1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam

68 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 879,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó bao gồm các hệ thống hoặc mô hình quản lý được ứng dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động và vốn; các công nghệ tiên tiến được áp dụng; các nghiên cứu, phát triển mới liên quan đế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM TẤN ĐỘ

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT YẾU TỐ TỔNG HỢP CỦA CÁC NGÀNH Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM TẤN ĐỘ

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT YẾU TỐ TỔNG HỢP CỦA CÁC NGÀNH Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM KHÁNH NAM

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi thực hiện

Các trích dẫn và số liệu đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Phạm Tấn Độ

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục hình

Danh mục bảng

Danh mục phụ lục

Các từ viết tắt

Tóm tắt

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Khái niệm và nhân tố tác động đến TFP 5

2.2 Vai trò và tác động lan tỏa của FDI 8

2.2.1 Vai trò của FDI 8

2.2.2 Tác động lan tỏa của FDI 9

2.3 Mô hình cân bằng tổng quát 13

2.4 Nghiên cứu liên quan 19

Trang 5

2.5 Khung phân tích 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Nguồn dữ liệu 25

3.2 Mô hình tính toán tăng trưởng TFP 25

3.3 Mô hình phân tích hồi quy 28

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 32

4.1 Tổng quan xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam 32

4.2 Kết quả tính toán tăng trưởng TFP 36

4.3 Kết quả phân tích tác động FDI đến tăng trưởng TFP 39

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 53

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước 12

Hình 2.2 Dòng vốn FDI N-S trong mô hình cân bằng tổng quát 16

Hình 2.3 Khung phân tích của nghiên cứu 24

Hình 4.1 Xu thế số dự án và các dòng vốn FDI giai đoạn 2000-2010 33

Hình 4.2 Xu thế vốn FDI đăng ký và thực hiện giai đoạn 1991-2010 33

Hình 4.3 Tốc độ tăng trưởng TFP bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 37

DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1 Vốn FDI theo phân ngành kinh tế, tích lũy đến cuối năm 2011 35

Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 36

Bảng 4.3 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 39

Bảng 4.4 Kết quả hồi qui cho mô hình tác động của FDI tới TFPG 41

Bảng 4.5 TFPG bình quân hàng năm và tổng vốn FDI giai đoạn 2000-2011 43

DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1: Kết quả tính toán tăng trưởng TFP 53

Phụ lục 2: Thống kê các biến sử dụng trong phân tích hồi qui 55

Phụ lục 3: Kết quả hồi qui 57

Phụ lục 4: Hausman test 60

Trang 7

CÁC TỪ VIẾT TẮT

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FE Fixed Effect

R&D Nghiên cứu và phát triển

TFP Năng suất yếu tố tổng hợp

TFPG Tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp

Trang 8

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng TFP cho 16 ngành ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 Nghiên cứu cho thấy về mặt lý thuyết, với vai trò không những mang đến nguồn vốn mà còn mang đến tri thức và công nghệ FDI được cho là có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng TFP nói riêng Nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán tăng trưởng TFP, kết quả cho thấy tăng trưởng TFP khá cao ở các ngành trong lĩnh vực dịch vụ và nông nghiệp, các ngành công nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên có tốc độ tăng trưởng TFP thấp, thậm chí có một số ngành âm Nghiên cứu cũng thực hiện hồi qui dữ liệu bảng nhằm đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng TFP cho các ngành ở Việt Nam Kết quả là dòng vốn FDI có tác động tiêu cực đến tăng trưởng TFP với mức ý nghĩa 1% Theo kết quả ước lượng thì nếu tỉ lệ vốn FDI trên tổng đầu ra tăng lên 10% thì nó sẽ làm giảm TFP 0,27% -0,39% Nghiên cứu cũng đưa ra một số lập luận để giải thích cho tác động tiêu cực này, thứ nhất có thể là

do tác động lấn át của các doanh nghiệp FDI và năng lực hấp thu kém của các doanh nghiệp trong nước Nguyên nhân thứ hai có thể là các dòng vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào các ngành, lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên và tận dụng nguồn lao động giá rẻ chứ không mang lại nhiều lợi ích cho tiến bộ công nghệ, nâng cao năng lực quản lý cho nền kinh tế Qua đó, tác giả có đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện tác động của FDI lên tăng trưởng TFP

Trang 9

cả yếu tố nghiên cứu và phát triển, công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kỹ năng quản lý và các thay đổi trong tổ chức TFP là chỉ tiêu phản ánh thế chủ động về kinh tế của một tổ chức hay một Quốc gia dựa trên sự đổi mới các quá trình sản xuất và công nghệ, kỹ thuật TFP ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện phát triển dựa trên đổi mới bằng sự nhấn mạnh vào khả năng sáng tạo, đổi mới và các phương pháp quản

lý tiên tiến cũng như các đầu tư mang lại giá trị gia tăng cao Đối với các nước phát triển, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là tương đối cao (Solow, 1957), còn trong điều kiện các nước đang phát triển, hầu hết đều trong tiến trình cung cấp lao động và cung cấp vốn cho nền kinh tế, nên đóng góp của vốn và lao động là chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế Nhưng nếu không có những giải pháp khoa học và công nghệ, phương thức quản lý, thì tăng vốn và tăng lao động một cách cơ học khó dẫn đến một nền kinh tế tăng trưởng cao Trong bài báo về lý thuyết tăng trưởng của Solow (1994) khẳng định tăng vốn và lao động có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, còn tăng TFP mới là nguồn gốc tăng trưởng trong dài hạn.Vì vậy, trong điều kiện kinh tế toàn cầu ngày nay, yếu tố TFP ngày càng được coi là nhân tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế

Thị trường tài chính trên toàn cầu hiện tại đang rộng mở và tạo nhiều thuận lợi cho các dòng vốn, trong đó có dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lưu chuyển một cách tự do gần như khắp thế giới Gorg và Greenaway (2004) cho rằng dòng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài thông qua đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia ngoài việc mang đến nguồn vốn cho nước nhận đầu tư, còn mang đến rất nhiều lợi ích cho quốc gia

Trang 10

2

nhận đầu tư như những quy trình khoa học công nghệ sản xuất mới, giúp nâng cao trình độ quản lý của bộ phận quản lý và tay nghề cũng như trình độ chuyên môn của người lao động ở nước nhận đầu tư Hiện tại các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển đang tích cực thay đổi thể chế và mở cửa để thu hút tối đa dòng vốn quốc tế này, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu hướng quốc tế trên, tính đến năm 2012 Việt Nam ghi nhận nguồn vốn đăng ký xấp

xỉ 215 tỉ USD về tổng số từ hơn 14.800 dự án vốn đầu tư nước ngoài Tổng số vốn thực hiện những dự án này lên tới gần 90 tỉ USD (Cục Đầu Tư Nước Ngoài, 2013) Ngoại trừ hai điểm đột biến vào các năm 1996 và 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã có xu hướng tăng dần Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiện đã chỉ ra rằng dòng vốn FDI đi vào Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung không đóng góp tích cực vào nguồn gốc tăng trưởng của các nước này (Aitken và Harrison, 1999; Djankov và Hoekman, 2000; Konings, 2001; Binh, 2012)

Alfaro và Ozcan (2008) nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu 72 quốc gia trên thế giới cho rằng chỉ có con đường tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp mới giúp quốc gia tăng trưởng bền vững, những quốc gia nhận đầu tư FDI và tăng trưởng thông qua gia tăng nguồn lực vốn và nhân lực thì dẫn tới tăng trưởng không bền vững vì sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình Ở Việt Nam nghiên cứu Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2005) chỉ ra rằng dòng vốn FDI ở Việt Nam có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ nhưng chỉ thông qua việc gia tăng lượng vốn trong nền kinh tế chứ không làm gia tăng năng suất lao động và vốn nhân lực thông qua đổi mới công nghệ, hay nói cách khác không giúp gia tăng TFP.Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào ở cấp độ ngành đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng TFP Do đó, mục đích nghiên cứu của tác giả ở đây là xem xét liệu dòng vốn FDI có thật sự tác động đến tăng trưởng TFP ở cấp độ ngành ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 hay không Và nếu có thì đó là tác động tích cực hay tiêu cực

Trang 11

3

1.2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Luận văn có hai mục tiêu nghiên cứu chính, thứ nhất là tính toán tốc độ tăng trưởng TFP của các ngành Thứ hai là đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tốc độ tăng trưởng TFP của các ngành ở Việt Nam Nghiên cứu xem xét, tổng hợp một số mô hình lý thuyết về mối liên hệ giữa FDI và TFP như mô hình tăng trưởng ngoại sinh của Solow (1956), mô hình tăng trưởng nội sinh hay lý thuyết tăng trưởng mới và mô hình cân bằng tổng quát của Ben Ferrett (2004) Nghiên cứu sử dụng số liệu ở cấp độ ngành, bao gồm 16 ngành, trong giai đoạn 2000 - 2011 Dữ liệu tính toán chủ yếu lấy từ Niên giám thống kê hàng năm và trên trang web của tổng cục thống kê Nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow (1956) để tính toán tăng trưởng TFP và

sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để đánh giá tác động của dòng vốn FDI lên tăng trưởng TFP Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nhằm kiểm định lại các kết quả của các nghiên cứu trước về mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng TFP Qua đó đưa ra một

số gợi ý chính sách cho việc tiếp nhận dòng vốn FDI vào trong nước

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi chính: Liệu rằng FDI có tác động đến tăng trưởng TFP của các ngành ở Việt Nam hay không?

Để trả lời câu hỏi này, tác giả thực hiện trả lời các câu hỏi phụ sau:

1 Về mặt lý thuyết, FDI tác động đến tăng trưởng TFP như thế nào?

2 Tính toán tăng trưởng TFP ở cấp độ ngành như thế nào?

3 Liệu dòng vốn FDI có tác động đến tăng trưởng TFP của các ngành trong nước hay không?

1.4 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 5 chương, tiếp theo sau chương giới thiệu là Chương 2, chương này trình bày cơ sở lý thuyết sử dụng để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng TFP

Trang 12

4

thông qua mô hình cân bằng tổng quát và kênh tác động lan tỏa Trong chương này, cũng đưa ra một vài nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu này Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm mô tả số liệu và mô hình phân tích Phần kết quả và thảo luận về tăng trưởng TFP và tác động của FDI sẽ được trình bày ở Chương 4 Chương 5 sẽ là phần kết luận, kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong phần này, đầu tiên tác giả sẽ khái quát về TFP và các nhân tố tác động đến TFP Tiếp theo sẽ trình bày vai trò của FDI và hiệu ứng lan tỏa của nó Tiếp đến là mô hình lý thuyết cân bằng tổng quát (General Equilibrium) về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng TFP Cuối cùng là tóm tắt một số nghiên cứu liên quan

2.1 Khái niệm và nhân tố tác động đến TFP

TFP hay còn được gọi là phần dư Solow được đưa ra lần đầu tiên bởi Robert Solow trong nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng kinh tế của mình năm 1956 Khái niệm TFP ban đầu được dùng trong phân tích vĩ mô, nhưng sau đó nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích vi mô ở cấp độ ngành hay doanh nghiệp Theo Solow (1956) hàm sản xuất được viết dưới dạng:

Y = A(t)F(K,L) , A(t) chính là TFP

TFP là tỷ số của số lượng tất cả các đầu ra với số lượng tất cả đầu vào TFP đo lường quan hệ giữa đầu ra với mức kết hợp hai hay nhiều các đầu vào (thường là lao động và vốn) Goldberg và cộng sự (2005) cho rằng TFP còn thể hiện một phần của đầu ra còn lại không giải thích được sự đóng góp trong các yếu tố đầu vào Cụ thể, TFP

đo lường đóng góp cho đầu ra của nền kinh tế vượt ra ngoài đóng góp bởi số lượng lao động, máy móc và vốn sử dụng Như vậy, TFP phản ảnh tiến bộ của khoa học, kỹ thuật

và công nghệ, của giáo dục và đào tạo, qua đó gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn vào cả chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động Tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, của vốn và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực này Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh

tế Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều

Trang 14

6

kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội

Do đó, việc tăng TFP ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khi mà nền kinh tế hiện nay đang chuyển sang hướng phát triển mới Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Năng suất châu Á (2004) TFP có thể tăng vì nhiều lý do: chất lượng của lao động tăng lên, giúp cho một giờ làm việc đem lại nhiều sản lượng hơn; thay đổi về thành phần hay chất lượng của vốn khiến cho sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn; có thể do tiến bộ công nghệ xuất phát từ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước, vay mượn từ tri thức toàn cầu, hay chỉ đơn giản là rút kinh nghiệm từ thực

tế làm việc; cũng có thể do tái phân bổ nguồn lực, một người lao động chuyển từ một công việc có năng suất thấp sang một công việc có năng suất cao trong nhà máy sẽ trở nên có hiệu quả hơn, dù trình độ học vấn không thay đổi; ngoài ra những thay đổi ngắn hạn về cầu cũng có thể làm thay đổi TFP

Chất lượng nguồn lao động: Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng năng lực cho

lực lượng lao động, nâng cao trình độ học vấn làm tăng khả năng tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ; nâng cao kỹ năng, tay nghề của người lao động Đầu vào có chất lượng của nguồn lao động làm tăng năng lực sản xuất ra các sản phẩm

và dịch vụ chất lượng cao- yếu tố rất quan trọng làm tăng TFP (Romer, 1990) Ở quốc gia đang phát triển, vai trò của vốn nhân lực là để hấp thu các công nghệ hiện đại từ các quốc gia phát triển Ở quốc gia phát triển, vai trò nguồn vốn nhân lực là để thực hiện các đổi mới công nghệ Yếu tố tác động tới chất lượng lao động là đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), chất lượng nền giáo dục đào tạo, tác động FDI (Haacker, 1999) và học tập bằng cách thực hành -learning by doing (Arrow, 1962)

Thay đổi nhu cầu hàng hoá, dịch vụ: Việc tăng nhu cầu trong nước và nước

ngoài đối với sản phẩm và dịch vụ sẽ dẫn đến tỷ lệ sử dụng sản phẩm tiềm năng cao

Trang 15

7

hơn Từ đó kích thích sản xuất và sáng tạo nhiều hơn, cải tiến chất lượng, mẫu mã dẫn đến tác động đến TFP Ví dụ, Melitz (2003) cho rằng nhu cầu xuất khẩu tăng doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư vào công nghệ, thực hiện chuyên môn hóa, mở rộng sản xuất nhằm tăng năng suất, giảm chi phí lao động (Hiệu quả kinh tế theo quy mô)

Thay đổi cơ cấu vốn đầu tư: Đầu tư phát triển công nghệ sản xuất mới là yêu cầu

đòi hỏi tất yếu nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ Công nghệ mới sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm chi phí sản xuất Thông qua cơ cấu lại vốn, các ngành

sẽ hoạch định tốt hơn nhằm tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh Lựa chọn các lĩnh vực

để đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường đầu tư công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin và truyền thông; các công nghệ hiện đại, tự động hoá; đầu tư vào những lĩnh vực có năng suất cao, có giá trị gia tăng lớn từ đó sẽ tăng TFP

Thay đổi cơ cấu kinh tế: Cơ cấu lại nền kinh tế là việc chuyển các nguồn lực từ

các ngành và thành phần kinh tế kém năng suất sang ngành và thành phần kinh tế có năng suất cao, tận dụng tốt lợi thế so sánh Việc phân bổ lại các nguồn lực phát triển kinh tế như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ giữa các ngành, các thành phần kinh tế để có được các ngành và thành phần kinh tế có năng suất cao hơn sẽ dẫn đến sử dụng có hiệu suất và hiệu quả các nguồn lực và dẫn đến TFP tăng cao

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ: Trong các yếu tố kể trên, yếu tố tiến bộ

khoa học kỹ thuật - công nghệ đóng góp vào tăng TFP được được cho là quan trọng hơn cả (Hall và Jones, 1999) Nó bao gồm các hệ thống hoặc mô hình quản lý được ứng dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động và vốn; các công nghệ tiên tiến được

áp dụng; các nghiên cứu, phát triển mới liên quan đến phát triển sản phẩm mới, phương pháp sản xuất, phương pháp quản lý; chất lượng lực lượng lao động trong ứng dụng, vận hành những khoa học và công nghệ tiến bộ; chuyển giao những sáng kiến và đổi mới vào thực tế tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, quá trình có năng suất và chất lượng

Trang 16

8

cao Tính sáng tạo, sự đổi mới và tư duy năng suất sẽ định hướng sự tích tụ, phổ biến

và sử dụng kiến thức nhằm tăng TFP.Tiến bộ công nghệ có thể được hình thành từ việc chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư FDI, từ những phát kiến công nghệ từ hoạt động nghiên cứu phát triển và từ việc học hỏi, bắt chước các doanh nghiệp của các nước phát triển, các doanh nghiệp FDI

Theo lý thuyết tân cổ điển của Solow (1956) đã chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ là nguồn gốc của tăng trưởng trong dài hạn và nó là nhân tố quyết định đến tăng trưởng TFP Lý thuyết này cho rằng tiến bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh, được ví như yếu tố

“từ trên trời rơi xuống” (manna from heaven) Tuy nhiên, lý thuyết tăng trưởng nội sinh hay lý thuyết tăng trưởng mới (Arrow, 1962; Romer, 1986; Lucas, 1988; Rebelo,

1991 và Grossman và Helpman, 1994) lý giải rằng tiến bộ công nghệ là yếu tố nội sinh Nguồn gốc của của tiến bộ công nghệ là từ những phát kiến, từ hoạt động nghiên cứu phát triển, từ việc học hỏi hay vốn con người

2.2 Vai trò và tác động lan tỏa của FDI

2.2.1 Vai trò của FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được xem là một trong những nhân tố quan trọng trong đầu tư FDI tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau Tác động đối với tăng trưởng của FDI thường được thông qua kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua các tác động lan tỏa Một số ý kiến còn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tư trong nước thông qua tăng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI họăc tiêu thụ sản phẩm từ các doanh nghiệp FDI Mặt khác chuyển giao công nghệ

từ các doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài có thể diễn ra thông qua việc bổ sung thêm khối lượng tư bản dùng cho hoạt động sản xuất nhiều hơn, sử dụng những cải tiến trong sản phẩm và quy trình sản xuất, và thông qua các hoạt động đổi mới và R&D của những doanh nghiệp này ở nước nhận đầu tư (Gorg và Greenaway, 2004) Đồng thời, các

Trang 17

9

chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng của chính phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình thành và phát triển Theo cách tiếp cận khác, FDI gây áp lực buộc nước sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trước hết là cải thiện môi trường đầu tư, qua đó làm giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài, tăng hiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế (Blomstrom và Wang, 1992) Trái lại cũng có một số ý kiến lo ngại về tác động tiêu cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế, cho rằng sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn FDI có thể gây cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nước mà phần thua thiệt thường là các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp trong nước

bị mất thị trường, mất lao động có kỹ năng và vì vậy có thể dẫn đến phá sản Ngoài ra, vốn FDI có thể làm cho đầu tư trong nước bị thu hẹp do nhiều doanh nghiệp bị mất cơ hội đầu tư họăc đầu tư không hiệu quả do trình độ công nghệ thấp kém, vốn ít Điều này xảy ra khi xuất hiện tác động lấn át đầu tư của doanh nghiệp FDI (Aitken và Harrison, 1999)

2.2.2 Tác động lan tỏa của FDI

Sự xuất hiện của tác động lan tỏa của FDI có thể lý giải qua sự chênh lệch về trình

độ phát triển giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước và vì vậy

ưu thế thuộc về các công ty đa quốc gia- là các công ty có thế mạnh về vốn và công nghệ Nhờ đó các công ty con hoặc liên doanh do các công ty đa quốc gia thành lập thường có lợi thế về cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các nước kém phát triển Blomstrom và cộng sự (1994) cho rằng sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài trước hết làm mất cân bằng trên thị trường và buộc các doanh nghiệp trong nước phải điều chỉnh hành vi của mình nhằm duy trì thị phần và lợi nhuận Vì vậy, tác động lan tỏa có thể được coi là kết quả của hoạt động của các công

ty nước ngoài diễn ra đồng thời với quá trình điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp trong nước

Trang 18

10

Có thể phân ra bốn loại tác động lan tỏa: (1) tác động liên quan tới cơ cấu đầu đầu vào của doanh nghiệp (Backward-forward effects), (2) tác động liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ (Demonstration effects), (3) tác động liên quan đến thị phần trong nước hay tác động cạnh tranh (Competition effect) và (4) tác động liên quan đến trình độ lao động hay vốn con người ( Human Capital) Các tác động lan tỏa nêu trên có thể ảnh hưởng tới TFP của các doanh nghiệp trong nước

ra-Tác động lan tỏa loại thứ nhất xuất hiện khi có sự trao đổi/hoặc mua bán nguyên vật liệu hoặc hàng hoá trung gian giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước Loại tác động này có thể sinh ra theo hai chiều: tác động xuôi chiều (forward effect) xuất hiện nếu doanh nghiệp trong nước sử dụng hàng hoá trung gian của doanh nghiệp FDI và ngược lại tác động ngược chiều (backward effect) có thể xuất hiện khi các doanh nghiệp FDI sử dụng hàng hóa trung gian do các doanh nghiệp trong nước sản xuất Việc các doanh nghiệp trong nước cung cấp hàng hoá trung gian cho doanh nghiệp FDI sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất và giảm chi phí trên 1 đơn vị sản phẩm (Đây là kết quả của hiệu suất tăng dần theo qui mô) Đồng thời để duy trì mối quan hệ bạn hàng lâu dài, các doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI, nhất là về chất lượng sản phẩm nên có xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng mới trong sản xuất Chính hành vi này giúp doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường sản phẩm trong trung và dài hạn Nhiều nghiên cứu thực tiễn cho rằng hầu hết các doanh nghiệp trong nước khó trở thành nhà cung cấp nguyên liệu/hàng hoá trung gian đầu vào cho doanh nghiệp FDI do không đáp ứng được yêu cầu do phía cầu đưa ra Tuy nhiên, nếu tác động ngược chiều xảy ra thì các doanh nghiệp trong nước có khả năng bứt lên và tiến hành xuất khẩu hoặc chiếm lĩnh dần thị phần sản phẩm mà trước đây do các doanh nghiệp FDI thống lĩnh Vì vậy, tác động ngược chiều này là mong muốn và rất có ý nghĩa đối với các nước chậm phát triển

Trang 19

11

Tác động lan tỏa liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ thường được coi là một mục tiêu quan trọng của các nước nghèo Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất tại nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài tuy nhiên xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước (Blomstrom và Wang, 1992) Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây

áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Về phía doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổi mới công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty qui mô lớn có tiềm năng công nghệ trên thế giới nắm giữ, để vượt qua yếu điểm này họ có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ tiên tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủ trong nước nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liên doanh, qua đó diễn ra quá trình rò rỉ công nghệ Điều này góp phần làm tăng trưởng công nghệ ở các doanh nghiệp trong nước Đây là nhân tố quan trọng làm tăng TFP của các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với các nước nghèo là liệu các điều kiện trong nước có đủ để đón nhận phổ biến và chuyển giao công nghệ hay không Kết quả từ mô hình lý thuyết Glass và Saggi (1998) rút ra

là mức độ phổ biến và chuyển giao công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp trong nước

Loại tác động lan tỏa tiếp theo cũng được coi là rất quan trọng đối với các nước chậm phát triển là sự có mặt của doanh nghiệp FDI tạo ra tác động cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước (Blomstrom và Wang, 1992; Glass và Saggi, 2002) Tuy nhiên, tác động này lại phụ thuộc vào cấu trúc thị trường và trình độ công nghệ của

Trang 20

12

nước nhận đầu tư Đối với các nước chậm phát triển, trong nhiều trường hợp tác động

cạnh tranh của FDI là rất khốc liệt trước khi nó mang lại tác động lan tỏa tích cực khác

Hình 2.1 Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước

Ví dụ, các doanh nghiệp FDI tung ra thị trường một loại sản phẩm mới có tính chất

thay thế cho sản phẩm trước đây sản xuất bởi doanh nghiệp trong nước, qua đó ảnh

hưởng lớn tới sự tồn tại của doanh nghiệp trong nước Sự hiện diện của FDI chính là

một tác nhân thúc đẩy cạnh tranh và trong nhiều trường hợp, tác động lan tỏa có thể

dẫn đến tình trạng giảm sản lượng của doanh nghiệp trong nước trong ngắn hạn

Hình trên là một ví dụ thể hiện phản ứng (hay là kết quả của tác động lan tỏa) của doanh nghiệp trong nước trước sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI cùng ngành trong ngắn hạn Sự lấn át thị trường của doanh nghiệp FDI làm thu hẹp thị phần của doanh nghiệp trong nước và đẩy chi phí

cố định lên cao Trước tác động này, doanh nghiệp trong nước có xu hướng điều chỉnh giảm chi phí trung bình (từ AC1 xuống AC2) Nhưng nếu áp lực cạnh tranh ban đầu từ doanh nghiệp FDI đủ mạnh, doanh nghiệp sẽ buộc phải giảm sản lượng (từ Q1 xuống Q2) và tác động cuối cùng là làm tăng giá thành trên 1 đơn vị sản phẩm (chuyển dịch từ vị trí 1 lên 2) Nguồn: Aitken và Harrison (1999)

Sản lượng

Giá một đơn

vị sản phẩm

AC1 AC2 Q1

Q P1

P2

Trang 21

Ngoài việc tạo thêm việc làm, FDI còn là một tác nhân truyền bá kiến thức quản lý

và kỹ năng tay nghề cho lao động của nước nhận FDI (Haacker, 1999) Tác động lan tỏa này xuất hiện khi các doanh nghiệp FDI tuyển dụng lao động nước sở tại đảm nhận các vị trí quản lý, các công việc chuyên môn hoặc tham gia nghiên cứu và triển khai Việc truyền bá kiến thức cũng diễn ra thông qua kênh đào tạo công nhân kỹ thuật ở trong nước và tại công ty mẹ Tác động lan tỏa tuy nhiên chỉ phát huy tác dụng khi đội ngũ lao động có trình độ này ra khỏi doanh nghiệp FDI và chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp trong nước hoặc tự thành lập doanh nghiệp và sử dụng những kiến thức tích luỹ được trong quá trình làm việc cho các công ty con hoặc liên doanh với nước ngoài vào công việc kinh doanh tiếp đó Song mức độ di chuyển lao động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sự phát triển của thị trường lao động, cầu về lao động

có trình độ kỹ năng cũng như các điều kiện gia nhập thị trường khi muốn khởi sự doanh nghiệp Đây cũng chính là cản trở lớn mà các nước chậm phát triển đang phải đối mặt Một vài đánh giá định lượng chỉ xác nhận mối quan hệ tích cực giữa kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhận lao động chuyển từ doanh nghiệp FDI cùng ngành Trái lại, mối quan hệ này không được xác nhận đối với lao động trước đây được các công ty FDI đào tạo và làm trong các doanh nghiệp FDI khác ngành (Goerg và Strobl, 2002) Trên thực tế, loại tác động lan tỏa do di chuyển lao động tuy nhiên rất khó đánh giá với nhiều lý do Chẳng hạn, doanh nghiệp trong nước tiếp nhận lao động chuyển sang không có điều kiện hoặc không tạo điều kiện cho số lao động này phát huy năng lực của mình Năng suất lao động của doanh nghiệp tăng lên còn do nhiều yếu tố khác,

phụ thuộc vào quy mô vốn, cơ hội thị trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 22

14

2.3 Mô hình cân bằng tổng quát

Mô hình cân bằng tổng quát được Ben Ferrett (2004) đưa ra, xuất phát từ mô hình tăng trưởng nổi tiếng của Solow (1956) Trong mô hình này, dòng vốn FDI (khi cân bằng) đi từ nước có công nghệ cao tới thấp và ưu thế về công nghệ của một số quốc gia được giả định là được bao gồm cho dòng vốn FDI Dòng FDI đi vào quốc gia đang phát triển với công nghệ thấp làm tăng tổng TFP một cách trực tiếp (thông qua nhập khẩu vốn tốt) và gián tiếp (thông qua lan tỏa công nghệ từ các doanh nghiệp địa phương) Vì vậy, các mô hình này hình thành một quá trình mà qua đó dòng FDI có thể làm cho các nước đang phát triển bắt kịp (và có thể hội tụ) với các nước phát triển Một đặc điểm nổi bật trong phân tích này là khía cạnh cân bằng tổng quát Thế giới bao gồm hai khu vực (có lẽ các quốc gia riêng rẽ và nhóm các quốc gia giống nhau) Bắc và Nam Hàm sản xuất tổng hợp có Cobb-Douglas có dạng:

Phía Bắc: Y N = A N K N α L N 1-α  y N = A N k N α

Phía Nam: Y S = A S K S α L S 1-α  y S = A S k S α

Trong đó, chữ cái viết hoa và viết thường lần lượt thể hiện tổng số lượng (Y = sản lượng ròng, K = vốn, L = lao động) và năng suất trên đầu người (y = sản lượng ròng/lao động, k = vốn/lao động) Chỉ số AN và AS lần lược là TFP của khu vực Bắc và Nam α là đóng góp của vốn trong tổng sản phẩm quốc gia

Trong nền kinh tế tự cấp tự túc (không có dịch chuyển quốc tế của cả hai yếu tố), mức độ vốn trên đầu người tại trạng thái dừng được xác định (như trong mô hình tăng trưởng của Solow) bằng mức vốn yêu cầu đầu tư trên đầu người (tài trợ bằng tiết kiệm)

để bù đắp cho phần vốn khấu hao và tăng trưởng dân số:

Nền kinh tế tự cấp tự túc: s i y i = (n+δ)k i , i Є {N,S}

Đầu tư thực hiện trên đầu tư yêu cầu trên đầu người đầu người (bằng tiết kiệm) để duy trì k cố định

Trang 23

Chúng ta đưa ra giả định sau: dẫn đầu công nghệ (A N > A S) và hành vi tiết kiệm:

(s N > s S) Giả định đầu nghĩa là khu vực phía N dẫn đầu công nghệ và khu vực S có

công nghệ thấp hơn đủ để đảm bảo cho r S > r N trong nền kinh tế tự cấp tự túc Hình 2.2 minh họa phân tích này Chú ý rằng trong nền kinh tế tự cấp tự túc, vốn trong trạng thái dừng và thu nhập theo đầu người của các nước phía S đều thấp hơn các nước phía N vì

hai lý do: khuynh hướng tiết kiệm biên và tích lũy của phía N cao hơn (s N > s S) và TFP

của nó cũng cao hơn (A N > A S )

Cho đến bây giờ, ta vẫn giả sử việc không di chuyển hoàn hảo các yếu tố giữa hai vùng Bây giờ ta giả sử vốn có thể dịch chuyển hoàn hảo trên phạm vi quốc tế (toàn

cầu hóa), hàm ý r S = r N = r w với r w là lãi suất thế giới thực khi cân bằng, (mặt khác vốn

có thể thay đổi đến nơi có sinh lợi) Vì r S > r N trong nền kinh tế tự cấp tự túc, vốn sẽ

dịch chuyển từ phía N xuống phía S do tự do hóa Giá trị cân bằng của k N , k S tại trạng thái dừng dưới giả định dịch chuyển hoàn hảo được đặc trưng bởi hai điều kiện sau:

Để đảm bảo cho sản lượng biên của vốn giữa các vùng bằng nhau:

R N = r S  k N /k S = (A N /A S ) 1/(1-α) (2.1)

Đảm bảo cho tổng cầu vốn và tổng cung vốn cân bằng ở phạm vi toàn cầu thì xuất khẩu vốn từ phía N trên đầu người = nhập khẩu vốn từ phía S trên đầu người:

s N y N – (n+δ)k N = (n+δ)k s – s S y S (2.2)

(2.2) hàm ý giả định hai vùng có cùng mức dân số; mở rộng đến hai vùng không có

cùng mức dân số đòi hỏi biểu thức bên trái (2.2) được nhân với tỉ số L N /L S

Trang 24

16

Hình 2.2 Dòng vốn FDI N-S trong mô hình cân bằng tổng quát (Nguồn Solow

1957)

Trang 25

17

Ban đầu k N >k S ở nền kinh tế tự cung tự cấp Khi dòng FDI đi từ N sang S, sản xuất trên đầu người giảm ở khu vực N và tăng ở khu vực S vì vốn dịch chuyển về khu vực phía S Thứ hai, dòng FDI từ N xuống S, điều này tạo ra khả năng dịch chuyển công nghệ nếu ưu thế TFP của phía N đi kèm với dòng vốn ra của nó Vì vậy, TFP khu vực

S tăng trưởng nếu tồn tại một khoảng cách công nghệ giữa khu vực phía N và S Khoảng cách công nghệ giữa hai khu vực N và S càng lớn thì TFP của khu vực phía S tăng càng nhanh và tầm quan trọng của vốn FDI của phía N càng tăng đối với phía S (Wang, 1990; Findlay, 1978) Tuy nhiên, điều này có thể không đúng nếu phía S thiếu khả năng hấp thụ Vì vậy, trong thế giới được mô tả như trong hình 2.2, dịch chuyển vốn hoàn hảo hàm ý (trong rất dài hạn) As hội tụ AN khi phíaS tiếp nhận vốn FDI và kỹ

thuật từ phía N Chú ý rằng từ (2.1) A S = A N hàm ý k S = k N để cho lãi suất thực cân

bằng Khi đó, y S = y N với mọi k S = k N nhưng phía S luôn chào đón FDI từ phía N vì

khuynh hướng tiết kiệm biên của nó thấp hơn (s N > s S)

Một điểm đáng lưu ý ở đây là tác động gia tăng trong khuynh hướng tiết kiệm của phía S (sS) Giả sử sS tăngđến mức của sN Khi đólãisuất thực của hai vùng tự cấp tự túc sẽ bằng nhau và không có sự dịch chuyển vốn nào xảy ra giữa hai vùng ngay cả khi

tự do hóa Vì vậy, phía S rơi vào cái bẫy và nó không bao giờ bắt kịp phía N Đây là ví

dụ mà tiết kiệm có thể cản trở tích lũy vốn mà đúng ra nó phải xảy ra trong dài hạn Lý

do cho vấn đề này là tiết kiệm gia tăng lấn át hoàn toàn dòng FDI từ phía N, vì vậy

phía S mất lợi ích do dịch chuyển công nghệ mang lại Tất nhiên, đây là trường hợp đối lập vì sự gia tăng sS mà vẫn duy trì s N > s S sẽ nhất quán với dòng FDI từ N tới S và dịch chuyển công nghệ do tự do hóa vốn Ở đây, một sự gia tăng trong tiết kiệm của khu vực phía S làm cản trở sự hội tụ với khu vực phía N

Tiếp theo ta xem xét ngắn gọn hai nhánh lý thuyết nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và TFP trong mô hình cân bằng tổng quát với cạnh tranh không hoàn hảo Thứ nhất, Rodriguez-Clare (1996) kiểm tra việc làm thế nào mà việc tăng cầu các hàng hóa

Trang 26

18

trung gian được sản xuất tại địa phương, được tạo ra bởi FDI bên trong trong khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng, có thể làm tăng chuyên môn hóa (chuyên môn hóa lao động) trong các ngành trung gian vì sản xuất đa dạng (vd: nhiều doanh nghiệp gia nhập hơn), đây là vấn đề mà mô hình cạnh tranh hoàn hảo chưa giải quyết được khi mà có một số doanh nghiệp cực lớn Tiếp theo sau nghiên cứu của Ethier (1982) trong việc áp dụng mô hình cạnh tranh độc quyền đối với mối quan hệ thẳng đứng giữa các ngành sản xuất sản phẩm trung gian và hàng hóa cuối cùng của Dixit và Stiglitz (1977), Rodriguez-Clare (1996) đã chứng minh rằng FDI vào các khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng tạo ra ngoại tác tích cực cho các nhà sản xuất hàng hóa cuối cùng khác thông

quan mối liên kết ngược (backward linkages): nhu cầu đầu tư MNEs làm cho khu vực

sản xuất hàng hóa trung gian mở rộng (hay đa dạng hơn), từ đó làm tăng TFP của các nhà sản xuất địa phương của các hàng hóa cuối cùng

Nhóm thứ hai của mô hình cân bằng tổng quát với cạnh tranh không hoàn hảo là kiểm tra mối quan hệ giữa quyết định R&D của các doanh nghiệp phía N, được thực hiện để đạt được mức chất lượng cao hơn và tận dụng vị trí độc quyền trong thị trường

và tỉ lệ bắt chước của các doanh nghiệp ở phía S Grossman và Helpman (1991, chương 11 và 12) và Helpman (1993) cho rằng các doanh nghiệp phía N khám phá và sản xuất sản phẩm mới trước khi sản xuất từ từ dịch chuyển sang phía S có chi phí rẻ hơn Tỉ lệ bắt chước cao hơn của các doanh nghiệp phía S đối với các sản phẩm của các doanh nghiệp phía N làm dịch chuyển sản xuất sang phía S vì lợi thế chi phí dẫn đến nghịch lý làm tăng chi phí R&D ở phía N: mặc dù lợi nhuận độc quyền do nghiên cứu thành công một sản phẩm chỉ tồn tại trong ngắn hạn nhưng khoản lợi nhuận này vẫn lớn hơn trước vì việc bắt chước sản xuất nói chung ở phía S làm giảm giá yếu tố ở phía N Glass và Saggi (1999) đã đưa yếu tố FDI của các doanh nghiệp phía N vào khung phân tích Có hai kênh chuyển giao công nghệ quốc tế giữa hai khu vực N và S: các doanh nghiệp phía S bắt chước các doanh nghiệp phía N hoặc các MNEs có xuất

xứ từ phía N Tác động của FDI phía N vào phía S và vào mức độ R&D ở phía N phụ

Trang 27

19

thuộc vào khả năng bắt chước của các doanh nghiệp phía S đối với luồng FDI vào trong S Nếu khả năng này xét về tổng thể gia tăng, chi phí R&D ở phía N sẽ tăng

2.4 Nghiên cứu liên quan

Các nghiên cứu đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng TFP nói riêng trên thế giới khá phong phú và đa dạng, và đưa ra nhiều kết luận không thống nhất về tác động này Nhận định của Gorg và Greenaway (2004) cho rằng FDI có sinh ra tác động lan tỏa, tuy nhiên việc xuất hiện tác động lan tỏa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, thậm chí phụ thuộc cả vào phương pháp ước lượng Findlay (1978), Blomstrom và Wang (1992), Das (1987), Van và Wan (1999) khi nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa FDI và TFPG ở cấp

độ doanh nghiệp và ngành công nghiệp ở quốc gia cụ thể Haddad và Harrison (1993)

sử dụng số liệu hỗn hợp ở cấp độ doanh nghiệp của ngành chế tác của Maroc, đã nhận thấy rằng ở những công ty có phần chia vốn nước ngoài cao hơn lại có TFP thấp hơn Theo hướng ngược lại, Proenca và cộng sự sử dụng số liệu hỗn hợp ở cấp độ doanh nghiệp ở Bồ Đào Nha đã phát hiện ra ảnh hưởng tích cực của FDI lên TFP trong thời

kỳ 1996-1998 Djankov và Hoekman (2000) chỉ ra rằng FDI tác động tích cực đến TFPG của các ngành tiếp nhận đầu tư của CH Séc nhưng hiệu ứng lan tỏa thấp Konings (2001) nghiên cứu các ngành ở Poland, Bulgaria và Romania, kết quả là FDI tác động tích cực nhưng yếu, hiệu ứng lan tỏa tích cực ở Poland nhưng tiêu cực ở Bulgaria và Romania Khi nghiên cứu dữ liệu ở Venezuela, Aitken và Harison (1999)

đã chỉ ra rằng tác động ròng của FDI lên TFP ở Venuezuela là khá nhỏ, đầu tư nước ngoài giúp gia tăng năng lực sản suất của những doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nhận được nguồn vốn đầu tư này trong khi lại làm giảm năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa Một số nghiên cứu khác lại cho kết quả tác động không có ý nghĩa của tác động lan tỏa của FDI như nghiên cứu của Kokko và cộng sự

Trang 28

20

(2001) ở Uruguay, Barrios và Strobl (2002) ở Tây Ban Nha giai đoạn 1990-1994, Smarzynska (2002) ở Lithuania giai đoạn 1996-2000

Tiếp theo sẽ là phần điểm qua một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác động

của FDI đến tăng trưởng TFP

Ở cấp độ vĩ mô, nghiên cứu của Khan (2006) về các nhân tố tác động đến TFP ở Pakistan Tác giả sử dụng số liệu chuỗi thời gian từ năm 1960 đến 2003, đầu tiên tác giả sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán TFP Tiếp theo tác giả đưa

ra các nhân tố tác động đến TFP bao gồm sự ổn định vĩ mô, độ mở của nền kinh tế, đầu

tư trực tiếp nước ngoài, vốn con người, sự phát triển hệ thống tài chính và một số nhân

tố khác như thâm hụt ngân sách, tiêu dùng của chính phủ, dân số, đầu tư và các chỉ số lao động Biến FDI được đo bằng tỉ lệ dòng vốn FDI vào chia cho GDP, biến độ mở nền kinh tế được đo bằng tổng giá trị xuất, nhập khẩu trên GDP Tác giả chia các biến

sử dụng thành hai nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm biến lạm phát, thâm thâm hụt ngân sách, tiêu dùng của chính phủ, dân số, chỉ tiêu giáo dục, độ mở nền kinh tế và phát triển tài chính Hồi qui cho các biến trên tác giả đã tìm thấy kết quả không như mong đợi là mở cưa thương mại có tác động tiêu cực mức ý nghĩa 1% đến TFP Với nhóm biến thứ hai (lạm phát, tín dụng cá nhân, đầu tư trong nước, việc làm, chi tiêu chính phủ và dòng vốn FDI), tác giả đã tìm thấy tác động dương của FDI với ý nghĩa 1% lên TFP Kết quả hồi qui cho toàn bộ các biến cho kết quả là biến FDI không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian nên có thể sẽ gặp phải vấn

đề về đa cộng tuyến và mối quan hệ nhân quả giữa FDI và TFP Mặt khác nghiên cứu chỉ có 43 quan sát nên độ tin cậy không cao

Trong nghiên cứu khác của Woo (2009) cho 92 quốc gia trên thế giới sử dụng cả

dữ liệu chéo và dữ liệu bảng trong giai đoạn 1970-2000, tác giả cũng dùng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán tăng trưởng TFP Kết quả hồi cũng tìm thấy tác động tích cực của FDI, được đo bằng tỉ lệ của dòng vốn FDI đầu tư và GDP, đến

Trang 29

21

tăng trưởng TFP Nghiên cứu tương tự cũng được thực hiện gần đây bởi Binh (2012) với 103 quốc gia trong giai đoạn 1996-2009, tuy nhiên kết quả lại chỉ ra tác động tiêu cực của FDI lên tăng trưởng TFP

Trong một nghiên cứu mới đây nhất của Botirjan Baltabaev (2013) về tác động của FDI đến tăng trưởng TFP, tác giả cho rằng mặc dù những lợi ích to lớn về mặt lý thuyết của FDI đối với nền kinh tế, kết quả thực nghiệm mang lại bằng chứng trái ngược nhau về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Điều này là do sự thiếu sót của các phương pháp nghiên cứu không giải quyết được vấn đề nội sinh và các biện pháp đo lường các biến Sử dụng hệ thống phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng 46 quốc gia trên thế giới giai đoạn 1974-2008, tác giả cho thấy rằng FDI tác động tích cực đến tăng trưởng TFP Trong mô hình nghiên cứu của mình, tác cũng sử dụng các biến quen thuộc như một số nghiên cứu ở trên như FDI (tỉ lệ dòng vốn FDI chia cho GDP), R&D (tỉ số giữa chi cho R&D trên GDP), khoảng cách công nghệ (tỉ số giữa năng suất lao động của Mỹ trên năng suất lao động của quốc gia đó), vốn con người (số năm đi học trung bình), độ mở cửa thương mại (chỉ số Globalization Index), lạm phát, tốc độ tăng dân số Kết quả phân tích hồi qui chỉ ra rằng các tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng TFP phụ thuộc vào mức độ khả năng hấp thụ của nước tiếp nhận đầu tư và khoảng cách công nghệ Kết quả cũng cho thấy rằng những nước có khoảng cách công nghệ lớn hơn dường như được hưởng lợi nhiều hơn từ FDI

Ở cấp độ vi mô, Keller và Yeaple (2004) nghiên cứu tác động lan tỏa công nghệ quốc tế cho các ngành công nghiệp của Mỹ thông qua nhập khẩu và FDI giữa những năm 1987 và 1996 của, tác giả đã cho thấy rằng FDI dẫn đến tăng năng suất đáng kể cho các công ty trong nước Tác giả sử dụng phương pháp đo lường TFP của Olley-Pakes (1996) và mô hình phân tích hồi qui để đánh giá tác động lan tỏa của FDI và nhập khẩu:

it it it

it

Trang 30

22

Với FI it , IM it và X it lần lược là các biến đại diện cho tác động của FDI, tác động của nhập khẩu và các biến kiểm soát thể hiện các đặc tính của doanh nghiệp Và dữ liệu bảng của 50 ngành công nghiệp của Mỹ Kết quả cho thấy tác động lan tỏa FDI là rất quan trọng về kinh tế, chiếm khoảng 11% tăng trưởng năng suất trong các ngành công nghiệp Mỹ từ năm 1987 đến năm 1996 Ngoài ra, nhập khẩu cũng cho tác động lan tỏa dương, nhưng nó là yếu hơn so với FDI

Để đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng TFP ở ngành ngân hàng, Sailesh Tanna (2009) số liệu của 566 ngân hàng thương mại của 75 nước trên thế giới trong giai đoạn 2000-2004 Nghiên cứu tính toán tốc độ tăng trưởng TFP sử dụng phương pháp phân tích non-parametric Malmquist Sau đó, thực hiện hồi quy sử dụng dữ liệu bảng, mô hình hồi quy :

TFPG itc = a 0 + a 1 FDI tc + a 2 B itc + a 3 Z tc + u tc

FDI là biến đại diện cho tác động của dòng vốn FDI vào các quốc gia, B là nhóm các biến đặc tính của ngân hàng và Z là nhóm các biến đặc tính của quốc gia (trong đó

có biến về thương mại quốc tế) Với việc sử dụng thêm biến về độ trễ FDI, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của dòng vốn FDI đến TFPG là tiêu cực trong ngắn hạn nhưng lại tích cực trong dài hạn

Trong nghiên cứu hiếm hoi về tác động của FDI đến tăng trưởng TFP ở Việt Nam, Thangavelu, Findlay và Chongvilaivan (2010), sử dụng dữ liệu bảng ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2002-2008 Nghiên cứu sử dụng phương pháp bán tham

số của Levinsohn-Petrin (2003) để ước tính TFP Phương pháp này giúp kiểm soát được tính không đồng nhất và tính nội sinh của các biến Trong phân tích thực nghiệm, tác giả sử dụng mô hình:

TFP it = α0 + α1 lnFDI it + α2lnLIQUIDITY it + α3lnLEVERAGE it + α4lnSIZE it +

α5lnCOM it +α6lnHUMANK it + α7XM it +µ it + u it

Trang 31

23

Trong đó, FDI it là biến đại diện cho kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài, được đo

bằng tỉ số giữa vốn thực hiện chia cho tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Hai biến thể

hiện tình hình tài chính gồm biến LIQUIDITY it thể hiện tính thanh khoản và được đo

bằng tỷ lệ giữa tài sản lưu động (ngắn hạn) với tổng tài sản và biến LEVERAGE it thể

hiện cho tỷ lệ nợ phải trả Các biến thể hiện cho đặc tính doanh nghiệp gồm biến SIZE it

thể hiện cho qui mô của doanh nghiệp, được đo lường bằng tổng doanh thu của doanh

nghiệp, được dùng để kiểm soát ảnh hưởng của tính kinh tế theo qui mô Biến COM it

đo bằng tỉ lệ số máy vi tính được sử dụng trên mỗi nhân viên, thể hiện cho đặc tính đầu

tư vào thiết bị kĩ thuật cao và biến HUMANK it thể hiện cho vốn con người, được đo bằng tỉ lệ lao động có trình độ chia cho tổng lao động Biến XM it là biến giả, nhằm giả thích tác động của xuất nhập khẩu

Tác giả sử dụng bộ số liệu khảo sát doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2002 đến 2008

Sử dụng cả ba mô hình hồi qui là OLS, Fixed Efect và Random Effect Kết quả là cả 3

mô hình hồi qui đều cho tác động tích cực của FDI đến TFP với mức ý nghĩa 1% Hạn chế tài chính (tính thanh khoản thấp và hạn chế tiếp cận tín dụng bên ngoài) cũng có tương quan dương đối với TFP, nó xuất hiện như một mối đe dọa lớn đến việc thực hiện sản xuất của các công ty trong các ngành công nghiệp sản xuất tại Việt Nam Kết quả cũng chỉ ra rằng qui mô của doanh nghiệp, việc áp dụng trang thiết bị kỹ thuật cao

và vốn con người tác động tích cực đến TFP Biến xuất, nhập khẩu không có ý nghĩa thống kê trong mô hình phân tích này

Tóm lại, các nghiên cứu ở trên đều cung cấp những lý thuyết nền rất tốt cho tác giả thực hiện nghiên cứu này Mỗi nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích khác nhau,

dữ liệu khác nhau và do đó cũng cho những kết quả không giống nhau Trong nghiên cứu của mình, với mục tiêu đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng TFP cho các ngành ở Việt Nam, với nguồn số liệu thu thập được tác giả sẽ sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán TFPG và hồi qui dữ liệu bảng Fixed effect và

Trang 32

sử dụng phương pháp phân tích hồi qui, sử dụng dữ liệu bảng cho 16 ngành trong giai đoạn 2000-2011

Hình 2.3 Khung phân tích của nghiên cứu

Dữ liệu bảng Hồi quy

Hạch toán tăng trưởng

Tăng trưởng TFP

Tăng trưởng vốn

Tăng trưởng GDP

Tăng trưởng vốn của ngành

Tăng trưởng lao động của ngành

Trang 33

25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này đầu tiên sẽ là phần giới thiệu về nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu Sau đó là phần trình bày mô hình hạch toán tăng trưởng để tính toán tăng trưởng TFP Và cuối cùng là mô hình phân tích hồi qui tác động của FDI đến tăng trưởng TFP, giải thích và định nghĩa các biến trong mô hình

3.1 Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp Dữ liệu được lấy từ ấn phẩm niên giám thống kê từ năm 2000-2011, ấn phẩm doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21và nguồn cơ sở dữ liệu khảo sát doanh nghiệp tại trang web của Tổng Cục Thống Kê, http://www.gso.gov.vn đều của tổng cục thống kê Nghiên cứu sử dụng

số liệu trong giai đoạn từ năm 2000-2011 ở cấp độ ngành, phân theo danh mục hệ thống ngành VSIC-93 mã cấp 1, bao gồm 16 ngành

Số liệu về lao động, nguồn vốn, doanh thu thuần, lợi nhuận, thuế và các khoản phải nộp, thuế xuất nhập khẩu, tổng thu nhập của người lao động được lấy từ ấn phẩm doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21 (lấy số liệu từ năm 2000 đến 2008) và cơ

sở dữ liệu khảo sát doanh nghiệp tại trang web của Tổng Cục Thống Kê, http://www.gso.gov.vn (số liệu năm 2009-2011) Số liệu về FDI lấy từ niên giám thống

kê, mục đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép hàng năm phân theo ngành kinh tế Số liệu về hệ số giảm phát được lấy từ trang web của Ngân Hàng Thế Giới, http//databank.worldbank.org

3.2 Mô hình tính toán tăng trưởng TFP

Năm 1957, Solow đã công bố bài báo “Thay đổi Kỹ thuật và Hàm sản xuất”, trong

đó ông đã thực hiện việc hạch toán tăng trưởng đơn giản để phân tách tăng trưởng đầu

ra thành tăng trưởng tư bản, tăng trưởng lao động, và tăng trưởng tiến bộ công nghệ

“Hạch toán tăng trưởng” ban đầu dựa trên hàm sản xuất dạng: Y t = A t f (K t , L t ) (3.1)

Trang 34

26

Với A t chính là TFP Trong mô hình này chúng ta xem Y, A, K và L là hàm liên tục theo thời gian Còn hàm f là thuần nhất bậc một Qua mô hình này ta thấy kết quả sản xuất Y thay đổi do các đầu vào và TFP

Chúng ta lấy vi phân hai vế của (3.1) theo thời gian, ta được:

dY t = A t (f K,t dK t + f L,t dL t ) + f t dA t (3.2)

Trong đó: f K,t =  f (K t , L t ) /  K t và f L,t =  f (K t , L t ) /  L t

Chia cả hai vế của (3.2) cho Y t , ta được:

t t

t t

t

t t L

t t

t

t t

dL f

L f K

dK f

K f

t t

t t

t

t

A

dA và L

dL K

dK Y

dY

, , tương ứng là tốc độ tăng của đầu ra, vốn, lao động và

TFP;

t

t t L

t

t t

K

f

L f và f

K

f , , tương ứng là hệ số co giãn của đầu ra theo vốn và lao động

Theo Solow trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo thì các hệ số co giãn

có thể đo lường thông qua tỷ trọng đóng góp của từng nhân tố Trong điều kiện cạnh tranh, để cực đại lợi nhuận, các doanh nghiệp bán sản phẩm của mình tại mức giá pt, và thuê hay mua các đầu vào tại mức giá pKt và pLt sao cho:

p t A t f K,t = p Kt (3.4) và p t A t f L,t = p Lt (3.5)

Nhân hai vế của phương trình (3.4) cho K t / p t Y t , phương trình (3.5) cho L t / p t Y t ta

được:

t K t t

t t K

K p f

K

f

, ,

,

t t

t t L

t

t t L

w Y p

L p f

K f

, ,

,

Với w K,t w L,t lần lượt là tỷ lệ đóng góp của vốn và lao động trong giá trị sản xuất

Vì vậy, chúng ta có thể đo lường tốc độ tăng TFP bằng cách dùng số liệu thu thập được về tốc độ tăng của đầu ra, tốc độ tăng của các đầu vào và tỷ trọng đóng góp của

Ngày đăng: 09/08/2015, 13:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Hình 2.1. Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước (Trang 20)
Hình  2.2.  Dòng  vốn  FDI  N-S  trong  mô  hình  cân  bằng  tổng  quát.  (Nguồn  Solow - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
nh 2.2. Dòng vốn FDI N-S trong mô hình cân bằng tổng quát. (Nguồn Solow (Trang 24)
Hình 2.3. Khung phân tích của nghiên cứu - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Hình 2.3. Khung phân tích của nghiên cứu (Trang 32)
Hình 4.1. Xu thế số dự án và các dòng vốn FDI giai đoạn 2000-2010 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Hình 4.1. Xu thế số dự án và các dòng vốn FDI giai đoạn 2000-2010 (Trang 41)
Bảng 4.1. Vốn FDI theo phân ngành kinh tế, tích lũy đến cuối năm 2011 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.1. Vốn FDI theo phân ngành kinh tế, tích lũy đến cuối năm 2011 (Trang 43)
Bảng 4.2. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011. - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.2. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 (Trang 44)
Hình 4.3.  Tốc độ tăng trưởng TFP bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Hình 4.3. Tốc độ tăng trưởng TFP bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2011 (Trang 45)
Bảng 4.3. Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.3. Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (Trang 47)
Bảng 4.4 trình bày kết quả hồi qui Random Effect (RE)và Fixed Effect (FE) cho dữ  liệu  bảng  của  16  ngành  trong  giai  đoạn  2000-2011  ở  Việt  Nam,  sử  dụng  phần  mềm  Stata - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.4 trình bày kết quả hồi qui Random Effect (RE)và Fixed Effect (FE) cho dữ liệu bảng của 16 ngành trong giai đoạn 2000-2011 ở Việt Nam, sử dụng phần mềm Stata (Trang 47)
Bảng 4.4. Kết quả hồi qui cho mô hình tác động của FDI tới TFPG - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.4. Kết quả hồi qui cho mô hình tác động của FDI tới TFPG (Trang 49)
Bảng 4.5. TFPG bình quân hàng năm và tổng vốn FDI giai đoạn 2000-2011 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp của các ngành ở Việt Nam
Bảng 4.5. TFPG bình quân hàng năm và tổng vốn FDI giai đoạn 2000-2011 (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w