Tác giả đã chọn chủ đề “Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT như thông tin
Trang 1TRỊNH THANH THANH
TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2TRỊNH THANH THANH
TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH
Trang 3Trang MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận 6
1.1 Các lý thuyết nền tảng 6
1.2 Thông tin trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 8
1.2.1 Lược sử quá trình tạo nên thông tin trên BCKT về BCTC 8
1.2.2 Thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC 11
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC 12
1.2.4 Hình thức và các nội dung cơ bản của BCKT .13
1.3 Một vài nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC trên thế giới .17
1.3.1 Các nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT 17
1.3.2 Các quan điểm tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT 19
Trang 42.1 Nội dung khảo sát thực trạng 25
2.1.1 Khảo sát các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 25
2.1.2 Khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam .30
2.1.2.1 Thu thập và xử lý dữ liệu .30
2.1.2.2 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua bảng câu hỏi 30
2.1.2.3 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua các bài viết .46
2.2 Đánh giá chung thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 49
2.2.1 Những vấn đề đã đạt được 49
2.2.2 Những tồn tại 49
2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 52
Kết luận chương 2 53
Trang 53.2 Các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về
BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 55
3.2.1 Đối với Bộ tài chính 55
3.2.2 Đối với công ty niêm yết 61
3.2.3 Đối với công ty kiểm toán 62
3.2.4 Đối với Hội nghề nghiệp kiểm toán 65
3.2.5 Đối với UBCKNN 66
3.2.6 Đối với người sử dụng BCKT 68
3.3 Những hạn chế của đề tài 68
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 77
Trang 6AAA The American Accounting Association (Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ)
AAII The American Association of Individual Investors (Hiệp hội các nhà đầu tư
cá nhân Hoa kỳ) AARF Australian Accounting Research Foundation (Ban Chuẩn mực kiểm toán của
Liên đoàn nghiên cứu kế toán Úc) AICPA American Institute of Certified Public Accountants (Hiệp hội các kiểm toán
viên công chứng Hoa Kỳ) ASB Auditing Standards Board (Ban chuẩn mực kiểm toán)
AUP Statement of Auditing Practice (Thông lệ báo cáo kiểm toán được sửa đổi) BBT Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết
BCKT Báo cáo kiểm toán
BCTC Báo cáo tài chính
CMKiT Chuẩn mực kiểm toán
CMKT Chuẩn mực kế toán
DVD Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông
FEE The Federation of European Accountants (Liên đoàn kế toán Châu Âu) GAAP Generally Accepted Accounting Principles (Nguyên tắc kiểm toán được chấp
nhận rộng rãi) HĐQT Hội đồng quản trị
IAPC International Auditing Practices Committee (Ủy ban thông lệ kiểm toán quốc
tế) IFAC The International Federation of Accountants (Liên đoàn kế toán quốc tế) ISA International Standard Accounting (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế)
Trang 7NBA The Dutch Professional Accountancy Association (Hiệp hội kế toán nghề
nghiệp Hà Lan) NĐT Nhà đầu tư
PCAOB Public Company Accounting Oversight Board (Ủy ban giám sát các công ty
niêm yết Hoa Kỳ) SAP Statements of Auditing Practice (Thông lệ báo cáo kiểm toán)
SAS Statement on Auditing Standards (Chuẩn mực báo cáo kiểm toán)
SEC Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
US GAAS The United State Generally Accepted Accounting Principles (Nguyên tắc kế
toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ) Vinashin Tập đoàn kinh tế Vinashin
VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trang 8Bảng 2.1: Thống kê đối tượng khảo sát
Bảng 2.2: BCKT làm tăng độ tin cậy của BCTC
Bảng 2.3: Mục đích của BCKT được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.10: BCKT hàm ý rằng BCTC được kiểm toán không còn sai sót nào
Bảng 2.11: Cơ sở của ý kiến kiểm toán được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.12: BCKT trình bày rõ ràng tính xét đoán của KTV khi hình thành ý kiến kiểm toán
Bảng 2.13: Đánh giá của KTV về tình trạng hoạt động liên tục
Trang 9Bảng 2.15: Đánh giá về chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ nên được trình bày trên BCKT
Bảng 2.16: Trình bày các rủi ro có thể dẫn đến sai sót trọng yếu và cách thức của các nhà quản lý để kiểm soát chúng
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, vai trò của KTĐL ngày càng thể hiện rõ nét hơn cùng với sự ra đời và lớn mạnh của thị trường chứng khoán KTĐL cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo quy định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay không Giá trị của BCKT và nhu cầu cho dịch vụ kiểm toán phụ thuộc nhiều vào niềm tin của công chúng đối với tính độc lập và chính trực của KTV Tuy nhiên, người sử dụng BCTC có thật sự hiểu biết được các thông tin trên BCKT hay không, các thông tin trên BCKT có đủ để người sử dụng BCKT ra quyết định của mình hay không Hay các thông tin trên BCKT có hữu ích cho người sử dụng BCKT hay không
Trong suốt thập kỷ qua trên thế giới đã xảy ra nhiều vụ bê bối lớn liên quan đến tài chính, kiểm toán như vụ Enron, Worldcom Ở Việt Nam gần đây điển hình là trường hợp của BBT, DVD cho thấy thông tin giữa KTV và nhà đầu tư đã không ngăn chặn được các vụ bê bối này Do đó, những thông tin thêm vào rõ ràng hơn, hiệu quả hơn sẽ giúp cho nhà đầu tư và các đối tượng sử dụng BCKT về BCTC khác sẽ có nhiều thông tin hơn để quyết định, tránh những quyết định sai lầm, hạn chế tổn thất lợi ích Việc hiểu sai lệch các thông tin trên BCKT về BCTC có thể dẫn đến sự đầu tư không như
dự kiến, phân phối nguồn lực không hợp lý làm mất niềm tin vào chức năng kiểm toán
Tác giả đã chọn chủ đề “Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT như thông tin về phương pháp kiểm toán, trách nhiệm của KTV, bản chất của sự đảm bảo được cung cấp, ý kiến của KTV…và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
Trang 11đến thông tin trên BCKT, từ đó nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC ở các công ty niêm yết ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát và hệ thống các vấn đề liên quan đến BCKT về BCTC và thông tin trên BCKT, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết Các nội dung này sẽ là cơ sở cho phần nghiên cứu thực trạng và các nguyên nhân tồn tại
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC thông qua khảo sát thực trạng nhận thức của người sử dụng đối với các thông tin trên BCKT bằng bảng câu hỏi và các bài viết liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam
3 Tổng quan những nghiên cứu liên quan
Những nghiên cứu trước đây trên thế giới liên quan đến đề tài chủ yếu là các nghiên cứu riêng lẻ, ngắn về thực trạng thông tin trên BCKT qua các giai đoạn phát triền Tác giả cũng trình bày tóm tắt một số nghiên cứu và quan điểm trên thế giới liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC trong chương 1 Do nội dung khá dài nên tác giả đã đưa một số tóm tắt nghiên cứu vào phụ lục để người đọc có thể tham khảo thêm
Phần này tác giả tóm tắt nội dung một vài nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
mà tác giả tìm thấy được:
- Xây dựng cơ chế kiểm toán chất lượng cho hoạt động KTĐL tại Việt Nam, luận văn tiến sĩ kinh tế, Trần Khánh Lâm, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Luận
án đề xuất các quan điểm xây dựng cơ chế và giải pháp hoàn thiện cơ chế KSCL hoạt
Trang 12động KTĐL tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ chế KSCL của các quốc gia trên thế giới cũng như thực trạng KSCL của Việt Nam
- Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Đình Hùng, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Nghiên cứu xác định các thành phần ảnh hưởng đến sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán để làm
cơ sở đề xuất một hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố phù hợp với các thông lệ thế giới và môi trường kinh doanh, pháp lý ở Việt Nam
- Giải pháp nâng cao chất lượng BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế, Nguyễn Văn Hương, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Với nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa được những lý thuyết trong và ngoài nước liên quan đến BCKT Qua khảo sát tác giả phản ánh thực tế BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong 2 năm 2007 và 2008 Đề tài đã chỉ
ra những tồn tại trong việc soạn thảo và phát hành BCKT về BCTC của các công ty niêm yết, chỉ ra những tồn tại của VSA, trong đó có CMKiT BCTC, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của BCKT về BCTC
- Đánh giá VSA về BCKT và một số kiến nghị liên quan, luận văn thạc sĩ, Võ Thị Như Nguyệt, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Nghiên cứu này giúp người viết nhìn nhận được thực tế việc vận dụng và sự hiểu biết của các đối tượng liên quan đối với VSA số 700 về BCKT thông qua khảo sát một số đối tượng liên quan đến BCKT tại thành phố Hồ Chí Minh Từ việc tìm hiểu lý thuyết và tiếp cận thực tế, người viết đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện VSA về BCKT
Trang 134 Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam, nhu cầu kiểm toán chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp bắt buộc phải kiểm toán theo pháp luật Việt Nam Có thể nhận thấy BCKT về BCTC của doanh nghiệp niêm yết là phổ biến nhất, số liệu được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ chủ yếu cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ nợ…Nghiên cứu này sẽ giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan và mục đích của đề tài, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông tin trên BCKT về BCTC và các yếu tố tác động đến thông tin trên BCKT về BCTC Để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu, tác giả
sử dụng các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thông tin như thế nào là hữu ích? Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam
- Các yếu tố nào tác động đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết?
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được áp dụng Bên cạnh
đó, việc định lượng dữ liệu sẽ làm cho kết quả nghiên cứu rõ ràng hơn Việc định lượng sẽ giúp dễ dàng hơn cho việc tổng hợp, so sánh dữ liệu
Bản chất của nghiên cứu này mang tính chất thăm dò nhiều hơn là mô tả hay giải thích Để xem xét các nhận định liên quan đến các thông tin trên BCKT thì phương pháp khảo sát thực trạng là thích hợp
Trang 145 Những đóng góp chính của luận văn
- Hệ thống các đặc tính chất lượng của thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết
- Trình bày lược sử hình thành thông tin trên BCKT, hình thức và nội dung cơ bản của BCKT chấp nhận toàn phần theo quy định của ISA
- Nêu các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến đề tài để tham khảo và đánh giá
- Đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết và các yếu tố tác động
- Đề xuất các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT
về BCTC tại các công ty niêm yết
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam
Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam
Trang 15Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các lý thuyết giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo
Nhu cầu dịch vụ kiểm toán được khởi sự từ nhiều nhân tố, bao gồm: Khoảng cách thông tin giữa người sử dụng BCTC và những người lập BCTC; sự xung đột lợi ích giữa những người sử dụng BCTC với nhau; sự phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế và những ảnh hưởng của thông tin trên BCTC trong việc ra quyết định kinh tế Bởi vì BCKT là trung gian thông tin giữa KTV và người sử dụng BCTC, do đó báo cáo này phải có thể hiểu được, khách quan và được chấp nhận bởi những người sử dụng Các thông tin trên BCKT sẽ tác động đến các quyết định đầu tư, các quyết định tín dụng và giá cổ phần Phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về một số lý thuyết giải thích
về nhu cầu dịch vụ đảm bảo đang tồn tại Các lý thuyết này giúp giải thích nhu cầu xã hội về kiểm toán, thể hiện vai trò và mục đích của dịch vụ kiểm toán hay sự cần thiết khách quan của kiểm toán Theo Hayes và các tác giả (2005) thì có 4 nhóm lý thuyết giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo:
- Lý thuyết người cảnh sát (Policeman Theory)
Lý thuyết này phổ biến cho đến những năm 1940 Dưới lý thuyết này, KTV được xem như một người cảnh sát, sẽ tập trung vào việc tính toán chính xác số học và ngăn ngừa, phát hiện gian lận Tuy nhiên, lý thuyết này hạn chế trong việc giải thích sự trung thực
và hợp lý của BCTC
- Lý thuyết tín dụng (Lending Credibility Theory)
Khi thị trường chứng khoán phát triển, sự tham gia ngày càng lớn mạnh của các cổ đông vào các công ty dẫn đến nhu cầu thông tin tin cậy ngày càng cao do sự thiếu lòng
Trang 16tin vào thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý Đồng nghĩa với nhu cầu thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý cần được kiểm toán
- Lý thuyết cảm tính (Limperg’s Theory of Inspired Confidence)
Lý thuyết này được phát triển vào cuối những năm 1920 bởi giáo sư người Hà Lan Theodore Limperg (Hayes và các cộng sự, 1999:36) Dưới lý thuyết này, thông tin được kiểm toán bởi KTV sẽ cung cấp độ tin cậy cao hơn không chỉ mang lại lợi ích cho cổ đông mà cho toàn xã hội Ví dụ như trong trường hợp công ty bị phá sản không chỉ ảnh hưởng đến cổ đông mà ảnh hưởng rất nhiều đến các đối tượng sử dụng BCTC khác như các chủ nợ, các nhà cung cấp… Và tùy vào mức độ đảm bảo mà KTV cung cấp các dịch vụ kiểm toán khác nhau, phù hợp với mong đợi của người sử dụng dịch
vụ kiểm toán Lý thuyết niềm tin cảm tính kết nối nhu cầu của cộng đồng về tính đáng tin cậy của thông tin tài chính với khả năng của những kỹ thuật kiểm toán để thỏa mãn các nhu cầu này Theo thuyết niềm tin cảm tính sự tồn tại của chức năng kiểm toán có nguồn gốc từ niềm tin của cộng đồng vào sự hiệu quả của hoạt động kiểm toán, vào ý kiến kiểm toán Niềm tin này là điều kiện cho sự tồn tại của chức năng kiểm toán Nếu như niềm tin này mất đi, chức năng kiểm toán cũng sẽ không còn bởi nó không còn hữu dụng Liên quan đến đề tài, qua lý thuyết này có thể thấy được chức năng của kiểm toán là nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính Tuy nhiên, chức năng này chỉ tồn tại khi cộng đồng còn tin tưởng, đặt niềm tin vào KTV, vào công ty kiểm toán
- Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory)
Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông của công ty Các đặc tính tự nhiên của quan hệ ủy nhiệm dẫn đến giả thiết rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình Lý thuyết ủy nhiệm nhấn mạnh rằng các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông
Trang 17và người quản lý công ty, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty Theo lý thuyết này, vai trò của KTV là để giám sát mối quan hệ giữa các nhà quản lý và các chủ sở hữu (principal_agent relationship), tránh sự bóp méo thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý, cung cấp sự đảm bảo hợp lý, không có sai sót trọng yếu hoặc thông tin không đầy đủ
1.2 Thông tin trên BCKT về BCTC
1.2.1 Lược sử quá trình tạo nên thông tin trên BCKT về BCTC
Vào thời kỳ sơ khai (Luật công ty Anh 1856), BCTC chỉ bao gồm Bảng cân đối kế toán, kiểm tra chủ yếu sổ sách kế toán, không có báo cáo chuẩn nên BCKT sẽ khác nhau giữa các KTV và lạm dụng từ “ngoại trừ…”
Một số sự kiện lớn xảy ra vào những năm 1930 như vụ kiện Ultramares, việc sụp đổ thị trường chứng khoán Mỹ và sự ra đời của SEC Có thể tóm tắt các sự kiện này như sau: vào năm 1931, công ty Ultramares không có khả năng trả nợ, các chủ nợ của công
ty dựa vào BCTC đã được chứng nhận rồi sau đó kiện các KTV, họ cho rằng các KTV
đã phạm tội bất cẩn và trình bày gian dối Sau khi điều tra vấn đề, tòa án liên bang Mỹ kết luận rằng các KTV đã có bất cẩn trong quá trình kiểm toán Tuy nhiên, KTV không phải chịu trách nhiệm đối với các chủ nợ của công ty Ultramares vì điều sai lầm vượt ra ngoài phạm vi của hợp đồng kiểm toán ban đầu Tóa án cho rằng chỉ có người
ký hợp đồng với KTV về các dịch vụ kiểm toán mới có thể kiện nếu các dịch vụ đó được cung cấp một cách bất cẩn Vụ kiện này là cơ sở cho sự ra đời của cái gọi là “học thuyết Ultramares” Theo học thuyết này, những bất cẩn thông thường không đủ ràng buộc trách nhiệm pháp lý của KTV với bên thứ ba vì không có quan hệ riêng theo hợp đồng giữa bên thứ ba với KTV Học thuyết cũng cho rằng chỉ khi có gian lận hoặc bất
Trang 18cẩn nghiêm trọng thì KTV có thể chịu trách nhiệm đối với bên hưởng lợi thứ ba Trong khoảng thời gian này, mức tăng trưởng trong con số của những thành viên tham gia vào thị trường chứng khoán dẫn đến việc chính phủ đã quyết định đưa ra những quy luật cho thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ đầu tư trong chứng khoán Các quy luật này bắt đầu ra đời vào năm 1934, khi đó xảy ra một vụ sụp đổ chứng khoán khổng lồ Great Cash, Quốc hội đã thông qua các đạo luật giao dịch và đảm bảo Từ đây đã hình thành nên SEC SEC nắm giữ các quy tắc được bắt đầu từ đạo luật và tiếp tục sửa đổi
bổ sung những sai sót, những quy định cho nhà đầu tư Bao gồm cả việc giám sát thủ tục của công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng và đảm bảo các thông tin liên quan cho các nhà đầu tư tiềm năng Ngoài ra SEC cũng giám sát các hoạt động hàng ngày của sở giao dịch chứng khoán và đảm bảo an ninh giao dịch cho nhà đầu tư Sau các sự kiện này đã dẫn đến kết quả là BCKT chuẩn ra đời gồm hai đoạn
Năm 1947, nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ ra đời đã xác lập chuẩn mực báo cáo Năm 1948, SAP 24 ra đời đã điều chỉnh BCKT tiêu chuẩn với các từ ngữ được sử dụng phù hợp với chuẩn mực đã xác lập Tuy nhiên vẫn là báo cáo dạng ngắn, gồm 2 đoạn
Vào năm 1974, Liggio lần đầu tiên định nghĩa về “khoảng cách kỳ vọng” là khoảng cách giữa mong đợi và thực tế Vào năm 1978, Ủy ban Cohen đã báo cáo về khoảng cách giữa mong đợi và thực tế về trách nhiệm của KTV đề cập những hành động cần thiết của KTV để rút ngắn khoảng cách này Năm 1988, SAS 58 ra đời hoàn thiện BCKT tiêu chuẩn với đặc điểm là giải thích rõ hơn về công việc và trách nhiệm của KTV cũng như những hạn chế tiềm tàng của KTV và hình thành báo cáo 3 đoạn Vào năm 1994, ISA 700 “BCKT về BCTC” ra đời sử dụng kiểu báo cáo dài tương tự SAS
58
Vào năm 2005, ISA 700 được ban hành mới, tiếp tục bổ sung BCKT chuẩn, có hiệu lực thi hành từ 31.12.2006, tập trung vào các BCKT trong trường hợp chấp nhận toàn phần không có nhấn mạnh, các điều chỉnh được chuyển sang ISA 701 tập trung vào
Trang 19các trường hợp ý kiến khác của KTV, ngoài ý kiến chấp nhận toàn phần không có đoạn nhấn mạnh ISA 700 (2005) sửa đổi các từ ngữ sử dụng và quy định rõ hơn một
số trường hợp như: BCKT phải đưa ra một ý kiến rõ ràng của KTV về BCTC, KTV phải đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng thu thập được làm cơ sở cho ý kiến của mình về BCTC
Các điều chỉnh mới đây nhất có hiệu lực từ các cuộc kiểm toán cho năm tài chính bắt đầu từ 15.12.2009 trở về sau:
- ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC”
- ISA 705 “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần”
- ISA 706 “Đoạn Vấn đề cần nhấn mạnh và Vấn đề khác trong BCKT về BCTC” ISA 701 trước đây đã được thay thế bởi ISA 705 và ISA 706 ISA 705 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán đối với việc phát hành BCKT phù hợp với hoàn cảnh thực tế, theo quy định và hướng dẫn của ISA 700 và trong trường hợp KTV kết luận cần phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần ISA
706 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra các thông tin bổ sung trong BCKT, khi KTV xét thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà các vấn đề đó là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC; hoặc thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với các vấn đề khác, ngoài các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà các vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán, về trách nhiệm của KTV hoặc về BCKT
Trang 201.2.2 Thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC
Thông tin trên BCKT có vai trò quan trọng đối với các đối tượng sử dụng là do tính hữu ích mà nó mang lại Thông tin nói chung tự bản thân nó không có tính hữu ích thật
sự Do vậy, chính những tính chất đặc trưng của thông tin mới làm cho nó trở nên hữu ích qua việc thông tin phải được quan tâm, được tin cậy và sử dụng để mang lại lợi ích Các tính chất làm cho thông tin trên BCKT trở nên hữu ích xoay quanh ba tính chất đặc trưng của thông tin là thích hợp, đầy đủ và có thể hiểu
- Tính thích hợp: Tính thích hợp là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng của thông tin, bao gồm tính phù hợp và tính đáng tin cậy
Tính phù hợp: Thông tin có thể giúp người sử dụng thiết lập được các dự báo về kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, xác nhận hoặc hiệu chỉnh các kỳ vọng
Tính đáng tin cậy: Tính đáng tin cậy rất quan trọng đối với thông tin Thông tin đáng tin cậy phải được người sử dụng đặt niềm tin vào đó để ra quyết định Thông tin trên BCKT được trình bày trên sự độc lập, chính trực, khách quan của KTV
Mặt khác thông tin thích hợp phải mang tính kịp thời, nghĩa là thông tin có được cho người ra quyết định trước khi nó mất tác dụng
- Tính đầy đủ: Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng thông tin Số lượng thông tin cần trình bày trên BCKT chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của KTV đối với rủi ro có sai sót trọng yếu và nhu cầu thông tin của người sử dụng
- Tính có thể hiểu: Thông tin trên BCKT sẽ trở nên hữu ích hơn nếu người sử dụng tiếp cận và tìm hiểu BCKT gặp nhiều thuận lợi do thông tin được trình bày phù hợp với nhu cầu, phù hợp với khả năng và trình độ nhận thức Để trở nên hữu ích thì thông tin cần được trình bày sao cho người sử dụng có thể dễ dàng hiểu được
Trang 21Tuy nhiên, mức độ đầy đủ và có thể hiểu của thông tin phải được đặt trong mối quan
hệ đầy đủ của chi phí và lợi ích và cân đối giữa các tính chất
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC
- Hệ thống CMKiT: CMKiT trở thành cơ sở lý luận của hoạt động kiểm toán và
là cơ sở để nâng cao chất lượng kiểm toán CMKiT đặc biệt là CMKiT về BCKT có ảnh hưởng đến BCKT được phát hành Nội dung và hình thức của BCKT do KTV và công ty kiểm toán phát hành chịu sự chi phối của CMKT
- Sự tương tác giữa CMKiT và CMKT: Một ảnh hưởng khác dẫn đến các thay đổi trên BCKT nữa là sự tương tác với các CMKT Khi CMKT thay đổi thì CMKiT cũng thay đổi theo Ví dụ cho trường hợp này là sự phát triển của CMKT trong việc xử
lý sự thay đổi chính sách kế toán và tình huống chưa rõ ràng Đối với sự thay đổi chính sách kế toán, theo SAS 2 (1974) thì KTV phải nhận xét rằng việc áp dụng chính sách
kế toán có nhất quán không và sự thay đổi chính sách kế toán sẽ dẫn đến một ý kiến ngoại trừ mặc dù các khai báo cần thiết đã thực hiện Sau đó theo SAS 58 (1988), nếu doanh nghiệp đã thỏa mãn ba điều kiện (chính sách mới được áp dụng bởi chuẩn mực,
xử lý đúng ảnh hưởng của sự thay đổi và người quản lý giải trình được về sự thay đổi) thì ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ được đưa ra cùng với đoạn nhấn mạnh
- Quy định liên quan đến công bố thông tin đối với các công ty niêm yết: Đối với thị trường chứng khoán thì yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính mang tính sống còn Ngoài hệ thống CMKT, CMKiT còn có các quy định về công bố thông tin Với các quy định chặt chẽ, hoàn thiện sẽ gia tăng tính minh bạch thông tin thông qua gia tăng tính kịp thời, đầy đủ và dễ hiểu của thông tin
- Nhận thức không đầy đủ của người sử dụng BCKT đối với sự phức tạp của các thuật ngữ chuyên môn trên BCKT
Trang 221.2.4 Hình thức và các nội dung cơ bản của BCKT
Nội dung của phần này sẽ trình bày về hình thức và các nội dung cơ bản của một BCKT tiêu chuẩn căn cứ vào ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC”, có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 12 năm 2009, phiên bản mới nhất của ISA 700 Chuẩn mực quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC Chuẩn mực này được áp dụng cho cuộc kiểm toán một bộ BCTC đầy đủ cho mục đích chung Theo ISA 700, hình thức và nội dung của một BCKT tiêu chuẩn như sau:
a) Nêu rõ tên đơn vị có BCTC được kiểm toán;
b) Nêu rõ rằng BCTC đã được kiểm toán;
c) Nêu rõ tiêu đề của từng báo cáo cấu thành bộ BCTC;
d) Tham chiếu đến phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác; và
e) Nêu rõ ngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán của từng báo cáo cấu thành bộ BCTC;
Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với BCTC
Mục này trong BCKT mô tả trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC tại đơn vị được kiểm toán BCKT không nhất thiết phải đề cập một
Trang 23cách cụ thể đến “Ban Giám đốc” mà sẽ sử dụng thuật ngữ thích hợp, tùy thuộc vào từng trường hợp
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban Giám đốc (hay một thuật ngữ thích hợp khác)”
BCKT phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày BCTC, trong đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, và chịu trách nhiệm về KSNB mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày BCTC không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích
về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với BCTC trong BCKT phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý BCTC của Công ty”
Trách nhiệm của KTV
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của KTV”
BCKT phải nêu rõ trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả cuộc kiểm toán
BCKT phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các ISA BCKT cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán
để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc BCTC có còn sai sót trọng yếu hay không BCKT phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:
(a) Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thập các bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên BCTC;
(b) Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của KTV, bao gồm đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC, do gian lận hoặc nhầm lẫn Khi thực hiện đánh giá rủi ro, KTV xem xét KSNB của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày BCTC trung thực, hợp lý nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình
Trang 24thực tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của
đơn vị Trong trường hợp KTV cũng có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của
KSNB cùng với việc kiểm toán BCTC, KTV sẽ bỏ đi đoạn nói rằng việc KTV xem xét
KSNB không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của đơn vị; (c) Công việc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá tính thích hợp của các chính
sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán của Ban Giám đốc
cũng như đánh giá việc trình bày tổng thể BCTC
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần mô tả về
cuộc kiểm toán trong BCKT phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực
và hợp lý các BCTC của đơn vị”
BCKT phải nêu rõ liệu KTV có tin tưởng rằng các bằng chứng kiểm toán mà KTV đã
thu thập được là đầy đủ và thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán hay không
Ý kiến của KTV
Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được lập theo khuôn khổ về tuân
thủ, ý kiến kiểm toán phải nêu rõ là BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu,
tuân thủ khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng
Nếu khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng được đề cập đến trong ý kiến
kiểm toán không phải là chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế do Uỷ ban CMKT
Quốc tế ban hành thì ý kiến kiểm toán phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập
và trình bày BCTC đó
Căn cứ vào ISA hiện hành, mục tiêu của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC
trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình
bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến
đó Tính trọng yếu là sự cân nhắc chủ yếu khi KTV hình thành ý kiến kiểm toán
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng
Trang 25BCTC Đánh giá tính trọng yếu phụ thuộc vào xét đoán của KTV, đây là một việc thật
sự khó khăn Theo ISA’s phân biệt bốn loại ý kiến kiểm toán:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng BCTC đã được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng
Trong dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có thêm dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn vấn đề khác khi muốn lưu ý người đọc BCTC về một vấn
đề không ảnh hưởng đến ý kiến của KTV
- Ý kiến kiểm toán ngoại trừ: Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC
- Ý kiến kiểm toán trái ngược: khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại,
có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC
- Từ chối đưa ra ý kiến: khi KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu
và lan tỏa đối với BCTC
Các trách nhiệm báo cáo khác
Trong BCKT về BCTC, nếu KTV nêu thêm các trách nhiệm báo cáo khác ngoài trách nhiệm của KTV là báo cáo về BCTC, các trách nhiệm báo cáo khác này phải được nêu trong một phần riêng trong BCKT
Trang 26BCKT phải ghi rõ địa chỉ nơi KTV thực hiện kiểm toán
1.3 Một vài nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC trên thế giới
Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về các nghiên cứu thực tiễn đã được thực hiện trên thế giới liên quan đến thông tin trên BCKT
1.3.1 Các nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT
Nghiên cứu của Mock và các cộng sự (2009)
Trong “BCKT chấp nhận toàn phần: một cuộc nghiên cứu về nhận thức của người sử dụng, những ảnh hưởng đến quyết định và tiến trình ra quyết định, và các định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo” đã báo cáo kết quả điều tra của họ về nhận thức của người sử dụng về BCKT chấp nhận toàn phần và những ảnh hưởng của nó đến sự xét đoán của người sử dụng Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát trên các nhóm bao gồm những người lập BCTC, các nhân viên tín dụng ngân hàng, các nhà phân tích tài chính, các nhà đầu tư không chuyên và các KTV 53 cá nhân đã tham gia trong nghiên cứu này Một vấn đề chính mà Mock và các cộng sự đã nhận biết được qua nghiên cứu là việc hiểu sai về mức độ đảm bảo có ý muốn truyền đạt trong BCKT Về việc phản ảnh KSNB, nhìn chung các nhóm tham gia đã không thừa nhận rằng ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần chỉ định điều gì về chất lượng của KSNB Tuy nhiên, một vài nhóm đã
đề nghị rằng chất lượng của KSNB nên được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Trang 27Nghiên cứu của Porter và các cộng sự (2009)
B Porter, C Ó hO1gartaigh, và R Baskerville (2009) đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Anh và New Zealand Họ cũng thực hiện một cuộc nghiên cứu thực nghiệm để nhận biết nhận thức của người sử dụng BCTC về các nội dung trên BCKT Porter và các cộng sự (2009, 187) nhận thấy rằng nội dung của BCKT đã không tạo nên sự khác biệt trong việc hiểu của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của Ban giám đốc, trách nhiệm của KTV và bản chất của quy trình kiểm toán Một phần của nghiên cứu người trả lời được yêu cầu để xác định các mục quan trọng nhất trên BCKT Những mục quan trọng nhất được đề cập là:
- Ý kiến “trung thực và hợp lý” của KTV;
- Báo cáo của Ban giám đốc và trách nhiệm của KTV đối với BCTC;
- Nhận dạng công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán; và
- Ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần và lý do
Nghiên cứu của Gold và các cộng sự (2009)
A Gold, U Gronewold, và C Pott (2009) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm
để tìm hiểu nhận thức của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của nhà quản lý, trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán Mục đích chính của nghiên cứu này là rút ngắn có thể khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán dưới BCKT theo ISA
700 được sửa đổi Khảo sát được thực hiện bao gồm các KTV có kinh nghiệm được chọn từ Big4 và các công ty không phải Big4, các nhà phân tích tài chính được chọn từ
dữ liệu Bloomberg và các sinh viên được chọn từ Đại học Erasmus Khảo sát được thực hiện 2 lần: một lần đối với các đối tượng là người Hà Lan, một lần khác được thực hiện đối với các đối tượng là người Đức Một mẫu đầy đủ bao gồm 205 KTV người Đức và 58 người Hà Lan, 62 nhà phân tích người Đức và 20 người Hà Lan, 109 sinh viên người Đức và 46 sinh viên người Hà Lan Khảo sát được thực hiện dưới hình
Trang 28thức web-based Người tham gia được yêu cầu đọc một mô tả ngắn về công ty, tóm tắt các BCTC của công ty và một BCKT Một trong số các nhóm nhận một BCKT đầy đủ (ISA 700, được sửa đổi), trong khi các nhóm khác chỉ nhận phần “ý kiến kiểm toán” của BCKT Sau đó người tham gia được yêu cầu để trả lời môt loạt các câu hỏi liên quan đến các vấn đề sau:
- Trách nhiệm của KTV và trách nhiệm của Ban giám đốc công ty trong việc lập BCTC, phát hiện và ngăn ngừa gian lận, và trách nhiệm liên quan đến cơ cấu KSNB của công ty
- Những gian lận và nhầm lẫn, độ tin cậy của BCTC
Gold và các cộng sự đã nhận thấy rằng người sử dụng BCTC đã gán trách nhiệm lớn hơn cho KTV Mặc dù những từ mới đã được sử dụng trong BCKT theo ISA 700 được sửa đổi và các giải thích chi tiết của nó về trách nhiệm của KTV, công việc và phạm vi của cuộc kiểm toán, các tác giả đã không tìm thấy được sự rút ngắn khoảng cách kỳ vọng
1.3.2 Các quan điểm tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT
Liên quan đến trình bày bổ sung các thông tin trên BCKT
Mock và các cộng sự (2009, 12) đề cập hai thông tin cần được trình bày rõ ràng hơn trên BCKT là “tính trọng yếu” và “tính độc lập” Tác giả đề nghị cần xem xét trình bày
bổ sung thông tin về các vấn đề mà có thể tác động tiềm tàng đến nhận thức của người
sử dụng báo cáo về tính độc lập của KTV, và mức độ đảm bảo tương ứng được cung cấp bởi cuộc kiểm toán Mock và các cộng sự cũng nhấn mạnh sự quan trọng của rủi
ro kinh doanh bởi những ảnh hưởng tiềm tàng của các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra
Dựa vào kết quả nghiên cứu, Porter và các cộng sự cũng đề xuất một số ý kiến nhầm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng và hy vọng làm cho BCKT có giá trị hơn cho người sử
Trang 29dụng Porter và các cộng sự đề nghị đoạn văn diễn tả ý kiến của KTV sẽ bắt đầu cho BCKT để tăng sự tập trung của người đọc vào ý kiến kiểm toán Tác giả đề nghị BCKT phải đảm bảo các từ ngữ được sử dụng trong báo cáo phải rõ ràng, đơn giản thuận tiện cho người đọc Tác giả cũng đề nghị một vài đoạn giải thích cho các từ ngữ mang tính chất tiêu chuẩn, chuyên ngành cần được tham chiếu để người sử dụng có thể tham khảo khi cần
Từ kết quả nghiên cứu, Gold và các cộng sự kết luận rằng các giải thích về trách nhiệm của Ban giám đốc, các công việc, phạm vi kiểm toán trên BCKT theo ISA 700 được sửa đổi thì không hiệu quả trong việc rút ngắn khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Nhóm tác giả đề nghị những giải thích cần được trình bày rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn và
ít mơ hồ để tránh những cách hiểu khác nhau giữa các đối tượng sử dụng
W Smieliauskas, R Craig, và J Amernic (2008) đề nghị BCKT nên thay thế các từ
“trung thực và hợp lý” bằng “rủi ro sai sót trọng yếu có thể chấp nhận được”
Sách xanh của Ủy ban Châu Âu về chính sách kiểm toán (Green Paper Audit Policy):
Tháng 10 năm 2010, Ủy ban Châu Âu phát hành sách xanh về chính sách kiểm toán Sách xanh công bố với mục đích nêu lại các bài học kinh nghiệm đúc kết được từ các cuộc khủng hoảng tài chính và đề cập vai trò giảm thiểu rủi ro tài chính trong tương lai của hoạt động kiểm toán Theo Ủy ban kiểm toán sẽ đóng góp quan trọng trong việc
ổn định tài chính và các KTV có vai trò xã hội quan trọng trong việc cung cấp ý kiến kiểm toán để đánh giá xem BCTC có trung thực và hợp lý hay không Sách xanh mô tả một số sự quan tâm đối với các vấn đề liên quan đến kiểm toán trong môi trường kinh doanh ngày nay và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Thêm vào đó, Ủy ban tập trung vào sự quản trị và tính độc lập của các công ty kiểm toán Ủy ban đề cập cần tăng cường tính độc lập của KTV và xử lý các xung đột lợi ích Ủy ban tư vấn nên cấm các
Trang 30dịch vụ phi kiểm toán được thực hiện bởi các công ty kiểm toán “bởi vì các công ty kiểm toán cung cấp một ý kiến độc lập về tình trạng sức khỏe tài chính của công ty, do
đó tốt hơn hết là họ không nên có quyền lợi gì trong công ty mà họ kiểm toán”
Nhiều bình luận, nhận xét của sách xanh được tìm thấy Trong đó có những đóng góp
có giá trị liên quan đến thông tin trên BCKT:
Liên đoàn kế toán Châu Âu (the Federation of European Accountants)
Liên đoàn kế toán Châu Âu đồng ý với các nhận xét của Ủy ban Châu Âu rằng các cổ đông, các nhà đầu tư có thể không có nhận thức đầy đủ về các hạn chế của một cuộc kiểm toán Các hạn chế bao gồm tính trọng yếu, kỹ thuật chọn mẫu, thực hiện thử nghiệm, trách nhiệm của Ban giám đốc, những người có trách nhiệm quản trị, vai trò của KTV trong việc phát hiện các gian lận và kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro Kết quả dẫn đến là khoảng cách kỳ vọng
Theo FEE, người sử dụng có thể tham chiếu đến ISA để có một mức độ hiểu biết phù hợp về kế toán, BCTC và kiểm toán FEE lưu ý KTV nên thông báo cho Ban kiểm soát về các vấn đề quan trọng phát sinh từ cuộc kiểm toán, bao gồm những yếu kém trọng yếu về KSNB, tính độc lập của KTV, các chính sách và nguyên tắc kế toán của doanh nghiệp, các ước tính kế toán và các thuyết minh BCTC, các vấn đề quan trọng liên quan đến xét đoán nghề nghiệp của KTV Theo FEE, các vấn đề trên cũng có thể được trình bày trên BCKT
Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (the American Accounting Association)
Theo AAA, sự phức tạp và các ước tính không chắc chắn tiềm tàng trên BCTC đã thay đổi rất nhiều qua thời gian Tuy nhiên, hình thức BCTC, bản chất của sự đảm bảo được cung cấp cho các ước tính kế toán và nội dung trên BCKT thì thay đổi rất ít, khoảng cách kỳ vọng tăng lên Theo AAA, KTV có thể dùng các thước đo phi tài chính để đánh giá hoạt động tài chính, để phát hiện gian lận BCTC như sự thỏa mãn khách hàng, tình trạng người lao động của doanh nghiệp được kiểm toán
Trang 31Hiệp hội kế toán nghề nghiệp Hà Lan (the Dutch Professional Accountancy Association)
NBA đề nghị yêu cầu bắt buộc đối với ý kiến kiểm toán là thêm đoạn văn nhấn mạnh liên quan đến các khía cạnh:
- Quản lý rủi ro
- Tình trạng hoạt động liên tục của đơn vị
- Các ước tính của Ban giám đốc; và
- Các nguyên tắc kế toán quan trọng
Công ty TNHH kiểm toán Ernst & Young
Họ đề nghị Ban giám đốc hoặc Ban kiểm soát báo cáo các thông tin về các rủi ro, các xét đoán, các ước tính đến các cổ đông Điều này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách kỳ vọng
PricewaterhouseCoopers
PWC tin rằng sự trình bày rõ ràng hơn, minh bạch hơn BCKT, quy trình kiểm toán, bao gồm trao đổi giữa KTV và Ban kiểm soát sẽ có ích cho khoảng cách kỳ vọng và làm rõ vai trò của KTV Theo PWC, một nội dung quan trọng mà người sử dụng đang tìm kiếm là cách các công ty quản lý các rủi ro họ phải đối mặt
Liên đoàn kế toán quốc tế (the International Federation of Accountants)
IFAC lưu ý một số nội dung mà các cổ đông yêu cầu:
- Thông tin sâu hơn về vai trò của KTV và việc thực hiện công việc kiểm toán;
- Tăng cường các thuyết minh đối với các khu vực bị đánh giá có rủi ro mà KTV
và Ban kiểm soát đã trao đổi;
- Điều kiện mà Ban kiểm soát hoặc Ban giám đốc đã dùng để lựa chọn KTV
Trang 32KPMG International
KPMG đề nghị các thông tin cần bổ sung thêm như sau:
- Trình bày các rủi ro kinh doanh chính và cách thức Ban giám đốc quản lý chúng;
- Xác nhận rằng không có các yếu kém quan trọng trong KSNB trong suốt kỳ hoặc nêu những yếu kém đó là gì và những hành động được thực hiện để giảm thiểu ảnh hưởng của chúng;
- Ban kiểm soát báo cáo các thông tin về rủi ro, các xét đoán, các ước tính quan trọng trong BCTC
Trang 33Kết luận chương 1
Nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động KTĐL nói chung và BCKT nói riêng rất dồi dào Ở đây tác giả chỉ nêu một số nội dung cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu Thông qua các lý thuyết giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo nền tảng, tác giả muốn cho người đọc thấy được vai trò và mục đích của hoạt động kiểm toán trên các quan điểm khác nhau Tác giả cũng hệ thống các vấn đề cơ bản liên quan đến BCKT về BCTC bao gồm quá trình hình thành thông tin trên BCKT về BCTC, các yếu tố tác động đến thông tin trên BCKT, hình thức và nội dung cơ bản của BCKT theo hướng dẫn của ISA Đặc biệt, tác giả nêu rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài ở ngoài nước để có cái nhìn rộng hơn về thực trạng đánh giá thông tin trên BCKT về BCTC hiện nay của các nước trên thế giới để thấy được các vấn đề đang tồn tại mà các nước đang mắc phải Bên cạnh đó cũng tham khảo, cân nhắc các đề xuất để xem xét thực hiện ở Việt Nam
Trang 34Chương 2:
THỰC TRẠNG THÔNG TIN TRÊN BCKT VỀ BCTC TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
2.1 Nội dung khảo sát thực trạng
2.1.1 Khảo sát các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam
c) Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán;
d) Địa điểm và thời gian lập BCKT;
đ) Ý kiến kiểm toán về BCTC đã được kiểm toán;
e) Nội dung khác theo quy định của CMKiT
Ngày ký BCKT không được trước ngày ký BCTC BCKT phải có chữ ký của KTV hành nghề do doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam giao phụ trách cuộc kiểm toán và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kiểm toán hoặc người được ủy quyền bằng văn bản của người đại diện
Trang 35theo pháp luật Người được ủy quyền bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật phải là KTV hành nghề
Theo điều 48 luật KTĐL số 67/2011/QH12 quy định liên quan đến hình thành ý kiến kiểm toán như sau:
Căn cứ vào kết quả kiểm toán, KTV hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải đưa ra ý kiến về BCTC và các nội dung khác đã được kiểm toán theo quy định của CMKiT Bộ Tài chính quy định nội dung không được ngoại trừ trong BCKT phù hợp với CMKiT Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, đại diện chủ sở hữu đối với đơn vị được kiểm toán có quyền yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị được kiểm toán giải trình về các nội dung ngoại trừ trong BCKT
- Chuẩn mực kiểm toán
Các thông tin trên BCKT vế BCTC theo hướng dẫn của VSA số 700 “BCKT về BCTC” Khi so sánh VSA số 700 “BCKT về BCTC” và ISA số 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC” (các yêu cầu và nội dung chính trên BCKT theo hướng dẫn của ISA 700 được trình bày trong chương 1 của nghiên cứu) thì nhìn chung, phạm vi áp dụng của chuẩn mực xoay quanh việc lập BCKT về BCTC thông qua các thủ tục kiểm toán cần được tiến hành Về mục đích, hai chuẩn mực này đều thực sự giúp bản báo cáo rõ ràng và theo sát các CMKiT áp dụng, để đảm bảo sự thống nhất, hạn chế tối đa các ngộ nhận có thể xảy ra khi đọc BCKT, cũng như quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, thủ tục cơ bản
Tuy nhiên, mục đích của ISA 700 đề cập chi tiết hơn về trách nhiệm của KTV khi đưa
ra ý kiến kiểm toán về BCTC, điều này như muốn nhấn mạnh về ý thức, đạo đức của KTV trong cuộc kiểm toán nhằm giúp BCKT có sự nhận xét độc lập, trung thực và đáng tin cậy Bên cạnh đó, cũng cần phải nói thêm là ISA 700 sử dụng từ “auditor” ý
Trang 36chỉ KTV, người thực hiện cuộc kiểm toán Trong VSA 700 ta sẽ thấy đề cập thêm doanh nghiệp kiểm toán Điều này có thể hiểu là do sự khác nhau về mặt pháp lý ở các quốc gia Về hình thức và các nội dung cơ bản trong BCKT được nêu ở hai chuẩn mực nhìn chung là tương tự nhau Về nội dung trên BCKT có một số khác biệt để phù hợp với điều kiện ở Việt Nam như theo VSA 700 yêu cầu phải có số hiệu BCKT “BCKT phải ghi rõ số hiệu phát hành BCKT của doanh nghiệp kiểm toán hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán theo từng năm (số đăng ký chính thức trong hệ thống văn bản của doanh nghiệp hoặc chi nhánh)” Trong đoạn mở đầu của BCKT, VSA yêu cầu thêm một nội dung nữa “nêu rõ ngày lập và số trang của BCTC đã được kiểm toán”
Về chữ ký của KTV, theo ISA chữ ký của KTV là tên của công ty kiểm toán hoặc tên
cá nhân của KTV hoặc cả hai, theo VSA BCKT phải có 2 chữ ký, gồm chữ ký của KTV hành nghề được giao phụ trách cuộc kiểm toán và chữ ký của thành viên Ban giám đốc là người đại diện theo pháp luật phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán Dưới mỗi chữ ký nói trên phải ghi rõ họ và tên, số Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán Trên chữ ký của thành viên Ban giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán phải đóng dấu của doanh nghiệp kiểm toán (hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán) phát hành BCKT
Có sự khác biệt về dạng ý kiến kiểm toán được hướng dẫn theo quy định của ISA và VSA hiện hành là ở VSA có thêm dạng ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố tùy thuộc vào Một số lý do kiểm toán các nước trên thế giới không còn áp dụng ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố tùy thuộc vào có thể là: Ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố tùy thuộc vào có thể làm người sử dụng BCKT bị nhầm lẫn Nó gây sự hoài nghi cho người đọc BCKT Yếu tố tùy thuộc sẽ làm cho nhà đầu tư hiểu nhầm rằng BCTC bị sai và không đáng tin cậy KTV có thể lạm dụng ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc thay vì khẳng định những đánh giá cần thiết của mình đối với BCTC
Và vừa qua, ngày 06 tháng 12 năm 2012, Bộ tài chính đã ban hành thông tư 214/2012/TT-BTC ban hành Hệ thống VSA, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
Trang 37năm 2014, hầu như tiếp thu nội dung của ISA hiện hành Theo đó dạng ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố tùy thuộc đã không còn được đề cập
- Các quy định pháp lý từ Ủy ban chứng khoán nhà nước
UBCKNN ban hành nhiều văn bản có liên quan như quyết định số 89 ngày 24/10/2007, thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/1/2010 nhằm nâng cao chất lượng của BCKT cũng như thông tin công bố của các công ty đại chúng, thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2012
và thay thế thông tư số 09/2010/TT-BTC về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán:
Quyết định 89 ban hành quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán Quyết định này quy định các tiêu chuẩn, điều kiện của một công ty kiểm toán
để có thể kiểm toán cho công ty đại chúng Quyết định còn quy định các điều kiện để KTV có thể kiểm toán BCTC cho công ty đại chúng Qua đó nhằm lựa chọn các công
ty có đủ năng lực để kiểm toán BCTC cho các công ty đại chúng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của BCKT BCTC các công ty đại chúng
Thông tư số 52/2012/TT-BTC hướng dẫn việc công bố thông tin trên TTCK: Theo thông tư, công ty đại chúng công bố thông tin về BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất 10 ngày kể từ ngày tổ chức KTĐL ký BCKT và không quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Công ty phải lập và nộp BCTC bán niên đã được soát xét bởi tổ chức KTĐL được chấp thuận theo qui định trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày kết thúc sáu tháng đầu năm tài chính Trường hợp công ty niêm yết, công ty đại chúng lớn là công ty mẹ của tổ chức khác thì thời hạn nộp BCTC bán niên hợp nhất đã được soát xét và BCTC bán niên công ty mẹ là 60 ngày kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm
Trang 38Công ty phải công bố thông tin về BCTC quý trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý Công ty công bố đầy đủ BCTC quý trên trang thông tin điện tử của công ty
và trên phương tiện công bố thông tin của UBCKNN và SGDCK và phải lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty
để nhà đầu tư tham khảo Công ty phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xảy ra các sự kiện sau:
Công ty bị tổn thất tài sản có giá trị từ mười phần trăm (10%) vốn chủ sở hữu trở lên tính tại BCTC năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc BCTC bán niên gần nhất được soát xét
Quyết định/Nghị quyết của ĐHCĐ/Hội đồng quản trị liên quan đến vấn đề tăng, giảm vốn điều lệ; góp vốn có giá trị từ mười phần trăm (10%) trở lên tổng tài sản của công ty vào một tổ chức khác; góp vốn có giá trị từ năm mươi phần trăm (50%) trở lên tổng vốn của công ty nhận vốn góp; thông qua hợp đồng vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn năm mươi phần trăm (50%) tổng giá trị tài sản tính tại BCTC năm gần nhất được kiểm toán hoặc BCTC bán niên gần nhất được soát xét
Nghị quyết/Quyết định của Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị về việc mua, bán tài sản có giá trị lớn hơn mười lăm phần trăm (15%) tổng tài sản của công ty tính tại BCTC năm gần nhất được kiểm toán hoặc BCTC bán niên gần nhất được soát xét;
Nghị quyết/Quyết định của Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đóng mở công ty trực thuộc, chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện;
Khi giá chứng khoán niêm yết của công ty (trường hợp là tổ chức niêm yết) tăng trần hoặc giảm sàn từ mười (10) phiên liên tiếp trở lên;
Khi có giải trình liên quan đến các số liệu tài chính do công ty phải công bố thông tin theo quy định của pháp luật khác với số liệu tài chính tại BCTC được kiểm toán
Trang 392.1.2 Khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết
ở Việt Nam
2.1.2.1 Thu thập và xử lý dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập ý kiến đánh giá của các đối tượng nghiên cứu trong phạm
vi nghiên cứu, cụ thể là nhóm các đối tượng nhà đầu tư chứng khoán đang niêm yết trên sàn, nhà quản trị doanh nghiệp niêm yết và các nhân viên tín dụng ngân hàng – đại diện cho các chủ nợ thông qua bảng câu hỏi khảo sát nhằm mục đích đánh giá thông tin trên BCKT về BCTC thông qua tìm hiểu nhận thức của người sử dụng đối với các thông tin chính trên BCKT về BCTC
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các bài viết liên quan đến đánh giá thông tin trên BCKT về BCTC của các doanh nghiệp niêm yết thông qua các báo, tạp chí, đặc biệt là nguồn thông tin từ internet góp phần đáng kể cho bài nghiên cứu
- Xử lý dữ liệu: Bằng cách thống kê mô tả lại dữ liệu dưới dạng tổng hợp nội dung chính, mô hình hóa bằng bảng, biểu đồ (sử dụng excel), sau đó chọn lọc thông tin để tiến hành phân tích, đánh giá
2.1.2.2 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua bảng câu hỏi
- Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang điểm likert với thang điểm 5 Đây là một dạng thang đo lường về mức độ đồng ý hay không đồng ý với các câu khẳng định được nêu
ra Mỗi câu sẽ bao gồm 2 phần: phần nêu nội dung và phần nêu đánh giá theo từng nội dung đó Với thang đo này người trả lời phải biểu thị một lựa chọn theo 5 mức độ được nêu sẵn cho mỗi câu Câu hỏi điều tra được thiết kế dựa theo nội dung của ví dụ mẫu về BCKT chấp nhận toàn phần được hình thành theo hướng dẫn của VSA số 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC (Ban hành kèm theo Thông tư số
Trang 40214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài Chính) có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 Xem PHỤ LỤC 1: Bảng câu hỏi khảo sát
- Đối tượng khảo sát
Với nghiên cứu này, đối tượng khảo sát phù hợp tập trung vào nhà đầu tư chứng khoán đang niêm yết trên sàn, nhà quản trị doanh nghiệp niêm yết và các nhân viên tín dụng ngân hàng – đại diện cho các chủ nợ Tuy nhiên, do hạn chế trong việc tiếp cận đối tượng các nhà quản trị doanh nghiệp và thời gian nghiên cứu ngắn nên nghiên cứu sẽ tập trung gửi khảo sát đến nhân viên tín dụng ngân hàng, chuyên viên phân tích tại các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân nhận thấy có hiểu biết về kinh tế tài chính để nâng cao tính khả thi trong việc phúc đáp bảng câu hỏi trong thời gian ngắn
- Kết quả khảo sát
Bảng câu hỏi được gửi cho các nhà đầu tư chứng khoán, các chuyên viên tín dụng, chuyên viên phân tích tài chính tại thành phố Hồ Chí Minh với số lượng là 120 bảng Tuy nhiên, tác giả chỉ nhận lại được 75 bảng câu hỏi Trong đó, chỉ có 60 bảng hợp lệ (được trả lời đầy đủ và hợp lý) Bảng tổng hợp kết quả trả lời câu hỏi được trình bày ở PHỤ LỤC 2 Phần này sẽ trình bày số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi sau khi được
xử lý và trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ