1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam

86 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁ VÀNG VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾNGIÁ VÀNG TẠI VIỆT NAM TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các nhân tố tác động đến giá vàngViệt Nam, cụ thể tìm hiểu các nhân t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



LÊ PHẠM HẠNH NGUYÊN

GIÁ VÀNG VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ VÀNG

TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



LÊ PHẠM HẠNH NGUYÊN

GIÁ VÀNG VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ VÀNG

TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và quá trình phấn đấu học hỏi của bản thân trong các năm qua.

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Khóa 19, chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng; Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho các học viên, trong đó có tôi; gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ,

cổ vũ động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành luận văn này.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn

Thị Liên Hoa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn chỉnh luận

văn.

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp bổ sung của quý Thầy Cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012

Tác giả luận văn

Lê Phạm Hạnh Nguyên

Trang 4

EU: Liên Minh Châu Âu

EUR: đồng Euro

FED: Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ

IMF: Quỹ Tiền tệ Quốc tế

MLR: Hồi quy tuyến tính bội

Trang 5

Bàng 2.1: Correlation matrix

Bảng 2.2: Correlation coefficient for lagged variables

Bảng 4.1: Thống kê tình hình xuất nhập khẩu vàng

Trang 6

Đồ thị

Đồ thị 2.1: Đồ thị phân tán giữa giá vàng và cung tiền (M1) (Scatter plot of GP vs M1)

Đồ thị 2.2: Đồ thị của giá vàng và dự báo giá vàng

Đồ thị 4.1: Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2007

Đồ thị 4.2: Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2008

Đồ thị 4.3: Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2009

Đồ thị 4.4: Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2010

Đồ thị 4.5: Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2011

Đồ thị 4.6: Giá vàng thế giới qua từng giai đoạn

Đồ thị 4.12: Toàn cảnh giá vàng Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2011

Đồ thị 4.13: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới

Đồ thị 4.14: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và tỷ giá

Đồ thị 4.15: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và lạm phát

Đồ thị 4.16: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và chỉ số VN-Index

Đồ thị 4.17: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và giá dầu

Đồ thị 4.18: Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và cung tiền

Đồ thị 4.19: Đồ thị phân tán giữa các phần dư

Trang 7

TÓM TẮT 1

1 GIỚI THIỆU 2

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 Z Ismail, A Yahya và A Shabri – Khoa Toán, Đại học Công nghệ Malaysia (2009) 5

2.2 Eric J Levin và Robert E Wright, (2006) 9

2.3 Dipak Gosh và Eric J Levin và Peter Macmillan, Robert E Wright (2000) 10

2.4 Các nhà kinh tế thuộc tổ chức Oxford Economics 11

2.5 Một số các nghiên cứu của nhà kinh tế học khác 13

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

4 NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

4.1 Phân tích các yếu tố tác động đến giá vàng thế giới từ năm 2007 đến năm 2011 21

4.1.1 Biến động giá vàng thế giới giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011 21

4.1.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng giá vàng thế giới từ năm 2007 đến năm 2011 26

4.1.2.1 Tình hình kinh tế thế giới 26

4.1.2.2 Tình hình cung cầu vàng 29

4.1.2.3 Sự biến động thuộc các thị trường khác 33

4.2 Phân tích các yếu tố tác động đến giá vàng trong nước từ năm 2007 đến năm 2011 37

4.2.1 Biến động giá vàng trong nước giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011 37

4.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng trong nước từ năm 2007 đến năm 2011 44

4.2.2.1 Tình hình kinh tế trong nước 44

4.2.2.2 Tình hình cung cầu vàng trong nước 46

4.2.2.3 Tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ và Việt Nam đồng 48

4.2.2.4 Sự biến động của các thị trường khác 50

4.3 Kiểm định sự tương quan của các nhân tố đến giá vàng 53

5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 74

Trang 8

GIÁ VÀNG VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

GIÁ VÀNG TẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các nhân tố tác động đến giá vàngViệt Nam, cụ thể tìm hiểu các nhân tố nào tác động đến sự thay đổi của giá vàng trong nước

và tồn tại hay không sự tương quan giữa các nhân tố đó với giá vàng trong nước Các nhân

tố tác động đến giá vàng trong nước được khảo sát trong luận văn bao gồm giá vàng thế giới,giá dầu thô, tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng, chỉ số chứng khoán Vn-Index, chỉ

số lạm phát và cung tiền Phương pháp nghiên cứu được sử dụng nhằm khảo sát dữ liệu làphương pháp hồi quy tuyến tính bội (Multiple Linear Regression Meth od), đây là phươngpháp nhằm kiểm định mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc (giá vàng) với nhiều biến độclập (các nhân tố tác động đến giá vàng) đã được các nhà kinh tế học thuộc Đại học Malaysiachứng minh có thể ứng dụng vào thực tế để dự đoán sự thay đổi của giá vàng dựa vào sựthay đổi của các biến giải thích Kết quả nghiên cứu đã xây dựng mô hình hồi quy của giávàng trong nước và cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa các nhân tố đến giá vàng Cụ thể sựthay đổi của giá vàng thế giới, tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng và chỉ số lạmphát có ảnh hưởng cùng chiều l ên sự thay đổi của giá vàng trong nước và sự thay đổi củacung tiền có ảnh hưởng ngư ợc chiều lên sự thay đổi của giá vàng trong nước

Trang 9

sử dụng tiêu dùng đồng thời cũng là đối tượng để đầu tư Chính vì thế biến động giá vàn gtrong nhiều trường hợp rất khó lường.

Trong thời gian vừa qua (từ năm 2007 đến năm 2011) giá vàng ở thị trường thế giớicũng như Việt Nam biến động bất thường làm ngạc nhiên những chuyên gia kinh nghiệmnhất Điều này thu hút nhiều người quan tâm đến giá vàng hơn Ở đó trước hết là cơ hội kinhdoanh vàng và đồng thời là khả năng biến động của các thị trường khác đi kèm, ví như thịtrường bất động sản, thị trường ngoại hối…Nguyên nhân rõ rệt nhất gây nên những bấtthường này chính là khủng hoảng kinh tế th ế giới nói chung và khủng hoảng kinh tế trongnước nói riêng Khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, rồinhanh chóng lan rộng sang Châu Âu và toàn thế giới Khủng hoảng kinh tế làm cho tìnhhình kinh tế khó khăn, hàng loạt các ngân hàng, doanh nghiệp…lâm vào cảnh phá sản B ất

ổn về chính trị xã hội khiến giá dầu tăng cao, nợ công bùng phát ở các nước Châu Âu, trong

đó vấn đề nợ công của Hy Lạp được quan tâm nhất Thị trường chứng khoán liên tục laodốc, thị trường bất động sản đóng băng khiến nhà đầu tư lầ n lượt tháo chạy Lạm phát xuấthiện ở khắp nơi, từ Mỹ sang Châu Âu, Châu Á và ngay tại Việt Nam, lạm phát cũng trởthành một vấn đề nhức nhối khi giá cả hàng hóa dịch vụ liên tục tăng cao , sức mua liên tụcsụt giảm Nguồn cung vàng ngày càng giảm, khi trữ lượng vàng khai thác bắt đầu cạn, trongkhi nhu cầu về vàng lại tăng cao, từ nhu cầu mua để tích trữ, đầu tư đến dùng vàng để làmtrang sức, dùng trong ngành công nghiệp, y tế…Các vấn đề trên kết hợp đ ồng thời với sự

Trang 10

suy giảm kinh tế của Mỹ và Châu Âu làm cho đồng Đô la Mỹ, đồng Euro bị mất giá đã đưavàng trở thành “hầm trú an toàn”, thu hút giới đ ầu tư trên toàn thế giới.

Chính những biến động mạnh về mặt kinh tế nêu trên đã gây áp lực lớn đến giá vàng,góp phần đẩy giá vàn g thế giới và trong nước ngày một tăng cao Ngoài ra, việc giá vàngtrong nước liên tục tăng cao trong giai đoạn này đã gây ra cảnh náo loạn khi mọi người tranhnhau mua bán vàng Điều lạ kỳ là hầu hết mọi người tranh nhau mua lúc giá vàng lên cao vàtranh nhau bán lúc giá vàng xuống thấp, cho thấy có hiện hữu tâm lý bất ổn của nhà đầu tưtrong nước Để hạn chế tình trạng đầu tư vào vàng theo tâm lý, các chính sách điều tiết thịtrường vàng trong nước gần như ngay lập tức được ban hành, tuy chưa thiết lập được trật tựtrên thị trường vàng một cách nhanh chóng, nhưng đã từng bước mang lại những kết quả khảquan, qua đó chứng tỏ sự điều hành linh hoạt, hiệu quả của Chính phủ trước các vấn đề bất

ổn của nền kinh tế

Nếu nhà đầu tư nắm bắt được chiều dao động củ a giá vàng tức là nắm bắt được khảnăng đầu tư kiếm lợi hay ít nhất có thể hạn chế một phần rủi ro do thị trường mang lại Tuynhiên, rõ ràng điều này không dễ Tất cả còn tùy thuộc vào khả năng phân tíc h và dự báo củatừng nhà đầu tư dựa trên những nhân tố chính tác động lên giá vàng trong nước Chính việcquan tâm đến sự thay đổi của giá vàng, muốn tìm hiểu các yếu tố nào ảnh hưởng đến giávàng và có tồn tại hay không mối quan hệ giữa các yếu tố này tác động đến giá vàng, tôi đã

thực hiện luận văn với tên “GIÁ VÀNG VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

GIÁ VÀNG TẠI VIỆT NAM” Luận văn nhằm phân tích những lý do, những yếu tố khác

nhau tạo ra sự thay đổi của giá vàng trong nước, đồng thời cho thấy mối quan hệ giữa giá

vàng trong nước với những biến ảnh hưởng độc lập như giá vàng thế giới, giá dầu thô, tỷ

giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng, chỉ số chứng khoán Vn-Index, chỉ số lạm phát

và cung tiền.

Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu các nhân tố tác động đến giá vàng trong nước và ảnhhưởng như thế nào Mục đích nghiên cứu là dựa vào việc tìm hiểu các nhân tố tác động đếngiá vàng trong nước để có những nhận định, phân tích đúng về thị trường vàng ngay tại thờiđiểm nghiên cứu

Trang 11

Luận văn sử dụng dữ liệu nghiên cứu là sự biến động của giá vàng trong nước, giávàng thế giới, giá dầu thô, tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng, chỉ số chứng khoánVn-Index, chỉ số lạm phát và cung tiền từ giai đoạn năm 2007 đến năm 2011 có nguồn đượcliệt kê tại phần tài liệu tham khảo Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu biếnđộng giá vàng trong nước, xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến giávàng trong nước.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn nhằm tìm ra mối quan hệ giữagiá vàng trong nước và các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng trong nước là phương pháp hồiquy tuyến tính bội (Multiple Linear Regression Method - MLR) dựa trên phần mềm thống

kê SPSS Trong mô hình này, giá vàng trong nước được coi là biến phụ thuộc, các nhân tốtác động đến giá vàng trong nước được coi là các biến độc lập, qua khảo sát sẽ xây dựng môhình hồi quy của giá vàng trong nước Đồng thời, trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: có haykhông các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá vàng trong nước? Nếu có thì ảnh hưởngnhư thế nào?

Luận văn này góp phần tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng lên sự thay đổi của giá vàngtrong nước trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011, đồng thời cung cấp một mức độ ảnhhưởng cụ thể của các nhân tố lên giá vàng trong nước Từ đó, luận văn đưa ra một số đề xuấtnhằm kiểm soát được sự thay đổi của g iá vàng trong nước

Trang 12

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Trên thế giới có khá nhiều bài nghiên cứu về vàng được thực hiện bởi các nhà kinh tếhọc dựa trên nhiều mô hình kiểm định khác nhau Kết quả thu được từ các bài nghiên cứucho thấy có sự tương quan giữa giá vàng với các yếu tố như lãi suất, lạm phát, cung tiền,đồng Đô la Mỹ, chỉ số chứng khoán, chỉ số S&P 500…Dưới đây, tôi sẽ trích lược và giớithiệu một số bài nghiên cứu tiêu biểu của các nhà kinh tế học uy tín trên thế giới

2.1 Z Ismail, A Yahya và A Shabri – Khoa Toán, Đại học Công nghệ Malaysia (2009)

Các nhà kinh tế học này thuộc Khoa Toán - Trường Đại học Công Nghệ Malaysia đã

thực hiện bài nghiên cứu với tựa đề “Dự đoán giá vàng bằng phương pháp hồi quy tuyến

tính bội (Forecasting Gold Prices Using Multiple Linear Regression Method)”, bài được

đăng trên Tạp chí Khoa học Ứng dụng Mỹ số 6 (Tháng 01/2009 - tạp chí uy tín của Mỹchuyên xuất bản các nghiên cứu mới, đã được kiểm định có giá trị ứng dụng cao), đề xuất dựđoán giá vàng dựa vào các yếu tố kinh tế như lạm phát, sự thay đổi của giá cả và các nhân tốkhác trên mô hình hồi quy tuyến tính bội (MLR) Giá vàng là biến phụ thuộc trong mô hình.Các biến độc lập sẽ đưa vào mô hình gồm có tỷ giá giữa đồng Đô là và đồng Euro, chỉ sốtheo dõi sự biến động của các hàng hóa (CRB), chỉ số lạm phát, cung tiền, chỉ số chứngkhoán New York (NYSE), chỉ số S&P 500, trái phiếu, chỉ số niêm yết đồng Đô la Mỹ (USDollar Index)

Mô hình hồi quy tuyến tính bội được sử dụng có dạng như sau:

X1: chỉ số biến động của các hàng hóa (CRB)

X3: lạm phát (INF)

X4: cung tiền (M1)

X6: chỉ số S&P 500 (SPX)

Trang 13

X7: Trái phiếu (T-BILL)

X8: chỉ số Đô la Mỹ (USDX)

Đồ thị phân tán giữa giá vàng và các biến độc lập cho thấy có mối quan hệ tuyến tínhthuận giữa biến phụ thuộc giá vàng và các biến độc lập khác, ngoại trừ đồ thị phân tán giữagiá vàng và cung tiền, đồ thị cho thấy sự phân tán là ngẫu nhiên

Đồ thị 2.1 Đồ thị phân tán giữa giá vàng và cung tiền (M1)

(Scatter plot of GP vs M1)

Ma trận hệ số tương quan cho thấy mối quan hệ qua lại giữa các biến độc lập và cótồn tại hiện tượng đa cộng tuyến Trong đó biến độc lập CRB và EUROUSD có độ trễ kỳ 1cao nhất với giá vàng, biến lạm phát có độ trễ kỳ 6 cao nhất là -0,566

Trang 14

Bảng 2.2 Correlation coefficient for lagged variables

Variable Correlation coefficient

Sau khi thực hiện kiểm định bằng phần mềm “Statistical Packages for Social Sciencepackage (SPSS)” các tác giả thu được mô hình hồi quy tuyến tính bội của giá vàng và cácnhân tố kinh tế như sau:

Mô hình 2:

Mô hình này được các tác giả dự đoán giá vàng khá chính xác và 84,5% sự thay đổigiá vàng trong từng tháng được giải thích bởi các biến trong mô hình Tuy nhiên, giá trị d =1,196 thấp hơn dL= 1,28 (α = 0,01) Thống kê này chỉ ra có sự tự tương quan giữa các biếntrong mô hình Để khắc phục hiện tượng này các tác giả đã xây dựng mô hình 3

Mô hình 3:

Mô hình 3 được xây dựng dựa trên biến đổi: (ρ = 0,4166)

Yt’ = Yt– 0,4166Yt-1

Trang 15

Xit’ = Xit– 0,4166Xi.(t-1)

Lúc này d = 1,769, dU= 1,56

Mô hình dự báo khá chính xác 70,8% sự thay đổi trong giá vàng có thể giải thíchđược bởi 4 yếu tố X1, X2, X3và X4 Tuy nhiên, biến X3không có ý nghĩa trong mô hình ( lớnhơn 0 nhiều) nên loại ra khỏi mô hình, thực hiện kiểm định lại cho mô hình 4 như sau

Mô hình 4:

Kiểm định mô hình cho R2 = 0,656 chứng tỏ 65,6% sự thay đổi trong giá vàng đượcgiải thích bởi ba biến X1, X2và X4

Đồ thị 2.2 Đồ thị của giá vàng và dự báo giá vàng

Dựa trên nghiên cứu của mình các tác giả thuộc Khoa Toán - Trường Đại học Côngnghệ Malaysia đã đưa ra kết luận có thể dùng mô hình hồi quy tuyến tính bội để kiểm định

sự tương quan và dự báo giá vàng dựa trên các nhân tố kinh tế một cá ch hiệu quả trong thực

tế Bằng nghiên cứu này các tác giả đã dự đoán sự thay đổi của giá vàng trong thực tế (xem

đồ thị 2.2) có độ chính xác khá cao, từ đó cho thấy nghiên cứu mang tính ứng dụng trongthực tiễn cao, có thể sử dụng để dự đoán chiều hướng thay đổi của giá vàng thế giới dựa trên

sự thay đổi của các nhân tố trong mô hình hồi quy tuyến tính bội

Trang 16

2.2 Eric J Levin và Robert E Wright, (2006)

Tiến sĩ Eric Levin sinh năm 1944 tại Scotland, ông đã theo đuổi sự nghiệp kinh

doanh sau một thời gian học tập và làm việc tại Đại học Glasgow Đến khi bài nghiên cứunày được công bố (06/2006) thì ông đang là Phó Giáo sư Khoa Kinh tế thuộc Trường Đạihọc Stirling Lĩnh vực nghiên cứu ưu thích của ông là về tài chính, kinh tế công và vấn đềnhà ở

Tiến sĩ Robert E Wright (sinh năm 1958 tại Canada) gia nhập Đại học Strathclyde

vào tháng 9 năm 2005 với vai trò Giáo sư kinh tế, sau khi làm Trưởng Khoa Kinh tế và phóKhoa Quản Trị tại Đại học Stirling Lĩnh vực nghiên cứu yêu thích của ông là về dân số,kinh tế công, sự bất công và nghèo đói, tài chính, môi trường kinh doanh, kinh tế ứng dụng

và thống kê

Mục tiêu nghiên cứu của nhà kinh tế Eric J Levin và Robert E Wright, (2006) là

“Xác định những nhân tố quyết định đến giá vàng trong ngắn hạn và dài hạn run and Long-run: Determinants of the price of gold)”.

(Short-Để phục vụ cho công việc nghiên cứu của mình, hai ông đã xây dựng mô hình lýthuyết dựa trên nguyên lý cơ bản của kinh tế là cung và cầu, phù hợp để nghiên cứu tìnhhình lúc bấy giờ là vàng đang được coi là phương tiện phòng ngừa lạm phát trong dài hạn,đồng thời nghiên cứu dao động bất thường rõ rệt của giá vàng trong ngắn hạn Trong mô

hình này, tổng nguồn cung vàng có ảnh hưởng đến giá vàng, lãi suất cho vay vàng, lợi nhuận

từ chênh lệch giá và phần bù rủi ro vỡ nợ Nhu cầu về vàng trong ngắn hạn được đưa vào môhình là giá vàng, tỷ giá giữa đồng đô la và các ngoại tệ khác trên thế giới, lãi suất cho vayvàng, lạm phát của Mỹ, độ bất ổn định của lạm phát Mỹ, rủi ro tín dụng

Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm tìm ra nhân tố chính ảnh hưởng đến giá

vàng là kỹ thuật phân tích hồi quy đồng liên kết , phân tích dữ liệu từ tháng 01/1976 đến năm

tháng 8/2005 Phương pháp này thường dùng để đánh giá và xác định các nhân tố có tươngquan với sự chuyển động của giá vàng cả trong ngắn hạn và dài hạn

Họ đã đưa ra các phát hiện chính đối với việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đếngiá vàng trong dài hạn Trước tiên, trong dài hạn có mối quan hệ giữa giá vàng và đồng đô la

Trang 17

Mỹ Thứ hai, mức giá chung của Mỹ tăng một phần trăm dẫn theo giá vàng cũng tăng mộtphần trăm được chứng minh dựa trên một kết quả thống kê có ý nghĩa mối quan hệ này trongdài hạn (dữ liệu từ 01/1976 – 08/2005) Bằng chứng này chứng minh việc tin rằng giá vàng

là sự đảm bảo trong dài hạn nhằm chống lại lạm phát

Có một mối quan hệ rất rõ ràng giữa sự chuyển động giá vàng với sự thay đổi của tỷ

lệ lạm phát, tỷ giá USD, lãi suất c ho vay vàng, phần bù rủi ro tín dụng và rủi ro chính trị.Các kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy rằng giá vàng và mức giá chung ở Mỹ có mốiliên quan với nhau (nghĩa là lạm phát Mỹ và giá vàng trong dài hạn có liên quan với nhau)

Những nhân tố quyết định trong ngắn hạn là cung cầu, lãi suất cho vay vàng (tỷ lệnghịch) Trong khi các nhân tố quyết định trong dài hạn là tỷ lệ lạm phát hoặc độ bất ổntrong lạm phát, rủi ro tín dụng và tỷ g iá USD (tỷ lệ thuận)

2.3 Dipak Gosh và Eric J Levin và Peter Macmillan, Robert E Wright (2000)

Từ mối quan hệ nguồn cung và cầu vàng t rong bài nghiên cứu “Vàng có phải là

công cụ phòng ngừa lạm phát? (Gold as an Inflation Hedge?)” các nhà kinh tế học trên

đã xây dựng nên mô hình về giá vàng và các chuyển động của giá vàng trong ngắn hạn vàdài hạn Bài nghiên cứu giải thích sự mâu thuẫn giữa các chuyển động trong ngắn hạn và c ácchuyển động trong dài hạn của giá vàng Vàng có thể là công cụ phòng ngừa lạm phát trongdài hạn nhưng nó còn có thể diễn tả những đặc điểm quan trọng của sự biến động trong ngắnhạn Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu là giá vàng hàng tháng từ năm 1976 đến năm 1999 và

sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy đồng liên kết để phân tích dữ liệu

Mô hình lý thuyết được xây dựng dựa trên việc thỏa mãn các giả thuyết sau: giá vàngtăng trong suốt thời gian có lạm phát và sau đó vàng trở thành công cụ phòng ngừa lạm ph áthiệu quả trong dài hạn Mô hình có cấu trúc cơ bản như sau:

Trong đó: Pglà giá vàng tính bằng đồng đô la

Pusalà giá niêm yết của đồng đô la

Pwlà chỉ số giá cả thế giới

Trang 18

Rg là lãi suất cho vay bằng vàng

Y là thu nhập của thế giới

βglà chỉ số bêta của vàng

er là tỷ lệ tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la so với các ngoại tệ khác trên thế giới

θ là những biến cố ngẫu nhiên có ảnh hưởng đến giá vàng

Mô hình lý thuyết trên giả thuyết rằng sự thay đổi trong lãi suất cho vay bằng vàng,nơi kinh doanh chênh lệch giá, chỉ số bêta của vàng và rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến giávàng trong ngắn hạn

Chỉ số bêta của vàng βg đo lường hiệp phương sai giữa việc quay lại nắm giữ vàng vàmột danh mục đầu tư được đa dạng hóa tốt Chỉ số bêta của vàng (βg) trong mỗi tháng t được

ước tính bởi mô hình hồi quy đơn giản sau đây:

(Pg t-n – Pg t-n-1 )/Pg t-n-1 = α _+ βg t [(d t-n + SP t-n – SP t-n-1 )/SP t-n-1 ] + ε t

Trong đó:

Pg: giá vàng SP: chỉ số S&P 500 d: tiền lãi cổ phần n: từ 1 đến 36 tháng

Do đó, βg được ước tính cho từng tháng bằng cách hồi quy giá thống kê giá vàng vàchỉ số S&P 500 từng tháng trong vòng 36 tháng trước đó

Kết quả từ bài nghiên cứu cho thấy, mô hình chứng minh rằng những thay đổi trongngắn hạn bởi các nhân tố như lãi suất cho vay vàng, lãi suất thực, lợi nhuận từ chênh lệch

giá, rủi ro vỡ nợ, hiệp phương sai của lợi nhuận từ vàng so với các tài sản khác và tỷ giá giữa

đồng đô la và các ngoại tệ khác trên thế giới có khả năng gây chấn động nghiêm trọng đến

sự cân bằng và gây ra các bất ổn định lớn trong ngắn hạn

2.4 Các nhà kinh tế thuộc tổ chức Oxford Economics

Tổ chức Oxford Economics được thành lập năm 1981 nhằm đưa ra những lời khuyên

về kinh tế, những dự báo và các công cụ phân tích cho các tổ chức quốc tế, chính phủ và các

Trang 19

công ty lớn Từ đó đến nay, Oxford Economics đã trở thành một trong những tổ chức độclập hàng đầu thế giới về dự đoán các tình hình các công ty, kế hoạch sản xuất, phân tích dữliệu của 190 quốc gia, 85 khu công nghiệp và hơn 2.500 tiểu bang và thành phố.

Tháng 07/2011, Tổ chức Oxford Economics đã thực hiện bài nghiên cứu “Tác động

của lạm phát và giảm phát đến vàng (The impact of inflation and deflation on the case for gold)”bởi sự ủy thác của Hội Đồng Vàng Thế Giới (WGC) Tại thời điểm thực hiện bàinghiên cứu này của Tổ chức Oxford Economics, nền kinh tế toàn cầu đang đối mặt với sự lolắng về mức tín nhiệm nợ công, tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ bao gồm việc nớilỏng định lượng chỉ số lạm phát trong trung hạn và những ản h hưởng khả dĩ của tình hìnhbất ổn tại khu vực Trung Đông đến thị trường dầu mỏ toàn cầu Ngoài ra, còn có những vấn

đề trong dài hạn như tương lai của đồng đô la với tư cách là loại tiền tệ dùng để dự trữ và sựthay đổi đang diễn ra trong cán cân sức mạn h kinh tế thế giới và sự trỗi dậy mạnh mẽ củacác nước “đang phát triển” như Trung Quốc và Ấn Độ

Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm khảo sát vàng như một dạng tài sản và có khảnăng có mối quan hệ với các loại tài sản khác trong rất nhiều viễn cảnh khác nha u của nềnkinh tế bằng cách dựa trên các bài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến giá vàng và sosánh với các phân tích định lượng theo mô hình kinh tế vĩ mô toàn cầu Oxford (OxfordGlobal Macroecomomics Model) Các nhà nghiên cứu không chỉ cố gắng thực hiện việckiểm tra sự phục hồi của vàng trong các điều kiện như lạm phát cao, khủng hoảng tài chính

và giảm phát mà còn cố gắng đánh giá, ước lượng vị trí thích hợp của vàng trong danh mụcđầu tư dài hạn dưới những điều kiện khác nhau của nền kinh tế

Dựa trên các bài nghiên cứu truớc đó, đặc biệt là nghiên cứu của Levine & Wright(2006 – xem 2.2), cho thấy vai trò của vàng như một cách để phòng ngừa lạm phát trong dàihạn, để chống lại sự biến đổi của tỷ giá và đa dạng hóa danh mục đầu tư trong ngắn hạn.Theo những kết quả nghiên cứu này, các tác giả của Tổ chức Oxford Economics đã xâydựng một phương trình với nhiều biến giải thích để cố gắng giải thích một cách đầy đủ hơnvai trò của giá vàng Các biến này gồm có mức giá chung, lãi suất thực, đồng đô la, sự căngthẳng tài chính, sự bất ổn về chính trị, hoạt động của các tổ chức kinh tế Phương trình này

Trang 20

được gọi là mô hình điều chỉnh sai số (error – correction model – ECM) bao gồm tại mộtthời điểm trong dài hạn mà tại đó giá vàng dịch chuyển cùng với lạm phát và tại một thờiđiểm trong ngắn hạn có chứa đựng các nhân tố (các biến) trên, các nhân tố có khả năng gây

ra những dao động lớn và liên tục đến giá vàng trong bối cảnh lạm phát Dùng các ước tínhcủa phương trình ECM làm cơ sở để khảo sát thói quen s ử dụng vàng trong nhiều kịch bảnkhác nhau như lạm phát toàn cầu, tăng trưởng kinh tế và các điều kiện tài chính Các kịchbản này được xây dựng bởi mô hình kinh tế vĩ mô toàn cầu Oxford (Oxford GlobalMacroeconomic Model), mô hình chứa đựng cả các giao dịch thương mại giữa các quốc gia

và các tổ chức kinh tế

Kết quả khảo sát cho thấy, vai trò của vàng như một công cụ phòng ngừa rủi ro trongviệc giữ cân bằng cho danh mục đầu tư là rất rõ ràng Hơn nữa, sự phân tích đầy lạc quancủa Tổ chức Oxford Economics cho rằng sự thiếu tương quan của vàng với những tài sảnkhác nghĩa là vàng đóng vai trò giảm đi sự bất ổn của danh mục đầu tư Những kết luận trên

có lẽ phần nào giải thích tại sao vàng được sử dụng như một phương tiện đầu tư khi giá lên(nhu cầu đầu tư vàng trong năm 2010 tăng vọt lên khoảng 40% trong khi nhu cầu này năm

2002 chỉ dưới mức 15%)

2.5 Một số các nghiên cứu của nhà kinh tế học khác

Dr David Davis, (2007)

Tiến hành nghiên cứu để dự đoán giá vàng “The future of gold: Price forecast”.

Ông cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng, gồm môi trường kinh tế Mỹ, cungcầu vàng, tỷ giá hối đoái, đặc biệt nhấn mạnh sự ảnh hưởng của đồng Đô la Mỹ và giá dầuđến giá vàng Giá dầu cao cũng có thể gây ra áp lực lạm phát, dẫn đến áp lực tăng giá v àng

vì vàng được sử dụng để phòng ngừa nguy cơ lạm phát Giá vàng tăng đồng thời với tỷ giágiữa đông đô la Mỹ và đồng Euro (USD/EUR) Đã bắt đầu xuất hiện việc tăng lên về nhucầu đầu tư vàng, tiêu thụ vàng và sự sụt giảm về trữ lượng tại các mỏ vàng Sự mất cân bằngcung – cầu sẽ dẫn đến giá vàng tăng Theo dự báo về giá vàng tương lai trong bài nghiên cứu

Trang 21

này, dưới sự tác động của các nhân tố trên trong dài hạn giá vàng sẽ tiếp tục chiều hướng đilên, ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vàng trên thế giới

Joelle Noreau và Martin Lefebvre (2006)

Nhóm tác giả dự báo về đánh giá của các nhà đầu tư đối với việc đầu tư vàng trongtương lai gần bằng cách đưa ra các biến phụ thuộc về sự gia tăng giá vàng, Đô la Mỹ (USD),lượng tiêu thụ và sản xuất vàng Ngoài ra, giá vàng còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố riêngthuộc về tâm lý những nhà đầu tư Tất nhiên,những nhân tố mới này góp phần giúp giá vàngtăng cao hơn, nhưng mối quan hệ giữa chúng với giá vàng (quan hệ cùng chiều) dường nhưkhông đủ mạnh như các nhân tố k hác và việc đoán trước được ý định của các nhà đầu tư lạikhông dễ dàng Cũng theo nghiên cứu này dự đoán, trong tương lai gần, giá vàng sẽ theo xuhướng gia tăng, và điều này chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nhiều hơn

Greg Tkcaz

Từ Bộ phận nghiên cứu thuộc Ngân hàng của Canada (2007) đã phân tích sử dụng dữ

liệu của 14 quốc gia trong đó vàng có thể là thước đo tiềm năng của lạm phát Ông đã đưa rakết luận về mối tương quan giữa lạm phát – giá vàng ở nhiều quốc gia Ở Canada, nếu giávàng tăng thêm 10% thì tỷ lệ lạm phát tăng thêm 0,25% trong 12 tháng Ở New Zealand, giávàng tăng 19% sẽ làm lạm phát tăng 1,1% trong 24 tháng nếu tỷ giá hối đoái không đổi.Suất sinh lời ở các nước như New Zealand, Austrlia, Thụy Điển cao hơn những nước khác.Những nước như Nhật, Mỹ, tác động của giá vàng đến lạm phát tỏ ra yếu hơn Ở TrungQuốc, nếu giá vàng tăng thêm 10% , lạm phát sẽ tăng thêm 1,2% trong 12 tháng tiếp theo

Jonathan Phair,(2004)

Tác giả đã nghiên cứu về vai trò của kim loại quý đối với đầu tư ngày nay Bài nghiêncứu đã chỉ ra rằng vai trò của vàng đã thay đổi đáng kể trong 1 vài thập niên vừa qua Trongnhững năm 1970, lạm phát tăng cao; vàng, bạc sinh lời lớn Vào thời điểm đó, chúng là mộttrong những loại hình đầu tư có thể được sử dụng để phòng ngừa áp lực lạm phát lớn chưatừng có, và giá vàng tăng tương ứng với tỷ lệ lạm phát Ngược lại, trong 20 năm qua, lãi suấtlại thấp, thị trường chứng khoán tăng đều và giá kim loại quý ì ạch Đã có một chút lo lắng

về siêu lạm phát, và các đ ịnh chế tài chính quan ngại về áp lực lạm phát nhỏ đã phòng ngừa

Trang 22

rủi ro bằng cách sử dụng các hợp đồng hoán đổi, tỷ giá thả nổi và kỳ hạn Ông nhận thấyvàng và bạc đem lại nhiều tiềm năng cho các nhà đầu tư T uy nhiên, một câu hỏi cũng đượcđặt ra về tính ổn định của các kim loại này đối với danh mục đầu tư hiện đại Cần phải thựchiện những nghiên cứu mới nếu các nhà đầu tư cần thêm thông tin về tiềm năng của các thịtrường kim loại.

Stephen Harmstone, (1998)

Ông muốn xác định về vai trò của vàng khi vàng được xem như là nơi cất giữ giá trịlâu dài Tuy nhiên, trong suốt các thời kỳ có sự thống trị của các sức mạnh nước ngoài hoặcthời kỳ sụp đổ của hệ thống tiền tệ, tính thanh khoản, khả năng chấp nhận và khả năng linhđộng của vàng có vai trò đặc biệt q uan trọng và có lẽ sẽ phù hợp hơn so với tỷ lệ chuyển đổicủa vàng với tiền giấy Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và lạm phát cao, vàng là công cụlưu trữ của cải tốt hơn bất kỳ loại tài sản nào khác Trong thời kỳ đầu cơ cổ phiếu giá lên kéodài với lạm phát thấp và thị trường ngoại hối tương đối ổn định, các nhà đầu cơ kỳ vọng tỷsuất sinh lời cao trên khoản đầu tư Đôi khi cũng cần phải có một khoảng thời gian giá cổphiếu rớt và thị trường khủng hoảng để tập trung xem xét thực t ế là việc dành một phầntrong danh mục đầu tư vào các tài sản giữ được giá trị của nó, ít nhất là như thế là một việchết sức quan trọng

Collin Lawrence, (2003)

Tác giải tiến hành nghiên cứu tại sao vàng lại khác với các tài sản khác Ông đã kiểmtra lập luận rằng nguyên nhân căn bản của sự khác biệt là do suất sinh lợi của vàng không cóliên quan đến hoạt động kinh tế trong khi suất sinh lợi của các tài sản khác lại có Một vàimối quan hệ khác cũng được kiểm nghiệm để cho thấy rằng suất sinh lời của vàn g độc lậpvới chu kỳ kinh doanh Sử dụng phân tích tĩnh và phân tích động, nghiên cứu đã kiểmnghiệm mối quan hệ giữa các biến kinh tế với chỉ số tài chính, hàng hóa và vàng Vàng độclập với chu kỳ kinh tế và là một kênh tốt để đa dạng danh mục đầu tư

Paul Mylchreest, (2007)

Mục đích chính của nghiên cứu này là xem xét nhiều khía cạnh của thị trường vàngnhư cung cầu, tính minh bạch và sự can thiệp cũng như những cảnh báo từ thị trường vàng

Trang 23

Dữ liệu được sử dụng là giá vàng và giá dầu mỏ từ 1970 đến 2007 Ông kết luận rằng giávàng bị tác động mạnh (tỷ lệ nghịch) bởi nguồn cung ít hơn do số lượng có hạn Giá vàngcũng bị ảnh hưởng bởi thay đổi trong giá dầu (tỷ lệ thuận).

David Greely và Jeff Currie (25/03/2009)

Mục đích của bài nghiên cứu của David Greely và Jeff Currie (25/03/2009) là

nghiên cứu các khía cạnh của vàng với vai trò là hàng hóa và liệu có mối quan hệ nào giữalãi suất và giá vàng Bài nghiên cứu nói rằng những nhân tố tác động đến giá vàng là tỷ giá,lãi suất và chỉ số giá tiêu dùng Cũng có những nhân tố tác độn g đến việc tăng giá vàng lànguồn cung – cầu, nhu cầu vàng tiền tệ và phi tiền tệ Nhu cầu vàng tiền tệ và phi tiền tệ cótác động đến giá vàng Và cũng có mối liên hệ nghịch giữa lãi suất và việc định giá vàng

Ronald Peter Stoeferley, (05/2008)

Tác giả đã nghiên cứu về những nhân tố quyết định đến giá vàng Ông kiểm định rằnggiá vàng trong tương lai bị ảnh hưởng cùng chiều bởi giá dầu, lạm phát, tỷ giá hối đoái vàngược chiều bởi cung – cầu Hàng hóa sẽ trở nên quan trọng hơn trong danh mục hàng hóa.Giá vàng sẽ được củng cố bởi những nhân tố khác nữa Khủng hoảng tín dụng vẫn chưa kếtthúc, và dữ liệu kinh tế vĩ mô Mỹ mâu thuẫn với nhau Vấn đề của thị trường nhà ở Mỹ ngàycàng trầm trọng Do cuộc khủng hoảng trên, người d ân dường như chú ý hơn đến lợi ích thật

sự của vàng và phi tiền tệ hóa vàng bắt đầu

Dựa theo các nghiên cứu trên của các nhà kinh tế học thuộc các tổ chức kinh tế khác nhau trên thế giới, cho thấy một số nhân tố chính tác động rõ nét đến sự thay đổi của giá vàng như tỷ giá, giá dầu thô, chỉ số chứng khoán, lạm phát tác động cùng chiều với sự thay

Trang 24

đổi của giá vàng; cung vàng, lãi suất thực…tác động ngược chiều lên sự thay đổi của giá vàng Qua đó, khi đặt trong bối cảnh của Việt Nam, tôi lựa chọn các nhân tố tác động đến giá vàng trong nước gồm giá vàng thế giới, giá dầu thô, tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng, chỉ số chứng khoán Vn-Index, chỉ số lạm phát và cung tiền Kiểm định các nhân

tố này để xác định có hay không mối quan hệ cúa các nhân tố đến giá vàng, kết quả kiểm định đưa ra có p hù hợp với các kết quả nghiên cứu trên và dự đoán ban đầu trước khi kiểm định không.

Trang 25

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu về vàng, giá vàng được thực hiện khá nhiều bởi nhiều tác giả vànhiều phương pháp khác nhau Các nghiên cứu này đề xuất những mô hình để đo lường,kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến giá vàng ví dụ như nghiên cứu của Z.Ismail, A Yahya và A Shabri – Khoa Toán, Đại học Công nghệ Malaysia đề xuất mô hìnhhồi quy tuyến tính bội để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng, nghiên cứu củaEric J Levin và Robert E Wright và nghiên cứu của Dipak Gosh, Eric J Levin, PeterMacmillan và Robert E Wright đều đề xuất mô hình phân tích hồi quy đồng liên kết để đánhgiá, xác định các nhân tố có tương quan với sự chuyển động của giá vàng cả trong ng ắn hạn,dài hạn và vàng có trở thành công cụ phòng ngừa lạm phát không, nghiên cứu của các nhàkinh tế thuộc tổ chức Oxford Economics đề xuất mô hình điều chỉnh sai số để giải thích mộtcách đầy đủ hơn vai trò của giá vàng và các mô hình khác

Qua tìm hiểu về các mô hình trên, tôi quyết định lựa chọn mô hình hồi quy tuyến tínhbội (gọi tắt là MLR) được sử dụng trong nghiên cứu của Z Ismail, A Yahya và A Shabri(2009) để áp dụng cho mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa giá vàng và các nhân tố ảnhhưởng đến giá vàng vì các lý do sau đây:

nhằm dựa vào các biến độc lập để dự đoán kết quả của biến phụ thuộc Dựavào các biến độc lập để tìm ra mối quan hệ (về mặt toán học) giữa các biến vớinhau và theo mô hình này mối quan hệ có dạng tuyến tính (đường thẳng)

tế lên sự thay đổi giá vàng và cho thấy mô hình dùng được trong thực tế nhằm

dự báo sự thay đổi của giá vàng

• Dữ liệu sử dụng trong mô hình MLR có thể thu thập được, trong khi dữ liệu sửdụng trong các mô hình khá c khó thu thập trong điều kiện công bố nhữngthông tin, số liệu, chỉ số kinh tế trong nước hiện nay còn rất hạn chế

Trang 26

• Mô hình MLR cho phép việc mở rộng nghiên cứu trong tương lai bằng cáchthêm các biến vào mô hình để kiểm định tính bền vững hay đo lườn g tác độngcủa các nhân tố khác lên giá vàng.

Trong các đặc trưng tổng quát của một mô hình hồi quy tuyến tính bội, việc lựa chọncác biến độc lập và biến phụ thuộc xuất phát từ các lý thuyết, trực giác và kinh nghiệm quákhứ Mô hình hồi quy tuyến tính bội được sử dụng trong nghiên cứu của nhóm tác giả thuộcKhoa Toán - Trường Đại học Công nghệ Malaysia dùng để dự đoán sự thay đổi của giá vàngthế giới và các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Do đó, khi vận dụng vào điều kiện thực tếViệt Nam và ứng dụng phương pháp này tôi sử dụng các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàngtrong nước là các biến độc lập như sau: giá vàng thế giới, giá dầu, chỉ số chứng khoán VN-Index, tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam, lạm phát và cung tiền lên biến phụ thuộc làgiá vàng tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 Những biến khác trong

mô hình của các tác giả Z Ismail, A Yahya và A Shabri không đưa vào mô hình như chỉ sốS&P 500, trái phiếu Mỹ vì phạm vi nghiên cứu của luận văn là giá vàng trong nước, trongkhi các tác giả nghiên cứu về giá vàng thế giới, vốn chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tốkinh tế từ nước Mỹ - quốc gia có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thế giới, nơi bắt nguồn củacuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Cuối cùng, mô hình hồi quy tuyến tính bội của giávàng trong nước có dạng như sau:

GiaVang i = a 1 + a 2* GiaVangTG i + a 3 *TyGia i + a 4 *LamPhat i

+ a 5 *VnIndex i + a 6 *GiaDau i + a 7 *CungTien i + u i

uilà sai số ngẫu nhiên, được giả thiết có E(ui) = 0Nguồn thu thập dữ liệu gồm:

hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (Ngân hàng TMCP Á Châu – ACB) (chọngiá vàng mua vào nhằm hạn chế ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đám đông lên giávàng)

• Về giá vàng thế giới là giá vàng được công bố trên trang web kitco.com

Trang 27

• Về tỷ giá giữa đồng Đô la Mỹ - Việt Nam đồng là tỷ giá bình quân liên ngânhàng do Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) công bố (không sử dụng tỷ giá thịtrường vì giá thị trường tỷ giá của Việt Nam rất khác nhau và không ổn định).

• Về giá dầu thô là giá dầu thô được công bố trên trang w eb của Cơ Quan ThôngTin Năng Lượng Mỹ (U.S Energy Information Administration – EIA)

• Về chỉ số lạm phát là dữ liệu thu thập từ công bố của Tổng cục Thống kê Việtnam

thống kê

Các dữ liệu thu thập được đưa vào phần mềm thống kê SPSS để tiến hành khảo sát,kiểm định và qua đó đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của luận văn: có haykhông các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá vàng trong nước? Nếu có thì ảnh hưởngnhư thế nào?

Trang 28

4 NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4.1 Phân tích các yếu tố tác động đến giá vàng thế giới từ năm 2007 đến năm 2011

4.1.1 Biến động giá vàng thế giới giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011

Năm 2007, thị trường vàng được ví là một cơn sóng ngầm, giá vàng lên xuống thấtthường Vào nửa cuối tháng 02/2007, giá vàng thế giới đột ngột tăng mạnh lên gần 690USD/ounce rồi chuyển hướng nhanh xuống đáy 640 USD/ounce Diễn biến quá nhanh với sựvận động khá mờ nhạt nối tiếp khiến thị trường vàng đầu tư tạm mất sức hấp dẫn vốn có.Cũng trong năm 2007, thị trường quốc tế đã chứng kiến giá vàng lập mức giá kỷ lục mới Với

sự tụt dốc kéo dài của đồng Đô la Mỹ và "sức nóng" từ thị trường dầu mỏ tăng cao vượt mức

90 USD/thùng, giá vàng quốc tế tăng mạnh, có thời điểm lên đến sát mức 840 USD/ounce.Bên cạnh đó, một số Ngân hàng trung ương (NHTW) các nước Nga, Trung Quốc dự kiến thayđổi cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng tăng dần tỷ lệ dự trữ bằng vàng trong cơ cấu dự trữquốc gia cũng là một nguyên nhân quan trọng đẩy giá vàng tăng cao Tính đến thời điểm27/12/2007, giá vàng trên thị trường quốc tế đã tăng 186,1 USD/ounce

Đồ thị 4.1 Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2007

Nguồn: www.kitco.com

Trang 29

Sang năm 2008, vào ngày giao dịch đầu tiên tại thị trường New York, giá vàng giaongay đóng cửa ở mức 857,4 USD/ounce Ở thời điểm đó, đây là những mức giá cao nhất trênthị trường vàng thế giới kể từ năm 1990 Hai nỗi lo trái ngược thống trị trong năm 2008 là lạmphát và giảm phát đã tạo những cơn sóng trồi sụt liên tục cho quý kim Vàng nhập cuộc khátốt và liên tục gia tăng giá trị của nó cùng với sự leo dốc không mệt mỏi của chỉ số lạm pháttrong những tháng đầu năm, tuy nhiên nửa cuối năm còn lại thật sự là quãng thời gian khókhăn cho giá vàng khi nó phải liên tục dò tìm những đáy mới trong bối cảnh nỗi lo suy giảmkinh tế toàn cầu gia tăng Năm 2008 chứng kiến sự lan rộng của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu xuất phát từ sự sụp đổ thị trường địa ốc kéo theo một số lượng con nợ lớn chưa từngthấy của thị trường cho vay dưới chuẩn tại Mỹ Ảnh hưởng của nó đã khiến nhiều nền kinh tếtrên thế giới chao đảo và trong bối cảnh lạm phát tăng cao, các nhà đầu tư ồ ạt chuyển vốnsang thị trường vàng - loại hàng hóa an toàn và hấp dẫn trong thời kỳ lạm phát và xu hướngnày thực sự đã tạo ra một hậu phương hết sức vững chắc giúp quý kim thẳng tiến chinh phụcnhững đỉnh cao mới Vào ngày 17/03/2008, thị trường tiền tệ thế giới ghi nhận mức giá kỷ lụctrong lịch sử của giá vàng – mức 1.033,90 USD/ounce Chỉ tính trong quý I/2008, vàng đã giatăng được 14% giá trị của nó Tiếp tục đà tăng, giá vàng lên đỉnh cao vào ngày 10/10/2008 ởmức 950 USD/ounce khi vụ sụp đổ Lehman Brother và các tổ chức tài chính khổng lồ khácbùng lên, đưa vàng trở thành “hầm tránh bão” an toàn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

Đồ thị 4.2 Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2008

Nguồn: www.kitco.com

Trang 30

Bước sang năm 2009, thị trường chứng kiến sự xuất hiện liên tiếp những mốc giávàng chưa từng có Tăng khá đều đặn trong các quý I, II và III rồi bứt phá mạnh trong quý

IV là xu hướng chính của giá vàng thế giới năm 2009 Khởi động năm 2009 với mức giákhoảng 880 USD/ounce, giá vàng giao ngay thị trường thế giới đến ngày 23/12/2009 đóngcửa ở mức gần 1.090 USD/ounce, tăng xấp xỉ 24% Mức đỉnh cao lịch sử của giá vàng giaongay đóng cửa tại thị trường New York ở mức 1.215,8 USD/ounce thiết lập vào ngày02/12/2009 Mức giá này đã bỏ xa kỷ lục đóng cửa 1.002,8 USD/ounce của năm 2008

Đồ thị 4.3 Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2009

Nguồn: www.kitco.com

Đầu tháng 10/2009, thế giới xôn xao trước tin đồn một số nước vùng Vịnh đang âmthầm bàn thảo một kế hoạch nhằm loại đồng USD ra khỏi giao dịch dầu lửa Thông tin nàysau đó đã bị các nước liên quan phủ nhận, nhưng cũng đủ đẩy tỷ giá USD thế giới sụt sâu,giúp giá vàng có những bước tăng tốc mạnh Sau đó, đến cuối tháng 11, thị trường một lầnnữa bất ngờ trước việc tập đoàn Dubai World của Dubai có nguy cơ vỡ nợ góp phần làm giávàng quay đầu đi xuống

Năm 2010 quả thực là một năm hoàng kim của “vàng” – kim loại này đã duy trì đượcmột thập niên liên tục tăng giá Trong số những nguyên nhân thổi giá vàng phải kể đến việc

Mỹ duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ l ục để hỗ trợ đà phục hồi kinh tế Khi kinh tế Mỹchưa có dấu hiệu phục hồi, các nhà đầu tư tìm đến vàng như một chốn trú ẩn an tòan để đảm

Trang 31

bảo tài sản Tuy nhiên, sau khi kinh tế Mỹ có những dấu hiệu khả quan hơn, vàng lại leothang do cuộc khủng hoảng nợ Châu Âu lan tràn Trong những tháng cuối năm, vàng tiếp tụcchịu sức ép từ việc Trung Quốc siết chặt chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằmkiềm chế tăng trưởng quá nóng Trước hàng loạt các yếu tố hỗ trợ cho sự tăng giá của vàngnhư đã nêu trên: sự phục hồi kinh tế toàn cầu còn gặp nhiều khó khăn, những lo ngại về vấn

đề khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, sự suy yếu của đồng đôla, những căng thẳng trên bánđảo Triều Tiên, áp lực lạm phát gia tăng trên thế giới, xu hướng thực hiện thắt chặt chínhsách tiền tệ của nhiều NHTW, xu hướng tăng dự trữ vàng của các NHTW để thay thế chocác loại ngoại tệ và tài sản tài chính khác, những biến động trên thị trường ngoại hối, diễnbiến của thị trường chứng khoán chưa ổn định, đặc biệt nhu cầu vàng vật chất rất lớn ở khuvực các nước Châu Á…đã tạo lực kéo cho giá vàng đi lên Nếu như trong ngày đầu nămmới, mỗi ounce chỉ tương đương 1.096 USD thì đến ngày 6/12, kỷ lục mới nhất trong năm

đã đưa giá lên đỉnh cao của mọi thời đại tại 1.427 USD/ounce Năm 2010, giá vàng thế giới

đã liên tiếp lập nhiều kỷ lục mới với các mốc 1.240 USD/ounce (12/05); 1.250 USD/ounce(08/06); 1.263 USD/ounce (21/06); 1.293,5 USD/ounce (22/09) và 1.421 USD/ounce (9/11)

và sau đó đã quay trở lại trên ngưỡng 1.400 USD/ounce trong tháng 12/2010

Đồ thị 4.4 Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2010

Nguồn: www.kitco.com

Trang 32

Biến động mạnh, vọt lên đỉnh cao và lùi xuống rất nhanh là tóm tắt ngắn gọn về diễnbiến của thị trường vàng thế giới trong năm 2011 Vốn chỉ sát trên ngưỡng 1.400USD/ounce lúc khởi đầu năm 2011, vàng bắt đầu lao vùn vụt từ giữa năm và lên trên 1.920USD/ounce, đạt mức cao lịch sử 1.923 USD/ounce trong phiên 06/9/2011, rồi nhanh chóngrút khỏi đỉnh cao và chỉ còn giao dịch ở gần 1.600 USD/ounce trước thềm năm mới 2012.Trong nửa đầu năm những bất ổn chính trị trên thế giới, nỗi lo khủng hoảng nợ công tạiChâu Âu dần đẩy vàng từng bước lên hơn 1.500 USD/ounce Tháng 7, 8 và 9 là lúc vàng

“sục sôi” nhất, giá kim loại quý này liên tiếp xác lập các kỷ lục mới, trên 1.600, 1.700, 1.800

và 1.900 USD/ounce, với tốc độ chóng mặt Theo các chuyên gia phân tích, nguyên nhânchính đẩy giá vàng lên cao đó là việc các nhà đầu tư “quay lưng” lại với các tài sản rủi ro,chuyển hướng sang vàng và coi đây là “nơi trú ẩn an toàn” cho tài sản của họ Sau khi

“thăng hoa” trên đỉnh cao 1.923 USD/ounce phiên ngày 06/9/2011, vàng lập tức để mất gần

100 USD và rơi xuống dưới ngưỡng 1.900 USD/ounce ngay phiên kế tiếp, do đồng USDmạnh lên làm vàng trở nên kém hấp dẫn giới đầu tư Từ đó đến tháng 11, vàng liên tục lênxuống cố gắng tìm lại ngưỡng cao 1.800 USD/ounce song lại để tuột mất; sau đó liên tục daođộng quanh mức 1.700 USD/ounce Trong hai tháng cuối năm, vàng đánh mất cơ hội nângcao giá trị với vị thế là “nơi trú ẩn an toàn,” cho dù khủng hoảng nợ công tiếp tục lan rộngtại Châu Âu, thay vào đó, vàng quay sang biến động cùng chiều với các tài sản rủi ro khác

Đồ thị 4.5 Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2011

Nguồn: www.kitco.com

Trang 33

Cuối năm 2011, giá vàng dao động dưới ngưỡng 1.600 USD/ounce và như vậy đãgiảm hơn 18% so với đỉnh điểm của năm và chỉ còn cách mức khởi điểm của năm 2011 chưađầy 200 USD/ounce Tình hình này khiến một số người hay lo tính đến khả năng sau một vàiphiên trồi sụt nữa, biết đâu vàng lại vẽ lên một đồ thị hình sin gây sốt.

4.1.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng giá vàng thế giới từ năm 2007 đến năm 2011

4.1.2.1 Tình hình kinh tế thế giới

Nổi bật của thị trường tài chính thế giới năm 2007 là “bóng ma” tín dụng uy hiếpnước Mỹ Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn hoạt động cho vay có phần dễ dãi và ồ ạt – đượcgọi là “nợ dưới chuẩn” (subprime) – của các ngân hàng đối với người vay tiền mua nhà trảgóp với hy vọng sau đó bán đi để kiếm lời Sau một thời kỳ sốt dài, thị trường địa ốc Mỹ rơivào tình trạng đóng băng khiến người vay tiền không thể bán nhà để trả nợ Cơn địa chấn tàichính thực sự nổ ra vào ngày 17/9/2008 khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ làFrenddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơphá sản Năm 2008, Mỹ đã 8 lần cắt giảm lãi suất, lãi suất cơ bản từ 5% đã xuống chỉ còn0,25% Ngày 13/10/2008, các quốc gia Châu Âu đã công bố gói giải pháp cứu trợ kinh tếkhổng lồ có trị giá lên tới 2.300 tỷ đô la Dưới tác động của các gói kích thích kinh tế liêntục của các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc…và tổ chức Quỹ Tiền Tệ Quốc

Tế (IMF) đã phần nào giúp cho các nhà đầu tư tạm dừng sự quan tâm cho giá vàng và chợđợi các tín hiệu khả quả từ các nỗ lực cứu trợ này Tuy nhiên, khi Mỹ chính thức thừa nhận

đã suy thoái từ cuối năm 2007 và vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff bị vỡ lỡ vớihàng nghìn nạn nhân đã khiến lòng tin của người dân Mỹ và giới đầu tư sụt giảm lòng tinvào hiệu quả của các gói cứu trợ kinh tế Trước các yếu tố trên, giá vàng đã liên tục suygiảm từ tháng 7 đến đầu tháng 12/2008 (từ 937 USD/ounce vào ngày 01/7 còn 778USD/ounce vào đầu tháng 12), và tăng trở lại vào những ngày cuối năm 2008, bằng 869,75USD/ounce vào ngày 30/12/2008

Năm 2009, khủng hoảng kinh tế lan rộng ra toàn thế giới, vấn đề nợ công trở thànhmột đề tài được bàn tán khắp nơi ở Châu Âu, đặc biệt là nỗi lo về nợ công của Hy Lạp gia

Trang 34

tăng khi Hy Lạp bị hạ mức tín nhiệm, đồng Euro bị suy giảm, tạo đà phục hồi cho đồng Đô

la Mỹ, thị trường vàng giảm mạnh về mức 1.090 USD/ounce vào tháng cuối năm 2009 Tínhiệu khả quan cho nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng là sự phát triển của Châu Á, đangđược đánh giá là khu vực đưa nền kinh tế thế giới thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu hiện nay, nổi bật nhất là sự phát triển không ngờ của Trung Quốc Thị trường thếgiới năm 2009, mà chủ yếu là quý 4, cũng chứng kiến một số sự kiện gây sốc, có tác độngmạnh đến giá vàng Đầu tháng 10, trước tin đồn một số nước vùng Vịnh đang âm thầm bànthảo một kế hoạch nhằm loại đồng USD ra khỏi giao dịch dầu lửa đã đẩy tỷ giá USD thế giớisụt sâu, giúp giá vàng có những bước tăng tốc mạnh Sau đó, đến cuối tháng 11, thị trườngmột lần nữa bất ngờ trước việc tập đoàn Dubai World của Dubai có nguy cơ vỡ nợ Rủi ro vềmột cuộc khủng hoảng nợ ở thế giới Arab đã thúc đ ẩy giới đầu tư quay trở lại với trái phiếukho bạc Mỹ và USD để tìm kiếm sự an toàn, kéo tỷ giá USD tăng và giá vàng đi xuống

Kinh tế thế giới 2010 trải qua một năm đầy những biến động bất ngờ, mà trong đó nổibật là sự phục hồi kinh tế không đồng đều giữa các khu vực, tình hình nợ công của khu vựcChâu Âu, nguy cơ lạm phát khiến nhiều nước quyết định thắt chặt chính sách tiền tệ và thịtrường tài chính biến động phức tạp Vấn đề nợ công tại khu vực Châu Âu đã có dấu hiệungay từ đầu năm 2010 và chỉ đến tháng 4/2010, nó mới thực sự trở thành một vấn đề lớn khi

Hy Lạp, với mức nợ công lên tới 110% GDP, đã rơi vào tình tr ạng mất khả năng thanh toánkhiến nền kinh tế nước này ngày càng chìm sâu vào khủng hoảng Tiếp đến, một số nền kinh

tế khác trong khu vực Châu Âu có các khoản thâm hụt tài chính lớn như Bồ Đào Nha(85,1%), Bỉ (100,9%), Ailen (116,3%) và Tây Ban Nha (69,1%) cũng bị cảnh báo về vấn đềnày Vấn đề nợ công của Hy Lạp cuối cùng đã đ ạt được sự đồng thuận của các nền kinh tếtrong khu vực trong kế hoạch giải cứu trị giá gần 1.000 tỷ USD để ngăn cuộc khủng hoảng

nợ Hy Lạp lan khắp Châu Âu và bảo vệ đồng Euro trước nguy cơ sụt giá Cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu và suy thoái đã làm cho đồng đô la Mỹ, đồng tiền chung Châu Âu và bảngAnh chao đảo và không ổn định khiến lòng tin của giới đầu tư và người tiêu dùng vào cácđồng tiền này bị ảnh hưởng nghiêm trọng Bên cạnh sự trượt dốc của đồng tiền chung Châu

Âu, thì đồng bạc xanh của Mỹ cũng không có gì sáng s ủa hơn

Trang 35

Năm 2011 tiếp tục là một năm đầy thách thức đối với Khu vực đồng tiền chung Châu

Âu (Eurozone) nói riêng và Liên minh Châu Âu (EU) nói chung Lần lượt Hy Lạp, Tây BanNha, Ireland, Bồ Đào Nha và Italia rơi vào vòng xoáy nợ công, phải viện tới các gói cứu trợcủa EU và IMF Cuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozone đã tác động mạnh tới nền kinh tếthế giới và giới chuyên gia đã tính tới khả năng khu vực này tan rã cũng như sự rời bỏ đồngtiền chung Euro Hạ điểm tín nhiệm đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” đối vớihàng loạt quốc gia trong Eurozone

Còn tại Mỹ, nợ công cũng đang là v ấn đề làm đau đầu giới lãnh đạo Nợ công cónguy cơ khiến Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác phải hứng chịu một đợt suy thoáinghiêm trọng thứ hai trước khi rơi vào một cuộc khủng hoảng mới Ngày 04/03/2011, Cục

Dự trữ liên bang Mỹ (FED) bất ngờ tuyên bố chấm dứt chương trình mua trái phiếu kho bạctrị giá 600 tỷ USD Các nhà đầu tư trên thị trường vàng lo ngại việc các nhà hoạch địnhchính sách của FED chấm dứt nới lỏng tiền tệ để kiềm chế lạm phát khiến giá vàng chấm dứt

đà tăng giá mạnh trước đó và đi ngang trong suốt hơn một tháng, giá vàng về mốc 1.434,6USD/ounce Ngày 07/04/2011, NHTW Châu Âu ECB tăng lãi suất lên 1,25% khiến đồngeuro tăng giá so với đồng USD, đẩy giá vàng tăng mạnh vượt 1.500 USD/ounce lên sát1.600 USD/ounce Ngày 01/08/2011, các cuộc đàm phán xung quanh vấn đề nâng trần nợcông 14.300 tỷ USD của nước Mỹ trở thành tâm điểm của thị trường tài chính Tuy nhiên,khi Châu Âu lâm vào cảnh bế tắc giải quyết nợ công và sự giảm giá mạnh của đồng Euro đãgóp phần tạo sự phục hồi cho đồng tiền xanh Đôla Mỹ, cũng như thu hút s ự chú ý của giớiđầu tư trở lại đối với đồng tiền này, đặc biệt là vào giai đoạn những tháng cuối năm 2011

Nhìn lại giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010, kế hoạch bơm tiền của FED dẫn đến

sự thiếu lòng tin vào đồng USD, sự không thành công của các gói cứu trợ kinh tế, khủnghoảng nợ công ở Eurozone, tình hình kinh tế khu vực Trung Đông là loạt lý do đẩy giávàng leo thang Các yếu tố trên cho thấy về hình thức vàng đã tăng giá, nhưng v ề bản chấtchính là sự mất giá của đồng Đô la Mỹ

Trang 36

4.1.2.2 Tình hình cung cầu vàng

Nguồn cung vàng trên trái đất là hữu hạn và việc khai thác kim loại quý này ngàycàng trở nên khó khăn đã khiến cung ngày càng khó bắt kịp so với cầu, nhất là khi các quốcgia sản xuất vàng hàng đầu đang cạn kiệt dần tài nguyên Vào đầu thế kỷ này, Nam Phi cungcấp tới 74% lượng vàng khai thác trên thế giới, song đến thời điểm hiện nay con số này giảmxuống còn 19% Ước tính tổng khối lượng vàng dự trữ đã qua chế biến của thế giới hiện ởmức 160.000 tấn Mỗi năm lại có thêm 2.400 tấn nữa được bổ sung, tương đương với mứctăng 1,7% - thấp hơn nhiều so với mức tăng của cầu Tổng cầu trên thị trường vàng hiệnđang vượt tổng cung khoảng 1%/năm, và mức chênh lệch này đang gia tăng Trong khoảngthời gian từ năm 1999 đến năm 2008, Tổ chức vàng thế giới GFMS tính toán rằng sản lượngvàng trên toàn cầu giảm 0,8% Dự báo tình hình sản xuất vàng sẽ vẫn trì trệ trong vài nămtới bởi sản lượng từ các mỏ cũ hết và chưa tìm được nguồn mới thay thế Các nước sản xuấtvàng lớn như Nam Phi và Mali gặp nhiều trục trặc trong khai thác vàng Sản lượng của cácnước Tây Phi giảm 9% trong năm 2007 Khi nhu cầu ngày một tăng, chênh lệch cung – cầungày một lớn

Ngày 27/09/2010, Tờ Financial Times đưa tin, các NHTW thuộc khu vực đồng tiềnchung Euro cùng với Thụy Điển và Thụy Sỹ đã giảm mạnh lượng vàng bán ra trong 1 nămtrở lại đây Trong vòng 1 năm tính tới tháng 9/2010, các quốc gia ký kết Thỏa thuận vànggiữa các NHTW (CBGA - được ký kết bởi các quốc gia nằm trong khu vực đồng Euro, Thụy

Sỹ và Thụy Điển nhằm đặt mức trần cho tổng lượng vàng bán ra bởi các NHTW hàng năm)chỉ bán ra 6,2 tấn vàng, giảm 96% so với năm trước Đây là lượng vàng bán ra thấp nhất kể

từ khi CBGA ra đời Cũng theo Financial Times, việc các NHTW Châu Âu ngừng việc bánvàng ra xuất phát từ việc họ đánh giá lại vai trò của vàng trong bối cảnh khủng hoảng nợ tấncông vào khu vực Trước kia, vàng bị Châu Âu xem là một tài sản có khả năng sinh lợi kém.Thỏa thuận CBGA đã hết hạn vào ngày 26/09 vừa qua Trong khi đó, theo ước tính của công

ty tư vấn kim loại quý GFMS thì năm 2010 là năm mà các NHTW lần đầu tiên mua ròngvàng kể từ năm 1988 trở lại đây, dù khối lượng mua ròng mới chỉ vào khoảng 15 tấn Nhữngđợt mua vàng chính thức với quy mô lớn, lên tới vài trăm tấn, chưa lần nào diễn ra kể từ năm

Trang 37

1965 - trước giai đoạn sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định neo buộc vào vàngBretton Woods.

Trước các áp lực mất giá của tiền, đặc biệt là sự mất giá của USD trong thời qua và

sự leo thang của lạm phát hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007, NHTW các nước đãđiều chỉnh dự trữ ngoại hối quốc gia, chuyển qua mua ròng vàng sau 2 thập kỷ đóng vai trònguồn cung ổn định cho thị trường Năm 2009, NHTW Trung Quốc mua vào 450 tấn vàng,

Ấn Độ mua 200 tấn, Nga mua 71 tấn,… Hiện nay, Mỹ là quốc gia dẫn đầu về dự trữ vàngthế giới với 8.133 tấn chiếm 78,9% dự trữ ngoại hối quốc gia, tiếp đó là Đức (3.412 tấn,71,5%), Ý (2.702,6 tấn, 66,5%), Pháp (2.987 tấn, 72%)

Trong giai đoạn từ 1989 tới 2007, các NHTW trung bình mỗi năm bán ra từ 400- 500tấn vàng Năm 2008, lượng vàng bán ra giảm còn phân nửa và một năm sau, giảm còn 30 tấnvàng Năm 2010, các NHTW đã mua ròng xấp xỉ 90 tấn vàng Trong cơ cấu dự trữ của cácnền kinh tế phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ, dự trữ bằng vàng chiếm 40% Trong khi tỉ lệ này

ở các nước đang phát triển là 5% Trong số các nền kinh tế mới nổi mua vàng dự trữ nhiều,Nga là nước dẫn đầu với 135 tấn NHTW của Thái Lan, Bangladesh, Venezuela vàPhilippines, lần lượt mua vào 16 tấn, 10 tấn, 5 tấn và 1,4 tấn Động thái cất trữ vàng của khuvực tư nhân cũng tăng mạnh, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỷ 21 Ngoài áp lực mất giácủa các đồng nội tệ, sự bùng phát cất trữ vàng khu vực tư nhân còn gắn liền với việc nớilỏng quyền sở hữu vàng cá nhân của một số quốc gia, trong đó phải kể đến Trung quốc, Ấnđộ

Ngoài nhu cầu vàng với mục tiêu cất trữ, đảm bảo giá trị tài sản, đặc biệt trong điềukiện rủi ro tiềm ẩn, thì nhu cầu vàng cho mục đích sản xuất, tiêu dùng cũng tăng nhanh.Theo thống kê của WGC, 9 tháng đầu năm 2010, tổng lượng vàng trang sức toàn cầu lên tới1.468 tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2009 Nhu cầu vàng trang sức đã tăng nhanh cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế Châu Á và tâm lý chuộng sử dụng vàng trangsức của khu vực này, đặc biệt là Trung quốc, Ấn độ Bên cạnh đó nhu cầu vàng phục vụ sảnxuất cũng tăng mạnh cùng với sự bùng nổ của các ngành công nghiệp ứng dụng, sự pháttriển của ngành nha khoa Cũng theo WGC, trong 9 tháng đầu năm 2010, nhu cầu vàng phục

Trang 38

vụ sản xuất tăng 19% so với cùng kỳ năm trước Đóng góp vào tổng cầu vàng, còn có nhucầu đầu cơ vàng, gắn liền với xu thế tăng giá vàng Hệ quả là, tổng cầu vàng có xu hướngtăng mạnh, vượt so với tổng cung vàng khoảng 3% năm 2010, kéo dài chuỗi tăng giá vàngtrong vòng 10 năm liên tiếp.

Đồ thị 4.6 Giá vàng thế giới qua từng giai đoạn

Nguồn: Ngân Hàng Công Thương Việt Nam

Mức độ sinh lợi từ đầu tư vàng tương đối cao so với các sản phẩm đầu tư khác, trongkhi mức độ rủi ro thị trường tương đối thấp Giá vàng liên tục tăng và mức tăng lên tới 29%trong năm 2010, đưa vàng trở thành một kênh đầu tư có khả năng sinh lời cao hơn nhiều sovới các kênh đầu tư khác

Tiêu thụ vàng của cả thế giới trong năm 2010 là 3.812 tấn, mức cao nhất trong 10năm qua nhưng vẫn thấp hơn 296 tấn so với tổng nguồn cung, theo báo cáo xu hướng nhucầu về vàng năm 2010 của WGC công bố ngày 17/02/2011 Tiêu thụ vàng năm 2010 tăng9% so với năm 2009, tổng giá trị tiêu thụ tăng 38% do giá vàng tăng cao Theo WGC, hai

nguyên nhân khiến tiêu thụ tăng mạnh Thứ nhất, nhu cầu vàng nữ trang, thị trường Ấn Độ hồi phục và nhu cầu từ Trung Quốc gia tăng Thứ hai, NHTW ở các nước lần đầu tiên trong

21 năm qua chuyển từ trạng thái bán ròng sang mua ròng Báo cáo cho thấy, tiêu thụ vàng

Trang 39

trang sức trong năm 2010 lên tới 2.059,6 tấn, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước Động lựccủa vàng trang sức đến từ thị trường Ấn Độ và Trung Quốc, chiếm 51% lượng vàng trangsức và vàng thỏi, tiền vàng của cả thế giới Nhu cầu nắm giữ vàng thỏi tăng mạnh trong nămqua Lượng tiêu thụ vàng ở Ấn Độ đã tăng 66% so với năm 2009 Giới đầu tư Trung Quốcmua vào 179,9 tấn vàng ở dạng thỏi và tiền vàng, tăng 70% so với cùng kỳ năm trước Tổng

số vàng tiêu thụ ở Trung Quốc năm 2010 là 607,1 tấn, tăng 29% so với năm trước

Trong khi nhu cầu mua vàng của người dân và NHTW của nhiều nước tăng, thì cácquỹ đầu tư lại giảm lượng nắm giữ, với tổng số lượng mua vào là 338 tấn, giảm 45% so vớinăm trước Trên thị trường quốc tế, quỹ đầu tư hàng đầu thế giới SPDR Gold Trust bán 0,3tấn vàng nhưng số liệu gần đây cho thấy tổ chức này mua vào nhiều hơn bán ra Cụ thể, từđầu tháng 9/2010 đến nay, SPDR Gold Trust mua vào 17,3 tấn vàng, bán ra 14,4 tấn vàng;trong tháng 8/2010, tổ chức này mua vào 22 tấn vàng và chỉ bán ra gần 2 tấn vàng Ngày28/09/2010, SPDR Gold Trust cũng đã mua vào 5,2 t ấn vàng, nâng khối lượng nắm giữ lênmức kỷ lục 1.305,7 tấn Giới kinh doanh vàng cho biết động thái mua - bán của SPDR GoldTrust thường dẫn dắt thị trường, kéo theo sức mua – bán của nhiều nhà đầu tư khác, tác độngrất lớn đến giá vàng

Cũng giống như các quỹ lớn trên thế giới, Chính phủ các nước mà điển hình là TrungQuốc và Ấn Độ đang ngày càng có xu hướng quay sang sử dụng vàng như một phương tiệncất giữ hiệu quả và thay thế tiền tệ trong các trường hợp hoán đổi quốc tế nhất định Cụ thể,Ngân hàng dự trữ Ấn Độ đã chi 6,7 tỷ USD để mua 200 tấn vàng hồi cuối năm 2009 từ IMFkhi giá dao động ở mức hơn 1.000USD/ounce đưa dự trữ vàng chiếm 6% tổng dự trữ ngoại

tệ Trong khi đó, Trung Quốc liên tục là nước nhập ròng vàng trong vòng 5 năm qua, đưa dựtrữ vàng của nước này từ 600 tấn lên 1.054 tấn Nước này sẽ còn phải tiếp tục tăng lượngvàng dự trữ nếu như muốn thế giới chấp nhận đồng Nhân dân tệ làm đồng tiền thanh toánquốc tế

Tình hình khủng hoảng kinh tế, sự mất giá của đồng Đô la Mỹ khiến cho đầu tư vàovàng trở thành sự lựa chọn hàng đầu cho các tổ chức kinh tế lẫn cá nhân Đồng thời, nguồncung vàng ngày càng hiếm trong khi nhu cầu về vàng tăng cao (kể cả vàng sử dụng trong

Trang 40

công nghiệp, y tế) Những điều này đã tác động mạnh đến giá vàng, làm giá vàng biến độngmạnh (chủ yếu là tăng mạnh) trong thời gian qua.

4.1.2.3 Sự biến động thuộc các thị trường khác

Dầu là nguồn đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Bất cứ sự biến động của giádầu mỏ cũng tác động dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế thế giới Khi giá năng lượng tăng,

có thể đẩy các ngành sản xuất dịch vụ nhất là vận chuyển rơi vào khó khăn vì vậy khi giádầu tăng quá mức thường gây tác động xấu đến nền kinh tế nhất là gây ra tình trạng lạmphát, kém tăng trưởng khiến giá cả các loại hàng hóa sản xuất ra trở nên đắt đỏ, dẫn đến tìnhtrạng lạm phát Chính vì vậy, giá vàng cũng sẽ biến động theo cùng chiều hướng là tăng theogiá dầu do nhu cầu đầu tư tránh rủi ro Vì thế để giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cácnước có nền kinh tế lớn như Nga, Mỹ… có xu hướng xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ vàtăng cường dự trữ vàng Bởi lẽ đây là hai loại hàng hóa không bị mất giá trị

Tuy nhiên, dầu mỏ dưới vai trò lớn hơn hàng hóa tích trữ, khi giá dầu mỏ tăng tất yếudẫn đến hệ quả tiền USD giảm giá trị, và các nước càng có xu hướng nhập vàng về tích trữ,

do đó nhu cầu vàng trên thế giới sẽ tăng và kéo theo sự tăng giá của vàng

Người ta đã chứng minh được rằng, một trong những nguyên nhân khiến giá vàngliên tục thay đổi là do nền kinh tế toàn cầu chao đảo bởi sự leo thang chóng mặt của giá dầu

mỏ Giá dầu tăng khiến tỷ lệ lạm phát vọt lên rất nhanh Ngày 31/01, giá dầu thế giới đãvượt ngưỡng 100 USD/thùng lần đầu tiên kể từ năm 2008, tăng hơn 1%, do các nhà giaodịch lo ngại những biến động tại Ai Cập có thể làm gián đoạn nguồn cung cấp dầu qua kênhđào Suez và những dự đoán nhu cầu năng lượng tăng Giá dầu sau đó liên tiếp chinh phụccác đỉnh cao mới là 147,24 USD/thùng thì giá vàng lúc đó cũng lên đến đỉnh kỷ lục là 1032USD/ounce Vào tháng 4/2009, giá dầu đã giảm xuống chỉ còn khoảng 50 USD/thùng, mặc

dù đã giảm khoảng 2/3 so với mức kỷ lục ở mùa hè năm trước đó, giá dầu hiện vẫn ở mứctương đối cao so với những mức giá trong lịch sử Ngày 31/12, trong phiên giao dịch cuốicùng của năm 2010, giá dầu thế giới đã tăng lên mức cao nhất trong hơn 2 năm qua tại thịtrường New York do ngày càng xuất hiện nhiều dự đoán về việc nhu cầu tiêu thụ nhiên liệutoàn cầu sẽ tăng mạnh hơn Đối với các hợp đồng lớn tại New York, giá dầu thô ngọt nhẹ

Ngày đăng: 09/08/2015, 17:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.2 . Đồ thị của giá v àng và dự báo giá vàng - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 2.2 . Đồ thị của giá v àng và dự báo giá vàng (Trang 15)
Đồ thị 4.2. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2008 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.2. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2008 (Trang 29)
Đồ thị 4.3. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2009 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.3. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2009 (Trang 30)
Đồ thị 4.5. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2011 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.5. Diễn biến giá vàng thế giới trong năm 2011 (Trang 32)
Đồ thị 4.6. Giá vàng thế giới qua từng giai đoạn - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.6. Giá vàng thế giới qua từng giai đoạn (Trang 38)
Đồ thị 4.7. Giá vàng SJC năm 2007 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.7. Giá vàng SJC năm 2007 (Trang 45)
Đồ thị 4.8. Giá vàng SJC năm 2008 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.8. Giá vàng SJC năm 2008 (Trang 46)
Đồ thị 4.9. Giá vàng SJC năm 2009 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.9. Giá vàng SJC năm 2009 (Trang 47)
Đồ thị 4.12. Toàn cảnh giá vàng Việt nam từ năm 2007 đến năm 2011 - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.12. Toàn cảnh giá vàng Việt nam từ năm 2007 đến năm 2011 (Trang 59)
Đồ thị 4.13. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.13. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới (Trang 60)
Đồ thị 4.14. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và tỷ giá - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.14. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và tỷ giá (Trang 61)
Đồ thị 4.15. Đồ thị phân tán giữa giá v àng trong nước và lạm phát - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.15. Đồ thị phân tán giữa giá v àng trong nước và lạm phát (Trang 61)
Đồ thị 4.16. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và chỉ số Vn-Index - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.16. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và chỉ số Vn-Index (Trang 62)
Đồ thị 4.17. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nư ớc và giá dầu - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.17. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nư ớc và giá dầu (Trang 62)
Đồ thị 4.18. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và cung tiền - Luận văn thạc sĩ  Giá vàng và một số nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Việt Nam
th ị 4.18. Đồ thị phân tán giữa giá vàng trong nước và cung tiền (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w