1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chiến lược phát triển của Cty XNK hàng thủ công Mỹ nghệ (ARTEXPORT)- HN

90 354 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến Lược Phát Triển Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ Artexport-Hà Nội
Người hướng dẫn Thạc Sỹ Bùi Đức Tuân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề Tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 633,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy chiến lược phát triển cho các công ty là gì? Thực ra nhiều nhà quản trị cũng không đưa ra được định nghĩa chính xác về chiến lược phát triển.

Trang 1

Lời nói đầu

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh cùng với xuhướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng đang trên

đà phát triển mạnh mẽ Trong bối cảnh kinh tế như vậy thì các công ty, xínghiệp của thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng luôn có sự cạnh tranh gaygắt, quyết liệt để tồn tại và phát triển Mỗi công ty, xí nghiệp muốn tồn tạitrong sự cạnh tranh quyết liệt này thì các nhà quản trị của họ luôn phải tìm racác con đường đi riêng cho mình, nếu nhà quản trị nào chọn đúng thì công tycủa họ tồn tại và phát triển, còn nếu họ lựa chọn không thích hợp thì đồngnghĩa với việc các công ty của họ thất bại con đường đi mà các nhà quản trịhướng cho công ty mình chính là các chiến lược phát triển của các công ty

Vậy chiến lược phát triển cho các công ty là gì? Thực ra nhiều nhà quảntrị cũng không đưa ra được định nghĩa chính xác về chiến lược phát triển Mỗimột trường phái kinh tế có một khái niệm khác nhau về chiến lược phát triểntrong công ty Tuy có nhiều những khái niệm khác nhau như vậy nhưng khôngmột nhà quản trị nào có thể phủ nhận tầm quan trọng của chiến lược phát triểntrong công ty của họ Chính vì vậy để hiểu rõ thêm về chiến lược phát triểntrong công ty, cùng với một số kiến thức có được qua việc nghiên cứu, thực tậptại công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT – Hà Nội em

chọn đề tài: “Chiến lược phát triển của công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT-Hà Nội”

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về chiến lược phát triển trong công ty

Chương II: Thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của công ty xuấtnhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT- Hà Nội

Trang 2

Chương III: Đề xuất chiến lược phát triển cho công ty xuất nhập khẩuhàng thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT- Hà Nội.

Để hoàn thành được đề tài này em đã được sự giúp đỡ tận tình của,các

cô, chú nơi cơ quan thực tập và bạn bè, đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy giáo –Thạc sỹ Bùi Đức Tuân.Tuy nhiên do kiến thức và thời gian nghiên cứu còn hạnchế nên trong đề tài này của em còn có nhiều thiếu sót, em rất mong được sựchỉ bảo của thầy giáo, các cô, chú nơi cơ quan thực tập cùng các bạn sinh viên

Trang 3

Nội dung Chương I: Lý luận chung về chiến lược phát triển trong

công ty.

I/ Khái niệm chung về chiến lược trong công ty.

1/ Khái niệm về kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Chiến lược phát triển là gì? Thực ra có rất nhiều các nhà quản lý cácdoanh nghiệp đến nay vẫn không nhận thức rõ được thực ra một Chiến lượcphát triển cho Công ty mình là gì? Thuật ngữ “Chiến lược” thực ra trước đâyđược dùng cho lĩnh vực quân sự Nó là sự phối hợp giữa các nguồn nhân lực vàtài lực để phục vụ cho môt mục đích quân sự mà người lãnh đạo đưa ra Ngàynay thuật ngữ “Chiến lược”được dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Nó chính là công cụ hay nói cách khác nó là một biến hình của công tác kếhoạch sản xuất kinh doanh Để hiểu rõ “Chiến lược phát triển” là gì thì trướchết ta tìm hiểu rõ kế hoạch hoá là gì để từ đó ta hiểu rõ hơn về Chiến lượcphát triển trong Công ty

Kế hoạch sản xuất kinh doanh được coi là một văn bản, trong đó viếtnhững gì sẽ làm trong năm sắp tới: đó là những gì về sản xuất ,kinh doanh, cầnnhững nguồn nhân lực và tài lực nào để Công ty tồn tại và phát triển

2/ Vai trò của công tác kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường.

Sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nềnkinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đặt ra nhiều vấn đề lý luận

và thực tiễn cần phải nghiên cứu và giải quyết, một trong những vấn đề đó làcông tác kế hoạch hoá Trong những năm chuyển đổi vừa qua, có không ítnhững ý kiến khác nhau về tầm quan trọng của công tác kế hoạch hoá, những ý

Trang 4

kiến này không những không thống nhất với nhau mà thậm chí còn trái ngượcnhau.

+Một số thì cho rằng trong nền kinh tế thị trường sẽ không còn chỗđứng cho công tác kế hoạch hoá, công tác này chỉ thích hợp khi nền kinh tế cònhoạt dộng theo cơ chế kế hoạch tập trung

+ Một số khác lại cho rằng: Giờ đây khi cơ chế thị trường trực tiếphướng dẫn và điều tiết cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêngthì kế hoạch hoá vẫn phải tồn tại như là một khâu trong những yếu tố cấu thànhcủa cơ chế quản lý Khi môi trường và điều kiện hoạt động thay đổi, cùng với

sự thay đổi khác của cơ chế kinh tế thì công cụ kế hoạch hoá cũng cần đượcnghiên cứu và thay đổi

Những bài học thực tiễn trong cơ chế cũ cũng không phải là ít, với cơchế điều hành cứng nhắc từ trên xuống dưới thể hiện qua các chỉ tiêu pháp lệnhthông qua hệ thống các kế hoạch hoá pháp lệnh đã để lại một sự ăn mòn trongcông tác xây dựng kế hoạch sản xuất của công ty mà cho đến nay vẫn chưa xoánhoà được Hậu quả của cơ chế dẫn đến doanh nghiệp không biết đến thịtrường, và do đó hoạt động của sản xuất kinh doanh không biết đến nhu cầucủa người tiêu dùng, hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ làm theo chỉ tiêu pháplệnh mà không cần biết đến hiệu quả kinh tế Trong khi đó cơ chế thị trường có

sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị kinh tế thị hiệu quả phải là mục tiêuhàng đầu, phải là mục tiêu bao trùm các mục tiêu khác Kế hoạch đề ra chodoanh nghiệp định hình được hướng đi trong những năm sắp tới, nó không chỉquan tâm đến vấn đề tài chính mà nó còn quan tâm đến vấn đề thị trường, nơibán hàng … và những thay đổi có thể xảy ra Ngoài ra kế hoạch còn là các cơ

sở để các tổ chức tín dụng xem xét xem có cho công ty vay vốn để tiến hànhcác hoạt động sản xuất kinh doanh hay không bời vì qua bản kế hoạch công ty

Trang 5

sẽ cho các tổ chức tín dụng thấy được tương lai của mình Do đó công tác kếhoạch hoá thực sự rất có ý nghĩa đối với các tổ chức kinh tế.

Thực tế trong hoạt động quản lý doanh nghiệp trong những năm vừa qua

đã đem lại những bài học quý giá rằng nếu coi thường các yêu cầu của công tác

kế hoạch, phương thức hoạch toán kinh doanh, đúng nguyên tắc tập trung dânchủ sẽ dẫn đến những cách nhình tuỳ tiện thiếu kỷ cương, mạnh ai lấy làmkhông kiểm soát hết được Thực tế này đã dẫn đến một thực trạng trong thiếu

ổn định trong công tác quản lý kế hoạch hoá doanh nghiệp: khi thì dân chủ dẫnđến tình trạng quá trớn, khi thì quá gò bó dẫ đến kém linh hoạt

Từ thực tế đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của công tác kếhoạch hoá trong nền kinh tế thị trường Công tác kế hoạch hoá mà ngày naycác nhà quản trị chiến lược coi là mụ tiêu của Chiến lược phát triển

Từ đó ta có khái niệm về Chiến lược phát triển : Chiến lược phát

triển là một thuật ngữ được các nhà quản trị doanh nghiệp gọi là “Việc xácđịnh những con dường và những phương tiện vận dụng để đi đến các mục tiêu

đã thông qua của chính sách”(Theo General – Alileret, nhà kinh tế học ngườipháp) Như vậy Chiến lược phát triển chính là việc đưa ra các đường lối chínhsách để các doanh nghiệp đi đến mục tiêu của mình

Một cách tiếp cận khác, chiến lược là phương tiện để các doanh nghiệptrả lời câu hỏi: “Chúng ta muốn đi đến đâu; Chúng ta có thể đi đến đâu vàchúng ta đi đến đó như thế nào; Chúng ta có những gì và người khác có nhữnggì?”

Như vậy chiến lược là một chương trình tổng quát đưa doanh nghiệphướng tới mụ tiêu cụ thể Chiến lược vạch ra một bức tranh rõ ràng về conđường đi tới mụ tiêu, chiến lược chỉ rõ các nguồn lực phải có và tổ chức các

Trang 6

nguồn lực để đạt được mụ tiêu và các chính sách cần đưa ra …Qua đó ta thấyđược sự không thể thiếu được các chiến lược phát triển trogn các doanh nghiệphiện nay.

II/Công tác hoạch định trong công ty

1/Đặc điểm chung của các Công ty trong nền kinh tế thị trường.

Công ty là một tổ chức kinh tế thực hiệc các hoạt động sản xuất kinh

doanh Trong nền kinh tế thị trường các công ty hoạt động theo phương thức tựhạch toán trên cơ sở các quy phạm pháp luật do chính phủ ban hành Các công

ty phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với những điều luật mà nhà nước banhành

Một công ty tồn tại trong nền kinh tế thị trường luôn phải biết tìm kiếmlợi nhuận cho mình một cách lớn nhất tức là các hoạt đông hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty phải luôn đạt ở mức hiệu quả nhất Muốn các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình hiệu quả thì các công ty phải luôn biết sửdụng công tác kế hoạch hoá(mà ngày nay các nhà quản trị chiến lược thườnggọi là chiến lược phát triển ) như là một phương tiện để tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình diến ra theo đúng hướng

2/Công tác quản trị chiến lược trong công ty.

a/Khái niệm:Quản trị là quá trình nghiên cứu môi trường bên ngoàicũng như các nguồn lực và khả năng bên trong của doanh nghiệp nhằm xácđịnh cho doanh nghiệp những mục tiêu của mình để từ đó tổ chức hoạch định,thực hiện và kiểm tra các quyết định để từ đó đạt được các mục tiêu đã đề ra

Quản trị doanh nghiệp không những là phương pháp khoa học mà nócòn mang tính nghệ thuật cao:

Trang 7

Mang tính khoa học vì nó đòi hỏi sự hiểubiết kiến thức nhất định , biếttiếp thu và có những kinh nghiệm tốt về hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nó mang tính nghệ thuật vì nó đòi hỏi những người lãnh đạo có cả năngkhiếu trong nhận biết đánh giá mọi vấn đề cũng như khả năng sử dụng conngười

b/ Các chức năng cơ bản của công tác quản trị chiến lược

Quản trị có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển doanh nghiệp trong

đó nó được thể hiện chủ yếu trong bốn chức năng cơ bản sau:Hoạch định, tổchức, điều khiển và kiểm tra

-Công tác hoạch định(kế hoạch):Bao gồm việc xác định các cơ hội,nguy cơ và các thách thức đến với công ty từ bên ngoài, chỉ rõ các điểm mạnh,điểm yếu bên trong,thiết lập các mục tiêu cần đạt được và đưa ra các quyếtđịnh về đường lối thực hiện mà công ty theo đuổi.Nội dung cơ bản của côngtác hoạch định trong công ty là đưa ra được các quyết định vf ngành kinhdoanh mới nào cần tham gia, ngành nào nên rút ra,việc phân phối và sử dụngcác nguồ lực của công ty như thế nào cho hợp lý và đạt được hiệu quả cao nhấttránh tình trạng lãng phí không phân phối công bằng trong mọi bộ phận củacông ty,đồng thời có sự quyết định đúng đắn về việc mở rộng hay thu nhỏ quy

mô của thị trường

-Công tác tổ chức:Đây là công tác đưa việc hoạch định các chính sáchvào áp dụng cho sản xuất.Sản xuất có phát triển hay không phụ thuộc rất nhiềuvào môi trường mà công tác tổ chức đặt ra cho nó.Công tác này nhằm xác địnhnhững hoạt động cần thiết, sắp xếp các bộ phận phòng ban chuyên môn, giaotrách nhiệm đến từng cá nhân,từng bộ phận, từng mạng lưới phối hợp hoạt

Trang 8

động.Công tác tổ chức sẽ giúp cho việc xác định rõ ràng phạm vi trách nhiệm,quyền hạn của từng cá nhân để họ có biện pháp thực hiện nhiệm vụ của mình.

-Công tác điều khiển:Đây là công tác lãnh đạo quá trình vận hành, là sựtác động đến con người sao cho mỗi cá nhân mỗi thành viên trong công ty đềuphải hướng chung tơí mục tiêu của doanh nghiệp.Công việc điều khiển không

có nghĩa là chỉ đưa ra quy chế chỉ thị ,xác lập cách thức làm việc cho mỗingười mà công tác này phải hướng tơí mục tiêu chung cho công ty cũng nhưlợi ích thiết thực đến bản thân họ

-Công tác kiểm tra:Đây là giai đoạn cuối cùng của một chiến lược,nó cótác dụng đánh giá kết quả các hoạt động bằng việc thiết lập các địnhmức,chuẩn mực để đo lường thành tích của từng thành viên trong công ty.Trên

cơ sở các kết quả thu được đó ta đưa ra được các giải pháp điều chỉnh cần thiếtnhằm hướng tới mục tiêu trong tương lai.Công tác kiểm tra có một vai trò rấtquan trọng trong quá trình hình thành một chiến lược phát triển cho công tytrong tương lai

b/ Công tác quản trị chiến lược

*Quản trị chiến lược

Trước kia trong công tác quản trị kinh doanh các nhà kinh tế thườngdùng thuật ngữ quản trị nhưng ngày nay do yêu cầu của việc phát triển sản xuấtkinh doanh theo định hướng của nhà quản trị nên thuật ngữ chiến lược đượccác nhà quản trị thay bằng quản trị chiến lược.Thuật ngữ này nhằm nhấn mạnhnhững đặc trưng cơ bản của quản trị chiến lược trong điều kiện mới

-Điều kiện môi trường:Trước đây nhiều công ty đã từng thành công doviệc tập trung hầu như toàn bộ các nỗ lực quản lý vào việc hoàn thiện các chứcnăng hoạt động nội bộ và thực hiện các công việc hàng ngày của mình một

Trang 9

cách hiệu quả nhất.Ngày nay các công ty thường xuyên gặp phải môi trườngkinh doanh biến động, phức tạp và có nhiều rủi ro.Sự biến đổi nhanh chóng vàphức tạp đó tạo ra cho công ty không ít cơ hội cũng như thách thức và nhữngrủi ro bất ngờ,điều này buộc các nhà quản trị phải phân tích và dự báo các điềukiện môi trường trong tương lai gần(ngắn hạn) cũng như trong dài hạn.Từnhững nắm bắt về điều kiện môi trường đó mà các nhà quản trị có khả năngnắm bắt tốt hơn các cơ hội cũng như giảm bớt các nguy cơ tác động đến hoạtđộng của tổ chức Vì vậy quản trị chiến lược có nghĩa là các quyết định của tổchức đưa ra thường gắn liền với môi trường kinh doanh liên quan.Việc quantâm đế môi trường giúp các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn để đối phó vớinhững thay đổi của môi trường và làm chủ được mọi diễn biến trong tương laiđồng thời nó cũng giúp cho doanh nghiệp xác định được đường lối phát triểncủa mình(chiến lược phát triển)-đây chính là điều kiện quan trọng để có biệnpháp “đi trước đón đầu” một cách hợp lý.Trong cuốn sách nghiên cứu về thời

và thế của tổng thống Mỹ Nicxon cũng đã viết “Người thức thời là người biếtnhìn ra thời thế và nắm bắt lấy nó để tạo sự nghiệp cho mình”.Thời thế ở đâychính là môi trường kinh doanh biến động của công ty cho nên các công tymuốn thành công cũng cần chủ động nắm bắt thời thế một cách nhanh nhậy để

từ đó vạch ra cho mình một chiến lược phát triển một cách hợp lý

-Điều kiện tư duy mới theo kiểu chiến lược:Đặc trưng của tư duychiến lược là nếp nghĩ linh hoạt Tư duy chiến lược trái với cách tư duy hệthống, phân tích và sắp xếp vấn đề một cách máy móc,dựa theo lối tư duytuyến tính, nó không như cách tư duy trực giác, đi đến kết luận mà không qua

mô tả phân tích.Trong tư duy chiến lược trước hết cầ tìm hiểu rõ đặc tính củatừng nhân tố trong tình huống được nghiên cứu sau đó vận dụng trí tuệ để cấuthành các yếu tố theo cách có lợi nhất.Tư duy chiến lược giúp cho các nhà quản

Trang 10

trị chiến lược tìm được những giải pháp tốt nhất trong những điều kiện, tìnhhuống thay đổi.

*Nội dung của công tác quản trị chiến lược

Trang 11

Nội dung của quản trị chiến lược có thể được mô tả trong sơ đồ sau.

Về phân tích môi trường: Môi trường ở đây bao gồm cả môi trườngbên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp.Việc phân tích môi trườngtạo cơ sở cho việc xác định nhiệm vụ và mục tiêu sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.Tuỳ từng ngành mà công ty đang hoạt động mà có sự biến đổikhác nhau,có những ngành môi trường kinh doanh biến động và diễn biến rấtphức tạp và năng động như những ngành sản xuất trang thiết bị,phần mềm máytính… nhưng cũng có những ngành có môi trường ổn định hơn như nhữngngành sản xuất những đồ dùng thiết yếu…

Sự diễn biến phức tạp của môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến côngtác kế hoạch dẫn đến phải thay đổi thường xuyên mục tiêu mà kế hoạch trước

đã đưa ra.Do vậy trước khi tiến hành lập kế hoạch, chiến lược ngắn hạn phảiphân tích và hiểu rõ những điều kiện của môi trường có ảnh hưởng đến mụctiêu của doanh nghiệp

Phân tích môi trườngng

Xác nh nhi m v v m c định nhiệm vụ và mục ệm vụ và mục ụ và mục à mục ụ và mục tiêu

mmmm cm c tiêuụ và mục ụ và mục

Xây d ng các phựng các phương án chiến ương án chiến ng án chi n ến

lượcc

Th c hi n chi n lựng các phương án chiến ệm vụ và mục ến ượcc

Ki m tra ánh giá v th c hi nểm tra đánh giá và thực hiện đ à mục ựng các phương án chiến ệm vụ và mục

Trang 12

Về xác định nhiệm vụ và mục tiêu:Một điều hết sức quan trọng và cầnthiết khi tiến hành thực hiện các hoạt động của một doanh nghiệp là các doanhnghiệp phải biết được mục đích và hướng đi của mình trước khi vậnđộng.Hướng đi này được xác định bằng cách hoạch định các mục tiêu thíchứng với môi trường hiện tại cũng như trong tương lai.Nhưng điều quan trọng làtrước khi đưa ra mục tiêu cho doanh nghiệp cần xác định rõ nhiệm vụ và chứcnăng của doanh nghiệp, các mục tiêu của doanh nghiệp là nhằm vào thực hiệncác nhiệm vụ và chức năng đó của doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải xác địnhriêng biệt đâu là mục tiêu dài hạn đâu là mục tiêu ngắn hạn, đâu là nhiệm vụchính, đâu là nhiệm vụ bổ trợ, đâu là mục đích cuối cùng, đâu là mục tiêu màdoanh nghiệp muốn đạt được qua từng mốc thời gian Có như vậy thì doanhnghiệp mới điều chỉnh hoạt động của mình đúng hướng và hiệu quả.

Về xây dựng phương án chiến lược: Đây là giai đoạn mà doanh nghiệpcần xác định được những bước đi và biện pháp cụ thể để đạt tới mục tiêu cuốicùng.Chiến lược giúp các nhà quản trị lập ra những sơ đồ tác nghiệp nhằm dẫndắt hoặc hướng doanh nghiệp đi đến những mục tiêu.Để đi đến những mục tiêu

có thể có nhiều cách đi, do vậy các nhà quản trị phải có nhiều bước đi khácnhau phong phú và đa dạng để từ đó có sự lựa chọn, so sánh để tìm ra phương

án tốt nhất

Việc thực hiện chiến lược:Việc thực hiện chiến lược là khâu quan trọngnhất của chiến lược.Vấn đề cần đặt ra là phải huy động mọi thành viên trongcông ty tập trung thực hiện tốt các chiến lược đã lựa chọn Mục tiêu của chiếnlược có được thực hiện một cách triệt để và hiệu quả nhất hay không còn tuỳthuộc vào khả năng và trách nhiệm của mọi thành viên trong công ty Chính vìvậy việc khuyến khích các thành viên của công ty là rất cần thiết để cho công

ty đạt được mục đích của mình

Trang 13

Kiểm tra ,đánh giá việc thực hiện chiến lược:Đây chính là giai đoạnxem xét xem chiến lược đã đi được đến đâu trong lộ trình của nó.Việc kiểm trađánh giá phải thường xuyên được tổ chức thực hiện xen lẫn quá trình kiểm tra

để xem chiến lược có được đi đúng lịch trình hay không.Có nhiều nguyên nhânkhiến cho mục tiêu của chiến lược không thể đạt được theo mục tiêu đã đề raNhững nguyên nhân này có thể do sự biến động của môi trường kinh tế trong

và ngoài doanh nghiệp(khách quan) nhưng cũng có khi là do tác động của nhân

tố chủ quan của tổ chức như sự không thu hút đủ nguồn nhân lực… Do vậyviệc thông qua các hệ thống thông tin phản hồi và các biện pháp kiểm tra theodõi là rất quan trọng trong quá trình hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp

c/Xây dựng chiến lược kinh doanh.

*Bước chuyển từ kế hoạch dài hạn sang chiến lược kinh doanh

ở phạm vi hẹp như một công ty thì chiến lược kinh doanh có chức năngnhư một kế hoạch dài hạn, chiến lược kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu

và chức năng của một kế hoạch dài hạn Kế hoạch của quản trị bao gồm quátrình từ phân tích môi trường đến việc xác định nhiệm vụ, mục tiêu và chiếnlược xây dựng doanh nghiệp Chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp

sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được những thành công để duy trì

sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp

Cũng như sự đổi từ quản trị sang quản rị chiến lược thì chiến lược kinhdoanh là sự phản ánh đặc trưng của kế hoạch dài hạn.Sau chiến tranh thế giớilần II, đặc biệt là sau những năm 1960, do việc ứng dụng thành công các thànhtựu của khoa học kỹ thuật vào việc sản xuất kinh doanh nên hầu hết các công

ty trên thế giới đã chuyển từ kế hoạch tác nghiệp ngắn hạn sang kế hoạch dàihạn Nhưng vào những năm 1970 thì do sự phát triển bùng nổ của nền kinh tếtoàn cầu cộng với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các đối thủ nên các công ty

Trang 14

muốn tồn tại thì phải đặt ra cho mình một kế hoạch sao cho phù hợp với sựphức tạp của môi trường.Do vậy nét đặc trưng của tầm nhìn dài hạn đòi hỏiphải hướng tới sự mềm dẻo cần thiết nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triểncủa tổ chức trrước những thời cơ và thách thức mới các nhà quản trị gọi đặctrưng này là mang tính chiến lược Chính điều này đã đưa các công ty chuyển

từ kế hoạch dài hạn sang việc thực hiện các chiến lược kinh doanh vì chiếnlược kinh doanh có ưu việt hơn kế hoạch dài hạn để thích ứng với sự biến độngthường xuyên của môi trường kinh tế

Thuật ngữ “Chiến lược”xuất phát từ lĩnh vực quân sự Trong quân sựchiến lược được hiểu là “Nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị,tinh thần, kinh tế được huy động vào chiến tranh để đánh thắng kẻ thù ”.Haiyếu tố cơ bản tạo ra thành công của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ,nếu tổchức nào tạo ra được bất ngờ và phát huy được sức mạnh trong cạnh tranh thì

tổ chức đó sẽ thành công Ngày nay những yếu tố này cũng được coi là nhữngyếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh doanh.Từ đó cũng có thể hiểu chiếnlược chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu tổng thể pháttriển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố kỹ thuật,tổ chức kinh tế vàkinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh và đạt được những mục tiêu đề ra

vị kinh doanh đa ngành hoạt động trong hai ngành trở lên, vì vậy nhiệm vụ của

Trang 15

họ sẽ phức tạp hơn họ cần phải quyết định xem sẽ tiếp tục hay không cácngành hiện đang kinh doanh, đánh giá khả năng cac ngành mới và đưa ra quyếtđịnh cần thiết.

Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh cần được đưa ra đối với các đơn vịkinh doanh đơn ngành cũng như đối với mỗi đơn vị kinh doanh cơ sở trongđơn vị kinh doanh đa ngành Chiến lược phải làm rõ xem các đơn vị tham giacạnh tranh như thế nào chiến lược cấp cơ sở kinh doanh có mức độ quan trọngnhư nhau đối với các đơn vị kinh doanh dơn ngành và từng đơn vị kinh doanhtrong đơn vị đa ngành Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh dựa trên dựa trên tổhợp các chiến lược khác nhau ở cấp chiến lưọc trung tâm Đối với mỗi hãngkhác nhau sẽ có chiến lược trung tâm khác nhau.có hãng thì coi chiến lượcmarketing là trung tâm, có hãng thì lại coi về nghiên cứu phát triển (Thườngđược coi là chiến lược trung tâm ở các công ty lớn của các nước phát triển –còn gọi là chiến lược R & D) là trung tâm, các chiến lược trung tâm có chứcnăng liên kết các chức năng khác Mỗi chiến lược cấp cơ sở cần phù hợp vớichiến lược cấp công ty và chiến lược cấp cơ sở khác của công ty

* Tổ chức xây dựng chiến lược

-Vai trò nhà quản trị doanh nghiệp trong xây dựng chiến lược

Nhà quản trị doanh nghiệp là người đứng đầu, lãnh đạo các hoạt độngcủa doanh nghiệp, là người biết điều khiển hoặc phối hợp các công việc củamọi thành viên trong công ty một cách có hiệu quả Do vậy họ chính là ngườiquyết định thành công của công tác kế hoạch trong doanh nghiệp Các nhàlãnh đạo thường là người đưa ra những tư tưởng xuất phát đưa ra những mụctiêu chung của doanh nghiệp và xác định những biện pháp có tính chiến lược.Mặt khác việc xây dựng Chiến lược phát triển đòi hỏi sự tham gia của mọithành viên trong công ty nên việc khuyến khích các thành viên trong công ty

Trang 16

tham gia đầy đủ vào việc xây dựng chiến lược đòi hỏi phải có sự quan tâm rấtlớn của người lãnh đạo mới có tác dụng lôi cuốn mọi thành viên trong công ty.Đối với những công ty nhỏ thì vai trò của người lãnh đạo bao trùm cả việc xâydựng cũng như tổ chức thực hiện Còn đối vơí các công ty trung bình và lớn thìviệc tổ chức và thực hiện công tác quản trị chiến lược phức tạp hơn, người lãnhđạo khó nắm toàn bộ công tác chiến lược thì cần phải có sự phân công tráchnhiệm tạo ra các đơn vị hỗ trợ.

Có hai loại quản trị chiến lược đó là nhà quản trị chiến lược và nhà quảntrị chức năng Nhà quản trị chiến lược là những người chịu trách nhiệm về khảnăng hoạt động chung của công ty, hay đơn vị hoạt động chính Quan tâmchính của họ là sức mạnh của toàn bộ công tydưới sự lãnh đạo của họ Còn nhàquản trị chức năng là người chịu trách nhiệm về một chức năng hoạt động cụthể: quản trị nguồn tài chính, nguồn nhân lực, lao động sản xuất, marketing …Quyền hạn của các nhà quản trị này thưừng giới hạn trong phạm vi nhất định

Họ tham gia vào việc xây dựng các chiến lược bộ phận

*Vai trò của công tác kế hoạch hoá trong xây dựng chiến lược

Các phòng ban kế hoạchcông ty thường được coi là bộ phận tham mưu,

có nhiệm vụ lãnh đạo phân tích tình hình, xác định mục tiêu chiến lược và cácphương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu để ra Bộ phận này cũng có nhiệm

vụ tổng hợp các kế hoạch đã được soạn thảo ở các bộ phận khác và chuẩn bịcác nghiên cứu cần thiết các bước triển khai đồng thời họ cũng cố vấn cho các

bộ phận chức năng, giúp các bộ phận này xây dựng kế hoạch và cùng nghiêncứu các lĩnh vực đặc thù

Việc tổ chức phòng ban kế hoạch trong công ty phụ thuộc vào quy môcủa doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp nhỏ thường không có bộ phận kếhoạch riêng biệt, việc xây dựng kế hoạch là nhiệm vụ của tất cả các bộ phận

Trang 17

Người lãnh đạo trực tiếp tổng hợp kế hoạch và chủ trì việc xây dựng chiếnlược Còn đối với các doanh nghiệp vừa và lớn thường được tổ chứ có phòngban kế hoạch nhất định Bộ phận này chuyên trách vịec xây dựng chiến lược

và kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng như giúp lãnh đạo công ty theo dõi quátrình việc thực hiện chiến lược

III/Quy trình xây dựng Chiến lược phát triển cho công ty.

Việc xây dựng Chiến lược phát triển cho một công ty là rất quan trọng

do vậy nó đòi hỏi phải được thực hiện theo những chuẩn mực sau:

A/ Phân tích môi trường kinh doanh.

1/ Phân tích môi trường vĩ mô.

a/ Các yếu tố kinh tế

Các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế xã hội thường có ảnh hưởng rất mạnh

mẽ tới các ngành kinh tế nói chung và của các công ty nói riêng Đặc biệt đốivới ngành xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thì các ảnh hưởng của môitrường kinh tế như sau

-Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Trong thập kỷ 90 tốc độ tăng trưởng kinh

tế nước ta khá cao, tương đối ổn định(mặc dù có những biến động do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997) và thu nhập bình quân đầungười cũng có bước tăng đáng kể Điều này được thể hiện qua bảng sau:

kinh tế(g)

Thu nhập bình quân(1000đ)

Trang 18

- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có hoạtđộng xuất nhập khẩu Tỷ giá hối đoái tác động đến cả cung và cầu về tiền từ đótác động đến giá cả hàng hoá Tỷ giá cao sẽ khuyến khích xuất khẩu và ngượclại, tỷ giá thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.

Với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty xuấtnhập khẩu hàng thủ công Mỹ nghệ ATEXPORT thì tỷ giá hối đoái càng có tácđộng mạnh mẽ hơn Với bất kỳ một tỷ giá nào biến động bất trong thời giancông ty thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với các đối tác nước ngoàithì nó đều ảnh hưởng đến lợi ích của công ty Cụ thể là giá cao sẽ khuyến khíchxuất khẩu nhưng chẳng may trong thời gian đó công ty đang thực hiện hoạtđộng nhập khẩu thì sẽ là một bất lợi cho công ty đặc biệt là khi tiêu thụ hànghoá trong nước Hoặc khi công ty đang phải thực hiện hợp đồng trong khi tỷgiá thấp thì sẽ làm giảm doanh thu cuả công ty Như vậy hoạt động sản xuất

Trang 19

kinh doanh của công ty chịu sức ép từ hai phía của việc tăng hay giảm tỷ giáhối đoái, điều này buộc công ty phải có thông tin về tỷ giá hối đoái một cáchcập nhật từ các nghiên cứu, dự báo của nhà nước để giảm ảnh hưởng tiêu cực

từ các tác động này

- Tỷ lệ lạm phát: Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập,lợi nhuận thực tế thực tế của công ty, của từng cácn bộ, công nhân viên và đếntoàn xã hội Tỷ lệ lạm phát tăng lên sẽ làm cho thu nhập thực tế giảm xuống vànhư vậy ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu cho gia đình Khi giá trị thu nhậpthấp, họ sẽ chú ý đến các yếu tố tác động trực tiếp đến cuộc sống của họ bằngviệc chi tiêu cho những hàng hoá có tính chất thiết yếu mà ít chú trọng tới việcmua sắm thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ nên hàng hoá của công ty sẽ gặp khó khăntrong tiêu thụ

- Quan hệ Quốc tế và chu kỳ kinh tế: Ngoài ba yếu tố tác động trựtiếp,nhanh và rõ rệt đến hoạt động của công ty kể trên thì còn phải kể đến hainhân tố tác động khác đó là quan hệ kinh tế quốc tế và chu kỳ kinh tế Sự ảnhhưởng của hai nhân tố này không có ảnh hưởng rõ ràng mà phải qua một thờigian mới nhìn thấy được

+ Về quan hệ quốc tế: Từ khi có sự chuyển đổi cơ chế với chủ trươngthay thế “ đối đầu” sang bằng quan hệ “ đối thoại” và “Việt Nam sẵn sàng làmbạn với tất cả các quốc gia trên thế giới” thì quan hệ nước ta ngày càng được

mở rộng Cùng với đó thì thương mại quốc tế đã phát triển theo chiều hướngtích cực đã tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển

Nước ta có điều kiện về tài nguyên thiên nhiên và con người nhưng lạithiếu vốn đầu tư để phát triển cũng như thiếu các thiết bị khoa học_kỹ thuậtcông nghệ hiện đại áp dụng trong quá trình động Do đó, việc mở cửa trongquan hệ quốc tế là một cách thức có hiệu quả để tiếp cận với sự phát triển đó từ

Trang 20

các quốc gia tiên tiến trên thế giới Bên cạnh đó, tranh thủ vay vốn và đầu tưcủa các chủ đầu tư nước ngoài để khai thác tiềm năng về mọi mặt , đồng thời

hỗ trợ , thúc đẩy và cạnh tranh tạo ra sự phát triển đối với các doanh nghiệptrong nước : tranh thủ mọi cơ hội , chớp thời cơ để thực hiện các hợp đồngkinh tế một cách tốt nhất

Ngày nay , trước xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá ngày càng gia tăngthì đây là một cơ hội tốt song cũng là mộy điều đáng lo ngại , là một thách thứclớm đối với các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh trong nước

Đối với công ty ATEXPORT nói riêng và đối với nghành xuất nhậpkhẩu nói chung hiện nay đều phải đối mặt với yêu cầu và đòi hỏi khắt khe củakhách hàng Quốc tế Đây là một thách thức lớn đối với các công ty của ViệtNam hoạt động trong lĩnh vực này

-Về chu kỳ kinh tế : Có thể thấy rằng nền kinh tế Việt Nam đang bướcvào giai đoạn chuẩn bị cất cánh với khoa học kỹ thuật đã bắt đầu được áp dụngvào công – nông nghiệp và dịch vụ Ngân hàng – tài chính , giao thông vận tải

đã phát triển

Sau những thay đổi và khó khăn khi thực hiện cơ chế thị trường thaycho cơ chế kế hoạch tập chung , nền kinh tế nước ta đang từng bước khôiphục ,ổn định và phát triển từ đó mà thu nhập quốc dân gia tăng , thúc đẩy nhucầu tiêu dùng Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế ViệtNam,đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng gây nên những biến động củanền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập ,việc làm của người dân - đâychính là áp lực rất lớn cho các công ty hoạt độnh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

và toàn bộ nền kinh tế

b/ Các yếu tố khoa học kỹ thuật- công nghệ

Trang 21

Đây là các yếu tố rất năng động và có ảnh lớn đến môi trường của cácdoanh nghiệp Sự gia tăng trong đầu tư nghiên cứu vàquá trìng ứng dụng vàothực tế đã tác động nhanh chóng và sâu sắc đến yếu tố cơ bản tạo nên khả năngcạnh tranh là chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, thiết bịcông nghệ nước ta nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng đặc biệt là cácdoanh nghiệp nhà nước là quá lạc hậu phần lớn đều là những máy móc thiết bị

từ những năm 60-70 với tính năng không cao và thời gian sử dụng tương đốinhiều, hầu hết các thiết bị đó đã được các nước phát triển loại bỏ Hầu hếtnhững nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng đều như là một bãithải công nghiệp của những nước phát triển Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộkhoa học công nghệ và môi trường cho biết các thiết bị công nghệ của ViệtNam bị tụt hậu so với thế giới khoảng 80-100 năm và so với mức trung bìnhthế giới thì bị lạc hậu từ 2-3 thế hệ Do vậy vấn đề đặt ra với các doanh nghiệpViệt Nam là phải có sự đổi mới công nghệ để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thịtrường về chất lượng sản phẩm

Đối với ngành nghề có tính chất truyền thống như ngành thủ công mỹnghệ thì khoa học công nghệ không phải là có tính chất quyết định nhất đối với

sự phát triển của nó mà nó đòi hỏi phải có những nghệ nhân có “Bàn tay vàng”.Hiện nay Việt Nam đã có giải thưởng “Bàn tay vàng”cho các nghệ nhân ở cáclàng nghề truyền thống có trình độ cao Tuy nhiên việc này không hẳn là không

có vấn đề nảy sinh khi mà khắp nơi người ta đua nhau trao giải “Bàn tay vàng”

mà không biết thực sự chất lượng của nó là như thế nào Vấn đề đặt ra đối vớingành thủ công mỹ nghệ nói chung của công ty ATEXPORT nói riêng là rấtphức tạp cho việc tìm giải pháp thực sự để phát triển hiệu quả nhất cho ngành

c/ Môi trường chính trị – luật pháp

Trang 22

Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia khác trên thếgiới cùng với xu hướng toàn cầu hoá trên thế giới đã mở ra nhiều cơ hội cũngnhư thách thức cho các doanh nghiệp trong nước.

Nhân tố chính trị luật pháp thể hiện tác động của nhà nước đến môitrường kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước điều tiết nền kinh tế thịtrường thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có các chính sách kinh

tế và pháp luật Nếu môi trường chính trị của nhà nước ổn định thì dẫn đến cóthể thu hút được nhà đầu tư và ngược lại Thuận lợi của các doanh nghiệp ViệtNam là môi trường kinh tế chính trị nước ta tương đối ổn định nên các hoạtđộng kinh tế-xã hội tương đối ổn định và thường không có những biến độnglớn Đây chính là điều kiện để các doanh nghiệp trong nước yên tâm đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh

Mặt khác trong nền kinh tế mở hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh của nước ta còn rất nhiều yếu kém nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng

để phát triển nền kinh tế vững chắc Vì vậy nhà nước luôn chú ý đến sự pháttriển của các doanh nghiệp trong nước nhất là các doanh nghiệp nhà nước -thành phần chủ đạo trong nề kinh tế Với các công ty đa quốc gia dự báo chínhtrị có có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì phải phụ thuộc vào nước ngoài về nguồntài nguyên, thái độ của nhà nước đối với các công ty nước ngoài có khuynhhướng bảo hộ mậu dịch … Ngày nay các nhà chiến lược phải có các kỹ năng

để quan tâm nhiều hơn đối với các vấn đề pháp luật, chính trị, họ cũng dànhnhiều thời gian hơn cho việc gặp gỡ các quan chức chính phủ, tham dự và cáccuộc họp do chính phủ bảo trợ Các nhà chiến lược cần phải làm rõ những tiếntrình ra quyết định của địa phương, đất nước nơi công ty họ thực hiện các hoạtđộng kinh doanh

Trang 23

2/ Phân tích môi trường ngành.

Việc phân tích môi trường ngành ở đây được thực hiện theo quan điểmcủa nhà kinh tế học Michael E.Porter giảng viên của trường quản trị kinhdoanh Harvard Ông đã đưa mô hình năm áp lực áp dụng nên ngành

a/ Sự canh tranh của các đối thủ tiềm ẩn

Trước hết ta phải hiểu được đối thủ tiềm ẩn là những công ty hiện khônghoạt động ở trong ngành nhưng có khả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh ởtrong ngành đó Những công ty, xí nghiệp này khi tham gia vào ngành, các đốithủ này có thể làm giảm lợi nhuận của công ty do họ đưa vào khai thác cácnăng lực săn xuất mới, với mong muốn sẽ tồn tại được trên thị trường cạnhtranh Do đó các công ty đang hoạt động tìm mọi cách để hạn chế các đối thủcạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của họ, bởi hiển nhiên lànhiều công ty nhảy vào kinh doanh trong ngành nó sẽ trở nên khó khăn hơn đốivới các công ty đang hoạt động trong ngành đó Vì vậy để bảo vệ vị trí cạnhtranh của mình các công ty thường thiết lập các hàng rào hợp pháp ngăn cản sựxâm nhập từ bên ngoài vào

Một nghiên cứu có tính kinh điển về những trở ngại cho việc nhảy vàomột ngành kinh doanh được nhà kinh tế học Joe Bain đưa ra Ông ta đưa ra bayếu tố trở ngại chính đối với việc nhảy vào một ngành kinh doanh :

+Sự ưa chuộng của sản phẩm: Đó là sự ưa thích của khách hàng đối vớisản phẩm của công ty hiện đang hoạt động , những công ty này có thể thiết lậpnên sự ưa chuộng của khách hàng đối với sản phẩm của mình bằng uy tín vềchất lượng mẫu mã, dịch vụ và qua các chương trình R&D Như vậy sự ưachuộng sản phẩm sẽ làm bớt sự đe đoạ vào nghành của các đối thủ tiềm ẩn ,

Trang 24

lầm cho họ thấy rằng việc phá vỡ sự yêu thích của người tiêu dùng đối với sảnphẩm của công ty ở trong ngành là khó khăn và tốn kém.

+ Các ưu thế về chi phí thấp : Đây chính là khó khăn đối các đối thủtiềm ẩn khi mới nhảy vào ngành Lợi thế về chi phí thấp bắt nguồn từ việc tíchluỹ kinh nghiện lâu dài , sự quản lý có hiệu quả , các nguồn nguyên vật liệu ,máy móc thiết bị có nguồn vốn kinh doanh ổn định với lãi suất thấp

+ Tính hiệu quả của sản xuất lớn: Đây là ưu thế về chi phi của các công

ty có quy mô sản xuất lớn Ưu thế của sản xuất lớn bao gồm giảm chi phí thôngqua sản xuất hàng loạt các sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá , giảm giá choviệc mua các nguyên liệu đầu vào với khối lượng lớn, sự phân bổ đều nhữngchi phí cố định cho một khối lượng sản xuất lớn hơn và cả tính hiệu quả củasản xuất lớn trong quảng cáo

b/ Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế: Đây là những sản phẩm củacông ty trong các ngành khác nhưng thoả mãn được những nhu cầu của ngườitiêu dùng giống như các công ty trong ngành Những công ty thường cạnhtranh gián tiếp với nhau Đối với một công ty vừa thực hiện hoạt động sản xuấtvừa thực hiện kinh doanh thì họ sẽ trang bị các mặt hàng đảm bảo thay thế cácmặt hàng nếu khách hàng yêu cầu Trong trường hợp này chức năng hoạt độngcủa công ty đã phát huy tác dụng hoạt động sản xuất của công ty giúp công ty

có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm do xí nghiệp sản xuất trong nước sảnxuất Còn hoạt động kinh doanh nhập hàng từ bên ngoài vào giúp cho công ty

có được sự cạnh tranh với các hàng hoá ngoại nhập Như vậy sự tồn tại củanhững sản phẩm thay thế hình thành nên một sức ép cạnh tranh tương đối lớn,

nó giới hạn mức giá mà một công ty có thể định ra và do đó giới hạn mức lợinhuận của công ty Ngược lại nếu sản phẩm của công ty có rất ít các sản phẩm

Trang 25

thay thế thì sức ép của nó là ít công ty có cơ hội để tăng giá và công ty có thểkiếm lợi nhuận thêm.

c/ Sức ép về giá của người mua: Người mua là một bộ phận không thểtách rời của trong mục đích của hoạt động kinh doanh Người mua được xemnhư sự đe doạ mang tính cạnh tranh khi họ đẩy giá xuống hoặc khi họ yêu cầuchất lượng sản phẩm tốt hơn làm cho chi phí sản xuất của công ty tăng nên.ngược lại nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo cho công ty có cơ hội để tănggiá để từ đó thu đưọc lợi nhuận lớn hơn Theo Porter, yếu tố cơ bản tạo áp lựccủa người mua là:Khi xuất hiện hiện tượng độc quyền mua hoặc khi có ít ngườimua với khối lượng lớn còn người bán nhiều với khối lượng ít Khi đó ngườimua có thể sử dụng ưu thế của mình để gây sức ép về giá và họ có thê lựa chọnđơn đặt hàng giữa các công ty cung ứng cùng loại sản phẩm…

d/ Sức ép về giá của người cung cấp:Trong cơ chế thị trường việc mua

và bán tuân theo nguyên tắc thuận mua vừa bán sao cho cả hai phía đạt đượcmức độ lợi nhuận nhất định nào đó Cũng như áp lực từ phía khách hàng áplực của người cung cấp có thể gây lên cho công ty khi mà người mua có ưu thếcung cấp của nhà độc quyền hay chí ít cũng là sự khan hiếm nguồn cung cấpnguồn lực đầu vào cho công ty thực hiện các hoạt động sản xuất

e/ Sự cạnh tranh của các đối thủ trong ngành:Sự cạnh tranh của các đốithủ trong ngành tạo ra mối đe doạ lớn nhất cho các công ty Những công tytrong ngành là những cơ sở sản xuất – kinh doanh những sản phẩm hàng hoácùng chủng loại, mẫu mã và có sự tương đồng về chất lượng Sự cạnh tranhnày rất mạnh mẽ quyết định sự phát triển hay suy yếu của công ty Mức độcanh tranh quyết liệt hay không tuỳ thuộc và số lượng các doanh nghiệp trongngành Nếu sự cạnh tranh này găy gắt có thể dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt

về giá cả dẫn đến giảm lợi nhuận cho công ty Sự cạnh tranh của các công ty

Trang 26

trong ngành thường chịu tác động của ba yếu tố: cơ cấu ngành, mức độ của cầu

và những trở ngại khi ra khỏi ngành

Đối với công ty ATEXPORT thì sức ép cạnh tranh trong ngành là rấtlớn bởi cùng kinh doanh trong một ngành xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹnghệ còn có rất nhiều công ty khác như ATEXPORT Nam Định hayATEXPORT Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh… tất nhiên mỗi một công ty

ở những khu vực khác nhau sẽ có sự thuận lợi khác nhau nhưng điều này chothấy mức độ cạnh tranh ở trong ngành của công ty là rất lớn Đây là một khókhăn rất lớn của công ty

B/Phân tích thực trạng của công ty.

Trong công tác nghiên cứu Chiến lược phát triển cho công ty thì mộtkhâu quan trọng đó là phân tích tình tình thực rạng của công ty Việc phân tíchthực trạng của công ty để thấy được những cơ hội và thách thức chủ yếu củacông ty trong tương lai, nó gồm những vấn đề sau:

Trước hết đó là thấy được chu kỳ sống của sản phẩm chính của công ty

để từ đó có chiến lược thích hợp cho sản phẩm của mình Việc phân tích chu

kỳ sống của sản phẩm là rất có ý nghĩa trong việc xác định mục tiêu của doanhnghiệp trong tương lai Nếu sản phẩm của công ty đang ở trong giai đoạn banđầu thì đây sẽ là một cơ hội thực sự cho công việc sản xuất hàng loạt của công

ty nhằm thu lợi lớn Còn nếu sản phẩm của công ty đang ở giai đoạn bão hoàthì công ty cần có những chính sách, biện pháp hợp lý để duy trì sự phát triểncủa mình bởi không có nghĩa là khi sản phẩm bão hoà thì sản phẩm của công ty

là không cần thiết mà nó chỉ là sự tràn ngập của hàng hoá mà thôi Do vậy nếucông ty có chiến lược thích hợp thì công ty vẫn phát triển

Thứ hai việc phân tích thực trạng của công ty còn cho thấy được cơ hội

và thách thức của công ty trong tương lai Phân tích thực trạng của công ty để

Trang 27

từ đó thấy được điểm mạnh điểm yếu của mình Việc xác định điểm mạnh hayyếu của công ty là dựa trên sự so sánh với các công ty khác trong ngành và dựavào kết qủa hoạt động của công ty: điểm mạnh của công ty chính là nhữngđiểm mà công ty làm tốt hơn đối thủ, là những điểm mà đối thủ cạnh tranhkhông dễ dàng có được,nó tạo nên lợi thế cạnh tranh của công ty.Từ điểmmạnh thấy được ưu thế của mình so với các đối thủ của mình để vạch ra các kếhoạch trong tương lai để phát huy điểm mạnh đó, còn việc nhình ra điểm yếu

để nhận thức ra những yếu kém của mình so với đối thủ để từ đó có biện phápkhắc phục Những điểm mạnh chính là cơ hội của công ty cần biết để tận dụng

nó coi nó như thời cơ trong kinh doanh cần tận dụng Những điểm yếu củacông ty chính là những thách thức cần các nhà chiến lược nghiên cứu khắcphục

C/ Xác định mục tiêu:

Mục tiêu chính là cái đích trong tương lai mà công ty cần đạt tới Việcxác định được mục tiêu là vấn đề rất quan trọng trong việc vạch ra Chiến lượcphát triển cho công ty Bởi có biết được mục tiêu trong tương lai thì mới biếtđược cái đích mà công ty cần đến trong tương lai để từ đó xác định phươnghướng đi đến cái đích đó Chiến lược phát triển chính là công cụ để công ty điđến mục tiêu

Việc xác định mục tiêu cũng là một vấn đề khó khăn cần các nhà quảntrị phải nghiên cứu Bởi mục tiêu không được là cái gì quá xa vời với công ty,nếu qúa xa vời nó sẽ trở thành mục tiêu không có hy vọng đạt đợc nó sẽ gâytâm lý ức chế cho các thành viên trong công ty Còn nếu mục tiêu không sátthực nó nằm trong khả năng của công ty thì nó sẽ trở nên không hiệu quả Dovậy việc xác định mục tiêu của công ty là một vấn đề rất khó khăn mục tiêucủa công ty gồm có mục tiêu trong ngắn hạn và mục tiêu trong dài hạn

Trang 28

Mục tiêu ngắn hạn là mục tiêu mà trong thời gian sắp tới công ty phảihoàn thành Mục tiêu ngắn hạn chính là công cụ của mục tiêu dài hạn.

Mục tiêu dài hạn bao gồm tổng thể các mục tiêu ngắn hạn mục tiêutrong dài hạn là cái đích để mọi mục tiêu ngắn hạn hướng tới Mục tiêu dài hạnthể hiện cái đích cuối cùng mà công ty cầ hướng tới

Khi xác định được mụ tiêu của công ty ta xác định rõ được các đốitượng có tác động đến việc hoàn thành mục tiêu Các đối tượng có liên quangồm đối tượng khách quan(ngoài công ty) và đối tượng chủ quan(trong côngty)

Đối tượng chủ quan là bản thân nội tại của công ty, nó bao gồm hainhóm đối tượng chủ yếu đó là các nhà quản trị và công nhân viên trong công

ty Các nhà quản trị gồm các nhà quản trị cấp cao và các nhà quản lý khác.công nhân viên trong công ty bao gồm những công nhân trực tiếp hành chính

và những nhân viên hành chính

Các nhà quản trị là những người chủ yếu đưa ra các quyết định chiếnlược, mong muốn của họ là đưa ra được quyết định đúng đắn, thoả mãn mộtcách hài hoà mong muốn của các đối tượng hữu quan, từ đó nâng cao uy tíncủa doanh nghiệp và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Chính vìvậy các nhà quản trị cần xác định xem khả năng của công ty như thế nào, cónhững vướng mắc gì trong việc hoàn thành mục tiêu đã đề ra

Công nhân viên thường quan tâm đến mục tiêu của công ty có ảnhhưởng như thế nào đối với tăng lương, phúc lợi xã hội và an toàn củahọ nhưthế nào Những quan tâm này thường được giả quyết cùng với sự phát triểncủa công ty Ngược lại tuỳ mức độ thoả mãn nhu cầu của họ mà ảnh hưởng đếnquyết tâm hoàn thành mục tiêu của họ Trong quá trình phát triển cùng với sự

Trang 29

tiến bộ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng tăng, như nhu cầu đượchọc tập, được nâng cao trình độ chuyên môn… việc đáp ứng những yêu cầunày đòi hỏi các nhà quản trị phải xem xét đặt trong tổng thể lợi ích các bên cóliên quan

Đối tượng chủ quan có tính chất quyết định nhất đối với việc quyết địnhcông ty có hoàn thành mục tiêu hay không Khi xác định dược ảnh hưởng củayếu tố chủ quan xong cần có biện pháp khắc phục để đưa các yếu tố này phùhợp với mục tiêu chung của cán bộ công nhân viên,và của toàn bộ công ty côngty

Đối tượng khách quan chính là môi trường kinh doanh của công ty nóbao gồm cả môi trường ngoài ngành và môi trường trong ngành.Thông thường

đó là các cổ đông, khách hàng các nhà cung ứng, các chủ nợ, các đối thủ trongngành và ngoài ngành…Mong muốn cuả chủ sở hữu(những người góp vốn vàocông ty) thường là hiệu quả của vốn đầu tư thông qua cổ tức hay giá trị của cổphiếu Mối quan tâm này được công ty đáp ứng bằng cách làm ăn có lãi.Nhưng khi đặt ra chỉ tiêu cần chú ý lợi nhụân trước mắt và lợi nhuận lâu dài.Chính vì vậy nên môi trường kinh doanh cũng đóng vai trò rất quan trọng choviệc công ty có hoàn thành mục tiêu hay không Từ việc xem xét sự tác độngcủa các yếu tố này để xét xem mọi yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuấtkinh doanh có thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu của công ty hay không

D/Xây dựng Chiến lược phát triển cho Công ty.

Đây là khâu cuối cùng trong quy trình xây dựng Chiến lược phát triểncho công ty Chiến lược phát triển của công ty là một lĩnh vự rất rộng lớn nóbao hàm cả chiến lược kinh doanh, chiến lược markrting, chiến lược nghiêncứu và phát triển… Do vậy việc xây dựng Chiến lược phát triển cho công tycần có sự nghiên cứu và đóng góp của các chuyên gia hàng đầu trong công ty

Trang 30

Để xây dựng Chiến lược phát triển cho công ty trước hết cần xét xemcông ty bao gồm những SBU nào: SBU là các đơn vị kinh doanh chiến lược, cóthể coi những SBU là những phần thị trường/ sản phẩm độc lập, riêng biệt củacông ty Khi đó bước phân tích danh mục đầu tư đầu tiên là phân toàn bộ công

ty ra thành các SBU và công ty cần hình thành các chiến lược phát triển theophần thị trường cho chúng Một cách lý tưởng công ty nên tổ chức theo hìnhthức các đơn vị chiến lược mà mỗi ban ngành là một đơn vị ấy Mỗi một SBU

là một đơn vị nửa tự chủ, có quyền tự điều hành các chức chức năng kinhdoanh chủ yếu của mình, như kỹ thuật sản xuất, marketing và phân phối hơnnữa, mỗi SBU có trách nhiệm với cả vấn đề kế hoạch hoá lẫn thực hiện kếhoạch Song trong thực tế, vì các yếu tố tiết kiệm như sử dụng chung cácphương tiện và các kênh phân phối cùng với các vấn đề về nhân lực, các đơn

vị kinh doanh chiến lược không phải bao giờ cũng là các đơn vị tự chủ

Từ việc phân ra các đơn vị SBU từ đó ta tìm ra cho mỗi SBU mộtchiến lược kinh doanh phù hợp Đặt cho mỗi SBU một mục tiêu và từ đó đưa

ra chiến lược(phương pháp) để mỗi SBU đi đến mục tiêu của mình một cáchthích hợp nhất Chiến lược cho mỗi SBU bao không chỉ đơn thuần là Chiếnlược kinh doanh hay Chiến lược marketing, R&D … mà nó là chiến lược pháttriển tổng thể Tổng hợp chung tất cả các chiến lược của các SBU lại sẽ cho tamột chiến lược phát triển cho toàn bộ công ty

Trang 31

Chương II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Ngày 31/3/ 1993, Bộ thương mại ra quyết định số 334/TM – TCCP đổitên thành Tổng công ty XNK thủ công mỹ nghệ thành công ty XNK thủ công

mỹ nghệ

Công ty XNK thủ công mỹ nghệ có tên giao dịch đối ngoại là Art andHandicraft Products Export – Import Company(viêt tắt là ATEXPORT ), đóngtrụ sở chính tại 31- 33 Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm Hà Nội, tổng diện tíchmặt bằng 10.433 m2, trong đó diện tích sử dụng cho văn phòng làm việc là7.404 m2, diện tích đất trống là 4.504 m2

Theo thông tư số 07/ TM – TCCP ngày 11/11/1993, Công ty XNK Thủcông mỹ nghệ được xếp hạng là doanh nghiệp hạng I trực thuộc Bộ ThươngMại Công ty là đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu trự tiếp, hoạtđộng theo pháp luật Việt Nam, theo chế độ tự hạch toán kinh tế, tự chủ về tàichính, có tư cách pháp nhân, có tài khoản tiền Việt Nam và tiền Ngoại tệ Ngânhàng, có con dấu riêng để giao dịch

Trang 32

Khi mới thành lập Công ty chỉ có bốn phòng nghiệp vụ và một số phòngquản lý, phục vụ với số lượng cán bộ công nhân viên chưa đầy 50 người Giaiđoạn từ 1964-1989 công ty hoạt động theo cơ chế bao cấp mọi hoạt động sảnxuất kinh doanh của ARTEXPORT hoàn toàn thụ động do kế hoạch Nhà nướcgiao Nhiệm vụ chủ yếu của công ty trong thời kỳ này là tổ chức các sản phẩmxuất khẩu, tổ chức giao nhận vận tải ngoại thương Sau những năm 1975, công

ty bắt tay vào việc quản lý xuất nhập khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ trênphạm vi cả nước Kế hoạch 5năm (1976-1980) tổng kim ngạch nên tới 234.6triệu rúp, kim ngạch xuất khẩu thời kỳ nàylà 194.6 triệu rúp Trong thời kỳ kếhoạch 5 năm(1981-1985) tổng kim ngạch xuất khẩu nên tới 289.3 triệu Rúp,bình quân tăng hàng năm trên 57 triệu Rúp/năm, năm cao nhất nên tới 6.6 triệuRúp(năm 1984)

Ngày nay Công ty đã mở rộng kinh doanh ra nhiều mặt hàng tổng hợp.Hàng kinh doanh của công ty không đơn giản chỉ là hàng thủ công mỹ nghệ

mà nó còn bao gồm cả vật tư khoa học công nghệ, hoá chất, đồ chơi trẻ em,hạtnhựa, thiết bị văn phòng, nguyên liệu thêu gia công, thiết bị báo cháy, thiết bịđiện tử, điện dân dụng,vật liệu xây dựng … và một số loại hàng hoá khác, sốlượng cán bộ công nhân viên đã nên đến con số 294 người

Trước những năm 1990 Tổng công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹnghệ có nhiều chi nhánh như ở Hải Phòng, Thàn Phố Hồ Chí Minh…tuy nhiênsau 1990 do yêu cầ của sự phát triển Tổng công ty đã tách ra thành nhiều công

ty khác nhau, như ở Thành Phố Hồ Chí Minh có tên là Công ty XNK hàng thủcông mỹ nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh(ARTEX - SAIGON) và một bộ phậnxưởng của Công ty đã tách ra thành Công ty XNK hàng thủ công mỹ nghệThăng Long(ARTEX- THANGLONG)… trong giai đoạn này ARTEXPORThoạt động theo mô hình mới, phương thức kinh doanh thời gian này cũng thay

Trang 33

đổi để thích ứng với cơ chế thị trường Mặc dù nhiều khó khăn nhưng với sựgiúp đỡ chỉ đạo của Bộ thương mại, các cơ quan nhà nước cùng sự phấn đấukhắc phục khó khăn của toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty vẫn giữvững và phát huy uy tín của mình với khách hàng trong và ngoài nước

2/ Chức năng và nhiệm vụ của công ty:

Mục đích hoạt động của công ty là thông qua các hoạt động XNK vàdịch vụ của mình để khai thác một cách có hiệu quả nguồn nhân lực của đấtnước để đẩy mạnh XK, tăng thu ngoại tệ, góp phần vào xây dựng và phát triểnđất nước

Theo quyết định số 658/TM – TCCP ban hành ngày 9/6/1993 Công ty

có các chức năng nhiệm vụ sau

- Nhập khẩu nguyên vật liệu máy móc, vật tư, thiết bị văn phòng vànội thất, hoá chất, hàng tiêu dùng theo quy định của nhà nước

- Làm dịch vụ thương mại: nhập khẩu tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnhtheo quy định của nhà nước

- Được phép kinh doanh khách sạn, văn phòng làm việc theo quy địnhhiện hành của nhà nước…

2.2/ Nhiệm vụ.

Trang 34

Công ty XNK hàng thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT có các nhiệm vụsau:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động sản xuất kinhdoanh nhằm thực hiện các chức năng trên

- Nghiên cứu khả năng sản xuất và nhu cầu thị trường, giải quyếtnhững vấn đề vướng mắc trong sản xuất kinh doanh

- Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, tự tạo các nguồn vốncho sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tự bùđắp các chi phí, tự cân đối giữa xuất nhập khẩu, đảm bảo thực hiện sản xuấtkinh doanh có lãi và làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước

- Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nhằm nâng caochất lượng các mặt hàng do công ty sản xuất kinh doanh nhằm tăng khả năngcạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ

- Quản lý, chỉ đạo và tạo điều kiện để các đơn vị trực thuộc công tyđược chủ động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy chế hiệnhành của nhà nước và của bộ thương mại

3/ Mô hình tổ chức của công ty.

Để đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đivào nề nếp, ổn định, thống nhất chỉ đạo tổ chức và thực hiện nhằm khôngngừng nâng cao hiệu quả kinh tế, bộ máy công ty được tổ chức theo kiểu trựctuyến chức năng như sau:

Trang 35

Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động của Công ty XNK thủ công mỹ

nghệ:

Ban giám đốc:

- Giám đốc: Ông Đỗ Văn Khôi, tốt nghiệp trường ĐH Ngoại Thương,

chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của công ty trước Pháp luật cũng như

Bộ chủ quản

- Hai phó giám đốc: Ngoài nhiệm vụ cụ thể của mình trong từng lĩnh

vực được giao còn phải góp ý tham gia cố vấn cho giám đốc và làm đại diện

cho giám đốc những khi giám đốc đi vắng

Khối đơn vị quản lý:

- Phòng tổ chức hành chính: Giúp các đơn vị tổ chức sắp xếp và quản lý

lao động nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả lực lượng lao động của công ty,

Giám đốcc

P: Thêu P: SMMN P:dép P:G m ốc P:CóiNgôD a ừa P:XNKTH(1-10)

Kh i ốc đơng án chiến n v qu n lýịnh nhiệm vụ và mục ải Phòng

Các đơn vị trực thuộc n v tr c thu c ị trực thuộc ực thuộc ộc

Kh i ốc đơng án chiến n v ịnh nhiệm vụ và mục KD

Trang 36

nghiên cứu các phương án nhằm hoàn thiện về mặt trả lương và phân phối hợp

lý tiền thưởng, quản lý các tài sản chung của công ty và các đơn vị, theo dõitình hình sử dụng tài sản

- Phòng tài chính kế hoạch : Khai thác mọi nguồn vốn nhằm đảm bảovốn cho các đơn vị hoạt động, tham mưu cho giám đốc xét duyệt các phương

án kinh doanh và phân phối thu nhập, tổ chứ thực hiện và kiểm tra việc thựchiện sản xuất hàng hoá giao cho các bên đối tác theo hợp đồng, làm rõ khảnăng sản xuất kinh doanh của công ty, phân bổ hợp lý các kim ngạch đượcgiao, xây dựng và trình tỷ giá, thu tiền và thanh toán kịp thời cho khách hàng

- Các phòng xuất nhập khẩu tổng hợp từ 1-10 là những đơn vị kinhdoanh độ lập, hoạt động theo chế độ tự hạch toán kinh doanh và chịu tráchnhiệm về hoạt động của mình trước lãnh đạo công ty

- Phòng thị trường hàng hoá: Tìm kiếm khách hàng, theo dõi chặt chẽviệc chi tiêu các khoản chi phí cho việc liên hệ, ký kết riêng của từng đơn vị

để tính nhập vào chi phí riêng của từng đơn vị đó, chi phí có liên quan đếnnhiều đơn vị thì phải có trách nhiệm phân bổ hợp lý cho các đơn vị kinh doanh

Khối đơn vị kinh doanh: Trên cơ sở các mặt hàng được giao, chỉ tiêu

kim ngạch XNK được phân bổ, các đơn vị trực tiếp tiếp cận thị trường, tìmhiểu nhu cầu thị trường, tìm hiểu nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của khách hàng đểxây dựng phương án sản xuất kinh doanh và các biện pháp thực hiện trìnhgiám đốc phê duyệt

Các đơn vị trực thuộc: Chi nhánh ARTEXPORT - HAIPHONG 25 Đà

Nẵng và chi nhánh ARTEXPORT – DANANG 74 Nữ Vương: giao nhận, táichế, đóng gói hàng xuất khẩu và trực tiếp sản xuất hàng nhập khẩu

Trang 37

-VPĐD tại Thành Phố Hồ Chí Minh 31 Trần Quốc Toản: chuyên giaonhận, sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và các hàng khác đượcphép nhập khẩu, được công ty ủy quyền trực tiếp giao dịch đàm phán đốingoại và duy trì mối quan hệ với các tỉnh phía Nam để ký kết các hợp đồng tạiThành Phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay Công ty mới mở văn phòng đại diện ở Nga và còn có cácxưởng, cửa hàng trực thuộc các phòng nghiệp vụ

4/ Hoạt động kinh doanh chung của công ty.

4.1/ Chỉ tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu.

- Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất đi tiêu thụ quốc tế phần nào phảnánh nhu cầu đa dạng khác biệt của từng thị trường Để đáp ứng nhu cầu thịtrường, Công ty đã đưa ra một số mặt hàng chủ lực như cói mây, sơn mài, mỹnghệ, gốm sứ, thêu ren, dệt may… đồng thời mở rộng lĩnh vực xuất khẩu ranhiều mặt hàng ngoài thủ công mỹ nghệ khác Các mặt hàng xuất khẩu củacông ty ngày càng trở nên đa dạng phong phú với chất lượng ngày càng caođược sản xuất chủ yếu ở các làng nghề truyền thống do các nghệ nhân chỉ đạo.Một số làng nghề có quan hệ chặt chẽ với công ty như: gốm sứ Bát Tràng,khảm trai Đình Bảng – Từ Sơn, điêu khắc Đồng Kị - Hà Bắc, mây tre VạnPhúc – Thanh Trì, Ninh Sở - Hà Tây, cói đan Kim Sơn – Ninh Bình, Nga Sơn– Thanh Hoá, Miền nam có Sơn Mài Sông Bé…

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Theo số liệu thống kê của phòng Tài chính kế hoạch, kim ngạch XNKcủa công ty liên tục tăng khá ổn định, riêng năm 1998 tăng mạnh, dự báo năm

2001 kim ngạch XNK của công ty có xu hướng tăng cao, điều này cho thấynhững cố gắng trong hoạt động kinh doanh của công ty

Trang 38

Tuy nhiên bươc sang năm 1998 kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàngnhư cói mây, sơn mài – mỹ nghệ, dệt may không những không tăng mà còn sụtgiảm, đáng chú ý là mặt hàng cói mây giảm mạnh chỉ còn 7.92% Hàng gốm sứtiếp tục tăng, trở thành mặt hàng chủ đạo với 34.75%,đặc biệt trong năm nàycông ty đã cố gắng xuất khẩu được mặt hàng giày dép.

Đến năm 1999 kim ngạch xuất khẩu đột ngột giảm mạnh từ 12.096.999USD xuống còn 10.404.128 USD, trong số đó mặt hàng cói mây vẫn giữ ởmức thấp, các mặt hàng khác đều tăng Trong số các mặt hàng thủ công mỹnghệ thì hàng gốm sứ vẫn giữ vai trò chủ đạo, còn lại các mặt hàng thêu và dệtmay đều tăng khá cao

Năm 2000 trong khi các loại mặt hàng khác có xu hướng giảm thì hàngthêu vẫn liên tục tăng khá cao lên đến 2.553.467 USD, chiếm 22.69% tổng kimngạch xuất khẩu Trong năm này công ty không xuất khẩu được các mặt hàngdệt may và giày dép

Tuy nhiên chỉ trong có 9 tháng đầu năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đãgần bằng cả năm 2000 đã cho thấy một tốc độ tăng trưởng khá mạnh mẽ,nhưng tỷ trọng các mặt hàng lại có sự tương đối ổn định, riêng mặt hàng gốm

sứ có sự giảm nhẹ Những biểu hiện trên cho thấy khả năng tiềm tàng của công

ty là tương đối lớn, nếu công ty có biện pháp thích hợp thì sẽ đạt được hiệu quảkinh tế cao

So với với năm 1996, năm 1997 cùng với sự gia tăng của kim ngạchxuất khẩu thì kim ngạch nhập khẩu cũng tăng, đặc biệt các mặt hàng nhưnguyên liệu đầu vào như máy móc nông nghiệp, các máy móc thiết bị trang bịcho sản xuất trong nước… Các mặt hàng này trước kia công ty không kinhdoanh hoặc có nhưng rất ít thì ngày nay đây lại là những mặt hàng nhập khẩu

Trang 39

chủ lực của công ty Dưới đây là tình hình sản xuất và kinh doanh của công tytrong những năm cuối thập kỷ 90.

Biểu 1: Tình hình kinh doanh XK của Công ty XNK ARTEXPORT theo

cơ cấu mặt hàng trong những năm nửa cuối thập kỷ 90:

(nguồn phòng tài chính kế hoạch)

Đơn vị: USD

KNXK 25.788.359 28.546.793 35.191.171 23.230.142 25.013.312 22.168.182KNNK 7.493.362 10.718.703 12.096.999 10.404.128 11.254.701 11.001.137

XK uỷ thác 4.775.999 7.060.405 8.859.428 7.027.308 7.209.021 7.334.094

(15.22%)

1.730.391(16.14%)

956.689(7.91%)

812.418(7.81%)

1.071.357(9.52%)

806.897(7.33%)Sơn mài

Mỹ nghệ

268.751(3.59%)

929.117(8.67%)

623.836(5.16%)

1.966.903(18.90%)

1.915.217(17.02%)

2.116.251(19.24%)

(18.62%)

2.894.039(27.00%)

4.023.307(34.75%)

3.184.894(36.67%)

3.772.011(33.51%)

3.546.641(32.24%)

(18.53%)

1.210.863(11.30%)

1.347.227(11.14%)

1.583.787(15.22%)

2.533.467(22.69%)

2.170.950(19.73%)

(5.07%)

1.027.885(9.59%)

795.229(6.57%)

964.6489.27%

1.262.228(12.13%)

1.942.650(17.26%)

2.360.448(21.46%)

Trang 40

4.2/Về tình hình tài chính của Công ty:

Công tác tài chính đã đi vào nề nếp, thúc đẩy được kinh doanh có hiệuquả, tăng thu nhập cho các bộ, công nhân viên tạo ra lợi nhuận để phát triểnđầu tư ngành hàng, bảo toàn vốn được Nhà nước giao Biểu 3 dưới đây sẽ chochúng ta thâysự tăng nên liên tục của Doanh thu, cá biệt có năm 1999 tổngDoanh thu của Công ty giảm đột ngột xuống từ 119.014 xuống còn 71.081triệu USD, nhưng Công ty đã nỗ lực cố gắng vượt bậc để đạt 138.525 và năm

2000 Từ năm 1997 – năm 2000 tỷ xuất phí tăng mạnh hơn tốc tăng của doanhthu Từ đó cho thấy được yếu kém trong khâu quản lý chi phí của Công ty

Về lợi nhuận tăng liên tục qua các năm, từ 310 triệu năm 1996 đến năm

2000 đạt gấp 3, lên đến 1060 triệu, đặc biệt năm 1999 tuy doanh thu không caonhưng tỷ suất lợi nhuận lại tăng vọt Các khoản nộp ngân sách của Công tycũng có sự tăng vọt Nhờ Nhà nước ban hành nghị định 29/CP về quy chế mớixác định tiền lương trong doanh nghiệp đơn giá tiền lương đã tăng nên đáng

kể Hiện nay mức lương bình quân của cán bộ, CNV của công ty đạt bình quânkhoảng 1 triệu đồng/người/tháng Dưới đây là số liệu về tình hình tài chính củacông ty cuối những năm 1990 –2000 và việc thực hiện kế hoạch năm 2001

Ngày đăng: 15/04/2013, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình chiến lược kinh doanh trường DHKTQD Khác
2. Giáo trình chiến lược kinh doanh nhà xuất bản Quốc gia Khác
3. Các tạp chí TM,TNTTVN,KTPT Khác
4. Các báo cáo thự hiện kế hoạch,báo cáo cuối năm, kế hoạch sản xuất của công ty ARTEXPORT Khác
7. Và một số tài liệu khác có liên quan Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động của Công ty XNK thủ công mỹ  nghệ: - chiến lược phát triển của Cty XNK hàng thủ công Mỹ nghệ (ARTEXPORT)- HN
Sơ đồ 1 Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động của Công ty XNK thủ công mỹ nghệ: (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w