1985; Blondin et al., 1994; Franz et al., 2000; Haroun-Bouhedja et al., 2000)
Tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu, quá trình miễn dịch của chúng chống lại mầm bệnh chỉ dựa vào miễn dịch tự nhiên bao gồm: hàng rào vật lý (lớp vỏ ki-tin), miễn dịch dịch thể, và miễn dịch tế bào (Bachère, 2003) Chúng ta biết rằng, lớp vỏ ki-tin bao bên ngoài cơ thể có nhiệm vụ như một hàng rào chắn, chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh Và khi mầm bệnh hay vật lạ vượt qua hàng rào chắn này, chúng phải đối mặt với hai quá trình là miễn dịch dịch thể
và miễn dịch tế bào mà trong đó tế bào bạch cầu đóng vai trò quan trọng (Söderhäll và Cerenius, 1992; Lee và Söderhäll, 2002)
Laminarin (4)
Fucoidan (5)
Fucoidan λ-Carageenan(3)
Trang 5Tế bào bạch cầu của giáp xác được chia thành 2 loại: bạch cầu không hạt (hyaline cell), và bạch cầu có hạt (granular cell) Cerenius và Söderhäll (2004) cho rằng β-glucan kích thích quá trình melanin hóa (melanization) và quá trình thực bào (phagocytosis) thông qua sự nhận biết bởi các protein nhận biết đặc biệt là PRPs (specific pattern-recognition proteins): LGBP (lipopolysaccharide
và β-1,3-glucan-binding protein) và βGBP (β-glucan-binding protein) trên tế bào bạch cầu (Hình 2) Đối với bạch cầu có hạt, trước hết khi bị kích thích bởi β-glucan, quá trình tiêu giảm hạt (degranulation) sẽ xảy ra, từ đó dẫn đến sự phóng thích một số enzyme miễn dịch bao gồm prophenoloxidase (proPO), serine proteinase, peroxinectin (PX), và α2-macroglobulin (α2-M) (Lee và Söderhäll, 2002; Cerenius và Söderhäll, 2004) Tiếp theo, với sự xúc tác của enzyme trypsin-like serine proteinase (SP) được biết đến như một enzyme kích hoạt hệ thống proPO (proPO-activating (PPA)), proPO từ thể không hoạt động chuyển thành enzyme hoạt động phenoloxidase (PO) PO là một enzyme chứa nguyên tử đồng (Cu), xúc tác tiếp theo 2 quá trình o-hydroxyl hoá monophenol
và oxy hoá diphenol thành quinine Chức năng quan trọng của PO là chuyển hợp chất tyrosine thành dihydroxyphenylalanine (DOPA) cũng như là
DOPA-quinone (Ratcliffe et al., 1985) (Hình 2) Trong suốt quá trình melanin hóa,
melanin sẽ bao lấy vi khuẩn/ vật lạ và phóng thích ra ngoài lớp vỏ cu-tin Cơ chế này cũng giống như cơ chế miễn dịch của côn trùng, sắc tố melanin sẽ tích
tụ trên vỏ giáp của giáp xác, đó cũng là bằng chứng của quá trình bị tổn thương Đối với côn trùng, đây là cơ chế đặc biệt chống lại tác động của thuốc diệt côn trùng Song song với quá trình melanin hóa, các peptid kháng khuẩn AMPs bao gồm crustin, ALF (antilipopolysaccharide factors), penaeidin, lectin, và lysozyme… cũng được tiết ra bởi bạch cầu có hạt để tiêu diệt mầm
bệnh (Hình 2) (Jollés và Jollés, 1984; Sritunyalucksana et al., 1999; Destoumieux et al., 2000; De-la-Re-Vega et al., 2006)
Trong khi quá trình melanin hóa xảy ra ở tế bào bạch cầu có hạt, quá trình thực bào lại xảy ra ở tế bào không hạt Trong quá trình này, gốc oxy nguyên tử (O-), gốc hydroxyl (xOH), và hydrogen peroxide (H2O2) được sinh ra và được xem là
những chất oxy hoá mạnh tiêu diệt vi khuẩn (Fridovich, 1995; Muñoz et al.,
2000) Từ đó, hoạt tính men superoxide dismutase (SOD), gluthathione peroxidase (GPx) và catalase (CAT) (Hình 2) nhằm cân bằng các gốc oxy hóa mạnh sinh ra do quá trình thực bào của bạch cầu cũng gia tăng (Fridovich,
1995; Campa-Córdova et al., 2002)
Trang 6Hình 2: Cơ chế kích thích miễn dịch không đặc hiệu của tôm khi bị kích thích bởi
β-glucan
Nguồn: (1): Cerenius và Söderhäll, 2004; (2): Lee và Söderhäll, 2002; (3): Ratcliffe et al., 1985; (4): Sritunyalucksana et al., 1999; Destoumieux et al., 2000; (5): Muñoz et al., 2000; Campa-Córdova et al., 2002; (6): Fridovich, 1995; (7): Campa-Córdova et al., 2002
5 ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN VỌNG
Các hợp chất β-glucan được sử dung như là một chất kích thích miễn dịch trên tôm trong điều kiện thí nghiệm Một số loài đã được nghiên cứu ứng dụng
β-glucan trong việc tăng cường miễn dịch thành công như là tôm sú P monodon (Chang et al., 2003; Chotigeat et al., 2004), tôm he Nhật Bản Marsupenaeus japonicas (Dachi et al., 1999), tôm thẻ chân trắng L vannamei (Yeh et al., 2006; Yeh và Chen 2009), tôm he Ấn Độ Fenneropenaeus chinensis (Huang et al., 2006), tôm thẻ chân vàng Farfantepenaeus californiensis, và tôm Sao Paulo Farfantepenaeus paulensis (Perazzolo và Barracco, 1997; Vargas-Albores et al., 1996) Hiện nay, có 3 phương pháp chủ yếu đang được áp dụng
để tăng cường miễn dịch trên tôm bằng các hợp chất β-glucan bao gồm: ngâm,
(1)
(2)
(2)
(3)
(4)
(3)
(1)
(1)
(3)
(5)
(6)
(7) (6)
Trang 7tiêm, và cho ăn Nghiên cứu ảnh hưởng của β-glucan lên hệ miễn dịch tôm đã được nghiên cứu thành công vào những năm của thập niên trước đây khi Chang
et al (2000) sử dụng β-1,3-glucan ly trích từ nấm Schizophyllum commune để tăng cường miễn dịch trên tôm sú (P monodon) bố mẹ, sau đó tác giả cũng đã
thử nghiệm dùng hợp chất này để làm tăng sức đề kháng trên tôm chống lại vi-rút đốm trắng WSSV Kết quả cho thấy rằng ở liều lượng 2,0 mg/ kg thức ăn/
ngày có tác dụng tốt lên tỉ lệ sống của tôm (Chang et al., 2003)
Đối với các hợp chất β-glucan ly trích từ rong biển thì Chotigeat et al (2004) cũng có nghiên cứu trên loài tảo nâu Sargassum polycystum Hợp chất fucoidan thô từ S polycystum được ly trích bằng dung dịch HCl 0,1 N Thí nghiệm được thực hiện trên tôm sú (P monodon) ở 2 kích cỡ khác nhau (5 – 8 g và 12 – 15
g) Kết quả cho thấy rằng ở cỡ tôm 5 – 8 g, tôm được cho ăn với liều lượng 400 mg/ kg tôm/ ngày có tác dụng làm tăng tỉ lệ sống 46% sau 10 ngày cảm nhiễm với vi rút đốm trắng Trong khi đó, đối với tôm có trọng lượng từ 12 – 15 g, chỉ với liều lượng 200 mg/ kg tôm/ ngày có tác dụng làm tăng tỉ lệ sống lên đến 93% sau 11 ngày gây cảm nhiễm và chỉ số thực bào đạt được 2,36 ± 1,28 so với đối chứng 0,83 ± 0,6 Cũng từ nghiên cứu này tác giả cũng đã chỉ ra rằng
hợp chất fucoidan thô ly trích từ rong nâu S polycystum có khả năng kháng
khuẩn, với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với các loài vi khuẩn
Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Vibrio harveyi lần lượt là 6,0, 12,0
và 12,0 mg/mL Sau đó, Hou và Chen (2005) cũng đã nghiên cứu ứng dụng
hỗn hợp ly trích từ tảo đỏ Gracilaria tenuistipitata để kích thích hệ miễn dịch trên tôm thẻ chân trắng (L vannamei) thông qua tiêm với liều 4 – 6 µg/g tôm
Kết quả cho thấy sau khi được tiêm 2 giờ, số lượng bạch cầu (THC), PO, super anion O2x- (RB), tỉ lệ sống của tôm thí nghiệm gia tăng có ý nghĩa (p< 0,05) so với nghiệm thức đối chứng Cũng trên loài tảo đỏ Gelidium amansii, Fu et al
(2007) cũng nghiên cứu tương tự nhưng thí nghiệm được thực hiện thông qua 3 phương pháp ngâm, tiêm, và cho ăn Kết quả thí nghiệm cho thấy các chỉ tiêu miễn dịch gia tăng có ý nghĩa khi tôm được ngâm trong nước biển 34‰ có
chứa hỗn hợp ly trích từ tảo G amansii ở nồng độ 400 – 600 mg/L sau 1 giờ
Đối với thí nghiệm tiêm, liều lượng 6 µg/ g tôm được cho là hiệu quả nhất sau
1 ngày tiêm, và khi tôm được cho ăn ở liều lượng 1 – 2 g/ kg thức ăn sẽ có tác dụng tăng cường miễn dịch sau 14 ngày
Cũng trên thẻ chân trắng (L vannamei), Yeh et al., (2006) đã nghiên cứu khả năng kích thích miễn dịch cũng bằng hỗn hợp ly trích từ tảo nâu S duplicatum
Tôm được ngâm trong dung dịch 300 – 500 mg/L hỗn hợp ly trích và tiêm ở liều 10 – 20 µg/g tôm gia tăng các chỉ tiêu miễn dịch (THC, PO, và RB) sau 1
Trang 8Mặc dù hiệu quả của các hỗn hợp β-glucan lên sự tăng cường hệ miễn dịch của tôm được thực hiện bằng phương pháp khác nhau nhưng các nghiên cứu truớc đây vẫn chưa so sánh, đánh giả khả tăng cường miễn dịch của các phương pháp một cách rõ ràng Do đó nghiên cứu tiếp theo cần được nghiên cứu sâu hơn về
cơ chế, có sự so sánh giữa 3 phương pháp ngâm, tiêm, và cho ăn để có những khuyến cáo thích hợp cho việc ứng dụng trong nuôi tôm thương phẩm
Trên tôm he Ấn Độ, Huang et al (2006) đã báo cáo rằng hợp chất ly trích từ tảo S fusiforme giúp tôm tăng cường miễn dịch, kháng lại vi khuẩn V harveyi
Thật vậy, hoạt tính enzyme PO và lysozyme gia tăng lên đến 13,2 và 3,21 đơn vị/ mg protein khi tôm được cho ăn thức ăn có bổ sung hỗn hợp ly trích ở liều lượng 0,5% Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh ở liều lượng từ 0,5 – 1% khẩu phần sẽ các tác dụng làm tăng tỉ lệ sống khi tôm được gây cảm nhiểm với
V harveyi ở liều 9,3 × 107 CFU/ tôm sau 14 ngày thí nghiệm Trong thí nghiệm này, tác giả khẳng định khi bổ sung ở liều lượng cao (2% khẩu phần) không cho kết quả tốt
Tóm lại, các nghiên cứu ứng dụng β-glucan ly trích từ rong biển chỉ dừng lại qui mô phòng thí nghiệm Hiện nay chưa có nghiên cứu ứng dụng bổ sung chất chiết suất từ rong biển trong nuôi tôm thương phẩm, đặc biệt là nuôi thâm canh Đối với các phương pháp thì phương pháp tiêm chỉ có thể áp dụng đối với tôm bố mẹ, hoặc áp dụng ở qui mô thử nghiệm Phương pháp ngâm được đánh giá là thực tế, nhưng phương pháp này sẽ bị hạn chế khi áp dụng trong việc nuôi tôm thương phẩm khi mà diện tích và mức nước trong ao khá lớn Phương pháp này thường được đề nghị trong sản xuất giống hoặc nuôi ở qui
mô nhỏ Phương pháp cho ăn được đánh giá là có tính khả thi cao, không gây sốc, có thể sử dụng trong tất cả các giai đoạn phát triển của tôm Vì vậy, nghiên cứu bổ sung β-glucan chiết tách từ rong biển vào thức ăn tôm nhằm tăng tường sức đề kháng của tôm là rất cần thiết Nguồn rong biển trong tự nhiên dồi dào, cung cấp một lượng lớn β-glucan với chi phí thấp Vì vậy nghiên cứu thành công chiết tách các hợp chất β-glucan từ rong biển sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm
LỜI CẢM TẠ
Tác giả xin chân thành cảm ơn Giáo sư Jiann-Chu Chen và Tiến sĩ Su-Tuen Yeh, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Hải Dương Quốc gia Đài Loan đã cung cấp kiến thức, tài liệu về rong biển cũng như là miễn dịch giáp xác cho bài viết này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bachère, E., 2003 Anti-infectious immune effectors in marine invertebrate:
Trang 9Blondin, C., Fischer, E., Boisson-Vidal, C., Kazatchkine, M.D., Jozefonvicz, J.,
1994 Inhibition of complement activation by natural sulfated polysaccharides (fucoidans) from brown seaweed Mol Immunol 31, 247-253
Campa-Córdova, A.I., Hernandez-Saaverdra, N.Y., de Philippis, R., Ascencio, F.,
2002 Generation of superoxide anion and SOD activity in haemocytes and
muscle of American white shrimp (Litopenaeus vannamei) as a response to
β-glucan and sulphated polysaccharide Fish Shellfish Immunol 12, 353-366 Cerenius, L., Söderhäll, K., 2004 The prophenoloxidase-activating system in invertebrates Immunol Rev 198, 116-126
Chang, C.F., Che, H.Y., Su, M.S., Liao, I.C., 2000 Immunomodulation by
dietary β-1,3-glucan in the brooders of the black tiger shrimp Penaeus
monodon Fish Shellfish Immunol 10, 505-514
Chang, C.F., Su, M.S., Chen, H.Y., Liao, I.C., 2003 Dietary β-1,3-glucan
effectively improves immunity and survival of Penaeus monodon challenged
with white spot syndrome virus Fish Shellfish Immunol 15, 297-310
Chotigeat, W., Tongsupa, S., Supamataya, K., Phongdara, A., 2004 Effect of fucoidan on disease resistance of black tiger shrimp Aquaculture 233, 23-30 Dachi, K., Hirata, T., Fujisawa, S., Nagai, K., Sakaguchi, M., 1999 Effects of
β-1,3-glucan on the activation of prophenoloxidase cascade in Marsupenaeus
japonicus haemocyte Fish Sci 65, 926-929
Davis, T.A., Volesky, B., Mucci, A., 2003 A review of the biochemistry of heavy metal biosorption by brown algae Water Research 37, 4311-4330
De-la Re-Vega, E., García-Galaz, A., Díaz-Cinco, M.E., Sotelo-Mundo, R.R.,
2006 White shrimp (Litopenaeus vannamei) recombinant lysozyme has antibacterial activity against Gram negative bacteria: Vibrio alginolyticus,
Vibrio parahemolyticus, and Vibrio cholerae Fish Shellfish Immunol 20,
405-408
Destoumieux, D., Muñoz, M., Cosseau, C., Rodriguez, J., Bulet, P., Comps, M.,
2000 Penaeidins, antimicrobial peptides with chitin-binding activity, are produced and stored in shrimp granulocytes and released after microbial challenge J Cell Sci 113, 461-469
Duarte, M.E.R., Noseda, M.D., Cardoso, M.A., Tuluo, S., Cerezo, A.S., 2002
The structure of a galactan sulfate from the red seaweed Bostrychia
montagnei Carbohydr Res 337, 1137-1144
FAO, 2010 Globefish - Shrimp Market Report, Europe Feb 2010 72 pp
Franz, G., Paper, D., Alban, S., 2000 Pharmacological activities of sulphated carbohydrate polymers In: Paulsen BS (ed.) Bioactive Carbohydrate Polymers, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht pp 47-58
Fridovich, I., 1995 Superoxide radical and superoxide dismutase Annu Rev
Trang 10vannamei and its resistance against Vibrio alginolyticus Fish Shellfish
Immunol 22, 673-685
Haroun-Bouhedja, F., Ellouali, M., Sinquin, C., Boisson-Vidal, C., 2000 Relationship between sulfate group and biological activities of fucans Thrombosis Res 100, 453-459
Hou, W.Y., Chen, J.C., 2005 The immunostimulatory effect of hot-water extract
of Gracilaria tenuistipitata on the white shrimp Litopenaeus vannamei and its resistance against Vibrio alginolyticus Fish Shellfish Immunol 19, 127-138 Huang, X., Zhou, H., Zhang, H., 2006 The effect of Sargassum fusiforme
polysaccharide extracts on vibriosis resistance and immune activity of the
shrimp, Fenneropenaeus chinensis Fish Shellfish Immunol 20, 750-757
Johansson, M.W., Söderhäll, K., 1985 Exocytosis of the prophenoloxidase activating system from crayfish haemocytes J Comp Physiol B 156,
175-181
Johnson, K.N., Van-Hultena, M.C.W., Barnes, A.C., 2008 “Vaccination” of shrimp against viral pathogens: phenomenology and underlying mechanisms Vaccine 2, 4885-4892
Jollés, P., Jollés, J., 1984 What’s new in lysozyme research? Always a model system, today as yesterday Mol Cell Biochem 63, 165-89
Krull, L.H., Cote, G.L., 1992 Determination of gulose and/or guluronic acid by ion chromatography and pulsed amperometric detection Carbohydr Polym
17, 205-207
Lee, S.Y., Söderhäll, K., 2002 Early events in crustacean innate immunity Fish Shellfish Immunol.12, 421-437
Liu, C.H., Cheng, W., Hsu, J.P., Chen, J.C., 2004 Vibrio alginolyticus infection in the white shrimp Litopenaeus vannamei confirmed by polymerase chain reaction and 16S rDNA sequencing Dis Aquat Org 61, 169-74
Lo, C.F., Kou, G.H., 1998 Virus-associated white spot syndrome of shrimp in Taiwan: a review Fish Pathol 33, 365-371
Mizuno, H., Saito, T., Iso, N., Onda, N., Noda, K., Takada, K., 1983 Munuronic
to guluronic acid ratios of alginate prepared from various brown seaweeds Bull Jap Soc Sci Fish 19, 1591-1593
Muñoz, M., Cedeño, R., Rodriguez, J., van der Knaap, W.P.W., Mialhe, E., Bachère, E., 2000 Measurement of reactive oxygen intermediate production
in haemocyte of the penaeid shrimp, Litopenaeus vannamei Aquaculture 191,
89-107
Novak, M., Vetvicka, V., 2009 Glucans as biological response modifiers Endocr
Metab Immune Disord - Drug Targets 9, 67-75
Pantakar, M.S., Oehninger, S., Barnett, T., Williams, R.L., Clark, G.F., 1993 A revised structure for fucoidan may explain some of its biological activities J Biol Chem 268, 21770- 21776
Paulsen, B.S., 2002 Biologically active polysaccharides as possible lead compounds Phytochem Rev 1, 379-387