1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

75 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 639,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hoạt động tín dụng là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ: ch

Trang 1

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng

1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng và hoạt động tín dụng

- Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của NHTM, trong đó NHTM (bên cho vay) thoả thuận chuyển giao tài sản (tiền hoặc hiện vật) cho khách hàng (bên đi vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay

- Hoạt động tín dụng là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc

có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ liên quan khác

1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho NHTM Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng Mặt khác, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng

Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến rủi ro về lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro nguồn vốn Do đó các ngân hàng phải có những biện pháp quản lý hoạt động tín

Trang 2

dụng một cách thích hợp để nâng cao chất lượng tín dụng Nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho ngân hàng.

1.1.3 Các loại tín dụng ngân hàng

Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau

1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay.

Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 1 năm Thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụ tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu cá nhân

Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm Cho vay trung hạn dùng để cho vay vốn mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới thiết bị kỹ thuật và mở rộng, xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh

Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm Được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến, đầu tư công nghệ mới và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

1.1.3.2 Căn cứ vào bảo đảm tín dụng.

Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ 3

Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ 3

1.1.3.3 Căn cứ vào mục đích tín dụng.

Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất động sản, bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa

Trang 3

Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua nguyên vật liệu, trả thuế, và chi trả lương.

Tín dụng nông nghiệp: Đây là khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc

Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân để mua sắm hàng hoá tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà, trang thiết bị trong nhà Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công

ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác

Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc và cho thuê lại chúng

Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng như tín dụng kinh doanh chứng khoán

1.1.4.2 Việc sử dụng vốn vay.

Trang 4

Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên.

1.1.4.3 Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.

Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay

1.1.5 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.1.5.1 Định nghĩa rủi ro tín dụng

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro Theo Frank Knight: “Rủi ro là

sự bất trắc không thể lường được”; Irving Preffer thì cho rằng “ rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thế đo lường được bằng xác suất”; còn theo Allan Wilett thì “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” Nói chung đối với hầu hết mọi người thì rủi ro ám chỉ một kết cục

không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định.

Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng cơ bản của NHTM Đối với hầu hết các NHTM, dư nợ tín dụng thường chiếm một tỷ

lệ đáng kể trong tổng tài sản Có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng

từ 1/3 đến 1/2 tổng thu nhập Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro với những tổn thất nặng nề cho các NHTM Khoản tín dụng có rủi ro có mang các đặc trưng sau:

- Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với NH khi các cam kết vay vốn đã hết hạn

- Tình hình tài chính của khách hàng có chiều hướng xấu dẫn tới khả năng

NH không thu hồi được vốn gốc và lãi

Trang 5

- Giá trị tài sản bảo đảm không đủ trang trải nợ gốc và lãi.

- Thông thường, các khoản nợ này quá hạn từ 90 ngày trở lên

Trong khuôn khổ chuyên đề, tác giả đi theo cách định nghĩa: “Rủi ro tín

dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người

đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán”.

Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng

1.1.5.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:

Trang 6

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến RRTD nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng

- Về phía ngân hàng, rủi ro tín dụng trước hết phát sinh do ngân hàng chưa thiết lập được một quy trình tín dụng chặt chẽ Một quy trình tín dụng gồm các giai đoạn: lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng Giữa các giai đoạn có mối quan hệ hỗ trợ nhau, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và ảnh hưởng đến chất lượng công việc của các giai đoạn sau Vì vậy, nếu NHTM xây dựng quy trình tín dụng không rõ ràng, không phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động, loại hình khách hàng… thì nguy cơ xảy rủi ro tín dụng cao

- Ngân hàng thiếu một chính sách tín dụng rõ ràng, không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Chính sách tín dụng được hiểu là các định hướng chung trong việc cho vay, bao gồm: chế độ cho vay, quy định về bảo đảm tiền vay, quy trình tín dụng, chính sách khách hàng, lĩnh vực ngành nghề ưu tiên Nếu chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn, thống nhất sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng và sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng

- Rủi ro tín dụng do cán bộ ngân hàng chấp hành quy trình nghiệp vụ không nghiêm túc, phân tích tín dụng không chuẩn xác, thiếu sự kết hợp giữa các bộ phận trong một ngân hàng, giữa các ngân hàng trong một hệ thống

- Một số chi nhánh của hệ thống NHTM do chạy theo thành tích, muốn tăng nhanh dư nợ đã hạ thấp lãi suất cho vay, hạ thấp điều kiện tín dụng để thu hút khách hàng, tạo ra việc cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các chi nhánh, làm giảm lợi nhuận của toàn hệ thống

- Việc phân tích khách hàng một cách phiến diện, quá quan tâm đến điều kiện đảm bảo tín dụng như: tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh mà coi nhẹ tính khả thi, khả năng hoàn vốn của dự án cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng

Trang 7

- Do ngân hàng thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác về khách hàng (còn gọi là sự không cân bằng về thông tin hay thông tin không cân xứng), từ

đó dẫn đến những quyết định cấp tín dụng sai đối tượng

- Do trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ: chưa được đào tạo đầy

đủ, không am hiểu về các lĩnh vực mà ngân hàng định đầu tư, không am hiểu luật pháp… thậm chí, có những cán bộ yếu kém về phẩm chất, tư cách đạo đức đã lợi dụng vị trí của mình để tham ô, trục lợi nên đã gây ra tổn thất tín dụng cho ngân hàng

Nguyên nhân từ phía khách hàng

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng là xuất phát từ phía khách hàng Việc khách hàng không tôn trọng các cam kết tín dụng, không hoàn trả nợ cho ngân hàng thể hiện ở các điểm sau:

- Người vay thiếu trung thực khi cung cấp các thông tin về khả năng tài chính hoặc tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, gây khó khăn trong việc thẩm định, đánh giá

- Người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay vốn ban đầu, nguồn tiền vay sử dụng vào mục đích khác mà họ cho rằng sẽ mang lại lợi nhuận cao nhưng tỷ lệ rủi ro cũng rất cao và kết quả là gây thất thoát vốn, mất khả năng trả nợ vay

- Một số khách hàng cố ý lợi dụng kẽ hở của luật pháp để tính toán lừa đảo, chụp giật, móc ngoặc, sử dụng vốn vay sai mục đích, không có ý định trả nợ

- Người đi vay gặp rủi ro không mong muốn trong quá trình kinh doanh như: thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào biến động (giá nguyên vật liệu tăng) làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp và do đó, việc trả nợ ngân hàng bị trì hoãn hoặc không được thực hiện

Trang 8

- Người đi vay cố tình không trả nợ ngân hàng mặc dù họ có khả năng tài chính Đây là một hiện tượng khá phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay.

- Do năng lực quản lý, điều hành của người vay yếu kém dẫn đến việc quản

lý và sử dụng vốn vay không có hiệu quả, làm thất thoát vốn nên không có khả năng hoàn trả ngân hàng đúng hạn

- Do sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước, như việc sáp nhập, giải thể các doanh nghiệp Nhà nước, chính sách ngừng xuất khẩu gỗ, thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng…

- Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ rủi ro quốc gia: trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các NHTM phải quan tâm đến yếu tố rủi ro quốc gia,vì bất kì một sự thay đổi về thể chế chính trị hay luật pháp của bất kỳ quốc gia nào cũng đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Chiến lược hoạt động và quy hoạch phát triển của toàn hệ thống ngân hàng đang trong quá trình hình thành, chiến lược kinh doanh của các NHTM chưa rõ ràng về mặt định tính và định lượng, nguồn lực tài chính, quy mô vốn tự có còn nhỏ bé nên không có nguồn bù đắp cho những tổn thất, thất thoát

- Các nguyên nhân bất khả kháng khác như: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,

sự biến động của thị trường, thay đổi về lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và trên thế giới… cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Trang 9

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm

Có nhiều khái niệm về quản lý rủi ro như:

- Quản lý rủi ro có thể được định nghĩa như một hình thức quản trị nhằm giảm thiểu các tổn thất và tối đa hoá các khoản lợi nhuận bằng các công cụ thích hợp thông qua xác định nguyên nhân của rủi ro

- Quản lý rủi ro có thể là việc xác định, đánh giá và xử lý các tình huống xảy

ra rủi ro gây thiệt hại về tài sản

- Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và

có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về quản lý rủi ro tín dụng Tuy nhiên, từ các khái niệm về quản lý rủi ro nêu trên, có thể suy ra khái niệm quản lý rủi ro tín dụng như sau:

Quản lý rủi ro tín dụng là việc phòng ngừa, kiểm soát, tìm ra nguyên nhân và xử lý các tình huống xảy ra rủi ro tín dụng nhằm giảm thiểu các tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra.

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng

(1) Duy trì sự hoạt động bền vững cho ngân hàng

Do nguồn vốn của ngân hàng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau trong xã hội, rủi ro tín dụng có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, và mức độ sẽ trở nên nghiêm trọng khi những người gửi tiền đồng loạt rút tiền, lúc này một loại rủi ro khác sẽ xảy ra là rủi ro thanh toán Vậy nên ngân hàng cần quan tâm tới việc quản lý rủi ro tín dụng để mức độ rủi ro xảy ra hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát

Trang 10

của ngân hàng, và không làm ảnh hưởng đến hoạt động bền vững trong tương lai của ngân hàng.

(2) Duy trì sự ổn định của hệ thống NHTM

Việc quản lý rủi ro tín dụng không chỉ có ý nghĩa đối với một ngân hàng, vì các ngân hàng luôn hoạt động trong một hệ thống nên khi một ngân hàng gặp rủi ro nghiêm trọng và dẫn tới sụp đổ thì nó gây ra hiệu ứng lan truyền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Điều này sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế

(3) Tăng cường hiệu quả hoạt động tín dụng

Năng lực quản lý rủi ro mà không tốt thì việc mở rộng tín dụng của ngân hàng cũng không thực sự có ý nghĩa, vì càng mở rộng có nghĩa là ngân hàng càng phải đối mặt với thua lỗ nhiều hơn thậm chí là ăn mòn dần vào vốn khiến ngân hàng khiến ngân hàng khó có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường và cạnh tranh Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng phải bỏ lỡ những cơ hội mở rộng khách hàng và giảm thị phần của mình

Như vậy, việc nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng đối với một ngân hàng chính là vấn đề sống còn, khi mà cho đến nay nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ truyền thống và chủ yếu của nhiều ngân hàng trên thế giới

1.2.3 Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng

* Nguyên tắc 1: Không có rủi ro thì không có lợi nhuận

Khi kinh doanh tín dụng thì không thể bảo đảm hoàn toàn không có rủi ro, nhưng nếu tất cả các NHTM đều ngại rủi ro mà không cung cấp các sản phẩm tín dụng thì đã bỏ lỡ một thị trường rộng lớn Việc chấp nhận rủi ro có ý thức là việc ngân hàng cần có sự tính toán trước về mức độ rủi ro tín dụng để có thể đưa ra các

Trang 11

biện pháp hạn chế rủi ro và các mức quyết định cấp tín dụng phù hợp cho khách hàng để đảm bảo việc kinh doanh mang lại lợi nhuận.

* Nguyên tắc 2: Phân tách người chấp nhận rủi ro và người kiểm soát rủi ro

Nghĩa là các bộ phận kinh doanh tín dụng – nơi phát sinh rủi ro - cần phải được tách riêng khỏi các đơn vị mà nhiệm vụ của họ là giám sát và hạn chế rủi ro Hai bộ phận này có chức năng nhiệm vụ khác hẳn nhau, bộ phận tín dụng luôn tìm cách cho vay để tăng doanh số và lợi nhuận, trong khi đó bộ phận giám sát luôn tìm cách tìm ra các hạn chế trong quá trình cho vay để phòng ngừa rủi ro Nếu như kiêm nhiệm hai bộ phận này thì rất dễ dẫn đến rủi ro tín dụng

* Nguyên tắc 3: Công khai

Theo nguyên tắc này thì những rủi ro cần được công khai thay vì che giấu

nó Ngân hàng nên tạo ra những chính sách khuyến khích nhân viên phát hiện rủi

ro, để có ý thức và áp lực để hạn chế nó

* Nguyên tắc 4: Tuyệt đối tuân thủ

Việc xây dựng một quy trình quản lý rủi ro tín dụng tốt là chưa đủ với một ngân hàng Điều quan trọng là ngân hàng cần biết cách làm cho nhân viên của mình hiểu và tuân thủ những quy định đó

1.2.4 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng có 2 nội dung cơ bản là phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro

Phòng ngừa rủi ro là công việc không thể thiếu trong quản lý rủi ro tín

dụng Phòng ngừa rủi ro một mặt nhằm giảm thiểu các tình huống có thể dẫn tới rủi ro, mặt khác có thể giúp NHTM chủ động đối phó nếu xảy ra rủi ro gây tổn thất

về mặt tài chính cho ngân hàng Việc phòng ngừa rủi ro gồm các khâu sau:

Trang 12

- Lựa chọn khách hàng: Trên cơ sở giấy đề nghị cấp tín dụng và các thông tin do khách hàng cung cấp, ngân hàng tiến hành thẩm định các thông tin đó và tìm thêm thông tin từ các nguồn khác, từ đó thực hiện việc đánh giá, phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro để quyết định có hay không cho khách hàng vay vốn

- Theo dõi, đánh giá việc sử dụng vốn vay: Để hạn chế việc khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích và để kiểm soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tín dụng có thể dẫn đến việc khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không chịu trả nợ, các ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá các hoạt động của dự án vay, kịp thời phát hiện những vi phạm để có ứng xử thích hợp

- Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng: Đây là một trong những nguyên lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng, vì mối quan hệ lâu dài với khách hàng giúp cho các NHTM giảm thiểu các chi phí liên quan đến việc thu thập thông tin đánh giá tiềm năng và rủi ro tín dụng của khách hàng và việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng cũng dễ dàng hơn

- Thực hiện các cam kết trong hợp đồng vay vốn: NH cam kết sẽ cung cấp vốn cho khách hàng theo thoả thuận trong hợp đồng, còn khách hàng phải định kỳ cung cấp các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện và kết quả đạt được của các dự

án đầu tư một cách trung thực, chính xác

- Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Đây là một trong số các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu rủi ro cho các NHTM trong trường hợp khách hàng không trả được nợ Tài sản bảo đảm cho khoản vay có thể dưới hình thức cầm cố, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hay bảo lãnh của bên thứ 3

- Hạn mức tín dụng: Là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng có thể cung cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định Hạn mức tín dụng có thể thể hiện dưới hình thức các NHTM chỉ đáp ứng một phần, chứ không phải toàn

Trang 13

bộ khoản vay, nhằm phòng tránh rủi ro đạo đức bởi vì khi khoản vay càng lớn thì khách hàng càng có điều kiện sử dụng vốn vay sai mục đích.

- Thu nợ: Đây là khâu rất quan trọng, vì nó giúp ngân hàng bảo toàn được vốn và có lãi Tuỳ theo tính chất của khoản tín dụng mà có các cách thu nợ khác nhau Trong các trường hợp khách hàng chậm trả hoặc không trả được nợ thì ngân hàng đã gặp rủi ro tín dụng và tuỳ theo từng mức độ, trường hợp cụ thể, ngân hàng

sẽ đưa ra các giải pháp, cách xử lý thích hợp

- Tái xét tín dụng: thực chất là tiến hành phân tích tín dụng trong điều kiện khoản tín dụng đã được cấp với mục tiêu là đánh giá chất lượng tín dụng nhằm phát hiện các rủi ro để có hướng xử lý kịp thời, đánh giá năng lực của khách hàng, nhận định về hiện trạng cấp tín dụng của ngân hàng… Sau khi tái xét tín dụng, ngân hàng sẽ xếp loại chúng theo các tiêu chí khác nhau: theo chất lượng tín dụng,

uy tín của khách hàng trong quan hệ với ngân hàng…

Việc tái xét và xếp loại tín dụng nhằm thanh tra, kiểm tra nội bộ, đảm bảo hoạt động tín dụng được an toàn, đúng hướng và có hiệu quả

- Đa dạng hoá hoạt động: Trong kinh doanh, đa dạng hoá là một phương pháp phòng ngừa rủi ro hữu hiệu, vì bằng biện pháp này, rủi ro được san sẻ cho các sản phẩm khác nhau Trong kinh doanh ngân hàng, đa dạng hoá hoạt động thể hiện dưới hình thức đưa ra nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau

- Mua bảo hiểm: Đây là biện pháp thường được các NHTM lớn sử dụng nhằm giảm thiểu tổn thất trong trường hợp xảy ra rủi ro Tuỳ theo hình thức và các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm mà NH mua bảo hiểm sẽ nhận được mức bồi thường tương ứng khi rủi ro xảy ra

Xử lý rủi ro: nội dung thứ hai trong quản trị rủi ro tín dụng là việc xử lý rủi

ro khi nó xảy ra Xử lý rủi ro bao gồm các công việc sau:

Trang 14

- Xử lý bằng cách trích từ quỹ dự phòng rủi ro: Các NHTM thường phải trích dự phòng rủi ro theo tỷ lệ nhất định tuỳ vào tổng dư nợ tín dụng và tính chất của khoản vay Dự phòng này sẽ bù đắp cho những rủi ro mà NH có thể gặp phải trong hoạt động kinh doanh.

- Khai thác tài sản bảo đảm tiền vay: Khi đồng ý cho khách hàng vay vốn, NHTM thường đưa ra điều kiện về tài sản bảo đảm tiền vay Trong trường hợp khách hàng không còn khả năng trả nợ, thì NH được quyền khai thác các tài sản bảo đảm này để thu hồi nợ vay, giảm tổn thất cho NH

- Thực hiện mua, bán nợ: Đây là việc các NHTM mua hoặc bán các khoản

nợ với các NH hoặc các tổ chức tài chính khác nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính, giải phóng nguồn vốn hoặc tăng doanh dư nợ cho vay

- Xử lý bằng nguồn ngân sách quốc gia: Khi số nợ quá hạn của NHTM quá lớn, vượt quá mức xử lý của bản thân ngân hàng và của toàn hệ thống, có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế - xã hội, thì Nhà nước sẽ đứng ra xử lý bằng nguồn ngân sách quốc gia để mua lại toàn bộ hoặc một phần số nợ quá hạn đó

- Các biện pháp khác như: gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn bằng cách nhập vào

kỳ sau, hoặc điều chỉnh hợp đồng về kỳ hạn trả nợ, chuyển vốn vay thành cổ phần…

Tóm lại, quản lý rủi ro là một quá trình diễn ra liên tục và nó có thể thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện tài chính, đặc thù và quy mô của hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM cũng như tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

1.2.5 Qui trình quản lý rủi ro tín dụng

Về mặt lý thuyết, quy trình quản lý rủi ro tín dụng nói riêng và các rủi ro khác nói chung gồm các bước sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu quản trị rủi ro

Trang 15

Xác định mục tiêu mà các NHTM mong muốn đạt được từ quá trình quản lý rủi ro Các mục tiêu này bao gồm sự duy trì sau tổn thất có tính thảm hoạ, các khoản thu nhập ổn định, các chi phí trong dài hạn thấp, ổn định trong ngắn hạn Sự đánh đổi giữa các mục tiêu này là cần thiết và các mục tiêu có thể được duy trì khi các NHTM thực hiện tốt các bước khác trong quá trình quản lý rủi ro, đặc biệt là

bước Kiểm soát rủi ro thông qua ngăn chặn rủi ro hoặc tối thiểu hoá tổn thất.

Bước 2: Xác định các rủi ro

Khi các mục tiêu ban đầu của quá trình quản lý rủi ro được xác định, nhà quản lý rủi ro phải xác định các rủi ro có thể dẫn đến tổn thất cho ngân hàng Việc xác định rủi ro có lẽ là chức năng khó khăn nhất mà nhà quản lý rủi ro phải thực hiện Nếu có sai sót trong khâu này nhà quản lý rủi ro sẽ không có cơ hội để đối phó với những khả năng dẫn đến tổn thất không lường trước

Bước 3: Đánh giá và đo lường rủi ro

Sau khi xác định được các rủi ro tiềm năng, bước quan trọng tiếp theo của quá trình quản lý rủi ro là đánh giá mức độ trọng yếu của rủi ro theo các tiêu thức như tần số, khả năng và mức độ nghiêm trọng của rủi ro Bước này gồm:

- Xác định xác suất hoặc cơ hội các rủi ro sẽ xảy ra

- Ảnh hưởng của các rủi ro này có thể gây ra đối với các nỗ lực tài chính của các NHTM khi chúng xảy ra; và

- Khả năng tiên đoán các tổn thất thực tế có thể xảy ra

a Phương pháp định tính

Là phương pháp truyền thống, dựa vào đánh giá chủ quan của người cho vay căn cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để phân loại khách hàng, như mô hình trong quy trình của ngân hàng INDOSUEZ của Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Bảng 1.1: Mô hình phân loại khách hàng của Ngân hàng INDOSUEZ

Trang 17

xu hướng đạt doanh thu lớn, dòng tiền lưu chuyển lớn và có lãi gộp, và có sự

hỗ trợ rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau

Có môi trường kinh

tế - xã hội an toàn,

ổn định Tầm quan trọng của khách hành có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân, có viễn cảnh kinh doanh khá thuận lợi Hoạt động kinh doanh của khách hàng tốt và chiếm thị phần lớn trong ngành, có uy tín trong và ngoài nước Phạm vi hoạt động kinh doanh tốt, sản phẩm đa dạng, ảnh hưởng của chu

kỳ rất nhỏ không đáng kể

Khách hàng có môi trường kinh doanh khá ổn định nhưng mức cạnh tranh thấp,

có ý nghĩa đối với nền kinh tế có thể trong nước hoặc

Trang 18

xuất khẩu Xu hướng phát triển khá tốt cùng với sự phát triển của nền kinh tế

và có thị phần khá trong nội bộ ngành, hoạt động đa dạng nhưng có thể chịu ảnh hưởng của chu kỳ

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức trung bình nhưng có xu hướng không tăng Rất khó nhận được

sự giúp đỡ từ nguồn khác

Nhìn chung khách hàng có môi trường kinh doanh không

ổn định, biến động lớn Khách hàng kinh doanh trong những ngành lâu năm ảnh hưởng không nhiều đến nền kinh tế quốc dân, có

xu hướng đi xuống, chiếm thị phần không đáng kể, sản

Trang 19

phẩm đơn lẻ và mang tính chu kỳ lớn.

b Phương pháp định lượng

(1) Mô hình điểm số Z (ALTMAN)

Mô hình điểm số do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công ty sản xuất của Mỹ (1993)

Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào :

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj)

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Điểm số Z được tính theo công thức sau:

X4 =

Trang 20

Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn

+ Nếu Z < 1,81 thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng là cao

+ Nếu Z > 1,81 thì nguy cơ vỡ nợ thấp

(2) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

Hệ thống điểm số tín dụng là một phương pháp lượng hoá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm Trên thế giới,

mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng rất hay được các ngân hàng Mỹ sử dụng như Bảng 1.2 dưới đây:

Bảng 1.2 Mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng của Mỹ Các chỉ tiêu xác định chất lượng tín dụng Điểm số

1 Nghề nghiệp của người vay:

- Chuyên gia phụ trách kinh doanh

- Công nhân tay nghề cao

- Nhân viên văn phòng

- Sinh viên

- Công nhân bán thất nghiệp

108752

2 Tình trạng nhà ở

- Nhà riêng

- Nhà thuê hay căn hộ

- Sống cùng bạn hay người thân

642

3 Xếp hạng tín dụng

- Tốt

- Trung bình

105

Trang 21

- Tồi 0

4 Kinh nghiệm nghề nghiệp

- Nhiều hơn một năm

- Từ một năm trở xuống

52

5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành

- Nhiều hơn 1 năm

- Từ 1 năm trở xuống

21

6 Có điện thoại cố định

- Có

- Không

20

8 Các tài khoản tại ngân hàng

- Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành séc

- Chỉ tài khoản tiết kiệm

- Chỉ tài khoản phát hành séc

- Không có

4320

Theo bảng chấm điểm này thì khách hàng có điểm số cao nhất là 42 điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng theo khảo sát và nghiên cứu tại thực tế của mình đã xác định được mức điểm 28 là ranh giới giữa khách hàng có chất lượng tín dụng tốt và khách hàng có chất lượng tín dụng xấu, trên cơ sở đó ngân hàng hình thành nên 1 khung tín dụng tiêu dùng

Bảng 1.3 Khung cấp tín dụng tiêu dùng Tổng điểm số của khách

Trang 22

(3) Mô hình chấm điểm tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Bảng 1.4 Mô hình chấm điểm tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

3 Kinh nghiệm tổ chức quản lý SXKD của chủ

4 Lãnh đạo ổn định

- Rất ổn định

- Có một vài thay đổi trong 5 năm qua ( hoặc 5 năm tới)

- Có thay đổi lãnh đạo liên tục trong 2 năm qua (hoặc 2 năm tới mà không có người kế tục)

1470

6 Tiềm năng lâu dài của doanh nghiệp:

8 Quy mô tài sản có

- Trên 60 tỷ

- 30 – 60 tỷ

- 20 – 30 tỷ

12108

Trang 23

Xếp loại như sau:

Bảng 1.5 Xếp loại tín dụng đối với kết quả chấm điểm

1,5% - 2,25%2,25% - 3,5%3,5% - 5%

Bước 4: Kiểm soát thông qua ngăn chặn rủi ro hoặc tối thiểu hoá tổn thất

Một khi khả năng dẫn đến rủi ro đã được xác định và định lượng, nhà quản

lý rủi ro phải lựa chọn tập hợp các công cụ quản lý rủi ro tốt nhất cho việc đối phó với vấn đề phải đương đầu Các công cụ này cơ bản bao gồm:

- Tránh né khả năng rủi ro xảy ra gây tổn thất;

- Chấp nhận rủi ro;

- Ngăn chặn tổn thất;

- Giảm tổn thất;

Trang 24

- Chuyển giao rủi ro.

Việc chuyển giao rủi ro bao gồm cả việc mua bảo hiểm Để lựa chọn các công cụ quản lý rủi ro hợp lý, nhà quản lý phải xác định được các chi phí của việc

sử dụng các công cụ này Nhà quản lý rủi ro cũng phải xem xét khả năng tài chính hiện tại và các mục tiêu quản lý rủi ro của ngân hàng mình

R = max {0,(A – C)} x rTrong đó: R là số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: giá trị của khoản nợ

C: giá trị của tài sản đảm bảo

r : Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể ( 0%, 5%, 20%, 50%, 100% )Giá trị tài sản bảo đảm được xác định theo quy định cụ thể của từng ngân hàng tuân theo những quy định trong QĐ 493

Ngoài các khoản dự phòng cụ thể, các ngân hàng phải trích thêm dự phòng chung Dự phòng chung được trích bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm

1 đến nhóm 4 và cả các cam kết ngoại bảng

Bước 5: Giám sát kết quả đạt được

Trang 25

Các kết quả của các quyết định đưa ra việc thực hiện chúng trong bốn bước đầu tiên phải được giám sát để đánh giá sự sáng suốt của các quyết định và xác định các giải pháp khác nếu có sự thay đổi trong các điều kiện ban đầu.

1.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Tại Mỹ

Cuối những năm 90, các ngân hàng ở Mỹ đã cảm nhận thấy áp lực trong việc gia tăng rủi ro tín dụng Với sự cạnh tranh khốc liệt của những khoản cho vay trong suốt thời kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngân hàng đã phải chấp nhận những khoản tín dụng có chất lượng thấp hơn để tăng thu nhập Chính vì vậy khối lượng các khoản vay thanh toán không đúng hạn tăng từ 7,5 tỷ USD quý 4 năm 1997 đã tăng lên 17,7 tỷ USD vào quý 3 năm 2000 Từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm

2000, các khoản vay không có dự phòng tăng 25,9% các khoản vay quá hạn tăng 43,7%

Sự lo ngại về rủi ro tín dụng đã làm cho các ngân hàng cẩn trọng hơn trong các khoản tín dụng mới và yêu cầu cao hơn với khách hàng Họ vẫn muốn cho vay

ra nhưng với những điều kiện chặt chẽ hơn Thậm chí FED đã hạ lãi suất cho vay ngắn hạn mà lãi suất của các ngân hàng cho vay giảm không đáng kể Thêm vào

đó các khoản vay được kiểm soát chặt chẽ hơn

Ngoài những công nghệ quản lý rủi ro hiện đại, các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng cũng được các Ngân hàng Mỹ sử dụng, cụ thể: các Ngân hàng Mỹ coi sự trao đổi thường xuyên của khách hàng với Ngân hàng về tình hình kinh doanh, các

cơ hội cũng như khó khăn sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ về doanh nghiệp hơn Số lần

Trang 26

các cuộc gặp như vậy còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, nhưng thường diễn ra một cách đều đặn để ngân hàng có thể hiểu về doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.

* Khủng hoảng nợ tại Mỹ năm 2007

Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ (sub-prime) đã và đang gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ, tạo ra các khoản lỗ lên tới hàng nghìn tỷ USD cho các

ngân hàng đầu tư lớn trên thế giới

Kết quả kinh doanh của các ngân hàng đầu tư lớn tại phố Wall được công bố trong những tháng đầu năm 2008 lần lượt cho thấy các khoản tổn thất khổng lồ (write-down) trong năm 2007 Dự kiến ảnh hưởng của cơn bão tín dụng nợ dưới chuẩn sẽ còn tiếp tục

Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay các đối tượng có mức tín nhiệm thấp Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn

Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà (mortgage), thế chấp mua trả góp ô tô, thẻ tín dụng Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập cư vào Mỹ Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn được thực hiện thông qua một công cụ tài chính hiện đại rất khá tinh vi được gọi là nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) Chứng khoán hóa có lịch sử phát triển từ năm 1977 tại Mỹ song thực sự phát triển mạnh từ thập kỷ 90

Về bản chất, chứng khoán hóa là một quá trình huy động vốn bằng cách sử dụng các tài sản sẵn có trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo cho việc phát

Trang 27

hành các loại chứng khoán nợ Chứng khoán hóa đã trở thành một công cụ chuyển giao rủi ro hiệu quả được các ngân hàng đầu tư quốc tế nắm bắt kịp thời để thực hiện cho vay nợ dưới chuẩn Nếu như trước đây các ngân hàng thương mại với nguồn vốn hữu hạn của mình từ tiền gửi của khách hành dùng để cho vay thế chấp mua nhà thì giờ đây, nguồn vốn này trở nên dường như bất tận.

Lợi nhuận cao kết hợp với lòng tham đã dẫn đến lạm dụng việc cho vay nợ dưới chuẩn Các thủ tục thẩm định thực hiện bởi các đại lý cho vay diễn ra hết sức lỏng lẻo và việc tiếp cận vốn tín dụng mua nhà trở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn bao giờ hết Những người có thu nhập thấp, đặc biệt là dân định cư đầu tiên có cơ hội mua nhà Cho vay thế chấp mua nhà dưới chuẩn lan nhanh ra toàn nước Mỹ Giá bất động sản tăng nhanh chóng

Nếu như cho vay thế chấp mua nhà dưới chuẩn mới bắt đầu hình thành từ những năm đầu 90 và phát triển rất chậm thì trong 5 năm từ 2002 – 2006, con số này gia tăng một cách kỷ lục Năm 2002, doanh số cho vay dưới chuẩn cung cấp cho thị trường khoảng 200 tỷ USD, năm 2003 là 320 tỷ, năm 2004 là 550 tỷ, năm 2005-2006 con số này đạt gần 700 tỷ USD hàng năm, chiếm khoảng 25% thị phần cho vay thế chấp mua nhà toàn nước Mỹ

Khi nền kinh tế hoạt động không hiệu quả, lãi suất tăng tạo nên gánh nặng trả nợ với những người thu nhập thấp, thất nghiệp gia tăng thì rủi ro cho vay nợ dưới chuẩn bị ảnh hưởng nhanh nhất

Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mại tài sản Cleveland (Ohio) là thành phố đầu tiên châm ngòi cho cuộc khủng hoảng lan rộng

ra toàn nước Mỹ và thế giới Theo số liệu thống kê, khoảng 1/10 số nhà tại Cleveland bị thu hồi để phát mại Những người nhập cư với giấc mơ mua nhà lại trở về tay trắng Giá nhà tại Mỹ giảm thảm hại trong Qúy 3 năm 2007, mức tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1930

Trang 28

Hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng cho nước Mỹ và thế giới là rất lớn Thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nặng nề Thị trường trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa bị mất khả năng thanh khoản Ngành xây dựng Mỹ đóng góp 15% GDP có thể phải cắt giảm một nửa sản lượng

và cắt 1-2 triệu công việc Hàng loạt ngân hàng đầu tư trót nắm giữ các gói trái phiếu rủi ro mà chưa kịp chuyển giao cho thị trường đã phải ghi nhận các khoản tổn thất lên đến vài trăm tỷ USD như Citi (21 tỷ USD), Merrill Lynch (25 tỷ USD), UBS (18 tỷ USD), Morgan Stanley (10 tỷ USD), JP Morgan (2,2 tỷ USD), Bear Stearns (2 tỷ USD), Lehman Brothers (1,5 tỷ USD), Goldman Sachs (1,3 tỷ USD) Tổng thiệt hại tài chính của các ngân hàng đầu tư ước tính lên tới vài trăm tỷ USD Citi và Merrill Lynch phải cầu viện tăng vốn khẩn cấp từ các quỹ đầu tư Châu Á Hàng ngàn nhân viên phố Wall bị sa thải

Không chỉ thiệt hại về giảm giá trái phiếu, mảng kinh doanh béo bở từ chứng khoán hóa của các ngân hàng đầu tư cũng bị tạm ngưng hoạt động Cổ phiếu các ngân hàng đầu tư rớt thảm hại Với tổn thất nặng nề này, các ông chủ phố Wall lần lượt phải ra đi, cụ thể là các ông chủ UBS, Citigroup, Merrill Lynch và Bear Stear Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn 2007 của Mỹ bắt nguồn từ sự quản lý lỏng lẻo trong cho vay tín dụng dưới chuẩn và từ lòng tham của thị trường Chứng khoán hóa là một công cụ tài chính thông minh song đã bị lợi dụng vào việc xấu gây nên hậu quả khôn lường Các nhà đầu tư cần thấu hiểu các rủi ro trước khi mua các sản phẩm tài chính phức tạp nhằm tránh những tổn thất nặng nề Đây là những bài học không thừa cho bất cứ quốc gia nào trong quá trình hội nhập và phát triển

1.3.1.2 Tại Thái Lan

Sau cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, tình hình nợ xấu trong các Ngân hàng Thái Lan trở nên rất nghiêm trọng Giải quyết nợ xấu và ngăn ngừa chúng tiếp tục phát sinh là vấn đề hàng đầu đặt ra với các ngân hàng Thái

Trang 29

Lan Để xử lý nợ xấu, Thái Lan đã thực hiện các giải pháp như: các NHTM thành lập các công ty Quản lý tài sản cấp quốc gia chuyên trách việc mua lại các khoản

nợ xấu của các NHTM thuộc sở hữu của Chính phủ, thành lập “ Uỷ ban cơ cấu lại khu vực tài chính tư nhân” để cơ cấu lại nợ

Rút kinh nghiệm từ vấn đề nợ xấu sau cuộc khủng hoảng, hiện nay, Thái Lan đã thực hiện nhiều biện pháp để ngăn ngừa và xử lý rủi ro tín dụng như việc phân loại nợ quá hạn để trích lập dự phòng rủi ro; theo đó, nợ quá hạn được chia thành 5 loại:

Loại 1: Nợ quá hạn bình thường, quá hạn 1 tháng, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 1% giá trị khoản vay

Loại 2: Nợ quá hạn không bình thường, quá hạn từ 1 đến 3 tháng, tỷ lệ dự phòng là 2%

Loại 3: Nợ quá hạn dưới tiêu chuẩn bình thường, quá hạn từ 3 – 6 tháng, tỷ

lệ dự phòng là 20%

Loại 4: Nợ khó đòi, quá hạn từ 6 – 12 tháng, tỷ lệ dự phòng là 50%

Loại 5: Nợ quá hạn mất trắng, quá hạn trên 12 tháng, tỷ lệ dự phòng là 100%

Việc trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện 6 tháng một lần

1.3.1.3 Kinh nghiệm của NHTM một số nước khác

Ngân hàng DRESDNER của CHLB Đức đã rất thành công trong việc quản

lý rủi ro tín dụng theo hướng tập trung quan tâm đến rủi ro của khách hàng Theo

đó, khách hàng vay vốn của Ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên đặc điểm kinh tế mà khách hàng hoạt động; khách hàng là các công ty, tập đoàn lớn hay các công ty nhỏ, riêng lẻ; khách hàng là các cá nhân; khách hàng là người nước ngoài Với mỗi nhóm, Ngân hàng tiến hành cho điểm tín dụng và căn cứ vào

Trang 30

đó để có chính sách tín dụng khác nhau với từng khách hàng, nhóm khách hàng cụ thể.

Còn ở Canada, người ta thành lập các công ty chuyên cung cấp thông tin tín dụng để giúp các nhà đầu tư, các công ty tài chính, các NHTM có được thông tin tin cậy để có các quyết định đúng đắn, ngăn ngừa rủi ro

1.3.2 Bài học đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam

Thông qua kinh nghiệm của Mỹ, Thái Lan cũng như kinh nghiệm của một số nước khác trên thế giới, có thể rút ra bài học cho các NHTM Việt Nam như sau:

Thứ nhất, phân quyền phán quyết tín dụng:

Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia.Sự rạch ròi trong phân định trách nhiệm sẽ bảo đảm tính công bằng trong đánh giá chất lượng công việc, là điều kiện để quá trình xử lý các dấu hiệu rủi ro tín dụng được nhanh chóng, hiệu quả và kịp thời

Thứ hai, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả

Đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, liên tục và cập nhật kịp thời các thông tin trọng yếu giữa các bộ phận chức năng trong hoạt động cấp tín dụng Đồng thời, Ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin và phân tích thông tin toàn diện, cung ứng nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy cho các bộ phận chuyên môn có liên quan Các ngân hàng cần hỗ trợ, chia sẻ thông tin với nhau,thực hiện các phân tích

về ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế để xây dựng kho dữ liệu phân tích tín dụng chung

Thứ ba, Xây dựng hệ thống văn bản, quy định về rủi ro tín dụng.

Ngân hàng cần xây dựng cho mình một hệ thống các văn bản quy định về quản lý rủi ro tín dụng, thẩm định cho vay,… một cách có hệ thống Tạo ra sự thống nhất trong toàn hệ thống và tạo chuẩn mực trong việc quản lý rủi ro tín dụng

Trang 31

Thứ tư, Sử dụng hệ thống chấm điểm, đặc biệt là đối với tài sản bảo đảm

Ngân hàng cần có một hệ thống chấm điểm, thông tin tín dụng hợp lý để có đánh giá khách hàng một cách chính xác

Thứ năm, Đào tạo đội ngũ nhân viên lành nghề

Muốn thành công trong công tác quản lý rủi ro tín dụng thì một yếu tố không thể thiếu đó chính là yếu tố con người; chính vì vậy Ngân hàng cần chú trọng hơn công tác tuyển lựa và đào tạo nhân viên

Thứ sáu, Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng

Thông qua việc tiếp xúc và trao đổi với khách hàng, cán bộ tín dụng có thể phát hiện những biểu hiện của khách hàng có thể dẫn đến rủi ro tín dụng Chính vì vậy, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng là một công việc yêu cầu những cán bộ tín dụng nhiều kinh nghiệm, nắm bắt được tâm lý của người đang giao tiếp

Thứ bảy, Hoàn thiện hệ thống phân tích rủi ro và quản lý rủi ro tín dụng

Có rất nhiều biện pháp khác nhau để phân tích và tìm ra rủi ro của khách hàng khi thực hiện cấp tín dụng Các NHTM cần không ngừng hoàn thiện những công cụ phân tích rủi ro tín dụng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các NHTM trên thế giới và tự nghiên cứu những biện pháp phù hợp với thực tế ngân hàng Đồng thời ngân hàng cũng cần xây dựng một bộ máy quản lý rủi ro hoàn thiện và hiệu quả

Thứ tám, Sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tín dụng

Việc sử dụng công cụ phái sinh là một biện pháp hiệu quả trong việc phòng ngừa và phân tán rủi ro Và công cụ phái sinh còn có đặc điểm ưu việt là: giúp giảm thiểu rủi ro nhưng lại không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản của Ngân hàng, giúp Ngân hàng giữ vững mức lợi nhuận cao Các công cụ phái sinh thường được sử dụng hiện nay trên thế giới là: kỳ hạn, tương lai, hoán đổi, quyền

Trang 32

chọn Trong đó để phòng ngừa rủi ro tín dụng, thì các biện pháp phổ biến là: hoán đổi lãi suất, hoán đổi rủi ro vỡ nợ, chứng khoán hoá khoản vay

Tuy nhiên, các NHTM vẫn cần quản lý chặt chẽ các khoản vay dù đã sử dụng công cụ phái sinh để phân tán rủi ro Tránh hiện tượng vì chạy theo lợi nhuận cao mà mở rộng cho vay ồ ạt, sẽ tiềm ẩn rủi ro đổ vỡ khôn lường

Tóm tắt chương 1

Thông qua chương 1, tác giả đã trình bày những vấn đề chung nhất về rủi ro tín dụng cũng như công tác quản lý rủi ro tín dụng Chương 1 cũng đã tổng quan quy trình quản lý hữu hiệu rủi ro tín dụng và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước tiêu biểu trên thế giới Từ đó rút ra 7 bài học kinh nghiệm áp dụng vào công tác quản lý rủi ro tín dụng của NHTM Việt Nam nói chung và NHTM Cổ phần nhà

Hà Nội (Habubank) nói riêng

Trang 33

Chương 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội

Thực hiện pháp lệnh Ngân hàng do chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép hoạt động số 00020/NH-GP ngày 06/06/1992, theo đó Ngân hàng phát triển nhà thành phố Hà Nội được đổi tên thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần nhà Hà Nội” Tên giao dịch quốc tế là HABUBANK, tên viết tắt là HBB, mức vốn điều lệ ban đầu là

5 tỷ đồng

Đến nay, trải qua hơn 20 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội đã không ngừng phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và phát triển Khi mới thành lập Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội là Ngân hàng chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ trong lĩnh vực phát triển nhà trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đến năm 1992, hoạt động của Ngân hàng đã được mở rộng nhiều hơn Điều

lệ của Ngân hàng đã xác định rõ: “Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội hoạt động đa

Trang 34

năng, kinh doanh tiền tệ, tín dụng, đầu tư và cung cấp các dịch vụ Ngân hàng thương mại, đặc biệt chú trọng các lĩnh vực nhà đất, vật tư xây dựng, các chương trình phát triển nhà, các dịch vụ thương mại về nhà, đất xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội và các vùng cần thiết khác”.

Từ 1995 đến nay, hoạt động của Ngân hàng đã được mở rộng, đa dạng hóa phù hợp với tình hình kinh tế chung của đất nước Nếu trước đây, khách hàng chủ yếu là tư nhân, thì nay đã có cả doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, công ty liên doanh với nước ngoài

Từ đầu năm 1999, Ngân hàng bắt đầu tiến hành đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác: Đầu tư vào kinh doanh cổ phần của một số doanh nghiệp nhà nước đã

cổ phần hóa Ngoài việc mở rộng chi nhánh và các phòng giao dịch trong nước, hiện nay Habubank thiết lập quan hệ đại lý với trên 200 Ngân hàng và chi nhánh khác nhau trên thế giới, đồng thời mở tài khoản và ký hợp đồng hợp tác toàn diện với trên 10 Ngân hàng lớn: Ambro Bank (Hà Lan), Berliner Bank ( Cộng hòa Liên bang Đức), Standard Chartered Bank ( Vương quốc Anh)

Tới nay, qua hơn 20 năm hoạt động, Habubank đã có số vốn điều lệ là hơn

3.000 tỷ đồng với mạng lưới ngày càng mở rộng, 8 năm liên tục được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại A và được công nhận là ngân hàng phát triển toàn

diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả Ngày 20 tháng 12/2008 tại Khách sạn Melia, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) đã làm lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Lao động Hạng 3 vì các thành tích đã đạt được trong giai đoạn 2003 - 2007 Habubank luôn giữ vững niềm tin của khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong cách nhiệt tình, chuyên nghiệp của tất cả nhân viên

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của ngân hàng

Trang 35

Mô hình 2.1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA HABUBANK

(1) Đại hội đồng cổ đông

Là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng Thương mại cổ phần nhà Hà

Nội Hiện nay có khoảng 200 thành viên, với chức năng chủ yếu là:

Đại hội đồng cổ đông

Ban điều hành

Hội đồng quản trịBan kiểm soát

Phòng

nhân sụ Phòng PTKD

Phòng TTQT

Phòng ngoại hối

Phòng tái thẩm định MarketingPhòng Phòng TCKT

Văn phòng

Các CN và phòng GD Phòng

tin học

Trang 36

- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ của năm tài chính mới thông qua các báo cáo của hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.

- Quyết định việc tăng vốn điều lệ, góp vốn cổ phần và phát hành cổ phiếu

- Bầu thành viên hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

(2) Hội đồng quản trị

Là cơ quan quản lý Ngân hàng giữa hai kỳ đại hội đồng cổ đông của Ngân hàng Hiện nay, Hội đồng quả trị của Ngân hàng có năm thành viên, trong đó có một chủ tịch hội đồng quản trị và một phó chủ tịch, với chức năng chủ yếu là:

- Thực hiện chức năng quản trị, giám sát thường niên đối với toàn bộ Ngân hàng

- Xây dựng và thực hiện việc giám sát các kế hoạch hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Giám sát việc thực hiện các quyết định của Đại hội đồng cổ đông

và hội đồng quản trị

- Theo dõi, kiểm tra và cùng với ban điều hành tập trung chỉ đạo các vấn đề trọng điểm về tín dụng, về cơ cấu tổ chức về các vấn đề đột xuất trong hoạt động kinh doanh quản trị tài sản tài chính của Ngân hàng

(3) Ban kiểm soát

Là những người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản lý và điều hành Ngân hàng Chức năng chủ yếu là:

- Kiểm soát các hoạt động kinh doanh, kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản các báo cáo, bản quyết toán năm tài chính và kiến nghị khắc phục những sai phạm

- Báo cáo trước đại hội đồng cổ đông các sự kiện tài chính bất thường

- Báo cáo định kỳ tình hình kiểm soát cho Hội đồng quản trị

(4) Ban điều hành

Trang 37

Gồm một tổng giám đốc và ba phó giám đốc, ban điều hành có chức năng:

- Điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh hàng ngày của Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội

- Được tuyển dụng, kỷ luật, cho thôi việc các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng theo quy định chung của Ngân hàng

- Trình hội đồng quản trị các báo cáo tình hình hoạt động tài chính và kết quả kinh doanh của Habubank

(5) Các phòng, ban trong Ngân hàng

- Phòng hành chính (Văn phòng)

- Phòng tổ chức nhân sự

- Phòng phát triển kinh doanh

- Phòng ngoại hối và Ngân quỹ

Ngày đăng: 09/08/2015, 12:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng của Mỹ - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 1.2. Mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng của Mỹ (Trang 20)
Bảng 1.3. Khung cấp tín dụng tiêu dùng Tổng điểm số của khách - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 1.3. Khung cấp tín dụng tiêu dùng Tổng điểm số của khách (Trang 21)
Bảng 1.5. Xếp loại tín dụng đối với kết quả chấm điểm - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 1.5. Xếp loại tín dụng đối với kết quả chấm điểm (Trang 23)
Bảng 2.1. Bảng tổng kết quy mô của Habubank - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 2.1. Bảng tổng kết quy mô của Habubank (Trang 38)
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu hoạt động tín dụng Habubank - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu hoạt động tín dụng Habubank (Trang 43)
Sơ đồ tổ chức quản lý rủi ro của Habubank (trang bên) - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Sơ đồ t ổ chức quản lý rủi ro của Habubank (trang bên) (Trang 47)
Bảng 2.5. Tổng điểm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 2.5. Tổng điểm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp (Trang 53)
Bảng 2.6. Xếp hạng khách hàng cá nhân - Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Bảng 2.6. Xếp hạng khách hàng cá nhân (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w