1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF

89 249 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài nghiên cứu này các yếu tố sau được coi là những yếu tố chính quyết định hệ số truyền dẫn: sự sụt giảm tỷ giá hối đoái, chênh lệch sản lượng, độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Trần Thị Hải Lý

TP Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc Sỹ Kinh Tế với đề tài “CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN

TỪ VIỆC PHÁ GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Hải Lý

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

Phan Thành Hưng

Trang 4

Con xin ghi nhớ công ơn của Bố và Mẹ đã chắp cánh cho con những ước

mơ, hoài bảo và khát vọng

Phan Thành Hưng

Trang 5

Mục lục

Mục lục i

Danh mục từ viết tắt và ký hiệu iv

Danh mục các hình v

Danh mục các bảng vii

Phụ lục viii

TÓM LƯỢC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Vấn đề nghiên cứu 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Dữ liệu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu đề tài 4

6 Những đóng góp của đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT 5

1.1 Các lý thuyết về tác động truyền dẫn của tỷ giá (ERPT – Exchange rate pass through) 5

1.1.1 Cơ chế tác động của tỷ giá đến giá trong nước 5

1.1.2 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho tỷ giá lệch khỏi PPP 7

1.1.3 Sự khác biệt về hệ số truyền dẫn (ERPT) 9

1.2 Các bằng chứng thực nghiệm về tác động truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát 11

Trang 6

1.2.1 Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới 11

1.2.2 Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam 14

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 20

2.1 Phương pháp nghiên cứu 20

2.1.1 Nghiên cứu định tính 20

2.1.1 Nghiên cứu định lượng 20

2.1.1.1 Mô hình nghiên cứu 20

2.1.1.2 Các bước thực hiện 23

2.2 Dữ liệu nghiên cứu 24

CHƯƠNG 3: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 28

3.1 Diễn biến Lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011 28

3.2 Các nhân tố tác động tới lạm phát Việt Nam 30

3.2.1 Sự sụt giảm tỷ giá (Depreciation) 30

3.2.2 Tỷ giá thực (Real Exchange Rate) và độ chênh lệch tỷ giá thực 35

3.2.3 Độ mở cửa của nền kinh tế (Oppeness) 38

3.2.4 Chênh lệch sản lượng (Output gap) 40

3.2.5 Phương pháp tính 41

3.2.6 Kỳ vọng lạm phát 43

3.3 Tranh luận về nguyên nhân lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu 43

CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC PHÁ GIÁ TIỀN ĐỒNG TỚI LẠM PHÁT VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2000 – 2011 46

4.1 Mô tả số liệu 46

4.2 Ước lượng các giá trị cân bằng 47

4.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 49

Trang 7

4.4 Tác động của sụt giảm tỷ giá đến lạm phát 534.5 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 58Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

Danh mục từ viết tắt và ký hiệu

Viết tắc Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asia Development Bank

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

ERPT Cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá Exchange rate pass throught FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức Official Development Assistance FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài Foreign Portfolio Investment

IFS Thống kê tài chính quốc tế International Financial

statistics INS Hệ thống thông tin cảnh báo Information Notice System

Ký hiệu Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh

RER Tỷ giá hối đoái thực ban đầu Real Exchange rate

VAR Mô hình tự hồi quy Vectơ

OPEN Độ mở của của nền kinh tế Openness

ê Mức độ sụt giảm tỷ giá Exchange rate depreciation

Trang 9

Danh mục các hình

Hình 1.1: Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát 5 Hình 2.1: Các kênh tác động đến lạm phát 23 Hình 3.1: Lạm phát Việt Nam tính theo CPI và GDP deflator 2000 - 2010 (%) 28 Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 (%) 30 Hình 3.3: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát ở Việt Nam (bên phải),

2000 – 2011 31 Hình 3.4: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ, 2008-2011 32 Hình 3.5: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày, VND/USD, 2008 -

2011 34 Hình 3.6: Mối quan hệ tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát Việt Nam (bên phải), 2000 - 2011 35 Hình 3.7: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD (%) theo quý 2000-2011 (Quý I năm 2000 là kỳ gốc) 36 Hình 3.8: Độ chênh lệch tỷ giá hối đoái thực Việt Nam, 2000 – 2011 37 Hình 3.9: Mối quan hệ tỷ giá hối đoái thực VND/USD (bên trái) và lạm phát Việt Nam (bên phải), 2000 - 2011 37 Hình 3.10: Độ mở cửa nền kinh tế Việt Nam theo quý 2000 – 2011 38 Hình 3.11: Mối quan hệ độ mở cửa của nền kinh tế (bên trái) và lạm phát Việt Nam (bên phải), 2000 - 2011 39 Hình 3.12: GDP thực và GDP tiềm năng ở Việt Nam, 2000 – 2011 40 Hình 3.13: Mối quan hệ giữa GDP thực (%, bên trái) và lạm phát ở Việt Nam (%, bên phải), 2000 - 2011 41

Trang 10

Hình 3.14: Giá dầu thế giới trong giai đoạn 2000 - 2010 (USD/Thùng) 44

Hình 4.1: Giá trị cân bằng của RER và GDP 2001Q1 – 2011Q4 48

Hình 4.2: RER Misalignment và GDP gap dạng mức và I(1) 51

Hình 4.3: IFL và ERD dạng mức và I(1), I(2) 53

Trang 11

Danh mục các bảng

Bảng 2.1: Các biến cơ sở và ký hiệu sử dụng 26

Bảng 3.1: Chỉ số giá tiêu dùng theo tháng giai đoạn 2003-2010 (%) 42

Bảng 4.1: Tóm tắt thống kê các biến 46

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định ADF các biến ước lượng giá trị cân bằng 49

Bảng 4.3: Giá trị tới hạn của thống kê  cho mẫu nghiên cứu 50

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định ADF các biến đưa vào phương trình hồi quy 52

Bảng 4.5: Kỳ vọng về dấu các biến 54

Bảng 4.6: Kết quả ước lượng cơ chế truyền dẫn thời gian t đến t + 3 54

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng cơ chế truyền dẫn thời gian t đến t + 6 55

Bảng 4.8: Kết quả ước lượng cơ chế truyền dẫn thời gian t đến t + 9 55

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng cơ chế truyền dẫn thời gian t đến t + 12 56

Trang 12

Phụ Lục

Phụ lục I – Công thức tính chỉ số giá 63

Phụ lục II – Tóm tắt về kiểm định ADF 64

Phụ lục III – Kết quả chi tiết kiểm định tính dừng ADF các biến 65

Phụ lục IV – Kết quả ước lượng 75

Trang 13

TÓM LƯỢC

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm ước tính hệ số truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011 Trong bài nghiên cứu này các yếu tố sau được coi là những yếu tố chính quyết định hệ số truyền dẫn: sự sụt giảm tỷ giá hối đoái, chênh lệch sản lượng, độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ định giá cao tỷ giá hối đoái thực và lạm phát ban đầu Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số truyền dẫn

độ sụt giảm tỷ giá tương quan thuận với lạm phát và đạt giá trị cực đại trong khoản thời gian t đến t + 9, sai lệch trong tỷ giá hối đoái thực tương quan nghịch và là yếu tố chính tác động tới lạm phát, hệ số truyền dẫn đạt giá trị cực đại trong khoản thời gian t đến t + 12 Ngoài ra bài nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố lạm phát ban đầu tác động rất mạnh tới lạm phát trong các giai đoạn sau đó và đạt giá trị cực đại tại thời gian t đến t + 12, độ mở cửa của nền kinh tế có tác động nhưng rất ít tới lạm phát và chỉ trong giai đoạn t + 6 và t + 9

Các từ khoá: Lạm phát, Tỷ giá, Tác động truyền dẫn

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Vấn đề nghiên cứu

Có rất nhiều nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái tới chỉ số giá tiêu dùng (lạm

phát) như: Chhibber (1991) chỉ ra rằng tác động của việc phá giá tới lạm phát phụ

thuộc vào độ linh hoạt của tỷ giá, độ mở của tài khoản vốn và mức độ kiểm soát giá;

Bodart (1996) nghiên cứu các tác động của việc cải cách tỷ giá lên lạm phát ở một nước nhỏ và mở bằng cách kết hợp giữa quan điểm tài khóa với các chế độ tỷ giá khác

nhau; Ilan Goldfajn và Sergio R.C Werlang (1998) trong một nghiên cứu thực nghiệm

về Cơ chế truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát theo khung dữ liệu bảng đã

thấy rằng có mối quan hệ giữa sự sụt giảm tỷ giá hối đoái và lạm phát; McCarthy, J

(2000), sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu về truyền dẫn của tỷ giá hối đoái Bài nghiên cứu chỉ ra rằng: (1) Việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài ít nhất trong khoản thời gian 1 năm ở các nước khảo sát (2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và

có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước được khảo sát; Agnès Belaisch (2003), nghiên

cứu Cơ chế truyền dẫn Tỷ giá hối đoái tại Brazil Ông kết luận rằng: (1) Sau 2 quý xảy

ra cú shock về tỷ giá thì sẽ tác động đến giá tiêu dùng (consumer prices), với tỷ lệ tương ứng là 6% sau 2 quý và 17% sau 1 năm…

Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2000 – 2011, đồng tiền Việt Nam (VNĐ) liên tục bị phá giá đi kèm theo nó là tỷ lệ lạm phát Việt Nam luôn ở mức cao Cụ thể nếu lạm phát trong năm 2000 là -0,5%, 2001 là 0,8% và giai đoạn 2003 – 2004 giao động ở mức 4% thì trong năm 2004 đã tăng lên đến 7%, năm 2008 là 22,14% (đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất trong giai đoạn 2000 – 2011 và cũng là tỷ lệ lạm phát cao nhất so các các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á) và tiếp tục duy trì ở mức cao này cho đến hiện

nay Như vậy, câu hỏi đặt ra là có mối quan hệ nào giữa việc phá giá tiền đồng và lạm

phát ở Việt Nam hay không ? Và nếu có thì mức độ ảnh hưởng sẽ như thế nào ? Sau khoản thời gian bao nhiều thì việc phá giá tiền đồng tác động mạnh nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến lạm phát Việt Nam ?

Trang 15

Trong bối cảnh đó, một nghiên cứu thực nghiệm để giải thích mức độ truyền dẫn từ việt sụt giảm tỷ giá tiền đồng đến lạm phát Việt Nam cần được thực hiện một cách nghiêm túc Nghiên cứu này cần được dựa trên một nền tảng lý thuyết cũng như các bằng chứng từ những nghiên cứu trước đây một cách vững chắc và nhất quán tránh những nhận định mang tính chủ quan và có tính sự kiện Hơn nữa, lạm phát là một hiện tượng tổng hợp của rất nhiều yếu tố và sẽ là sai lầm và không khách quan nếu chỉ giải thích nó bằng một nguyên nhân duy nhất và bác bỏ các nguyên nhân còn lại

Chính vì những nguyên nhân trên tác giả đã thực hiện nghiên cứu: “ Cơ chế truyền

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm vào 2 mục tiêu sau:

Th ứ nhất, xác định xu hướng biến động của mực độ truyền dẫn tỷ giá (ERPT) vào lạm

phát phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011 với các độ trễ tương ứng là sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng là như thế nào

Th ứ hai, xác định mực độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô như: độ lệch GDP ((GDP

deviation from an estimated trend), tỷ giá hôí đoái thực ((RER – Real exchage rate), môi trường lạm phát ban đầu, độ mở của của nền kinh tế (oppenness) ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào lạm phát của Việt Nam

3 Dữ liệu nghiên cứu

Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn sau:

thống kê tài chính quốc tế (International Financial statistics – IFS); hệ thống thống

thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS của IFM; Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB); Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO); Ngân hàng thế giới (WB) trong khoản thời gian từ 2000 – 2011 Các chỉ tiêu được xây dựng bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý (từ quý I năm 2000 đến Quý IV năm 2011) có tổng cộng 48 quan sát hợp lệ được tính toán và thu thập từ các nguồn khác nhau Giai đoạn nghiên cứu có khá nhiều

dữ liệu bởi vì trong thời kỳ này diễn ra nhiều biến động mạnh giữa tỷ giá đồng đô la

Mỹ và đồng Việt Nam Cũng có những giai đoạn bình lặng và xen kẽ vào đó là những giai đoạn khủng hoảng tỷ giá nghiêm trọng Việc phân tích dữ liệu theo từng bảng cho

Trang 16

phép bài nghiên cứu này tập hợp được một lượng lớn lượng dữ liệu đã từng được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn bắt đầu bằng những lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát Tiếp sau đó tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu làm cơ sở cho việc xác định cơ chế truyền dẫn từ việc từ sụt giảm tỷ giá đến lạm phát và nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu này Sau

đó là nghiên cứu định tính, kết quả kiểm định và các hàm ý từ kết quả nghiên cứu

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục các chữ việt tắt, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 4 chương nội dung:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về tác động truyền dẫn của tỷ giá Mục tiêu của

chương này là tóm tắt các lý thuyết có liên quan về cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát Sau đó tác giả tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm gần đây trên Thế giới cũng như ở Việt Nam về tác động truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát nhằm xác định các yếu tố vĩ mô có thể tác động đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá (Exchange rate pass thought) Chương này là cơ sở để tác giả thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm ở phần sau

Chương 2: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Mục tiêu của chương 2 là trình bày

phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu Nội dung của chương này là cơ sở cho các phân tích, nghiên cứu tiếp theo ở Chương 3 và Chương 4

Chương 3: Lạm phát ở Việt Nam và các nhân tố tác động Bằng phương pháp

thống kê mô tả, bảng biểu và hình Trong chương này Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính, nhận định vấn đề theo lối diễn dịch, quy nạp nhằm xác định các nhân tố như:

Sự sụt giảm tỷ giá (Depreciation), tỷ giá thực (Real exchange rate - RER), độ chênh lêch tỷ giá thực ( RER Misalighment), độ mở cửa nền kinh tế (Oppenness), chênh lệch sản lượng (Output gap), phương pháp tính, kỳ vọng lạm phát có phải là các nhân tố

Trang 17

chính tác động tới lạm phát Việt Nam và tác động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu

Chương 4: Kiểm định cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng tới lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011 Đây là chương quan trọng nhất và chuyển tải

được toàn bộ nội dung của đề tài này Tác giả đã sử dụng mô hình ước tính sự truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá sang lạm phát ở Việt Nam theo khung dữ liệu bảng tương tự

như mô hình Ilan Goldfajn và Sergio R.C Werlang (1998) đã sử dụng Trong chương

này tác giả đã đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến hệ số truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) trong giai đoạn 2000 – 2011 tại Việt Nam

6 Những đóng góp của đề tài

Th ứ nhất, bằng cách sử dụng mô hình tương tư mô hình Ilan Goldfajn và Sergio R.C

Werlang (1998) luận văn đã cung cấp thêm một phương pháp nghiên cứu định lượng

để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào lạm phát Việt Nam trong thời gian 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng

Th ứ hai, Luận văn đã xác định được mức độ truyền dẫn (hệ số truyền dẫn) từ việc phá

giá tiền đồng đến lạm phát Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu

Th ứ ba, Luận văn cũng đã ước lượng được tác động của các yếu tố vĩ mô khác vào

mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT)

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN DẪN

CỦA TỶ GIÁ ĐÊ2N LẠM PHÁT

1.1 Các lý thuyết về tác động truyền dẫn của tỷ giá (ERPT – Exchange rate pass through)

1.1.1 Cơ chế tác động của tỷ giá đến giá trong nước

Milton Friedman (1953) lập luận rằng, cơ chế tỷ giá thả nổi có thể làm thay đổi nhanh chóng giá tương đối giữa các quốc gia “Tăng tỷ giá làm giá hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ hơn khi tính bằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tính bằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn khi tính bằng ngoại tệ, ngay cả khi giá của chúng không thay đổi nếu tính bằng nội tệ Điều này làm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu”

Hình 1.1: Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát

áá

Trực tiếp

Gián tiếp

Hiệu ứng FDI

Giảm tỷ giá (Phá giá đồng nội tệ)

Tăng giá các nhân tố sản xuất

và hàng hoá nước ngoài

Tăng cầu nội địa và nước ngoài về hàng hoá sản xuất trong nước

Tăng cầu lao động, tăng tiền lương SX thay thế nhập khẩu

Tăng giá hàng hoá tiêu dùng

Trang 19

Các giả thiết của Friedman là giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ của nhà sản xuất cố định và tồn tại hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá đến người mua hàng hóa ở mức độ lớn (trung chuyển toàn phần sang giá hàng nhập khẩu)

hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỷ giá Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu để nghiên cứu

hiệu ứng này một cách riêng biệt Obstefeld và Rogoff (2000) và các tác giả khác đã

chứng minh rằng, giá cả các hàng hóa nhập khẩu có mức độ nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của tỷ giá so với giá cả hàng tiêu dùng nói chung

nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa (sự thay thế bên trong - internal substitution) và trên thị trường nước ngoài (sự thay thế bên ngoài - external substitution) Chẳng hạn ở nước Nga, sau cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1998, sự thay thế bên trong đã làm giảm tiêu thụ các hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao đắt tiền và làm tăng việc tiêu

thụ hàng hóa sản xuất trong nước chất lượng thấp và rẻ hơn (“flight from quality”,

Burtein et al (2003)). Kết quả là giá cả hàng hóa nội địa tăng lên Một số tác giả

(Engel (2002)) gọi hiệu ứng tăng tiêu thụ hàng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập

khẩu là “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu do những thay đổi trong giá tương đối (expenditure-switching effect of relative price changes)” Hiệu ứng thay thế bên ngoài cũng xẩy ra do hàng hóa sản xuất trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài

và cầu của họ đối với hàng hóa sản xuất trong nước tăng lên Bởi vì tiền lương danh nghĩa là cố định trong ngắn hạn, điều này làm giảm tiền lương thực tế, do đó, kích thích tăng sản lượng, từ đó, khuyến khích xuất khẩu của quốc gia Hiệu ứng thay thế bên ngoài đòi hỏi nghiên cứu hành vi theo đuổi chiến lược dịch chuyển chi tiêu

(“expenditure-switching strategy”, Obstfeld& Maurice (2001) của các nhà sản xuất

trong nước Các nhà sản xuất thay thế hàng hóa nhập khẩu trung gian bằng hàng hóa sản xuất trong nước Tuy nhiên, khi tiền lương thực tế tăng lại về mức ban đầu, chi phí sản xuất tăng lên đẩy mức giá lên và làm giảm sản lượng Trong dài hạn, hiệu

Trang 20

ứng này được minh họa bởi điều kiện Marshall- Lerner Các dữ liệu cán cân vãng lai trong cán cân thanh toán của nước Nga sau khủng hoảng 1998 khẳng định rằng sản lượng trong nước gia tăng là kết quả của việc phá giá đồng Rúp năm 1998

cách toàn diện, trong năm này đồng Rúp đã giảm 2/3 giá trị, lạm phát tăng lên mức 2 con số, thị trường chứng khoán mất 80% giá trị… Sự giảm giá mạnh của đồng Rúp năm 1998 đã làm giảm mạnh cầu đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ Trước đó, các tập đoàn xuyên quốc gia

đã cung cấp nhiều hàng hóa vào nước Nga, trong thời gian khủng hoảng phải đối mặt với tình thế lưỡng nan: hoặc đánh mất thị phần thị trường xuất khẩu của mình hay bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất tại nước Nga nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về tiền lương và công nghệ Nhiều tập đoàn đã mở chi nhánh và dịch chuyển các cơ sở sản xuất vào nước Nga (FDI flows) Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương Đến lượt mình, điều này đã đẩy giá tăng lên

Tóm lại, có một số cơ chế song hành, thông qua đó, giá cả trong nước phản ứng với những thay đổi của tỉ giá danh nghĩa

1.1.2 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho tỷ

Nhưng ngay cả trong một mô hình cung cầu giản đơn trong đó quy luật một giá được tuân thủ thì vẫn có những khác biệt về tác động truyền dẫn (ERPT) của tỉ giá đối với giá trong nước Trong một nền kinh tế lớn, hiệu ứng lạm phát do sự giảm tỉ giá nội

tệ được kết hợp với sự giảm giá toàn cầu (do cầu thế giới giảm), từ đó làm giảm ERPT Trong một nền kinh tế nhỏ, một sự giảm tỉ giá nội tệ không ảnh

Trang 21

hưởng đến giá thế giới, do đó, ERPT phải là toàn phần (100%) trong mô hình này Do đó, ngay cả trong khuôn khổ mô hình đơn giản này (mô hình ủng hộ quy luật một giá), ERPT không đồng nhất ở các quốc gia và sẽ cao hơn ở các nền kinh tế nhỏ

so với các nền kinh tế lớn

Có nhiều lí thuyết giải thích tại sao ERPT không đạt mức toàn phần Mô hình của

Obstfeld & Rogoff (2000) cho rằng sự tồn tại chi phí vận chuyển làm tăng giá trị hàng hóa nhập khẩu và phân đoạn thị trường Ngay cả khi hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn có thể thay thế hàng hóa sản xuất ở trong nước, thì chúng cũng không thể được tiêu thụ với khối lượng lớn (tỉ lệ nhập khẩu nhỏ), bởi vì giá của chúng tương đối cao Trong trường hợp này, sự thay đổi tỉ giá tác động yếu đến sự biến động của chỉ số CPI

Một phương pháp tiếp cận tương tự (McCallun & Nelson (1999) cho rằng bản thân

hàng hóa chỉ chiếm một tỉ lệ không lớn so với phần cá nhân tiêu thụ Người tiêu dùng cũng sẵn sàng thanh toán các dịch vụ marketing, các dịch vụ phân phối và dịch vụ bán lẻ mà thông qua các kênh này, hàng hóa đến tay người tiêu dùng Có thể, các khoản chi phí này chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá trị của hàng hóa Khi đó, những thay đổi của tỉ giá sẽ không tác động lớn đến giá trị hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, bởi vì chúng chỉ tác động đến một phần không lớn giá trị của hàng hóa

Burstein, Neves & Rebelo (2002) và Burstein, Eichenbaum & Rebelo (2002) cho rằng

vai trò của hàng hóa và dịch vụ trung gian nội địa trong khu vực phân phối là khá quan trọng về mặt lượng, nhưng không thể giải thích đầy đủ những khác biệt của ERPT

Mức ERPT thấp có thể không phải là kết quả của sự cố định tương đối giá cả, mà là

chính sách phân biệt hóa về giá tối ưu Bergin & Feenstra (2001) và Bergin

(2001) đã xây dựng các mô hình cân bằng tổng thể, trong đó, ERPT không bằng

100%, ngay cả khi giá cả là hoàn toàn thả nổi Corsetti & Dedola (2001) xây

dựng một mô hình, trong đó, ERPT một phần phát sinh do những khác biệt trong các mức chi phí phân phối trên thị trường nội địa và thị trường nước ngoài Trong

mô hình của họ, ERPT đến giá hàng hóa nhập khẩu không đạt mức toàn phần, bởi vì

Trang 22

nhà xuất khẩu hoạt động trong ngành cạnh tranh độc quyền cho rằng cầu của nhà nhập khẩu phụ thuộc vào chi phí phân phối trong nước

Thay thế và bổ sung cho phương pháp tiếp cận nêu trên là mô hình Bachetta &

Wincoop (2002). Trong mô hình của mình, các tác giả bỏ qua chi phí phân phối và tập trung vào chiến lược định giá tối ưu của công ty Luận cứ của mô hình là ở chỗ, đồng tiền được chọn để định giá phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh hàng nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước Nếu mức độ cạnh tranh là cao thì các công ty nhập khẩu sẽ định giá bằng nội tệ, do đó, ERPT bằng 0 Ngay cả khi công ty đối mặt với vấn đề rủi ro tỉ giá, nó cũng không muốn thay đổi giá cả hàng tiêu dùng cuối cùng để bảo vệ thị phần Như vậy, mức độ cạnh tranh giữa nhà nhập khẩu và nhà sản xuất trong nước càng lớn thì ERPT trong ngành càng nhỏ

Một phương pháp tiếp cận khác cho rằng hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa trung gian

và tồn tại sản phẩm thay thế được sản xuất trong nước Các nhà sản xuất trong nước

sử dụng hàng hóa nhập khẩu trung gian để sản xuất hàng hóa tiêu dùng cuối cùng Giá

cả hàng hóa tiêu dùng cuối cùng có thể được ấn định bằng nội tệ, còn hàng hóa nhập khẩu trung gian có thể được ấn định bằng đồng tiền nhà xuất khẩu Do đó, nhà nhập khẩu có thể thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước nếu như tỉ

giá thay đổi theo hướng bất lợi Obstfeld (2001) khẳng định trong một nền kinh tế

như vậy, có thể tồn tại “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” đáng kể (expenditure - switching effect), theo đó, không phải người tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước mà là nhà sản xuất trong nước Mặt khác,

Devereux, Engel & Tille (1999) lưu ý rằng khả năng thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước của các nhà phân phối hàng hóa nhập khẩu được định giá bằng ngoại tệ là nhỏ Do vậy, mức độ thay thế hàng hóa xác định độ lớn “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” và ERPT

1.1.3 Sự khác biệt về hệ số truyền dẫn (ERPT)

Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giữa giá cả ở các mắt xích của dây chuyền sản xuất (giá

Trang 23

nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một quốc gia

Trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt nó, chiến lược định giá lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi mức lợi nhuận của công ty (hiệu số giữa giá bán và giá thành sản phẩm) nhằm đối phó với sự thay đổi của

tỉ giá

Cơ sở lí luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Donbursch

(1987), trong đó, những khác biệt về ERPT được lí giải thông qua các mô hình lí thuyết tổ chức công nghiệp, mà cụ thể là mức độ tập trung hóa của thị trường, mức

độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế giữa hàng hóa nhập khẩu

và hàng hóa sản xuất trong nước Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh

tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỉ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPT càng lớn

Nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và được phân đoạn, phản ứng của các công ty đối với biến động của tỉ giá có thể khác nhau Ví dụ, nếu công ty có quyền lực thị trường, và họ kì vọng tối đa hóa lợi nhuận của mình, ERPT sẽ phụ thuộc

nhiều vào các nhân tố khác (Phillips, 1998) Ngược lại, nếu công ty hướng đến mục tiêu tối đa hóa thị phần của mình, ERPT sẽ nhỏ hơn (Hooper & Mann, 1989;

Ohno, 1990) Hơn nữa, nếu tồn tại khả năng phân biệt hóa giá cả giữa các thị trường,

có thể phát sinh tình huống “định giá theo thị trường”, dẫn đến việc hình thành ERPT

khác nhau trên các phân đoạn thị trường khác nhau (Krugman, 1986; Gagnon &

Knetter, 1992) Cuối cùng, chiến lược định giá của công ty phụ thuộc vào kì vọng biến động tương đối của tỉ giá trong tương lai và khung thời gian dự báo (Froot &

Klemperer, 1988; Ohno, 1990)

Trên cơ sở các nguyên tắc này, Feinberg (1986, 1989) kết luận, ERPT đến giá của nhà

sản xuất trong nước sẽ mạnh hơn ở các ngành có mức độ tập trung nhỏ hơn và ở

các ngành, nơi có tỉ trọng nhập khẩu cao hơn Yang (1997) cho rằng, ERPT có

mối tương quan cùng chiều với mức độ phân biệt hóa sản phẩm (nghĩa là có mối tương

Trang 24

quan nghịch với khả năng thay thế của hàng hóa) và có mối tương quan nghịch với độ

co giản của chi phí biên theo sản lượng

Menon (1996) đã đánh giá ERPT đến giá cả một số nhóm hàng hóa riêng biệt và phát hiện rằng, ERPT tỉ lệ nghịch với các hạn chế định lượng (quota) đối với nhập khẩu, kiểm soát của nước ngoài (sự hiện diện của tập đoàn đa quốc gia), mức độ tập trung hóa sản xuất, mức độ phân biệt hóa sản phẩm và tỉ lệ nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng và tỉ lệ thuận với độ co dãn thay thế giữa hàng nhập khẩu và hàng trong

nước Một phần kết luận của Menon có sự đối lập với kết luận của Yang và một số tác

giả khác

Trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối

của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô (Phillips,

1988)

1.2 Các bằng chứng thực nghiệm về tác động truyền dẫn của tỷ giá đến

lạm phát

1.2.1 Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới

Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái tới chỉ số giá tiêu dùng (lạm phát) Các tác giả đã ứng dụng nhiều mô hình kinh tế lượng khác nhau để đo lường mức độ truyền dẫn và các yếu tố khác có liên quan ảnh hưởng đến truyền dẫn Trong khuôn khổ bài luận văn này tác giả sẽ trình bày sơ lược về các kết quả nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đó

Chhibber (1991) chỉ ra rằng tác động của việc phá giá tới lạm phát phụ thuộc vào độ linh hoạt của tỷ giá, độ mở của tài khoản vốn và mức độ kiểm soát giá

Bodart (1996) nghiên cứu các tác động của việc cải cách tỷ giá lên lạm phát ở một nước nhỏ và mở bằng cách kết hợp giữa quan điểm tài khóa với các chế độ tỷ giá khác nhau Ông thấy rằng chế độ neo tỷ giá có điều chỉnh tỷ giá chính thức chỉ có tác động ngắn hạn đối với lạm phát trong khi phá giá lại có tác động dài hạn hơn đối với lạm phát dưới chế độ điều chỉnh tỷ giá chỉnh tỷ giá chính thức liên tục theo tỷ giá thị

Trang 25

trường tự do Đồng thời, sự gia tăng dài hạn của thâm hụt ngân sách cũng dẫn đến lạm phát kéo dài hơn

Ilan Goldfajn và Sergio R.C Werlang (1998) trong một nghiên cứu thực nghiệm về Cơ chế truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá đến lạm phát theo khung dữ liệu bảng đã thấy rằng

có mối quan hệ giữa sự sụt giảm tỷ giá hối đoái và lạm phát Bài nghiên cứu của 2 tác giả này sử dụng số liệu thu thập từ 71 quốc gia trong giai đoạn 1980-1998 Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố chính quyết định đến hệ số truyền dẫn từ sụt giảm (hoặc sự gia tăng) tỷ giá hối đoái đến lạm phát bao gồm các yếu tố mang tính chu kỳ cấu thành đầu ra của nền kinh tế, mức độ mở cửa kinh tế, mức độ định giá cao tỷ giá hối đoái thực ban đầu (RER – Real Exchange rate), tỷ lệ lạm phát ban đầu (Initial inflation) Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã tìm ra hệ số truyền dẫn tăng khi thời gian đo lường tăng lên và đạt đến đỉnh điểm tại thời điểm 12 tháng Tác giả cũng chỉ ra

sự sai lệch trong việc đánh giá tỷ giá hối đoái thực là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lạm phát tại các quốc gia thị trường mới nổi trong khi tỷ lệ lạm phát ban đầu là nhân tố quan trọng nhất đối với các quốc gia phát triển Bằng cách sử dụng mô hình ước tính, bài nghiên cứu của hai tác giả này dự báo một tỷ lệ lạm phát hơi cao hơn một chút so với thực tế quan sát được trong nhiều trường hợp các quốc gia bị sụt giảm tỷ giá hối đoái mạnh, thậm chí ngay cả khi có tính đến những phương pháp ước tính kỳ vọng tỷ giá hối đoái Điều này cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách nên thận trọng khi sử dụng các mô hình trong quá khứ để dự báo tỷ lệ lạm phát sau khi

tỷ giá hối đoái bị mất giá mạnh

McCarthy, J (2000), sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu về truyền dẫn của tỷ giá hối đoái Bài nghiên cứu chỉ ra rằng: (1) Việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài ít nhất trong khoản thời gian 1 năm ở các nước khảo sát (2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước được khảo sát

Agnès Belaisch (2003), nghiên cứu Cơ chế truyền dẫn Tỷ giá hối đoái tại Brazil Ông kết luận rằng: (1) Sau 2 quý xảy ra cú shock về tỷ giá thì sẽ tác động đến giá tiêu dùng (consumer prices), với tỷ lệ tương ứng là 6% sau 2 quý và 17% sau 1 năm

Trang 26

Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006) đã thực hiện một nghiên cứu về sự thay đổi tỷ giá và lạm phát trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Châu Á (Exchage rate changes and Inflation in Post – Crisis Asian Economies) bằng cách sử dụng mô hình VAR phân tích cơ chế truyền dẫn trong tỷ giá (VAR Analysis of the Exchange Rate Pass – Through) Kết quả bài nghiên cứu này cho thấy rằng (1) Hệ số truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái tới giá nhập khẩu (import price) là khá cao trong nền kinh tế khủng hoảng lớn; (2)

Hệ số truyền dẫn từ tỷ giá tới chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Costumer Price Index) là thấp Điều này hàm ý rằng tỷ giá hối đoái tác động không lớn tới lạm phát của các quốc gia Châu Á trong giai đoạn khủng hoảng;

Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez (2007) thực hiện nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế mới nổi (Exchange rate pass through in emerging market) Tác giả kiểm định trong 12 nền kinh tế mới nổi ở Châu

Á, Mỹ Latin, Trung và Đông Âu Bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy vector (Vector Autoregressive Model) tác giả đã thấy rằng: Hệ số truyền dẫn đến chỉ số giá CPI và nhập khẩu ở các quốc gia này cao hơn với những nước có nền kinh tế phát triển; Ở các nền kinh tế mới nổi có lạm phát ở mức một con số, hệ số truyền dẫn tới Chỉ số giá tiêu dùng CPI và nhập khẩu là khá thấp và cũng không giống như các quốc gia có nền kinh tế đã phát triển; Bài nghiên cứu cũng tìm ra được mối tương quan mạnh giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát

Camen (2006) đã sử dụng một mô hình VAR với số liệu tháng trong giai đoạn từ tháng

2 năm 1996 đến tháng tư năm 2005 và phát hiện rằng: (i) tín dụng đến nền kinh tế chiếm 25% nguyên nhân gây CPI biến động và là nhân tố chính gây ảnh hưởng đến lạm phát sau 24 tháng; (ii) tổng phương tiện thanh toán và lãi suất chỉ giải thích một phần rất nhỏ trong biến động của CPI (dưới 5%); (iii) giá dầu và giá gạo quốc tế đóng vai trò quan trọng và gợi ý rằng giá quốc tế và tỷ giá cũng có vai trò giải thích biến động của lạm phát (19%); (iv) cung tiền của Mỹ (m3) với tư cách là một thước đo tính thanh khoản quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các giai đoạn nghiên cứu

M ột nghiên cứu của Goujon (2006) đã tập trung vào mức độ ảnh hưởng của tình trạng

đô la hóa đối với lạm phát và chỉ ra rằng với tình trạng đô la hóa của nền kinh tế, cung

Trang 27

tiền chỉ có tác động đến lạm phát nếu nó tính đến số lượng đô la được nắm giữ Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận kinh tế học tiền tệ cho giai đoạn từ tháng 1 năm

1991 đến tháng 6 năm 1999

Beirne (2009), sử dụng phương pháp đồng liên kết và phương pháp phản ứng xung để

đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá và chỉ số giá tiêu dùng ở 9 quốc gia thuộc khu vực Trung và Đông Âu thuộc khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu (EURO) Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Mức độ truyền dẫn trung bình của chỉ số giá tiêu dùng là 0.6 khi sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết và 0.5 khi sử dụng hàm phản ứng xung; (2) Mức độ truyền dẫn giữa các quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái cố định và

tỷ giá hối đoái thả nổi là khác nhau Mức độ truyền dẫn ở các nước theo chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo phương pháp đồng liên kết trung bình là 0.785, theo phương pháp phản ứng xung là 0.509 Đối với các quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi,

độ truyền dẫn theo phương pháp đồng liên kết trung bình là 0.483 và theo phương pháp phản ứng xung là 0.392

Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu lớn về hệ số truyền dẫn từ giảm tỷ giá hối đoái đến lạm phát (Dornbusch năm 1987, Feenstra et al 1994, 1989 Fisher, Goldberg và

các c ộng sự năm 1997, và Klein năm 1990) Ngoài ra còn có một số công trình thực nghiệm về hệ số truyền dẫn cho quốc gia, khu vực cụ thể (Amitrano và cộng sự năm

1997 và nh ững người khác)

1.2.2 Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái tới lạm phát Các tác giả đã ứng dụng nhiều mô hình kinh tế lượng khác nhau để đo lường mức độ truyền dẫn và các yếu tố khác có liên quan ảnh hưởng đến truyền dẫn Tác giả tóm tắt một số nghiên cứu điển hình như sau:

Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) trong một nghiên cứu “Các nhân tố

v ĩ mô quyết định lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2010: Các bằng chứng và

phân tích” đã chỉ ra rằng: Thứ nhất, công chúng có khuynh hướng lưu giữ ấn tượng về

lạm phát trong quá khứ, đồng thời có kỳ vọng nhạy cảm về lạm phát trong tương lai đây là hai yếu tố đồng thời chi phối mức lạm phát hiện tại Điều này hàm ý rằng uy tín

Trang 28

hay độ tinh cậy của chính phủ trong các chính sách liên quan đến lạm phát có vai trò to

lớn trong việc tác động tới mức lạm phát hiện thời Thứ hai, khác với những giải thích

thường xuyên của Chính phủ là lạm phát chủ yếu do các yếu tố bên ngoài như giá cả thế giới (nhập khẩu lạm phát), nghiên cứu này chỉ ra rằng lạm phát ở Việt Nam có nguyên nhân chủ yếu từ nội địa Các phát hiện cho thấy mức giá cả thế giới có khuynh hướng gây ảnh hưởng lên mức giá thấp hơn các nhân tố khác trong nền kinh tế Cần lưu ý rằng, giá thế giới thực sự có ảnh hưởng lên giá sản xuất Nhưng theo kênh lan truyền từ giá sản xuất đến giá tiêu dùng thì hiệu ứng gây lạm phát này phải mất vài

tháng mới phát huy tác dụng Thứ ba, tốc độ điều chỉnh của thị trường tiền tệ và thị

trường ngoại hối khi có biến động là rất thấp và thậm chí gần với không Điều này cho thấy một khi các thị trường này lệch khỏi xu hướng dài hạn, nền kinh tế sẽ mất rất nhiều thời gian để cân bằng trở lại dù Chính phủ có nỗ lực can thiệp về chính sách

Th ứ tư, kết quả nghiên cứu cho thấy Chính phủ đã thực sự có những phản ứng chống

lạm phát thông qua các chính sách tiền tệ và tài khóa, nhưng thường phản ứng chậm

hoặc thụ động trong đa số trường hợp Thứ năm, trái ngược với những nghiên cứu đã

có, kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy tỷ giá, cụ thể là việc phá giá, có tác động đáng kể làm tăng áp lực lạm phát Cuối cùng, nghiên cứu không cho thấy tác động rõ ràng của thâm hụt ngân sách đối với lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu Điều này không có nghĩa là thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng đến lạm phát Nguyên nhân của điều này là do việc tài trợ ngân sách thường có hai tác động trái chiều Một mặt, tài trợ ngân sách bằng việc gia tăng vay nợ của Chính phủ làm tăng lãi suất do nhu cầu vay cao hơn Điều này cũng tương tự như chính sách tiền tệ thắt chặt và do đó góp phần giảm phần nào lạm phát Mặt khác, tài trợ ngân sách thông qua việc tăng cung tiền (nếu có) cũng tương tự như chính sách tiền tệ mở rộng và gây áp lực lạm phát Hai tác động trái chiều này làm giảm thậm chí xóa bỏ ảnh hưởng của nhau đối với lạm phát

M ột nghiên cứu của IMF trong năm 2003 cũng cho thấy các kết quả tương tự về vai

trò của cung tiền đến lạm phát Nghiên cứu này sử dụng mô hình VAR với bảy biến: giá dầu quốc tế, giá gạo quốc tế, sản lượng công nghiệp, tỷ giá, cung tiền, giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng cho giai đoạn từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 3 năm 2003

Trang 29

Những kết quả của nghiên cứu này cho thấy vận động nội tại là yếu tố quan trọng giải thích những biến động của lạm phát, lạm phát phi lương thực thực phẩm và giá nhập khẩu Tỷ giá có tác động đến giá nhập khẩu nhưng không có tác động đến CPI Điều này phản ánh thực tế là các loại hàng hóa phi thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong giỏ CPI và giá nhập khẩu không chuyển trực tiếp vào giá trong nước dù độ mở của Việt Nam đang tăng lên Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng giá gạo quốc tế, các điều kiện

về tổng cầu trong nước và tốc độ tăng cung tiền mở rộng có ít tác động đến lạm phát nhưng tác động lại kéo dài

Tuy nhiên, một nghiên cứu sau đó của IMF (2006) sử dụng số liệu theo quý từ năm

2001 đến năm 2006 cho thấy vai trò quan trọng của tiền tệ đối với lạm phát Mặc dù kết quả của nghiên cứu này bị hạn chế do số lượng quan sát tương đối nhỏ, nhưng nghiên cứu đã khẳng định rằng tốc độ tăng cung tiền và tín dụng bắt đầu có mối quan

hệ với lạm phát từ năm 2002 Có thể giải thích một phần cho sự thay đổi trong kết quả này bằng việc tự do hóa của một loạt các loại giá cả quan trọng trong những năm 2000 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng trong khi kỳ vọng lạm phát và khoảng cách sản lượng

có tác động đến lạm phát thì các cú sốc giá dầu và tỷ giá có ít vai trò trong việc giải thích biến động của lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu Thêm vào đó, lạm phát ở Việt Nam thường kéo dài hơn những nước khác trong khu vực Điều này cho thấy rằng một khi người dân đã có kỳ vọng về lạm phát, việc kiểm soát nó thường khó khăn hơn Tính trì trệ này của lạm phát có thể là kết quả của việc người dân vẫn còn nhớ rõ tình trạng siêu lạm phát kéo dài từ giữa những năm 1980 đến đầu những năm 1990 Đồng thời hiệu ứng Balassa-Samuelson đối với lạm phát cũng không lớn nghĩa là ngay cả khi tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn trong khu vực thương mại, vẫn không có

đủ bằng chứng chứng tỏ giá của khu vực thương mại tăng cao hơn so với khu vực phi thương mại

Tr ương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005) sử dụng phương pháp ước lượng

Granger với số liệu tháng từ tháng 7 năm 1994 đến tháng 12 năm 2004 và chứng minh rằng các nhân tố quyết định lạm phát trong giai đoạn này là lạm phát của các kỳ trước

Trang 30

và khoảng cách sản lượng Cung tiền không có ý nghĩa đối với lạm phát và tác động của giá dầu, giá gạo quốc tế cũng như mức chuyển tỷ giá vào lạm phát là rất thấp

Nguy ễn Thị Thùy Vinh và Fujita (2007) đã sử dụng cách tiếp cận VAR để nghiên cứu

tác động của tỷ giá thực đối với sản lượng và lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ

1992 đến 2005 Các tác giả cho thấy rằng nguyên nhân chủ yếu khiến sản lượng và mức giá thay đổi là các biến động của các biến này trong quá khứ và tỷ giá có ảnh hưởng nhiều đến cán cân thương mại và sản lượng hơn đến lạm phát Mô hình VAR của họ bao gồm sản lượng công nghiệp, CPI, tỷ giá, cung tiền, thâm hụt thương mại và lãi suất của Mỹ (với tư cách là một biến ngoại sinh) Mô hình này tập trung chủ yếu vào mức chuyển của tỷ giá và do vậy bỏ qua các nhân tố quyết định lạm phát khác

M ột trong những nghiên cứu định lượng đầu tiên của Việt Nam là của Võ Trí Thành

và đồng tác giả (2001) Các tác giả sử dụng số liệu từ năm 1992 đến năm 1999 trong

một mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) với sai số ECM (error correction terms) để nghiên cứu các mối quan hệ giữa tiền tệ, CPI, tỷ giá và giá trị sản lượng công nghiệp thực tế Họ đã cho thấy rằng tiền tệ chịu tác động của lạm phát và sản lượng nghĩa là

chính sách tiền tệ có tính bị động trong giai đoạn nghiên cứu Tỷ giá cũng có ảnh

h ưởng đến lạm phát trong khi cung tiền không có tác động đến các biến động trong

tương lai của giá cả

Võ V ăn Minh (2009) trong một nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái và

tác động tới lạm phát Việt Nam (Exchang rate pass – through and its implications for inflation in Vietnam) đã chỉ ra rằng: hệ số truyền dẫn tỷ giá hối đoái trong năm đầu tiên là 0,61, hệ số này là tương đương với các nền kinh tế giống Việt Nam; Bài viết cũng chỉ ra rằng sau cú shock về tỷ giá thì sau 5 đến 7 tháng sau mới tác động tới nhập khẩu; ngoài ra bài nghiên cứu còn cho thấy chỉ số giá tiêu dùng CPI (Costumer price index) sẽ bị tác động sau 10 tháng khi xảy ra cú shock về tỷ giá Và trong vòng 15

Trang 31

tháng kẻ từ lúc xảy ra cú shock về tỷ giá thì sẽ không còn tác động đến Chỉ số giá tiều dùng CPI và giá nhập khẩu (import price)

Tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn từ sự sụt giám tỷ giá đến lạm phát Các kết quả nghiên cứu này là không giống nhau do sự khác biệt về chọn mẫu các quốc gia nghiên cứu, thời điểm mà các tác giả thực hiện nghiên cứu, mô hình mà các tác giả này sử dụng… Nhưng tất cả các nghiên cứu này đều cho thấy rằng có sự tác động giữa sụt giảm tỷ giá hối đoái (hoặc tăng giá) tới Chỉ số giá tiều dùng CPI, lạm phát và giá nhập khẩu (price import) Đây là một bằng chứng quan trọng đề chúng tôi

nghiên cứu “Cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng đến lạm phát tại Việt Nam”

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tỷ giá hối đoái tác động tới lạm phát qua 3 kênh chính: (1) Hiệu ứng trực tiếp: Chuỗi hiệu ứng trực tiếp bao gồm thay đổi trực tiếp giá cả hàng hoá nhập khẩu trung gian và

nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỷ giá Obstefeld và Rogoff (2000) và các

tác giả khác đã chứng minh rằng giá cả hàng hoá nhập khẩu nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi của tỷ giá so với giá cả hàng hoá tiêu dùng nói chung; (2) Hiệu ứng gián tiếp: chuỗi hiệu ứng này dựa trên giả thuyết về sự thay thế lẫn nhau giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa (sự thay thế bên trong - internal substitution) và trên thị trường nước ngoài (sự thay thế bên ngoài - external substitution); (3) Hiệu ứng FDI: Khi tỷ giá hối đoái giảm hàm ý rằng giá cả hàng hoá nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn, các Công ty nước ngoài sẽ đầu tư trực tiếp vào quốc gia mà trước đây nhập khẩu hàng hoá của mình Tăng trưởng sản xuất làm tăng nhu cầu về lao động, tiền lương dẫn đến việc giá cả hàng hoá tăng

Nhiều kiểm định thực nghiêm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tuỳ thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giữa giá cả ở các mắc xích của dây chuyền sản xuất (giá nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của ngành trong phạm vi một quốc gia và các mô hình mà các tác giả này sử dụng

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về ERPT, phương pháp thường được sử dụng để

đo lường mức độ truyền dẫn của ERPT thường là phương pháp hồi quy tuyến tính và phương pháp VAR (tự hồi quy vectơ) Các nghiên cứu này cho thấy mức độ truyền dẫn

tỷ giá (ERPT) phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô như: mức độ phá giá đồng tiền, độ mở của nền kinh tế (oppeness), môi trường lạm phát ban đầu (initial inflation), độ chênh lệch sản lượng (output gap), chính sách tiền tề và tỷ giá mà quốc gia đó đang theo đuổi

Trang 33

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định tính

Bằng phương pháp thống kê mô tả, bảng biểu và hình như trình bày ở Chương 3 Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính, nhận định vấn đề theo lối diễn dịch, quy nạp nhằm xác định các nhân tố như: Sự sụt giảm tỷ giá (Depreciation), tỷ giá thực (Real exchange rate - RER), độ chênh lêch tỷ giá thực ( RER Misalighment), độ mở cửa nền kinh tế (Oppenness), chênh lệch sản lượng (Output gap), phương pháp tính, kỳ vọng lạm phát có phải là các nhân tố chính tác động tới lạm phát Việt Nam ? và tác động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu ?1

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

2.1.1.1 Mô hình nghiên cứu

Trong Luận văn này, tác giả sử dụng mô hình ước tính hệ số truyền dẫn từ sự sụt giảm

tỷ giá sang lạm phát ở Việt Nam theo mô hình tương tự như mô hình Ilan Goldfajn và

Sergio R.C Werlang (1998) đã sử dụng Trong mô hình này các nhân tố sau đây được xem là những yếu tố tiềm năng tác động đến sự truyền dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá hối đoái sang lạm phát

Đầu tiên, độ lệch GDP (GDP deviation from an estimated trend) được đưa vào sử

dụng để lý giải cho quan điểm với doanh số ngày càng tăng, các công ty dễ dàng

chuyển phần tăng trong chi phí vào giá thành sản phẩm (Ilan Goldfajn và Sergio R.C

Werlang (1998)) Ngược lại, sự sụt giảm trong tỷ giá hối đoái đôi khi không dẫn đến

1 Kết quả của nghiên cứu định tính được trình bày cụ thể trong Chương 3

Trang 34

sự tăng giá mạnh bởi vì nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng hoảng và các công ty không thể điều chỉnh giá tương ứng với việc tăng chi phí

tiềm năng ảnh hưởng đến sự truyền dẫn Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc định giá cao tỷ giá hối đoái thực (RER) là một nguyên nhân quan trọng gây ra sự sụt giảm

tỷ giá trong tương lai (Goldfain anh Valdes, 1999) Sự sụt giảm tỷ giá này không phải

là nguyên nhân gây ra lạm phát cao (higher inflation), sự sụt giảm tỷ giá này đơn giản chỉ là làm cho tỷ giá hối đoái thực trở về tình trạng ổn định Trong trường hợp này, việc định giá cao sẽ được điều chỉnh cách giảm giá các mặt hàng mậu dịch, phi mậu dịch tương ứng, và tổng thể thì sự sụt giảm tỷ giá này không tạo ra sự gia tăng về giá Mặt khác, sự sụt giảm tỷ giá không xuất phát từ yêu cầu điều chỉnh sẽ gây ra lạm phát hoặc gây ra sự định giá cao tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong tương lai (thực tế chuẩn hóa (stylized fact) đó là việc điều chỉnh sụt giảm tỷ giá danh nghĩa sẽ gây ra tỷ lệ lạm

phát cao hơn (Goldfain and Gupta, 1998)) Hiệu ứng này cũng đã được ghi nhận bởi

Borensztein và De Gregorio (1999).

bán một khi chi phí tăng lên Sự truyền dẫn được xác định bởi những thay đổi chi phí liên tục, và bản thân những sự thay đổi trong chi phí này chủ yếu là gây ra bởi lạm phát kéo dài Khi lạm phát xu hướng có tương quan mạnh nó sẽ tác động đến mức độ truyền dẫn, điều này đã được chỉ ra trong một nghiên cứu gần đây của Taylor (1999) Các quốc gia có tỷ lệ lạm phát lớn có xu hướng có độ truyền dẫn lớn hơn trong khi các nước ổn định có xu hướng duy trì mức lạm phát thấp trong hiện tại thậm chí ngay khi

tỷ giá hối đoái sụt giảm mạnh Amitrano và các cộng sự (1997) đã cho thấy trong năm

1992, sau khi tỷ giá hối đoái sụt giảm mạnh, các nước Châu Âu vẫn duy trì được mức lạm phát thấp Một nghiên cứu thực nghiệm khác ở Việt Nam được thực hiện bởi

Nguy ễn Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) cũng chỉ ra rằng công chúng có khuynh hướng lưu giữ ấn tượng về lạm phát trong quá khứ, đồng thời có kỳ vọng nhạy cảm về làm phát trong tương lai đây là hai yếu tố đồng thời chi phối mức lạm phát hiện tại Điều này hàm ý rằng để chống lạm phát, Chính phủ trước hết phải giữ được

Trang 35

mức lạm phát thấp ít nhất trong vòng sáu tháng, qua đó dần lấy lại niềm tin của công chúng về một môi trường giá cả ổn định hơn

hệ số truyền dẫn Các lý thuyết nghiên cứu trước đây tập trung vào ảnh hưởng trực tiếp

độ mở cửa nền kinh tế đến lạm phát Romer (1993), Sachsida (2003), Al – Nasser

(2009), Gurben & McLeon (2004) bằng các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng lạm phát và mức độ mở cửa có tương quan trái chiều trong những nền kinh tế đang phát triển Độ mở cửa của nền kinh tế có tác động nghịch biến lên lạm phát Ở những nước phát triển thì mối quan hệ này là đồng biến, nghĩa là khi độ mở cửa của nền kinh

tế tăng thì lạm phát tăng và ngược lại

Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác cho rằng mối quan hệ giữa lạm phát và độ mở

của của nền kinh tế là đồng biến khi: nền kinh tế có chế độ tỷ giá cố định Alfaro

(2005) , cầu ngoài đủ cao Dudley Cooke (2004)

Trong một nền kinh tế mở với kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, sự sụt giảm tỷ giá hối đoái sẽ tác động lớn đến giá cả điều này hàm ý rằng sự sụt giảm tỷ giá hối đoái sẽ tác động tới lạm phát với tương quan thuận

Tất cả các mối quan hệ trên có thể diễn đạt bằng phương trình tổng quát như sau:

,   = + ê ,     + ( ) + ( ) + ( ) + ( ) + u

Trong đó:

Π: Tỷ lệ lạm phát

ê: Mức độ sụt giám tỷ giá

OPE: Độ mở của của nền kinh tế

RER: Tỷ giá hối đoái thực

u: phần dư

, , , , : Là các hệ số tương quan

 là thời gian và j là giai đoạn cần nghiên cứu

Trang 36

Có thể tóm tắt các kênh tác động đến lạm phát của mô hình trên bằng hình vẽ dưới đây:

Đầu tiên, tác giả ước lượng giá trị cân bằng của các biến số tỷ giá hối đoái thực (RER)

và GDP vì các biến này chịu tác động lớn từ các biến bên ngoài nên việc ước lượng giá trị cân bằng của chúng nhằm đảm bảo tính chất thống kê và ý nghĩa kinh tế của các biến số trên

Th ứ hai, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính dừng và tính

không dừng của các biến trong mô hình thực nghiệm

Th ứ ba, sử dụng mô hình kinh tế lượng như đã trình bày ở mục 2.1 tác giả ước tính hệ

số truyền dẫn từ việc sụt giảm tỷ giá đến lạm phát trong 3, 6, 9, 12 tháng kể từ khi sụt giảm tỷ giá diễn ra

Lạm phát giai đoạn t

Tỷ giá thực Mức độ sụt

giảm tỷ giá

Tỷ giá

Độ mở cửa của nền kinh tế

ban đầu

Trang 37

2.2 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu trong bài Luận văn này được xây dựng bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý (từ quý I năm 2000 đến Quý IV năm 2011) có tổng cộng 48 quan sát hợp lệ được tính toán và thu thập từ các nguồn khác nhau Giai đoạn nghiên cứu có khá nhiều

dữ liệu bởi vì trong thời kỳ này diễn ra nhiều biến động mạnh giữa tỷ giá đồng đô la

Mỹ và đồng Việt Nam Cũng có những giai đoạn bình lặng và xen kẽ vào đó là những giai đoạn khủng hoảng tỷ giá nghiêm trọng

Prescott filter) tác giả ước lượng giá trị cân bằng của GDP thực (HpGDPR)2 Sau đó chênh lệch sản lượng (GDP gap) được xác định theo công thức:

  =  +  

Dữ liệu được tính từ cơ sở dữ liệu Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF và Tổng cục thống kê (GSO)

lượng đơn vị tiền tệ trong nước trên một đơn vị tiền tệ nước ngoài, nói cách khác E là giá đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ Tỷ giá hối đoái thực (e – Real Exhange Rate) là

tỷ lệ giữa mức giá trong nước so với mức giá ngoài nước trong cùng một loại tiền Dữ liệu được xây dựng từ Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF và Tổng cục thống kê (GSO) Cụ thể tỷ giá hối đoái thực (e) được xác định như sau:

! = ∗  Trong đó: P là giá hàng hóa tính bằng đồng nội tệ, P* là giá hàng hóa tính bằng đồng ngoại tệ

2 Xem thêm ở Chương 4 “Ước lượng giá trị cân bằng”

Trang 38

Độ chênh lệch tỷ giá hối đoái thực: bằng cách sử dụng bộ lọc Hodrick – Prescott (Hodrick Prescott filter)3 tác giả ước lượng giá trị cân bằng của tỷ giá hối đoái thực (HpRER) Sau đó độ chênh lêch tỷ giá hối đoái thực được xác định theo công thức:

 #$%&$'()!( =  +  

Dữ liệu được xây dựng từ Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF và Tổng cục thống kê (GSO)

dùng (CPI-Customer Price Index) được điều chỉnh theo mùa từ cơ sở dữ liệu Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF và Tổng cục thống kê (GSO) Lạm phát tích lũy là chênh lệch giữa chỉ số CPI tại thời điểm t+12 và thời điểm t

tiền Việt Nam, một trong những điều cần cân nhắc là tiền đồng Việt Nam (VNĐ) thật

sự neo danh nghĩa với đồng tiền của quốc gia lớn nào Để xem xét Việt Nam đang neo

tỷ giá danh nghĩa với quốc gia nào chúng tôi xét theo hai tiêu chí sau đây: thứ nhất là tính ổn định của tỷ giá danh nghĩa theo thời gian (thể hiện ở việc neo tỷ giá) và thứ hai

là tầm quan trọng của nền kinh tế đó đối với Việt Nam thông qua trọng số thương mại Trọng số thương mại của quốc gia i được xác định bằng công thức sau:

Trang 39

Nam và mỹ cao thứ nhì4 Nói tóm lại, trong trường hợp cần xác định Việt Nam neo tỷ giá danh nghĩa vào nước nào thì có thể thấy rằng Việt Nam neo tỷ giá danh nghĩa vào USD là một giả định hợp lý nhất

lực (là tỷ giá hối đoái danh nghĩa của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, cụ thể ở đây là đồng Việt Nam so với đồng USD) Dữ liệu được tính theo quý từ cơ sở dữ liệu Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF

Độ mở cửa kinh tế (openness:) được tính bằng phần trăm của tổng kim ngạch xuất

nhập khẩu trên GDP Dữ liệu được tính từ cơ sở dữ liệu Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF và Tổng cục thống kê (GSO)

 = , + #

Bảng 2.1 bên dưới sẽ mô tả cụ thể các biến đã trình bày ở trên

Bảng 2.1: Các biến cơ sở và ký hiệu sử dụng

Độ mở cửa của nền kinh tế OPEN (X + N)/GDPN Chỉ số

4 Chỉ sau Trung Quốc

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong Luận văn này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương

pháp định lượng để xác định “ Cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng đến lạm

phát Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011”

Phương pháp nghiên cứu định tính: Bằng phương pháp thống kê mô tả, bảng biểu

và hình Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính, nhận định vấn đề theo lối diễn dịch, quy nạp nhằm xác định các nhân tố như: Sự sụt giảm tỷ giá (Depreciation), tỷ giá thực (Real exchange rate - RER), độ chênh lêch tỷ giá thực ( RER Misalighment), độ mở cửa nền kinh tế (Oppenness), chênh lệch sản lượng (Output gap), phương pháp tính, kỳ vọng lạm phát tác động tới lạm phát Việt Nam như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng: tác giả sử dụng mô hình ước tính hệ số truyền

dẫn từ sự sụt giảm tỷ giá sang lạm phát ở Việt Nam theo mô hình tương tự như mô

hình Ilan Goldfajn và Sergio R.C Werlang (1998) đã sử dụng nhằm xác định các hệ số

truyền dẫn trong mô hình nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu: trong bài Luận văn này dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các

nguồn khác nhau như: Hệ thống thông tin cảnh báo (Information Notice System – INS) của IMF, Tổng cục thống kê (GSO), Ngân hàng thế giới (World Bank), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

...

số truyền dẫn từ việc sụt giảm tỷ giá đến lạm phát 3, 6, 9, 12 tháng kể từ sụt giảm tỷ giá diễn

Lạm phát giai đoạn t

Tỷ giá thực Mức độ sụt

giảm tỷ giá

Tỷ giá

Độ... định tính phương

pháp định lượng để xác định “ Cơ chế truyền dẫn từ việc phá giá tiền đồng đến lạm

phát Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011”

Phương... định Việt Nam neo tỷ giá danh nghĩa vào nước thấy Việt Nam neo tỷ giá danh nghĩa vào USD giả định hợp lý

lực (là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, cụ thể đồng Việt

Ngày đăng: 09/08/2015, 20:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 1.1 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát (Trang 18)
Hình 2.1: Các kênh tác động đến lạm phát - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 2.1 Các kênh tác động đến lạm phát (Trang 36)
Bảng 2.1: Các biến cơ sở và ký hiệu sử dụng - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Bảng 2.1 Các biến cơ sở và ký hiệu sử dụng (Trang 39)
Hình 3.1: Lạm phát Việt Nam tính theo CPI và GDP deflator 2000 - 2010 (%) - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.1 Lạm phát Việt Nam tính theo CPI và GDP deflator 2000 - 2010 (%) (Trang 41)
Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 (%) - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.2 Tỷ lệ lạm phát hàng tháng ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 (%) (Trang 43)
Hình 3.3: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát ở Việt Nam (bên phải), - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.3 Tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát ở Việt Nam (bên phải), (Trang 44)
Hình 3.4: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ, 2008-2011 - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.4 Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ, 2008-2011 (Trang 45)
Hình 3.5 Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày, - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.5 Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày, (Trang 47)
Hình 3.6: Mối quan hệ tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát ở Việt - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.6 Mối quan hệ tỷ giá danh nghĩa VND/USD (bên trái) và lạm phát ở Việt (Trang 48)
Hình 3.7: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD (%) theo quý 2000-2011 - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.7 Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD (%) theo quý 2000-2011 (Trang 49)
Hình 3.8: Độ chênh lệch tỷ giá hối đoái thực Việt Nam, 2000 - 2011 - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.8 Độ chênh lệch tỷ giá hối đoái thực Việt Nam, 2000 - 2011 (Trang 50)
Hình 3.11 cho thấy  độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam và lạm phát có mối quan hệ - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.11 cho thấy độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam và lạm phát có mối quan hệ (Trang 52)
Hình 3.13: Mối quan hệ độ giữa GDP thực ( %, bên trái) và lạm phát ở - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 3.13 Mối quan hệ độ giữa GDP thực ( %, bên trái) và lạm phát ở (Trang 54)
Hình 4.1: Giá trị cân bằng của RER và GDP 2001Q1 – 2011Q4 - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 4.1 Giá trị cân bằng của RER và GDP 2001Q1 – 2011Q4 (Trang 61)
Hình 4.3: IFL và ERD  dạng mức và I(1), I(2) - CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỪ VIỆC GIÁ TIỀN ĐỒNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM.PDF
Hình 4.3 IFL và ERD dạng mức và I(1), I(2) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w