Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên : Đỗ Thị Thanh Thuỷ
MSV : CQ482872
Lớp : Kế hoạch 48A
Khoa : Kế hoạch và phát triển
Chuyên đề thực tập của em là: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng”
Em xin cam đoan những gì em viết trong chuyên đề không sao chép từ bất kỳmột tài liệu nào Những phần trích dẫn và tham khảo đều đúng theo quy định củaNhà trường Nếu sai em xin chịu trách nhiệm
Sinh viên
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY DỆT MAY THỜI KỲ HẬU KHỦNG HOẢNG 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU 3
1 Khái niệm về xuất khẩu 3
2 Các hình thức xuất khẩu 3
2.1 Xuất khẩu trực tiếp 3
2.2 Xuất khẩu gián tiếp 4
2.3 Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công 4
2.4 Tái xuất khẩu 4
2.5 Xuất khẩu tại chỗ 5
2.6 Xuất khẩu theo nghị định thư 5
3 Nội dụng của hoạt động xuất khẩu 5
3.1 Nghiên cứu thị trường 5
3.1.1Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu 5
3.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu 5
3.1.3 Lựa chọn bạn hàng xuất khẩu 6
3.1.4 Lựa chọn phương thức giao dịch 6
3.2.Đàm phán và ký kết hợp đồng 7
3.3 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán 7
4.Vai trò của hoạt động xuất khẩu 8
4.1 Đối với Nhà nước 8
4.2 Đối với doanh nghiệp 9
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU 10
1 Các yếu tố kinh tế 10
1.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu 10
Trang 41.2 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế 11
1.3 Thuế quan và trợ cấp đến xuất khẩu 11
2 Các yếu tố xã hội 13
3 Các yếu tố chính trị và pháp luật 14
4 Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ 15
5 Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu 15
6 Ảnh hưởng của tình hình kinh tế-xã hội và quan hệ quốc tế 15
7 Nhu cầu và thị trường nước ngoài 16
8 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp 16
8.1 Tiềm lực tài chính 16
8.2 Tiềm năng con người 16
8.3 Tiềm lực vô hình 16
8.4 Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá và dự trữ hợp lý hàng hoá của doanh nghiệp 17
8.5 Trình độ tổ chức quản lý 17
8.6 Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ và bí quyết công nghệ của doanh nghiệp 17
8.7 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp 18
9 Yếu tố cạnh tranh 18
III SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY SAU KHỦNG HOẢNG 19
1 Khái niệm về hàng dệt may 19
2 Sự cần thiết thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sau khủng hoảng 21
2.1.Xuất phát từ tác động cuộc khủng hoảng đến thị trường của ngành dệt may 21
2.2.Do sự tái cơ cấu lại thị trường dệt may 22
2.3 Do sự suy giảm của kim ngạch xuất khẩu dệt may 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 ĐẾN NAY 26
Trang 5I.TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 26
1 Lịch sử hình thành ngành dệt may 26
2 Tổng quan về dệt may Việt Nam từ năm 1990 đến nay 27
2.1 Từ 1990- 1999: Sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN 27
2.2 Giai đoạn 2000 – 2006: Chuẩn bị cho quá trình gia nhậpWTO 29
2.3 Từ năm 2006 đến nay:Giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO và chịu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 29
3 Đánh giá năng lực và tiềm năng xuất khẩu của ngành Dệt May Việt Nam 30
3.1 Về năng lực các doanh nghiệp dệt may 30
3.2 Về tiềm năng xuất khẩu của ngành Dệt may 32
II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM 33
1 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường 33
1.1 Về kim ngạch xuất khẩu 33
1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 36
1.3 Về cơ cấu hình thức xuất khẩu 38
1.4 Về cơ cấu thị trường 41
1.4.1 Thị trường EU: 42
1.4.2 Thị trường Nhật Bản 42
1.4.3 Thị trường Mỹ 44
1.4.4 Các thị trường khác 45
1.5 Cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường 45
1.5.1 Bắc Phi: 45
1.5.2 Châu Mỹ Latinh : 46
1.5.3.Bangladesh 46
1.5.4 Indonesia 47
1.5.5.Trung Quốc 47
Trang 6III CÁC CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU DỆT MAY THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG 48
1 Về chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh xuất khẩu 48
2 Về chính sách hỗ trợ người lao động mất việc làm và đào tạo nguồn nhân lực 48
3 Về chính sách tín dụng 49
4 Về chính sách thuế và hải quan 49
5 Về việc sử dụng tiền chuyển quyền sử dựng đất 49
6 Về việc lùi thời gian thanh tra 50
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 50
1 Kết quả 50
2 Tồn tại 52
3 Nguyên nhân của tồn tại 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU KHỦNG HOẢNG 55
I.CƠ SỞ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG 55
1 Cơ hội và thách thức 55
1.1 Cơ hội 55
1.2 Thách thức 56
2 Dự báo nhu cầu về hàng dệt may Việt Nam trên thế giới 57
2.1.Đối với ngành Dệt 58
2.2.Đối với ngành May Mặc 58
3 Chiến lược phát triển của ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020 61
II ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM THỜI KỲ SAU KHỦNG HOẢNG 61
1.1 Sản phẩm 61
1.2 Đầu tư và phát triển sản xuất 62
1.3 Bảo vệ môi trường 62
Trang 72 Mục tiêu phát triển của dệt may Việt Nam đến năm 2020 63
III GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU KHỦNG HOẢNG 64
1 Nhóm giải pháp từ phía nhà nước 64
1.1 Phát triển nguyên phụ liệu cho ngành dệt may 64
1.2 Phát triển công nghệ 65
1.3 Đào tạo và phát triển nhân lực 66
1.4 Các giải pháp về vốn 67
1.5.Giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu thị trường, xúc tiến và quảng bá sản phẩm 67
1.6.Các chính sách ưu đãi về thuế 68
2.Nhóm giải pháp đối với ngành dệt may Việt Nam 69
2.1.Chủ động tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới 69
2.2.Giải pháp về thiết kế: “Thực hiện chiến lược thời trang hoá ngành Dệt may” 69
2.3 Giải pháp cho mạng lưới phân phối và Marketing: “Thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu” 70
2.4 Giải pháp tăng cường và phát triển nguồn nhân lực 72
2.5 Nâng cao trình độ công nghệ 74
3 Một số giải pháp khác 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Hình 1 : Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may 20 Hình 2: Thị phần xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2008 41
Bảng 1: Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
năm 2009 35 Bảng 2: Chủng loại và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
tháng 11 &11 tháng đầu năm 2009 38 Bảng 3: Số liệu và dự báo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu dệt may
của Việt Nam giai đoạn 2006-2013 59 Bảng 4: Cân đối nhu cầu đối với một số nguyên phụ liệu dệt may trong giai
đoạn 2005-2020 60 Bảng 5: Các mục tiêu cụ thể trong Chiến lược phát triển ngành công
nghiệp dệt may đến năm 2015 với tầm nhìn đến năm 2020 64
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu đáng khích lệ trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao…đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Đến nay, Việt Nam đã ký kết gần 70 hiệp địnhthương mại song phương, kim ngạch thương mại tăng ở mức kỷ lục.Tổng kimngạch xuất nhập khẩu hàng hoá trong năm 2008 đạt 143,4 tỷ USD, tăng 28,9% sovới năm 2007, trong đó xuất khẩu đạt 62,69 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm trước,vượt 7% kế hoạch năm và nhập khẩu là 80,71 tỷ USD, tăng 28,8%, thấp hơn tốc độtăng xuất khẩu.Như vậy, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một trong những nềnkinh tế mở và hội nhập ở mức độ cao Thành tựu này có được là do sự phối hợp, nỗlực hết mình của toàn bộ nền kinh tế, và chính phủ trong việc phân bổ nguồn lựchợp lý, tập trung phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn, dẫn dắt nền kinh tế,đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp Trong giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăngtrưởng của ngành công nghiệp liên tục được duy trì ở tốc độ cao( năm 2001- 14,6%,năm 2002- 14.8%, năm 2005- 17.1%), các năm 2006, 2007 đều đạt tốc độ 10%.Trong đó, Dệt May được coi là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn,chiếm trên 10% giá trị sản phẩm công nghiệp, đóng góp 8% vào GDP, chiếm 16%tổng kim ngạch xuất trong cả nước Phải nói rằng, ngành dệt may Việt Nam làngành được Chính phủ rất quan tâm Điều này không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao,
tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu mà quan trọng hơn cả là đã tạo ra trên 2triệu chỗ làm với 6 triệu người ăn theo Những đóng góp cho xã hội đó đã nâng cao
vị thế của ngành dệt may trong nền kinh tế đất nước
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra đã làm kinh tế Việt Nam
có những thay đổi đáng kể đặc biệt đối với cán cân xuất nhập khẩu.Cụ thể, kimngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm2008.Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm2008.Trước những bất lợi đó,Ngành Dệt may Việt Nam cũng chịu những ảnh hưởngkhông nhỏ Hàng dệt may xuất khẩu sang thi trường chính là Mỹ đạt 4,9 tỷ USD,giảm 3% so với năm 2008; tiếp theo là EU đạt 1,7 tỷ USD, giảm 3,1%; Nhật Bản
930 triệu USD, tăng 12%.Sự giảm sút kim ngạch xuất khẩu đó là do ngành Dệt Mayhiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, nguồn nhân lực thiếutrình độ,chưa am hiểu thị trường xuất khẩu và mới chỉ chủ yếu tham gia vào khâu
Trang 10gia công sản xuất sản phẩm cuối cùng, đây cũng là khâu có gíá trị gia tăng thấpnhất.
Trong khi đó, mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp Dệt May Việt Namđến năm 2020 là trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũinhọn về xuất khẩu, thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiềuviệc làm cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khuvực và thế giới; từng bước đưa ngành Dệt May thoát khỏi tình trạng gia công sảnxuất
Do đó, để đạt được mục tiêu đã định, việc nghiên cứu thực trạng của ngànhDệt may cũng như giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Dệt may là việc làm cần thiết vàmang tính thực tiễn cao
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “ Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng”
Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận và ứng dụng vào thựctiễn ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam qua đó xem xét thực trạng xuất khẩucủa Dệt May Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng, từ đó đề xuất các giải pháp chủyếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu Dệt may Việt Nam trong thời gian tới
Trên cơ sở mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, nội dung của đề tàinghiên cứu được chia là ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Sự cần thiết thúc đẩy dệt may thời kỳ hậu khủng hoảng.
Chương 2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam.
Chương 3 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáoPGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn đã giúp tôi hoàn thành bài nghiên cứu này
Trang 11CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY DỆT MAY THỜI KỲ
HẬU KHỦNG HOẢNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU
1 Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hànghóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theoIMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài
Xuất khẩu là hình thức xâm nhập nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất.Vớicác nước có trình độ kinh tế thấp như các nước đang phát triển thì xuất khẩu đóngvai trò rất lớn đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoạinhu) Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữagiá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà cầu nộiđịa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vìthế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vàoxuất khẩu Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảmbảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nướcphải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa
2 Các hình thức xuất khẩu
2.1 Xuất khẩu trực tiếp.
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của công ty cho các kháchhàng của mình ở nước ngoài
Thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp,công ty sẽ đáp ứng nhanh chóng vàphù hợp với nhu cầu khách hàng ở trong nước và qua đó công ty cũng kiểm soátđược yếu tố đầu ra của sản phẩm để điều chỉnh yếu tố đầu vào để mang lại lợi íchcao nhất
Hai hình thức chủ yếu mà công ty sử dụng để thâm nhập thị trường quốc tếthông qua xuất khẩu trực tiếp là:
Trang 12- Đại lý bán hàng : Là hình thức bán hàng mà người bán không mang danh nghĩacủa mình mà lấy danh nghĩa của người khác( người ủy thác) nhằm nhận lương vàmột số hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được.Do đó họ không phải chịutrách nhiệm chính về mặt pháp lý Nhưng trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt độngnhư một nhân viên bán hàng của công ty của thị trường nước ngoài Công ty đã kývới khách hàng tại thị trường nước đó.
- Đại lý phân phối là người mua hàng hóa, dịch vụ của công ty để bán theo kênhtiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định Công ty khống chế phạm vi, kênh phânphối ở thị trường nước ngoài Còn đại lý phân phối sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ rủi
ro liên quan đến việc bán hàng ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận từ chênhlệch giữa giá mua và giá bán
2.2 Xuất khẩu gián tiếp
Là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông quatrung gian (thông qua người thứ ba ).Các trung gian mua bán không chiếm hữuhàng hóa của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nướcngoài Các trung gian xuất khẩu như : Đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu vàcông ty kinh doanh xuất nhập khẩu
2.3 Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công
Gia công quốc tế là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phâncông lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia
Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tùy theo vai trò của bên đặt hàng vàbên nhận gia công Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn,thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường vào vị trí nhận giacông thuê cho nước ngoài Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nênchuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình Hoạt động gia côngmang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thì rất ngắn, đầu vào và đầu racủa nó gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạtđộng ngoại thương
2.4 Tái xuất khẩu
Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa
từ bên ngoài vào sau đó lại tiến hành xuất khẩu qua một nước thứ ba Như vậy ởđây có cả hoạt động mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao
Trang 132.5 Xuất khẩu tại chỗ
Trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt qua ngoài biêngiới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tụ như hoạt động xuất khẩu Đó làviệc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốctế…Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phíbao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trongkhi vẫn có thể thu được ngoại tệ
2.6 Xuất khẩu theo nghị định thư.
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hóa theo chươngtrình đã được ký kết theo nghị định thư của hai chính phủ và thường là chương trìnhtrả nợ giữa hai chính phủ Hình thức này đảm bảo khả năng thanh toán
3 Nội dụng của hoạt động xuất khẩu
3.1 Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường bao gồm tất cả các phương pháp nhằm đánh giá xem thịtrường nước ngoài nào mang nhiều tiềm năng nhất cho sản phẩm của doanh nghiệp.Nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và tiền bạc Nhiều công
ty hiện vẫn thực hiện hoạt động xuất khẩu theo phương thức “tự trang trải”, nghĩa là, bắt đầu xuất khẩu sau đó sử dụng lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm trên cácthị trường này để tiến hành đầu tư lại Điều này không thể áp dụng đối với nghiêncứu thị trường Ở đây cần phải đầu tư một khoản tiền để nghiên cứu thị trường trướckhi giới thiệu sản phẩm và điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tránh phải trả giá đắt chonhững sai lầm trên thị trường mục tiêu sau này
3.1.1 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Lựa chọn mặt hàng là khâu quan trọng trong nội dung hoạt động xuất khẩu.Các doanh nghiệp cần định xem mình nên xuất khẩu mặt hàng gì để phát huy hếtnhững lợi thế so sánh của mình để từ đó sản xuất ra những sản phẩm có tính cạnhtranh cao đáp ứng được nhu cầu trên thị trường xuất khẩu
3.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Lựa chọn thị trường là chìa khóa đề xác định khả năng thành công của doanhnghiệp ở một thị trường xuất khẩu Lựa chọn thị trường cần hướng tới ang tin trithức về thị trường Đó là những ang tin chiến lược được tồng hợp và phân tích bằng
Trang 14cách ang kết các xu hướng hoặc sự kiện trên thị trường đế giúp doanh nghiệp xácđịnh các cơ hội thị trường mới Mức độ sẵn sàng xuất khẩu của bạn cũng là một yếu
tố xác định tiềm năng của bạn ở thị trường nước ngoài Việc đánh giá chính xác liệubạn đã sẵn sàng thâm nhập thị trường toàn cầu hay chưa về mặt nguồn lực và kiếnthức sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian, nỗ lực và nguồn lực quý giá cho phát triển xuấtkhẩu
3.1.3 Lựa chọn bạn hàng xuất khẩu
Có lẽ đây là phần công việc khó khăn nhất trong các hoạt động chuẩn bị xuấtkhẩu Một đối tác tốt có thể giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường thuận lợi vàhiệu quả, trong khi một đối tác tồi có thể làm hỏng tất cả Đó là giai đoạn quyết địnhtrong hoạt động của doanh nghiệp Các nhà xuất khẩu đều cho rằng nhiệm vụ này
vô cùng quan trọng vì đó là một nhiệm vụ rất tinh tế Nhiều doanh nghiệp đã sửdụng bản liệt kê tiêu chí để mời tổ chức hỗ trợ kinh doanh (BSO) hoặc Đại sứ quáncủa họ tại thị trường mục tiêu giúp họ sàng lọc một danh sách sơ khảo các đối tác cótiềm năng Đôi khi công việc đó diễn ra suôn sẻ, nhưng hầu như không được như ýmuốn Việc thuê các nhà tư vấn giúp doanh nghiệp lựa chọn đối tác có thể sẽ đemđến thành công hơn, nhưng các hiệp hội ngoại thương có thể sẽ giúp họ khi họ cũng
có nhu cầu tìm các nhà cung cấp mới Hoặc các tổ chức xúc tiến nhập khẩu như Tổchức xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan (CBI) có thể giúpcác doanh nghiệp với điều kiện họ là thành viên tham gia chương trình phát triểnxuất khẩu (EDP) của CBI Việc cố gắng có được tên của các đối tác kinh doanhthường rất khó khăn và doanh nghiệp sẽ cần phải có sự sáng tạo và kiên nhẫn để cóthể đi đến thành công Nhưng ít nhất doanh nghiệp sẽ nhận biết được một đối tác tốtbằng cách so sánh họ với danh sách tiêu chí của doanh nghiệp Có khi doanh nghiệpphải đàm phán với một đối tác thứ ba, không phải chỉ về lợi ích kinh doanh của cácbên mà còn cần trách nhiệm và sự tin cậy giữa các bên
Phương thức là những cách thức doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mụctiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới Hiện nay có rất nhiềuphương thức giao dịch khác nhau như: giao dich thông thường, giao dich qua trunggian, giao dich thông qua hội trợ triển lãm Tùy vào khả năng của mỗi doanh nghiệp
mà lựa chọn phương thức giao dịch sao cho đảm bảo các mục tiêu của sản xuấtkinh doanh
Trang 153.2 Đàm phán và ký kết hợp đồng
Trong khi đàm phán, người mua và người bán phải thống nhất các điều kiện,điều đó sẽ phản ánh năng lực thương lượng trong đàm phán của mỗi bên Thôngthường, họ sẽ thống nhất ở điểm nào đó khi cân nhắc giữa chi phí và rủi ro, giữaquyền lợi và nghĩa vụ của người mua và người bán, có thể nghiêng nhiều hoặc ít vềmột bên Họ sẽ tìm thấy sự cân bằng làm thoả mãn cả hai bên Khi có thiệt hại xảy
ra, hoặc người mua hoặc người bán phải chịu trách nhiệm (hoặc hãng vận chuyển,người đóng vai trò trong vận chuyển hàng hoá) hoặc bên thứ ba, thường là công tybảo hiểm, người chi trả những rủi ro không kiểm soát được Nếu người mua vàngười bán không thống nhất về trách nhiệm với thiệt hại đó, họ có thể giải quyếttranh chấp tại hội đồng trọng tài hoặc toà án Thông thường, sự điều tra của bên thứ
ba (giám định viên) sẽ cung cấp bằng chứng về thực trạng của hàng hoá ở nhữngđầu mối trong mạng lưới phân phối
3.3 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương đã được ký kết, đơn vị kinh doanhXNK - với tư cách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó Đây làmột công việc rất phức tạp Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồngthời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị
Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để thực hiệnhợp đồng, đơn vị kinh doanh XNK phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nângcao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch Để thực hiện mộthợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc sau đây:Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức tíndụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, thuê tàu hoặc lưucước, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu,mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có)
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành cáckhâu công việc sau đây: Xin giấy phép nhập khẩu, mở L/C (nếu hợp đồng quy địnhthanh toán bằng L/C), thuê tàu hoặc lưu cước, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan,nhận hàng chở từ tàu chở hàng, kiểm tra hàng hoá (kiểm dịch và giám định), giaohàng cho đơn vị đặt hàng nhập khẩu, làm thủ tục thanh toán, khiếu nại (nếu có) vềhàng hoá bị thiếu hụt hoặc tổn thất
4 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Trang 164.1 Đối với Nhà nước
Xuất khẩu là hàng hoá sản xuất trong nước được mang ra nước ngoài tiêu thụ.Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Xuất khẩu có cai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nềnkinh tế
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu: Để phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cần phải có một nguồn vốn lớn để nhậpkhẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ cácnguồn: xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn,viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, cácdịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động Xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu đểnhập khẩu
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế,thúc đẩy sản xuất pháttriển Xuất khầu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển Xuất khẩu không chỉtác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sảnxuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộngthị trường tiêu thụ,giúp cho Sản xuất ổn định và kinh tế phát triển vì có nhiều thịtrường=>Phân tán rủi ro do cạnh tranh Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năngcung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.Thông quacạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sảnxuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăngnăng suất
Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống ngườidân Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tácđộng làm tăng tiêu dùng nội địa->nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng Xuấtkhẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngànhsản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sảnxuất hàng hoá xuất khẩu ->Là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng
Xuất khẩu tạo ra khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầu vào chosản xuất nhằm phát huy tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụ thị trường Ngoài ra,xuất khẩu còn tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển.Vì sảnxuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nền phát triển của ngành này sẽkéo theo sự phát triển của ngành khác
Trang 17Xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ Nguồn ngoại tệ thu về lớn hơn ( cán cânthanh toán thăng dư ) là điều kiện để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái theohướng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại không tổn hao đến nhập khẩu vì vậy sẽ tạođiều kiện phát triển kinh tế.
Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nước.Xuất khẩu là hoạt động ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạtđộng xuất khẩu thì các nước có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi Dovậy các quốc gia sẽ xây dựng quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này Haihoạt động này có mối quan hệ qua lại với nhau và dựa vào nhau để phát triển Dođó,các quốc gia sẽ chú trọng phát triển đồng thời để đảm bảo sự cân xứng tạo điềukiện để phát triển nhanh nhất
Nói chung, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong sụ phát triển của các quốcgia,do vậy các quốc gia đều đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác tối đa lợi ích của hoạtđộng này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
4.2 Đối với doanh nghiệp
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty Mục đích của các
công ty khi thực hiện xuất khẩu là:
Tăng doanh số bán hàng: Khi thị trường trong nước trở nên bão hòa thì xuấtkhẩu là hoạt động tăng doanh số bán hàng của các công ty khi mở rộng thị trườngquốc tế
Đa dạng hóa thị trường đầu ra: Đa dạng hóa thị trường đầu ra sẽ giúp cho cáccông ty có thể ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp.Việc đa dạng hóathị trường sẽ tạo ra nguồn thu cho công ty và nguồn thu này công ty có thể đầu tưtiếp tục đa dạng hóa thị trường nào đó hay tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường đầuvào của doanh nghiệp
Thu được các kinh nghiệm quốc tế: Các nhà doanh nghiệp và các nhà quản lý
sẽ tham gia kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý hoạt độngtrong các môi trường kinh tế xã hội, kinh tế chính trị khác nhau Điều nay đòi hỏicác nhà kinh doanh quản lý phải học hỏi,do đó kiến thức của họ cũng phong phúhơn và qua quá trình hoạt động lý luận sẽ được kiểm chứng trong thực tế Do đó họ
sẽ tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm hoạt động của mình trong quá trình kinhdoanh quốc tế Trong đó hoạt động xuất khẩu là hoạt động mang lại kinh nghiệm
Trang 18với chi phí và rủi ro thấp nhất.
Tóm lại, hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh tế quốc tế ra đời sớm nhất và
có kinh phí cũng như rủi ro thấp nhất Do đó,đây là hoạt động của các quốc gia kinhdoanh quốc tế chủ yếu của các công ty ở các quốc gia đang phát triển (vì yếu tố vềvốn,về công nghệ, về con người còn yếu kém nên xuất khẩu là biện pháp hữu hiệunhất trong các hoạt động kinh doanh quốc tế Xuất khẩu là hoạt động kinh doanhđơn giản nhất trong hoạt động kinh doanh quốc tế Do đó các giao dich và rủi ro khi
có sự biến động về môi trường chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội…sẽ thấp nhất so vớihoạt động khác
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU
1 Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh xuất khẩu,hơn nữa cácyếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn và phân tích các yếu tốthiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể
1.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh về mặt giá trị tương đối giữa các ngoại
tệ và từ đó có tác động như một công cụ trong cạnh tranh trong quan hệ kinh tếquốc tế Một nền kinh tế càng mở ra bên ngoài bao nhiêu, quy mô và vị trí của nềnkinh tế đó càng mở rộng và tăng trưởng trong phân công lao động quốc tế bao nhiêuthì vai trò của đồng tiền nước đó, sức mua của nó so với các đồng tiền khác trongquan hệ kinh tế quốc tế càng lớn bấy nhiêu Khi tỷ giá hối đoái tăng lên,có nghĩa làđồng nội tệ có giá trị giảm xuống so với đồng ngoại tệ,trong điều kiện các nhân tốkhác không đổi,sẽ có tác động bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại có lợi cho xuấtkhẩu.Trong trường hợp này,tỷ giá tăng lên có tác động khuyến khích xuất khẩu vìcùng một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu có thể đổi lại được nhiều hơn đồngnội tệ,hàng xuất khẩu rẻ hơn,để cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Tuy nhiên khi tỷ giá hối đoái tăng lên,hàng nhập khẩu đắt hơn,nên các nhànhập khẩu hạn chế kinh doanh hàng nhập,gây nên tình trạng khan hiếm nguyênliệu,vật tư,hàng hóa ngoại nhập,làm tăng giá các mặt hàng này, gây khó khăn chocác nhà sản xuất trong nước, nhất là những cơ sở chỉ sử dụng nguyên vật liệu nhập.Đồng thời lưu thông ngoại tệ vận chuyển vào trong nước có xu hướng tăng lên, khốilượng dụ trữ ngoại tệ dồi dào, tạo điều kiện cho sự ổn định cán cân thương mại quốc
Trang 19Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống có tác động hạn chế xuất khẩu vìcùng một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu sẽ đổi được ít hơn đồng nội tệ Tuynhiên,đây là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu nguyên liệu,máymóc để phuc vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước Đồng thời lưu thông ngoại tệchuyển vào trong nước có xu hướng giảm xuống làm cho khối lượng dự trữ ngoại tệngày càng bị xói mòn vì khuynh hướng gia tăng nhập khẩu để có lợi nhuận,có thểgây lên tình trạng mất cân đối cán cân thương mại quốc tế
1.2 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa
ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu Chẳng hạn như chiến lượcphát triển kinh tế theo hướng CNH-HĐH đòi hỏi phải xuất khẩu để thu ngoại tệ đápứng nhu cầu nhập khẩu các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất,mục tiêu bảo
hộ sản xuất trong nước đưa ra cùng các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạnchế nhập khẩu hàng tiêu dùng…
1.3 Thuế quan và trợ cấp đến xuất khẩu
Xét trên góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan sẽ mang lại thu nhập thuếcho nước đánh thuế Nhưng đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, thuế quan lại làmgiảm phúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tếthế giới Nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia
Thuế quan có thể có những ảnh hưởng tiêu cực Thuế quan cao sẽ ảnh hưởngđến khả năng cạnh tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa được tiêuthụ Thuế quan cao cũng sẽ kích thích tệ nạn buôn lậu Thuế quan càng cao, buônlậu càng phát triển Thuế xuất khẩu làm tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế vàgiữ giá thấp hơn ở thị trường nội địa Điều đó có thể làm giảm lượng khách hàng ởnước ngoài do họ sẽ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế Đồng thời nó cũngkhông khích lệ các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vàcông nghệ để tăng năng xuất, chất lượng và giảm giá thành
Tuy nhiên, nếu khả năng thay thế thấp, thuế quan xuất khẩu sẽ không làmgiảm nhiều khối lượng hàng hóa xuất khẩu và vẫn mang lại lợi ích đáng kể chonước xuất khẩu Thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ thị trường
Trang 20nội địa, đặc biệt là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ Thuế quan nhập khẩu sẽlàm tăng giá hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước Tuynhiên, điều đó cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trongnước
Thuế nhập khẩu có thể giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế Có thể
có nhiều sản phẩm mà giá của chúng không tăng đáng kể khi bị đánh thuế Đối vớiloại hàng hóa này thuế quan có thể khuyến khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảmgiá Khi đó lợi nhuận sẽ được chuyển dịch một phần cho nước nhập khẩu Tuynhiên, để đạt được hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có khả năng chi phốiđáng kể đối với cầu thế giới của hàng hóa nhập khẩu
Chính sách thuế quan trong điều kiện hội nhập: Nhìn chung chính sách thuếquan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay đều có ảnh hưởng nới lỏng sự hạnchế thương mại, từng bước giảm dần các mức thuế trên cơ sở các hiệp định đaphương và song phương Thương lượng trong việc xây dựng biểu thuế quan đượccoi như là một đặc trưng cơ bản của chính sách thuế xuất nhập khẩu trong nhữngthập kỷ gần đây Sự hình thành của các liên minh thuế quan đã có những ảnh hưởngnhất định đến lượng hàng hóa được trao đổi giữa các nước trong liên minh và cácnước ngoài liên minh Chính sách liên minh thuế quan đã có tác động làm tăng đáng
kể khối lượng thương mại giữa các nước thuộc liên minh trong khi đó nó tạo ra mộthàng rào ngăn cản hàng hóa của các nước ngoài liên minh Điều này dường như đãtrở thành một xu hướng trong việc hoạch định chính sách thuế quan hiện nay nhằm
tự do hóa thương mại giữa các nước trong khu vực và bảo hộ thị trường khu vựctrước sự cạnh tranh của hàng hóa đến từ bên ngoài
Trong trường hợp tự do hóa thương mại, lợi ích thương mại cho các thànhviên không còn là điều phải tranh cãi vì mỗi quốc gia nhờ đó sẽ tận dụng triệt đểnhững nguồn lực có thế mạnh, loại bỏ những ngành sản xuất không hiệu quả, đồngthời người dân cũng sẽ được tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn với chất lượng tốthơn Trong trường hợp bảo hộ thị trường khu vực, nếu chỉ xét trong một ngành duynhất, có thể có một số nước sẽ lâm vào tình trạng bất lợi do phải nhập khẩu nhữngsản phẩm của các nước trong liên minh với giá cao hơn giá quốc tế Tuy nhiên, liênminh thuế quan là một thỏa thuận hợp tác giữa các nước tham gia Do vậy, nếu nhưmột nước chịu thiệt hại về một ngành nào đó thì đổi lại nó sẽ được lợi từ một ngànhkhác trên cơ sở cân bằng về lợi ích giữa các thành viên
Trang 21Trợ cấp xuất khẩu là sự ưu đãi về tài chính hay cung cấp tiền bổ trợ của Chínhphủ một nước, công đoàn cùng nghề hay tổ chức độc quyền quốc tế cho doangnghiệp xuất khẩu nhằm giảm giá hàng hoá xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranhtrên thị trường thế giới
Có hai phương thức trợ cấp: một loại là trực tiếp bổ trợ, tức là trực tiếp chitiền bổ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu, một loại khác là gián tiếp bổ trợ, tức là ưuđãi về tài chính cho người doanh nghiệp xuất khẩu một số hàng hoá xuất khẩu nào
đó (vd: hoàn lại hay miễn giảm thuế trong nước, miễn giảm thuế xuất khẩu cho một
số hàng hoá xuất khẩu) TCXK là biện pháp khuyến khích xuất khẩu cổ xưa nhất,bắt đầu từ thời kỳ chủ nghĩa trọng thương cho đến nay
Sau chiến tranh thế giới thứ II, thì nó trở thành thủ đoạn trọng yếu của tư bảnđộc quyền nhằm chiếm đoạt thị trường thế giới, tiến hành bán tháo hàng hoá Hiệnnay, các nước đang phát triển hay thông qua TCXK nhằm nâng đỡ một số ngànhsản xuất để phát triển nền kinh tế dân tộc
WTO quy định, trợ cấp là "những lợi ích mà Chính phủ đem lại cho một đốitượng nhất định và có thể lượng hoá về mặt tài chính" WTO có hai bộ tiêu chuẩn
về trợ cấp Một bộ áp dụng cho nông sản, được đề cập trong Hiệp định Nông nghiệp(AoA – agreement on agriculturer) Một bộ áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp,được quy định trong Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng (SCM -Subsidies Countervailing Measures)
2 Các yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhấtđịnh Chính vì vậy, yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của con người.Các yếu tố xã hội là đối tượng rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của yếu tốnày có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, đặc biệt là trong ký kết hợpđồng
Nền văn hóa tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định cách thứctiêu dùng, thú tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và cách thỏa mãncủa con người sống trong đó Chính vì vậy văn hóa là yếu tố chi phối lối sống nênnhà xuất khẩu luôn luôn phải tìm hiểu quan tâm đến yếu tố văn hóa ở thị trườngmình xuất khẩu
3 Các yếu tố chính trị và pháp luật
Trang 22Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với
vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình Một trong những yếu tố nangiải nhất là pháp luật và chính trị Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệptrong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu cácchính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâucũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp, thể chế chính trị và các chính sách của
chính phủ nước đó Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật,
chính trị và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫnđến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế Các yếu tố chính trị phápluật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.Các công ty kinh doanh xuất khẩuđều phải thực hiện đúng qui định mà chính phủ tham gia vào các tổ chức quốc tếtrong khu vực và trên thế giới cũng như các thông lệ quốc tế:
- Các quy định của luật pháp đến hoạt động xuất khẩu :( thuế,qui định về mặthàng xuất khẩu,qui định quản lý về ngoại tệ…)
- Các hiệp ước,hiệp định thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp xuất khẩutham gia
- Các quy định nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan hệ làm ăn
- Các vấn đề về pháp luật và tập quán quốc tế có liên quan đến xuất khẩu(công ướcviên 1980,Incoterm 2000…)
- Qui định về giao dịch hợp đồng, về bảo hộ quyền tác giả,quyền sở hữu trí tuệ
- Qui định về cạnh tranh độc quyền, về các loại thuế
- Qui định về vấn đề bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng,thực hiện hợp động
Ngoài các vấn đề nói trên chính phủ còn thực hiện còn thực hiện các chínhsách ngoại thương khác như : Hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan…
Chính sách ngoại thương của chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay đổi Sựthay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh xuất khẩu.Vìvậy họ phải nắm bắt được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước dể biết được xuhướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước
4 Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
Trang 23Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải,tới thờigian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng,do vậy nó ảnh hưởng tới lựachọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, hợp đồng xuất khẩu…
Sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin cho phépcác nhà doanh nghiệp nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạođiều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hóa xuất khẩu,tiết kiệm chiphí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Đồng thời yếu tố công nghệ còn tácđộng đến quá trình sản xuất,gia công chế biến hàng xuất khẩu,các lĩnh vực khác cóliên quan như vận tải, ngân hàng,…
5 Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đếnxuất khẩu như
Hệ thống giao thông,đặc biệt là hệ thống cảng biển: Mức độ trang bị,hệ thốngxếp dỡ,kho hàng,…hệ thống cảng biển nếu hiện đại sẽ giảm bớt thời gian bốcdỡ,thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toan cho hàng hóa xuất khẩu
Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép cá nhàkinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán,huy động vốn Ngoài ra ngânhàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanhtoán qua ngân hàng
Hệ thông bảo hiểm kiểm tra hàng hóa cho phép các hoạt động sản xuất đượcthực hiện một cách an toàn hơn,đồng thời giảm bớt được thiệt hại khi rủi ro xảyra…
6 Ảnh hưởng của tình hình kinh tế-xã hội và quan hệ quốc tế
Trong xu thế khu vực hóa,toàn cầu hóa thì sự phụ thuộc giữa các nước ngàycàng tăng Chính vì thế mà mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giớiđều ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế trong nước.Lĩnh vựcxuất khẩu hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất,ở đây cũng
do một phần tác động của mối quan hệ kinh tế quốc tế Khi xuất khẩu hàng hóa từnước này sang nước khác,người xuất khẩu phải đối mặt với hàng rào thuế quan,phithuế quan Mức độ lỏng lẻo hay chặt chẽ của các hàng rào này phụ thuộc chủ yếuvào quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước nhập khẩu và xuất khẩu
Ngày nay đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế với các mức độkhác nhau,nhiều hiệp định song phương và đa phương được ký kết với mục tiêu đẩymạnh hoạt động thương mại quốc tế Nếu quốc gia nào tham gia vào liên minh kinh
Trang 24tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại thì sẽ có nhiều thuận lợi cho hoạt độngxuất khẩu của mình Ngược lại,đó cũng là rào cản cho xuất khẩu vào thị trường khuvực đó.
7 Nhu cầu và thị trường nước ngoài
Do khả năng sản xuất của các nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng nhu cầutiêu dùng trong nước,hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất không đa dạng nênkhông thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng nên nhu cầu và thị trường nướcngoài cũng là một nhân tố để thúc đẩy xuất khẩu của các nước có khả năng đáp ứngđược của cả nhu cầu trong nước và nhu cầu nước ngoài
8 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
8.1 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khốilượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,khả năngphân phối ( đầu tư ) có hiệu quả các nguồn vốn Khả năng quản lý có hiệu quả cánguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu
Vốn chủ sở hữu
Vốn huy động
Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
8.2 Tiềm năng con người
Trong kinh doanh đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ,hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu,con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảothành công Chính con người với năng lực thực sự của họ mới lựa chọn đúng được
cơ hội và sử dụng súc mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ thuật, côngnghệ,…Một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội
Trang 25hợp đồng; 5 Phương pháp, chương trình, hệ thống, thủ tục, khảo sát, nghiên cứu,
dự báo, dự toán, danh sách khách hàng, các số liệu kỹ thuật; 6 Các loại tài sản vôhình khác (như đội ngũ nhân lực, vị trí kinh doanh )
8.4 Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá và
dự trữ hợp lý hàng hoá của doanh nghiệp
Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽđến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khâu tiêu thụ sảnphẩm Không kiểm soát hoặc không đảm bảo được sụ ổn định,chủ động về nguồncung ứng hàng hóa cho doanh nghiệp thì việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩukhông thể đảm bảo,có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn kế hoạch kinh doanh củadoanh nghiệp
8.5 Trình độ tổ chức quản lý
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường.Bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nào đều phải lựa chọn cho doanhnghiệp, tổ chức kinh doanh của mình một cơ cấu tổ chức quản lý riêng Thực tế chothấy, nhiều doanh nghiệp, tổ chức làm ăn thua lỗ, phá sản, phát triển chậm đều là do
cơ cấu tổ chức quản lý chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn Vì vậy vấn đề đặt
ra cho các doanh nghiệp, tổ chức là làm sao tìm cho mình một cơ cấu tổ chức quản
lý hợp lý(tối ưu) Bởi lẽ khi có một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý thì mới cho phép
sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho việc ra các quyết định đúng đắn và tổ chức thựchiện có hiệu quả các quyết định đó, điều hoà phối hợp các hoạt động nhằm đạt đượcmục đích chung đề ra
8.6 Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ và bí quyết công nghệ của doanh nghiệp
Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ và bí quyết công nghệ củadoanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượnghàng hóa được đưa ra đáp ứng khách hàng trong và ngoài nước
Nếu doanh nghiệp có trang thiết bị công nghệ tốt và hiện đại thì sẽ làm giảmđược năng suất lao động, chi phí giá thành, không những thế nó còn tăng được chấtlượng của hàng hóa Bên cạnh đó, bí quyết công nghệ lại giúp cho doanh nghiệp sảnxuất ra được những sản phẩm mang tính khác biệt, có tính cạnh tranh cao
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có được trang thiết bị công nghệ hiện đạicũng như không có trong tay những bí quyết công nghệ thì chắc chắn doanh nghiệp
Trang 26đó sẽ khó có thể phát triển lâu dài được.
8.7 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có thểhuy động vào kinh doanh: thiết bị, nhà xưởng,…Nếu doanh nghiệp có cơ sở vậtchất càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng nắm bắt thông tin cũng như việc thực hiệncác hoạt động kinh doanh xuất khẩu càng thuận lợi và có hiệu quả Cơ sở vất chất
kỹ thuật cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việt ký kết hợp đồng bởi một sốcông ty khi chấp nhận ký kết hợp đồng họ sẽ xem xét đến cả yếu tố này để đi đếnviệc ký kết
9 Yếu tố cạnh tranh
Tùy thuộc vào sản phẩm mà các yếu tố cạnh tranh sẽ khác nhau Ngành kinhdoanh khác nhau có yếu tố cạnh tranh khác nhau Trong một số các lĩnh vực giá làyếu tố cạnh tranh quan trọng nhất Cạnh tranh một mặt thúc đẩy cho doanh nghiệpđàu tư máy móc thiết bị,nâng cấp chất luongj và hạ giá thành sản phẩm…Nhưngmột mặt nó dễ dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặcchậm phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Các yếu tố cạnh tranh
Cạnh tranh giữa các công ty hiện tại
Từ đây các doanh nghiệp có thể thấy được các mối đe dọa hay thách thức vớicạnh tranh với các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm Xuất phát từ đây doanhnghiệp có thể đề ra các chiến lược hợp lý nhằm hạn chế đe dọa và tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp mình
- Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: các đối thủ này chưa có kinhnghiệm trong việc xâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn vềvốn, công nghệ, lao động và lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc phục đượcnhũng điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm lĩnh thịtrường Chính vì vậy một doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư vốn, trang bị thêmmáy móc thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nhưngmặt khác phải tăng cường quảng cáo, áp dụng các biện pháp hỗ trợ và khuếchtrương sản phẩm giữ gìn thị trường hiện tại, đảm bảo lợi nhuận dự kiến
- Sức ép của người cung cấp: nhân tố này có khả năng mở rộng hoặc thu hẹpkhối lượng vật tư đầu vào,thay đổi cơ cấu sản phẩm, hoặc sẵn sàng liên kết với nhau
để chi phối thị trường nhằm hạn chế khả năng của doanh nghiệp hoặc làm giảm lợi
Trang 27nhuận dự kiến, gây ra rủi ro khó lường trước cho doanh nghiệp.Vì thế hoạt độngxuất khẩu có nguy cơ gián đoạn.
- Sức ép người tiêu dùng : Trong cơ chế thị trường, khách hàng được coi là
“thượng đế” Khách hàng có khả năng mở rộng qui mô hoặc hay thu hẹp chất lượngsản phẩm mà không được nâng giá bán sản phẩm Một khi nhu cầu của khách hàngthay đổi thì hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nóiriêng cũng phải thay đổi theo sao cho phù hợp
- Các yếu tố cạnh tranh trong nội bộ ngành: Khi hoạt động trên thị trường quốc
tế, các doanh nghiệp thường khó có cơ hội giành được vị trí độc tôn trên thị trường
mà thường bị chính các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các sản phẩm tương tựcạnh tranh gay gắt Các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia cácnước sở tại, quốc gia chủ nhà hoặc quôc gia thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặthàng đó Trong một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này được chính phủ bảo
hộ do đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với họ
III SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY SAU KHỦNG HOẢNG
1 Khái niệm về hàng dệt may
Dệt may là ngành đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng bao gồm cácloại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như: rèmcửa, vải bọc đồ dùng, khăn các loại…Mặt khác, sản phẩm của ngành dệt may cũngđược sử dụng trong ngành kinh tế khác như vải kỹ thuật dùng để lót đường, thi công
đê điều, các loại vải làm bọc đệm ô tô, làm vật liệu lọc vật liệu chống thấm Sảnphẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuộcnhư khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nón v.v màcòn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu,các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máybay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa,
vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc,
để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ ykhoa như chỉ khâu và bông băng
Để có được một sản phẩm dệt may cuối cùng cần trải qua một chuỗi các hoạtđộng tạo ra giá trị Thể hiện trong hình 3 Theo hình trên ta thấy chuỗi giá trị củangành dệt may bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau từ sản xuất xơ đến khéo sợidệt vải nhuộm in hoa ,hoàn tất cắt và may Trong xu hướng toàn cầu hóa các hoạtđộng trong chuỗi giá trị toàn cầu sẽ được phân bổ đến những nơi tạo ra giá trị gia
Trang 28tăng cao nhất và hoạt động hiệu quả nhất
Hỡnh 1 : Quy trỡnh sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may
Sản phẩm phụ trợ Công nghệ dệt may Công nghệ phụ trợ
Phân bón, thuốc
phòng dịch bệnh
Công nghệ hóa dầu Sản xuất
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ cơ khí, chế tạo và điều khiển tự động
Công nghệ thiết kế thời trang
Nguồn: Quy hoạch phỏt triển dệt may Việt Nam đến năm 2020
2 Sự cần thiết thỳc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sau khủng hoảng
2.1.Xuất phỏt từ tỏc động cuộc khủng hoảng đến thị trường của ngành dệt may
Trang 29Trước đây, các nước Nam Á và Đông Nam Á nổi lên như một nguồn cung
quan trọng với khách hàng Âu- Mỹ Nhập khẩu hàng dệt may của cả Mỹ, EU từ cácnước sản xuất hàng giá rẻ ở châu Á đều tăng trưởng khá mạnh, và mang lại sự khởisắc của không ít nền kinh tế
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi vị thế của nhiều
nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng, thậm chí có trường hợp đã đẩymột vài nền kinh tế theo xu hướng đó xuống tình trạng trượt dốc Cămpuchia là một
vị dụ đáng quan tâm
Trước khủng hoảng kinh tế, Cămpuchia tăng trưởng mạnh nhờ 80% kimngạch thu được từ xuất khẩu quần áo giá rẻ sang Mỹ Nhưng khi kinh tế Mỹ suythoái, chỉ trong mấy tháng (từ tháng 9/2008 đến đầu năm 2009), 50.000 công nhânmay (tức 17% lao động) mất việc làm
Nền kinh tế Cămpuchia đã từng tăng trưởng 10% năm 2007, đến nay, theo dựbáo của WB chỉ còn 1% Nêu ví dụ này để thấy, riêng trong ngành dệt may, tácđộng của cuộc khủng hoảng là rất lớn Việc thu hẹp tiêu dùng và dựng lên nhữngrào cản kỹ thuật ở cac thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… đã khiến ngành dệtmay Việt Nam gặp không ít khó khăn
Thị trường Mỹ là thị trường số 1 của Việt Nam, với thị phần tới 55% kimngạch Nhưng từ tháng 8/2008, Quốc hôi Mỹ đã thông qua luật mới về an toàn đốivới sản phẩm nhập khẩu vào nước này Theo đó, tất cả các sản phẩm dệt may vào
Mỹ sẽ phải tuân thủ các quy định mới từ tháng 2/2009 Ủy ban giám sát của Mỹ sẽtăng cường giám sát nghiêm ngặt hơn nữa các quy định an toàn sản phẩm như tính
dễ cháy của vải Cấm tuyệt đối các sản phẩm có dây thắt ở vùng cổ áo, đặt biệt là áocho trẻ em Mức phạt đối với nhà nhập khẩu hàng dệt may vi phạm sẽ tăng lên đến
15 triệu USD so với tối đa 3 triệu USD trước đây Trong tình thế như vậy, các nhànhập khẩu Mỹ sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng và độ an toàn của sảnphẩm
Trong khi đó, sự biến động giá hàng hóa thế giới theo chiều hướng giảm đãảnh hưởng tới việc sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may các nước Hơn thế, cáccuộc cạnh tranh giữa các nước này sẽ càng gay gắt Mặt khác, sự sụt giá của đồngUSD khiến cho thị trường Mỹ tăng trưởng chậm hơn các năm trước
Năm 2004, trị giá hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ dạt 46,93 tỷ USD, đếnnăm 2007 đã tăng lên 53,12 tỷ USD Nhưng trong thời khủng hoảng, 6 tháng đầu
Trang 30năm 2008, Mỹ chỉ còn nhập 23,7 tỷ USD hàng dệt may, giảm hơn 2 tỷ USD so vớicùng kỳ năm trước đó.
Xu thế thứ 2 là thị trường dệt may Trung Quốc đang mất dần uy lực, mất dầnsức cạnh tranh so với các nước lân cận Nguyên nhân do thị trường tiêu thụ bị thuhẹp, do chính sách mới khiến chi phí lao động tăng tới 20% và đồng Nhân dân tệtăng giá so với đồng USD Điều này khiến các doanh nghiệp Trung Quốc phảichuyển sang làm các sản phẩm chất lượng hơn với giá cao hơn… Tình trạng sửdụng các nguyên liệu có hàm lượng chất độc hại cao khiến sản phẩm dệt may cũngnhư nhiều sản phẩm khác của Trung Quốc bị tẩy chay ở nhiều quốc gia, khiến kimngạch và thị trường tiêu thụ bị giảm sút mạnh
Kim ngạch XK quần áo trong 8 tháng đầu năm 2008 của Trung Quốc chỉ tăng2,6%, thấp xa mức tăng 19,7% cùng kỳ năm trước Người ta cũng dự báo năm
2009, tăng trưởng XK hàng dệt may Trung Quốc chỉ đạt 4,26% so với mức hai con
số của những năm trước Trong khi hàng dệt may Trung Quốc mất dần uy tín và uylực, thì một hệ quả tất yếu là sự chuyển dịch đầu tư dệt may vào Trung Quốc sẽchuyển sang các nước có ưu thế hơn
Trong đó Việt Nam là một địa chỉ hấp dẫn Trong khối ASEAN, mức lươngtrả cho lao động Việt Nam cao hơn Cămpuchia, Lào, Mianma, bằng Indonesianhưng thấp hơn Thái Lan, Malaysia Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn là sự lựa chọn ưutiên vì năng suất trong ngành may Việt Nam cao hơn các nước kia và hàng có chấtlượng khá Vấn đề là Việt Nam làm gì để chớp được cơ hội này
2.2.Do sự tái cơ cấu lại thị trường dệt may
Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm mạnh, các nhà nhập khẩu đã giảm,nhưng ngành dệt may vẫn đạt được kết quả trên phải kể đến vai trò chuyển dịch cơcấu thị trường của các DN dệt may đã có bước phát triển nhanh
Hiện nay, các DN đã có số lượng đơn hàng gia tăng từ các nhà nhập khẩu.Mặc dù có sự sụt giảm sản phẩm XK của nước ta vào một số thị trường lớn như
Mỹ, châu Âu, Nhật nhưng bù lại, ngành dệt may đã tìm được một số thị trườngmới như Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước Trung Đông Hiệntại, các DN dệt may không chỉ XK một số mặt hàng truyền thống là sản phẩm may,
mà còn XK sản phẩm sợi, vải và phụ liệu Đây là những sản phẩm dệt may chủ lực
có sức tăng trưởng nhanh, trước đây Việt Nam phải nhập khẩu từ Trung Quốc, NhậtBản thì nay đã XK sang chính các nước đó Qua đó khẳng định những lợi thế cạnh
Trang 31tranh của ngành đang được phát huy, tạo niềm tin vào hướng đi đúng đắn cho ngànhdệt may trong thời kỳ khó khăn.
2.3 Do sự suy giảm của kim ngạch xuất khẩu dệt may
Do chịu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế mà kim ngạch xuấtkhẩu của dệt may Việt Nam năm 2009 đạt 9,07 tỷ USD (giảm nhẹ 0,6% so năm2008)
Thị trường Hoa Kỳ, Nhật bản vẫn là thị trường chủ đạo cho xuất khẩu hàngdệt may của Việt Nam Hoa Kỳ vẫn đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu tháng 12 là490,4 triệu USD, cả năm đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 55,1% tổng kim ngạch; đứng thứ
2 là kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản tháng 12 đạt gần 96 triệu USD, tính chung
cả năm đạt 954,1 triệu USD, chiếm 10,52%
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường trong năm 2009 hầuhết đều giảm hoặc chỉ tăng nhẹ so với năm 2008, chỉ có môt số thị trường có mứctăng đáng kể như: Hàn Quốc tăng 74,03%, đạt 242,5 triệu USD; Singapore tăng63,73%, đạt 45,5 triệu USD; Philippines tăng 52,11%, đạt 17,34 triệu USD; Ấn Độtăng 49,43%, đạt 14,1 triệu USD
Dẫn đầu về mức sụt giảm kimngạch so với năm 2008 đó là kim ngạch xuất sangUcraina giảm 65,07%, chỉ đạt 12,4 triệu USD; Xếp thứ 2 về mức độ sụt giảm là kimngạch xuất sang Nga giảm 41,15%, đạt 56 triệu USD; tiếp theo là kimngạch xuấtsang Hungary giảm 40,89%, đạt 11,9 triệu USD
Năm 2009 Việt Nam mất 8 thị trường xuất khẩu hàng dệt may, nhưng mởrộng thêm được 4 thị trường mới đó là: Mêhicô, Cuba, Ai cập, Panama
Bài học rút ra đối với Dệt may Việt Nam
Quý I/2009, hàng loạt xí nghiệp may đóng cửa vì không có đơn hàng, côngnhân bị nợ lương rồi thất nghiệp Đây có lẽ là những hình ảnh của cuộc khủnghoảng kinh tế mà người Việt nhìn thấy tận mắt Trong bối cảnh đó, ngành dệt may
đã có những quyết sách đúng đắn để vượt qua khó khăn và cán đích thành công:Năm 2009 toàn ngành xuất khẩu 9,2 tỷ USD sản phẩm, tăng hơn 2% so với năm
2008 và trở thành ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, vượt qua cả dầuthô Từ thành công của ngành dệt may năm 2009 có thể rút ra nhiều bài học quý báutrong kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp cần suy ngẫm
Thứ nhất, kiên trì bám chắc thị trường truyền thống và tích cực tìm kiếm
Trang 32những thị trường ngách để thực hiện chiến lược “người không ta có” Cuộc suythoái kinh tế phủ bóng đen lên khắp châu lục khiến cho nhiều thị trường chủ chốtcủa dệt may Việt Nam bị giảm sút Trong 10 tháng đầu năm tính ra thị trường Hoa
Kỳ giảm tới 4,59%, thị trường EU giảm 4,36% mà 2 thị trường này chiếm tới 5,5 tỷUSD trong 7,4 tỷ USD kim ngạch dệt may nói chung Tuy nhiên, nói EU không cónghĩa là mọi quốc gia đều giảm Trong EU có thị trường vẫn nhập nhiều sản phẩmdệt may Việt Nam Trong 10 tháng toàn EU giảm như đã nêu nhưng có những thịtrường địa phương vẫn tăng như Italia tăng 1,17%, Tây Ban Nha tăng 23,5% Hoặcngay ở thị trường Hoa Kỳ giảm chung là như thế nhưng vẫn có những mặt hàngtăng Vấn đề chính là nhiều doanh nghiệp bám sát thị trường truyền thống này đãphát hiện và tìm cách gia tăng thị phần ở từng mặt hàng cụ thể, từng là thị trường cụthể
Ngoài thị trường truyền thống, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn chútâm tìm những thị trường ngách để thừa lúc các đối thủ chưa tìm đến thì mình đã cómặt như thị trường Châu Phi, Trung Phi, Đông Âu
Thứ hai, gia tăng chủng loại sản phẩm xuất khẩu, ngoài sản phẩm dệt may cònchú trọng xuất khẩu cả các loại khăn bông, vải, và các nguyên phụ liệu khác Cácdoanh nghiệp đã tìm các thị trường cho không chỉ sản phẩm mà cả nguyên phụ liệu
Ví dụ Việt Nam đã xuất cả vải, khăn bông, phụ liệu sang các Tiểu vương quốc ẢRập, Ai Cập, Nam Phi, sợi sang Thổ Nhĩ Kỳ Công ty Hanosimex đã xuất khẩu tới38% lượng sợi sản xuất được Năm 2009 Việt Nam xuất sợi tăng 70% so với nămtrước Phải nói rằng sợi, vải và khăn bông Việt Nam đã đạt chất lượng cao nên rấtđược thị trường quốc tế chú ý, nhờ đó lượng xuất khẩu tăng Trong đó đặc biệt khănbông xuất khẩu đòi hỏi kỹ thuật rất cao và khăn bông Việt Nam đã vượt qua nhiềuhàng rào kỹ thuật để vào được các thị trường khó tính Hiện nay, Việt Nam là nướcđứng thứ hai thế giới về xuất khẩu khăn bông vào thị trường Hoa Kỳ, EU, NhậtBản Đây cũng là một thành công của dệt may Việt Nam
Thứ ba, dệt may nước ta đã khai thác tốt cơ hội từ Hiệp định thương mại songphương giữa Việt Nam và Nhật Bản Theo đó, từ 1/10/2009, 90% mặt hàng xuấtvào Nhật được hưởng thuế suất bằng 0% Nhờ vận dụng hợp lý quy định doanhnghiêp sử dụng nguyên liệu vải từ các nước có hiệp định thương mại với Nhật đượchưởng thuế suất 0% thay vì 5-10% trước đó nên chỉ trong 3 tháng cuối năm hàngdệt may vào Nhật tăng vọt Tính ra cả năm hàng dệt may xuất sang Nhật tăng từ 23-
Trang 3325% Đây là điều mà ít ngành hàng xuất khẩu Việt Nam khai thác được Đáng chú ý
là nhiều doanh nghiệp dệt may có quan hệ làm ăn lâu dài với doanh nghiệp Nhật đãchớp thời cơ này tăng cường hơn quan hệ bạn hàng và xuất hàng vào Nhật Ví dụDệt kim Đông Xuân, vốn có quan hệ hợp tác 20 năm qua với doanh nghiệp Nhật,năm nay đã ký thỏa thuận tiếp tục hợp tác trong 10 năm nữa và đã xuất sang Nhậtlượng hàng tăng gấp 2 lần năm trước
Thứ tư, dệt may là ngành sớm chuyển hướng tìm về thị trường nội địa và xâydựng thành một định hướng chiến lược lâu dài Nhờ vậy doanh thu từ thị trường nộiđịa của Tập đoàn Dệt may đã tăng 26% so với năm 2008 Nhiều doanh nghiệp dệtmay cũng có doanh thu cao từ thị trường nội địa như: May Việt Tiến đạt trên 600 tỷđồng, tăng 180 tỷ đồng so 2008; May Nhà Bè đạt gần 300 tỷ đồng, May 10 đạt trên
100 tỷ đồng…
Thứ năm, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, dệt may Việt Nam chịuảnh hưởng trên nhiều phương diện nhưng ngành đã sắp xếp lại lao động, đổi mớiquy trình sản xuất theo hướng tinh gọn, hiệu qua, năng suất lao động Tập đoàn dệtmay tăng 20-30%, đáp ứng được thời gian giao hàng, giảm chi phí đầu vào nên dùgiá xuất khẩu giảm 15-17% do suy thoái nhưng tổng sản lượng xuất khẩu vẫn tăng20-40% Cuối năm, nhiều doanh nghiệp dệt may treo bảng tuyển lao động cho thấysản xuất đã ổn định và phát triển
Thứ sáu, ngành dệt may đã chú trọng xây dựng được nhiều thương hiệu ViệtNam có uy tín trên thị trường quốc tế Nhiều thương hiệu được thế giới biết đến nhưMay Việt Tiến, An Phước, Nhà Bè, May 10, Thăng Long, Sài Gòn… Hàng của ViệtTiến đã xuất sang nhiều quốc gia theo hệ thống đại lý bán hàng rất có uy tín
Có thể tóm lại những bài học chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm củadệt may Việt Nam từ thành công của năm 2009 rất đáng để nhiều ngành sản xuất,doanh nghiệp nghiên cứu vận dụng trên thương trường
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM
Trang 34GIAI ĐOẠN 1990 ĐẾN NAY
I.TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1 Lịch sử hình thành ngành dệt may
Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người Sau thời
kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt chướcthiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu Theo các nhà khảo cổ thìsợi lanh là nguyên liệu dệt may đầu tiên của con người Sau đó sợi len xuất hiện ởvùng Lưỡng Hà và sợi bông ở ven sông Indus Trong thời kỳ cổ đại, may dệt cũngtuỳ thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt kinh tế: các dân tộc sống về chăn nuôi dùnglen (Lưỡng Hà, Trung Đông và Trung Á), vải lanh phổ biến tại Ai Cập và miềnTrung Mỹ, vải bông tại Ấn Độ và lụa (tơ tằm) tại Trung Quốc Các dân tộc Inca,Maya, Tolteca, v.v tại châu Mỹ thì dùng các sợi chuối và sợi thùa Theo Kinh Thicủa Khổng Tử, tơ tằm được tình cờ phát hiện vào năm 2640 trước Công nguyên.Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dânchúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thành một ngành phồn thịnh, một trong nhữnghàng hoá đầu tiên trao đổi giữa Đông và Tây Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc lànước duy nhất sản xuất và xuất khẩu lụa và tơ tằm Con Đường Tơ Lụa, còn đượctruyền tụng đến ngày nay, không chỉ là địa bàn của các nhà buôn mà còn mở đườngcho các luồng giao lưu văn hoá, nghệ thuật, tôn giáo, và cả các cuộc viễn chinh binhbiến
Tuy các kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mức độ tinh vi, có khi thành cảnghệ thuật, nhưng trong suốt 5 ngàn năm, con người vẫn chỉ dùng các nguyên liệu
tự nhiên, lấy từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay, sợi gai dầu, sợi lanh, hay từ thựcvật như da, sợi len, tơ tằm, v.v Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩmquí, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tộc, thượng lưu, đại đa số dânchúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ Mãi đến giữa thế
kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ khí hoá,chạy bằng hơi nước, ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thànhmột kỹ nghệ Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhàkhoa học ở Châu Âu đã tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuấthàng loạt, với giá rẻ Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bá tước HilaireBernigaud de Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm
Trang 35nghiên cứu, song song với nhà khoa học Louis Pasteur, để tìm cách khắc phục cácbệnh dịch tàn phá các cơ sở nuôi tằm Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại Hộichợ triển lãm thế giới Paris một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạođầu tiên Năm sau, ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo, bắt đầu sản xuất năm
1892 Nhưng lúc ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thành còn cao nênphải đợi đến đầu thế kỷ 20, cơ sở này mới hoạt động với qui mô lớn và thành công Ngành dệt may từ đó cũng phát triển ngày càng nhanh, cùng với đà tiến triểncủa kinh tế và thương mại Từ 1889 đến 1939, phải sau 50 năm sản lượng sợi hoáhọc trên thế giới mới đạt mức 1 triệu tấn một năm, nhưng chỉ 12 năm sau đã tănggấp đôi, và cứ thế tăng vọt Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8triệu tấn sợi, hầu như toàn bộ là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len (19%)-, số sợihoá học dưới 1000 tấn Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó 50%bông, 6% len và 44% sợi hoá học Như thế, chỉ trong 3 phần tư thế kỷ, số lượng tiêuthụ đã nhân lên 4,3 lần cho sợi bông, 2,2 lần cho sợi len, và 11 000 lần cho sợi hoáhọc Mức tăng trưởng phi thường này tuy thế khựng lại sau năm 1973, vì cuộckhủng hoảng về dầu lửa và giai đoạn kinh tế suy thoái sau đó Ngoài ra, vì dầu hoả
là nguyên liệu chính của sợi hoá học, khuynh hướng thay thế các sợi tự nhiên bằngsợi hoá học cũng chậm lại và ngày nay sợi tự nhiên, chủ yếu là bông, vẫn tồn tạitrên thị trường, và sợi hóa học chỉ chiếm đa số với khoảng 60%
2 Tổng quan về dệt may Việt Nam từ năm 1990 đến nay.
Ngành Dệt - May VN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ngànhcung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, giải quyết việc làm cho một lực lượnglớn lao động, đồng thời đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu và đóng gópmột nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Giá trị sản xuất công nghiệp của Ngànhchiếm bình quân trên 9% toàn ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu chiếm14,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã tạo việc làm cho gần hai triệulao động công nghiệp
2.1 Từ 1990- 1999: Sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN
Tuy quy mô công suất thiết bị đã tăng lên nhanh chóng trong thời kì kế hoạchhoá, nhưng do mới chỉ làm ra được những sản phẩm chất lượng trung bình và thấpnên khi chuyển sang cơ chế thị trường, Ngành Dệt - May VN đứng trước những khókhăn hết sức gay gắt: Thiết bị công nghệ sợi, nhuộm, hoàn tất (khoảng 50%) cũ kĩ,lạc hậu, đã sử dụng 30 - 40 năm (có nhà máy đã sử dựng 50 - 60 năm); Máy dệt đa
Trang 36phần khổ hẹp, tiêu hao năng lượng và lao động cao; Thiếu vốn cho đầu tư đổi mớicông nghệ và thiếu kĩ năng quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nhưngnhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được sự phối hợp củacác bộ, ngành trong việc mở thị trường mới, cùng với tinh thần lao động sáng tạocủa đội ngũ cán bộ, công nhân, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp thiết
bị cũ và đầu tư công nghệ mới để sản xuất ra những sản phẩm theo yêu cầu thịtrường
Bên cạnh đó, với luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, các xí nghiệp liêndoanh và 100% vốn nước ngoài bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực dệt may Trong vòng 10năm, có gần 170 dự án với số vốn đăng kí hơn 1.600 triệu USD, đã góp phần làmcho Ngành Công nghiệp Dệt - May VN có sự phát triển mới cả về quy mô, trình độcông nghệ, mẫu mã hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu Vì vậy, đến cuối năm 1999,hơn 30% thiết bị dệt và 95% thiết bị may đã được đầu tư bằng thiết bị, công nghệtiên tiến Công suất kéo sợi đạt 177 ngàn tấn, đã sản xuất gần 100 ngàn tấn, trong đó
có các loại sợi chi số cao cho hàng dệt kim và dệt vải cao cấp Tổng sản lượng vảiđạt khoảng 500 triệu mét (khổ 0,8m), sản phẩm dệt kim đạt 34.000 tấn, khăn bông10.000 tấn, mền chăn 1 triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu m2, sản phẩm may khoảng
250 triệu sản phẩm Tổng số lao động sử dụng gần một triệu người, trong đó, số cótrình độ kĩ sư trở lên hơn 3000 người Có 2 viện và 1 trung tâm nghiên cứu, 4trường đào tạo trung học và công nhân lành nghề Các Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội và Đại học Kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh đều có khoa đào tạo kĩ sư côngnghệ sợi, dệt, nhuộm
Từ năm 1990 - 1999, Ngành Dệt - May VN đã có những thay đổi về chất rấtquan trọng, từ thiết bị công nghệ đến sản phẩm (nhất là công nghệ may và sản phẩmmay) Từ chỗ chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước vàthực hiện một phần theo Nghị định thư với Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu,đầu vào, đầu ra do Nhà nước quyết định, các doanh nghiệp Dệt - May VN đã thựchiện từ khâu đầu đến khâu cuối, tự chọn mua nguyên phụ liệu, tổ chức sản xuất đếntiêu thụ sản phẩm, tự định giá mua, giá bán Đến nay, sản phẩm dệt may VN đãthoả mãn một phần nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và có kim ngạch xuấtkhẩu lớn sang các thị trường khó tính trên thế giới như EU, Nhật Bản, Mĩ, Canađa Thời kỳ 1990 - 1999, toàn Ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng10%/năm Kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ hạng cao trong 10 mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của cả nước, chỉ sau dầu thô nhưng dẫn đầu các ngành chế biến xuấtkhẩu, đạt gần 1,7 tỉ USD (năm 1999), trong đó hơn 60% sản phẩm xuất khẩu sang
Trang 37thị trường phi hạn ngạch, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước Tạo việc làmcho gần một triệu lao động công nghiệp, chưa kể số lao động sản xuất nguyên liệutrồng bông, trồng đay, trồng dâu nuôi tằm).
2.2 Giai đoạn 2000 – 2006: Chuẩn bị cho quá trình gia nhậpWTO
Từ năm 2000, ngành dệt may bắt đầu thực hiện chiến lược tăng tốc đầu tư,nhằm đáp ứng mục tiêu đảm bảo phần lớn nguyên phụ liệu sản xuất trong nước chomay xuất khẩu Chỉ sau hơn 2 năm thực hiện, năng lực ngành sợi đã tăng gấp đôi, từ
1 triệu cọc được nâng lên 2 triệu cọc sợi Trong đó có những doanh nghiệp đầu tưthiết bị kéo sợi hiện đại như Phong Phú, Công ty 28, Sợi Phú Bài; đầu tư thiết bị sợicủa Nhật Bản như Đông Nam, Thành Công, Việt Thắng, Nam Định, Thắng Lợi… Trong giai đoạn này, ngành dệt may đã có những bước tăng trưởng nhanhchóng, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế đất nước Từ năm 2000 đến nay, ngànhdệt may Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng bình quân trên 20%/năm, thu hút gần 2triệu lao động, đóng góp 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Nếu năm 2001,Việt Nam chưa có tên trong danh sách 25 nước xuất khẩu hàng may mặc hàng đầuvào thị trường Mỹ, thì đến năm 2002, sau khi quy chế quan hệ bình thường Việt -
Mỹ được thông qua, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 20 và giành vị trí thứ 5 vàonăm 2003 khi đạt kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ 3,6 tỉ USD Khi Hoa Kỳ ápdụng quota nhập khẩu đối với một số mặt hàng may mặc của Việt Nam, hàng dệtmay Việt Nam tụt xuống vị trí thứ 7 Nhưng đến năm 2006, hàng dệt may Việt Nam
đã trở lại vị trí thứ 5,phát triển thị trường nội địa tăng trưởng 15%, doanh số bán lẻước đạt 2.05 tỉ USD; Xuất khẩu đạt 5.92 tỉ USD (tăng 24%); Giá trị sản xuất côngnghiệp ngành dệt may tăng trưởng 16%
2.3 Từ năm 2006 đến nay:Giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO và chịu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức được đối xử bình đẳng như cácthành viên khác của Tổ chức Thương mại thế giới WTO Từ 2005, ngành dệt mayViệt Nam đã được EU và Canada xoá bỏ chế độ hạn ngạch khi xuất khẩu vào nhữngthị trường này, nhưng vẫn bị bó buộc bởi cơ chế hạn ngạch khi xuất khẩu vào Hoa
Kỳ Khi chính thức trở thành thành viên WTO, ngành dệt may Việt Nam có nhiều
cơ hội tốt để phát triển Các doanh nghiệp dệt may có thể xuất khẩu theo khả năng
mà không lo về hạn ngạch tại bất kỳ thị trường nào Doanh nghiệp Việt Nam sẽ cóđiều kiện thâm nhập mạnh hơn vào thị trường nước ngoài, tăng thêm kim ngạchxuất khẩu
Trang 38Tính đến cuối năm 2007, riêng ngành dệt may Việt Nam có khoảng hơn 2000doanh nghiệp với trên 2 triệu lao động Kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 7,8 tỷ USD,tăng gấp 2,2 lần so với năm 2004 và xếp thứ 9 trong các nước xuất khẩu ngành hàngmay mặc trên thế giới.
Trong 11 tháng đầu năm 2008, Ngành dệt, may Việt Nam đã đạt kim ngạchxuất khẩu là 8,287941 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 7,440365 tỷ USD.Trong
đó, kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ là 4,665010 tỷ USD(chiếm 56,29%); sang Nhật Bản là 740,924 triệu USD (chiếm 8,94%) và sang Đức
là 351,937 triệu USD (chiếm 4,25%) Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất từ thị trườngTrung quốc là 1,875059 tỷ USD (chiếm 25,20%); từ Asean 525,065 triệu USD(chiếm 7,06%) và từ Nhật Bản là 444,444 triệu USD (chiếm 5,97%)
Nhưng đến năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới màdệt may Việt Nam đã có những ảnh hưởng không nhỏ Theo số liệu thống kê, xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 12/2009 đạt 881,13 triệu USD, đưatổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt măy cả năm 2009 lên gần 9,07 tỷ USD (giảmnhẹ 0,6% so năm 2008) Thị trường Hoa Kỳ, Nhật bản vẫn là thị trường chủ đạocho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Hoa Kỳ vẫn đứng đầu về kim ngạchxuất khẩu tháng 12 là 490,4 triệu USD, cả năm đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 55,1% tổngkim ngạch; đứng thứ 2 là kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản tháng 12 đạt gần 96triệu USD, tính chung cả năm đạt 954,1 triệu USD, chiếm 10,52%
3 Đánh giá năng lực và tiềm năng xuất khẩu của ngành Dệt May Việt Nam
3.1 Về năng lực các doanh nghiệp dệt may
Tính đến cuối tháng 9 năm 2009, theo thống kê của nhóm khảo sát thì toànngành có khoảng hơn 2000 doanh nghiệp được phân ra như sau:
Theo Nguồn vốn sỡ hữu :
- Doanh nghiệp nhà nước: 307 doanh nghiệp (chiếm 15,7%)
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh : 1183 doanh nghiệp (chiếm 60%)
- Doanh nghiệp đầu tư nước ngòai : 472 doanh nghiệp (chiếm 24,3%)
Theo Nhóm sản phẩm :
Sản xuất nguyên liệu và kéo sợi : 96 doanh nghiệp
Sản xuất dệt và hoàn tất : 388 doanh nghiệp
Sản xuất may mặc : 1446 doanh nghiệp
Trang 39Sản xuất phụ trợ, phụ liệu : 35 doanh nghiệp
Họat động thương mại, dịch vụ : 265 doanh nghiệp
Theo Địa phương :
- Thành phố Hồ Chí Minh có lượng doanh nghiệp tập trung đông đảo nhất:
1090 doanh nghiệp (chiếm tỉ lệ 56%)
- Kế đó là khu vực phụ cận thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: tỉnh Long An,Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu: 293 doanh nghiệp (15%)
- Thành phố Hà Nội: 157 DN (8%)
- Khu vực phụ cận Hà Nội và xung quanh đường 5 bao gồm: Bắc Ninh, BắcGiang, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh: 135 doanh nghiệp(7%)
- Khu vực Nam Định và các tỉnh phụ cận: Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình ….xung quanh đường 10 để xuất khẩu qua cảng Hải phòng có 71 doanh nghiệp (3,5%)
- Khu vực Đà nẵng và phụ cận: Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định có 60 doanh nghiệp (3%)
- Khu vực Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Tuyên Quang có 32 doanh nghiệp(1,5%)
- Khu vực sông Tiền, sông Hậu bao gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,Đồng Tháp, Cần Thơ có 22 doanh nghiệp (1%)
- Các tỉnh khác có số lượng không đáng kể
Thu hút khoảng 2.000.000 lao động (chưa tính lao động trồng bông, trồng dâunuôi tằm), chiếm khoảng 25% lực lượng lao động công nghiệp
Chiếm 8,54% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước (tính năm 2004)
Chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Hiện có khoảng 1.578.000 cọc sợi, trong đó:
+ Đầu tư mới khoảng 150.000 cọc
+ Sản xuất được 145.000 tấn sợi/năm (chi số bình quân Ne40)
14.000 máy dệt các loại:
+ 2.000 máy dệt khổ rộng (không thoi)
Trang 40+ Sản xuất được 570 triệu m2/năm.
Khả năng nhuộm, hoàn tất vải:
+ 580 triệu m2/năm (trong đó chỉ 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu)
Sản xuất 35 triệu sản phẩm dệt kim các loại (theo số liệu của Tổng cục Thốngkê) Theo ý kiến các chuyên gia dệt kim, sau 10 năm đầu tư, hiện nay ngành dệt kim
có khoảng 450 máy dệt kim
25.000 tấn khăn bông các loại
130.000 máy may các loại, sản xuất 400 triệu sản phẩm may
3.2 Về tiềm năng xuất khẩu của ngành Dệt may
Ngành dệt may Việt Nam còn có khá nhiều tiềm năng cho xuất khẩu Tiềmnăng này trước hết là do nguồn lao động còn lớn, đặc biệt là nhờ cấu trúc dân số trẻ,nên chi phí cho lao động không tăng nhanh như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu củahàng dệt may Bên cạnh đó, Việt Nam có môi trường đầu tư ổn định, với tiềm năngtăng trưởng cao, nên có sức hấp dẫn với nhà đầu tư và bạn hàng nước ngoài Hơnnữa, Việt Nam cũng đang tham gia ngày một sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới Cùng với việc cải thiện hình ảnh của Việt Nam, quá trìnhnày còn giúp gia tăng tiếp cận thị trường cho hàng hóa của Việt Nam nói chung vàhàng dệt may của Việt Nam nói riêng
Năm 2009, mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp,ngành hàng gặp nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn là mộtnăm thành công đối với ngành dệt may Việt Nam Kim ngạch XK năm 2009 đạt 9,2
tỷ USD, tăng 1% so với năm 2008, trong điều kiện XK của cả nước tăng trưởng
"âm", đưa DM nằm trong top dẫn đầu những mặt hàng XK của cả nước Sản phẩm
DM của Việt Nam hiện có nhiều lợi thế so với các nước XK khác như Trung Quốc,
Ấn Độ, Thái Lan vì nhiều hãng thời trang lớn trên thế giới và thị trường nhậpkhẩu lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… đang có xu hướng tìm đến sản phẩmcủa Việt Nam, do các doanh nghiệp đã có thể đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng củasản phẩm trung, cao cấp
Đến thời điểm này, nhiều doanh nghiệp dệt may đã ký được đơn hàng đến hếtquý I, thậm chí là quý II/2010 Ngoài ra, do tận dụng được ưu thế của Hiệp định đốitác kinh tế Việt - Nhật, đồng thời lại được các nhà nhập khẩu Nhật Bản đánh giá caotính ổn định, trình độ tay nghề của công nhân, chất lượng, mẫu mã đa dạng của