1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương

103 398 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM đOAN Học viên xin cam ựoan rằng luận văn Ộđánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại tỉnh Hải DươngỢ là công trình nghiên cứu của riêng

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-Ѿ -

CAO THỊ THU THỦY

ðÁNH GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO DỊCH BỆNH TAI XANH Ở LỢN GÂY RA CHO NGƯỜI SẢN XUẤT

TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VĂN SONG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM đOAN

Học viên xin cam ựoan rằng luận văn Ộđánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại tỉnh Hải DươngỢ là công trình nghiên cứu của riêng học viên, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ựược sử dụng ựể bảo vệ một học vị nào

Học viên xin cam ựoan, mọi sự giúp ựỡ cho việc thực hiện luận văn này ựã ựược cảm ơn và các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựã ựược chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Cao Thị Thu Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

ðể hoàn thành Luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, Học viên luôn nhận ñược sự quan tâm giúp ñỡ của các thầy, cô giáo và bạn bè ñồng nghiệp

Nhân dịp này, trước tiên Học viên xin chân thành cảm ơn sự giúp ñỡ của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Viện sau ñại học trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giảng dạy và hướng dẫn trong suốt thời gian Học viên học tập tại Trường

Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Song

ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn Học viên trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ths Nguyễn Văn Tịnh - Phó giám ñốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương, Chi cục Thú y các huyện Cẩm Giàng và Nam Sách và các xã ñã giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia ñình và bạn bè ñồng nghiệp ñã luôn giúp ñỡ, ñộng viên giúp tôi hoàn thành luận văn này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Cao Thị Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 PHẦN MỞ ðẦU vi

1.1 ðặt vấn ñề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 4

2 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ðÁNH GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI 5

2.1 Những vấn ñề chung về thiệt hại kinh tế do dịch bệnh 5

2.1.1 Thiệt hại kinh tế do bệnh dịch trong chăn nuôi 5

2.1.2 Khái niệm về thiệt hại kinh tế do bệnh tai xanh gây ra 8

2.1 3 Các phương pháp ño lường thiệt hại kinh tế do dịch bệnh 12

2.2 Khái niệm chung về bệnh Tai xanh 13

2.2.1 ðịnh nghĩa 13

2.2.2 ðặc ñiểm 13

2.2.3 Nguồn gốc 14

2.2.4 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh 15

2.2.5 Triệu chứng 20

2.3 Tình hình dịch bệnh Tai xanh 21

2.3.1 Trên thế giới 21

2.3.2 Tại Việt Nam 22

3 ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 ðặc ñiểm ñịa bàn nghiên cứu 33

3.1.1 Vị trí ñịa lý 33

3.1.2 Tài nguyên ñất 33

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 34

3.1.4 ðặc ñiểm kinh tế- xã hội 34

3.1.5 Dân số, lao ñộng và thành phần dân tộc 35

Trang 5

3.1.6 Vốn và tình hình sử dụng vốn 36

3.1.7 Kết quả sản xuất kinh doanh 36

3.1.8 đặc ựiểm ngành chăn nuôi lợn tỉnh Hải Dương 38

3.2 Phương pháp nghiên cứu 44

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 44

3.2.2 Phương pháp tiếp cận và phân tắch dữ liệu nghiên cứu 46

3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Thực trạng dịch tai xanh tại tỉnh Hải Dương 48

4.1.1 Quy mô và thời gian dịch tai xanh xuất hiện 48

4.1.2 Nguyên nhân xảy ra dịch bệnh tai xanh 48

4.1.3 Chủ trương và chắnh sách của tỉnh trong phòng và chống dịch tai xanh49 4.1.4 Vai trò của hệ thống thú y cơ sở và cán bộ xã trong phòng chống và dập dịch tai xanh 54

4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại các xã ựiều tra 54

4.2.1 Mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ 55

4.2.2 Mô hình chăn nuôi gia trại 57

4.2.3 Mô hình chăn nuôi trang trại 58

4.3 Tình hình dịch bệnh và kết quả ựiều trị ở ựịa bàn nghiên cứu 60

4.3.1 Tình hình dịch bệnh tai xanh ở lợn 60

4.3.2 Tình hình dịch bệnh khác ở lợn 61

4.3.3 Kết quả ựiều trị dịch bệnh ở lợn 62

4.4 đánh giá thiệt hại kinh tế của dịch tai xanh 64

4.4.1 Hiệu quả kinh tế các hoạt ựộng chăn nuôi lợn 64

4.4.2 Thiệt hại kinh tế do dịch bệnh Tai xanh gây ra cho chăn nuôi lợn 71

4.4.3 Thiệt hại kinh tế ựối với các cơ sở giết mổ 77

4.5 đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tiêu cực do dịch Tai xanh gây ra 79

4.5.1 Một số giải pháp mang tắnh ựịnh hướng 79

4.5.2 đối với người chăn nuôi lợn 81

Trang 6

4.5.3 ðối với hệ thống thú y 82

4.5.4 ðối với chính quyền cấp cơ sở 83

5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

5.1 Kết luận: 85

5.2 Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ BIỂU ðIỀU TRA 94

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Axit deoxyribonucleic/ axít de-oxy - ri – bo – nu – clê - ic ADN Axit ribonucleic/axít ri – bo – nu – clê - ic ARN Axit ribonucleic/axít ri – bo – nu – clê - ic ARN

Porcine respiratory and rerpoductive syndrome/Hội chứng

rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

PRRS

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam 22

Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam 23

Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam 25

Bảng 2.4: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam 26

Bảng 2.5: Tổng hợp về tình hình dịch PRRS năm 2007 - 2008 tại Việt Nam 27

Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình dịch PRRS tại Việt Nam năm 2009 29

Biểu 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh Hải Dương 35

Bảng 4.1: Số lượng ñàn lợn hiện có tại ñịa bàn ñiều tra 54

Bảng 4.2: Cơ cấu ñàn lợn phân theo mô hình chăn nuôi 55

Bảng 4.3 : Mô hình tổ chức chăn nuôi tại các hộ gia ñình 56

Bảng 4.4: Mô hình tổ chức chăn nuôi gia trại 58

Bảng 4.5: Mô hình tổ chức chăn nuôi trang trại 59

Bảng 4.6: Tình hình lợn nhiễm bệnh tai xanh tại huyện Cẩm Giàng 60

Bảng 4.7: Số lượng lợn bị mắc các bệnh khác 61

Bảng 4.8: Tổng hợp số lợn nhiễm bệnh ñược chữa khỏi 62

Bảng 4.9: Tổng hợp số lợn nhiễm bệnh bị chết hoặc phải tiêu hủy 63

Bảng 4.10: Hiệu quả kinh tế từ nuôi lợn nái 65

Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế từ nuôi lợn nái hậu bị 67

Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế từ nuôi lợn thịt 68

Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế từ nuôi lợn choai 69

Bảng 4.14: Thiệt hại kinh tế từ nuôi lợn nái ở các hộ ñiều tra 71

Bảng 4.15: Thiệt hại kinh tế từ nuôi lợn nái hậu bị ở các hộ ñiều tra 72

Bảng 4.16: Thiệt hại kinh tế từ nuôi lợn ðực giống ở các hộ ñiều tra 73

Bảng 4.17: Thiệt hại kinh tế từ nuôi lợn thịt ở các hộ ñiều tra 73

Bảng 4.18: Thiệt hại kinh tế từ nuôi lợn choai ở các hộ ñiều tra 74

Bảng 4.19: Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn nhỏ, lẻ 75

Bảng 4.20: Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn gia trại 76

Bảng 4.21: Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn trang trại 77

Bảng 4.22: Thu nhập bình quân của cơ sở giết mổ 78

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU ðỒ

STT Biểu ñồ Tên biểu ñồ Trang

Biểu ñồ 2.1: So sánh tỷ lệ (%) lợn bị bệnh và bị chết do PRRS năm 2007 28

Biểu ñồ 2.2: So sánh tỷ lệ (%) lợn bị bệnh và bị chết do PRRS năm 2008 28

Hình 3.1: Sơ ñồ tổ chức ngành chăn nuôi – thú y 43

Hình 4.1: Mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ lợn thịt và lợn nái ở xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng 56

Hình 4.2 : Mô hình chăn nuôi gia trại tại xã An Lâm, huyện Nam Sách 57

Hình 4.3 : Mô hình chăn nuôi lợn trang trại taị xã Nam Hưng, huyện Nam Sách

59

Hình 4.4: Cơ sở giết mổ lợn tại xã An Lâm huyện Nam Sách 78

Trang 10

1 PHẦN MỞ ðẦU 1.1 ðặt vấn ñề

Thực hiện chủ trương, ñường lối của ðảng và Nhà nước, nền kinh tế nông nghiệp nước ta ñang có sự chuyển biến vững chắc từ nền kinh tế nông nghiệp thuần nông sang nền kinh tế nông nghiệp ña dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Sự kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt là hướng mũi nhọn, làm tiền ñề thúc ñẩy nền kinh tế Nông nghiệp - Nông thôn

Chính vì vậy, ngành chăn nuôi ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, cùng với lúa nước chăn nuôi lợn là 02 (hai) hợp phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, ñặc biệt khi vấn ñề lương thực ñã ñược giải quyết cơ bản thì chăn nuôi hiện ñang

là một trong những mũi nhọn trong việc chuyển ñổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa và ña dạng hóa vật nuôi

ðối với khu vực nông thôn, chăn nuôi lợn ñặc biệt ñóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia ñình và là một trong những nguồn thu chủ yếu của nông hộ, mặc dù tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp từ năm 2001÷ 2006 có xu hướng giảm, song tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp luôn giữ mức tăng trưởng cao và ổn ñịnh (chiếm 27 – 28% tổng giá trị toàn ngành), giá trị sản xuất chăn nuôi lợn bình quân tăng 8,5%, trong ñó năm 2006 giá trị sản xuất chăn nuôi lợn tăng trưởng 7,3% so với năm 2005, cao hơn ngành trồng trọt (5,31%) và dịch vụ (3,22%); nhiều hộ nông dân ñã thoát nghèo thậm chí còn làm giàu nhờ chăn nuôi lợn, sản phẩm chăn nuôi ñã tăng ñáng kể, hiện cả nước sản xuất khoảng 3 triệu tấn thịt hơi các loại, trong ñó thịt lợn chiếm 81,5%, bò chiếm 5,2%, gia cầm chiếm 11% Có khoảng hơn 90% lượng thịt lợn của các hộ nông dân sản xuất ra ñược tiêu thụ trên thị trường (Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy)[19]

ðể có ñược những thành tựu trên, trong lịch sử ngành chăn nuôi lợn ñã

Trang 11

thường xuyên phải ñối phó với nhiều loại bệnh lý như: dịch tả lợn, dịch tụ huyết trùng, phó thương hàn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, Ecoli ñã làm suy giảm năng suất, sản lượng chăn nuôi lợn và tác ñộng lớn ñến tâm lý người chăn nuôi nói riêng và cộng ñồng nói chung, môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ñời sống

xã hội ở khu vực có dịch bệnh và kể cả ngoài vùng có dịch bị xáo trộn nghiệm trọng, mặc dù vậy ñến nay hầu hết các loại bệnh này sau một thời gian ngắn kể

từ khi ñược phát hiện ñều ñược khống chế dập tắt Tuy nhiên, thời gian gần ñây lại xuất hiện một loại bệnh dịch mới do virus gây ra với tính chất hết sức cấp bách, lây lan nhanh, mức ñộ nguy hiểm cao, xảy ra liên tiếp hàng năm (mỗi năm

từ 1 ñến 2 ñợt dịch) ñang là vấn ñề xôn xao trong nghề chăn nuôi lợn hiện nay,

ñó là dịch “bệnh Tai xanh”

Bệnh tai xanh (PRRS) thực chất là hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản

có khả năng truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm ở lợn mọi lứa tuổi, bệnh lây lan với tốc ñộ rất nhanh và ñã xảy ra tại Trung Quốc vào năm 2006, với tỷ lệ lợn ốm

từ 50-100%, tỷ lệ chết 20-100% (trong ñó lợn con có thể chết 100%, lợn sau cai sữa chết 70%, lợn choai chết 20% và lợn nái chết 10%) Bệnh cũng ñã ñược báo cáo xuất hiện tại Cộng hoà Liên bang Nga và gần ñây là Philippines

Tại Việt Nam, vào ñầu năm 2007, bệnh tai xanh xuất hiện tại một số tỉnh phía Bắc ñã làm cho giá trị tăng trưởng của ngành chăn nuôi lợn ñến cuối năm

2007 chỉ ñạt 4,6%, tỷ trọng ngành chăn nuôi lợn ñạt 24,1% của toàn ngành sản xuất nông nghiệp (giảm 1,4% so với năm 2006)

Mặc dù ñược xác ñịnh là loại dịch bệnh rất nguy hiểm, nhưng, kể từ khi

xảy ra dịch bệnh tai xanh ñến nay, chưa có cuộc ñiều tra, ñánh giá những thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh tai xanh gây ra cho ngành chăn nuôi và mức ñộ ảnh hưởng trực tiếp ñến kinh tế của hộ gia ñình chăn nuôi ñể ñề xuất về cơ chế chính sách ở tầm vĩ mô cho ngành chăn nuôi lợn và biện pháp khắc phục nhằm giảm thiểu thiệt hại về kinh tế cho người trực tiếp chăn nuôi

Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên và ñể có một cái nhìn tổng quát ñối

Trang 12

với những thiệt hại về mặt kinh tế do dịch bệnh Tai xanh gây ra, việc tiến hành

thực hiện nghiên cứu: Ộđánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại tỉnh Hải DươngỢ là rất cần thiết và cấp bách

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở ựánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bênh tai xanh ở lợn gây ra ựối với người sản xuất ựể ựề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro chi phắ thiệt hại cho người chăn nuôi lợn

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

i Hệ thống hóa cơ sở lý luận và ựánh giá thực trạng thiệt hại về kinh

tế của dịch bệnh tai xanh gây ra cho người chăn nuôi lợn tại ựịa bàn nghiên cứu tỉnh Hải Dương;

ii Xác ựịnh nguyên nhân và cơ chế gây ra bệnh Tai xanh ở lợn tại tỉnh Hải Dương;

iii đề xuất những giải pháp về cơ chế chắnh sách và kỹ thuật nhằm giảm thiểu thiệt hại và rủi ro của bệnh Tai xanh ở lợn cho người chăn nuôi lợn nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung tại tỉnh Hải Dương ựể góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững

1.3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các ựối tượng sau ựây:

+ Cơ quan quản lý chuyên môn về chăn nuôi và thú y: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

+ Người chăn nuôi lợn: hộ gia ựình, gia trại, trang trại chăn nuôi;

+ Cơ sở chế biến/giết mổ

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Huyện Nam Sách và Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Trang 13

+ Phạm vi về thời gian: từ tháng 3/2010 ñến tháng 10/2010

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

- Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực ñể làm rõ hơn các yếu tố cấu thành thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch bệnh tai xanh tại 02 huyện nghiên cứu;

- Trên cơ sở kết quả ñiều tra thực ñịa và nghiên cứu ñề xuất những biện pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch bệnh tai xanh

- Kết quả của Luận văn là một phần quan trọng ñể tổng hợp và trình các

cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách cho Chương trình quốc gia phòng chống dịch bệnh Tai xanh tại Việt Nam

Trang 14

2 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ðÁNH GIÁ

THIỆT HẠI KINH TẾ DO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI

2.1 Những vấn ñề chung về thiệt hại kinh tế do dịch bệnh

2.1.1 Thiệt hại kinh tế do bệnh dịch trong chăn nuôi

Ảnh hưởng của dịch bệnh ñộng vật ñến ñộng vật thuần hóa và ñàn vật nuôi rất phức tạp và hệ lụy thường vượt xa các thiệt hại trực tiếp cho những ñối tượng

bị ảnh hưởng Dịch bệnh thường gây ra những hậu quả về thiệt hại kinh tế như (Neumann E và cs) [45]:

Giảm sản lượng ở ñàn vật nuôi (tức là các thiệt hại về sản xuất, chi phí ñiều trị, làm xáo trộn thị trường)

Giảm thu nhập ñầu vào từ các hoạt ñộng có sử dụng gia súc (tại các lĩnh vực như du lịch, vận chuyển, nông nghiệp và năng lượng )

Thiệt hại ñến sức khỏe con người (chất lượng và an toàn thực phẩm, tỷ lệ

tử vong, tỷ lệ chết)

Chi phí phòng và khống chế dịch bệnh (chi phí sản xuất, chi phí xã hội) Giảm cơ hội chọn các sản phẩm tiềm năng (giống ñộng vật, gien, các hoạt ñộng chăn nuôi)

Những hậu quả ñến kinh tế và xã hội nói trên có thể ñược phân loại thành

“trực tiếp”, “suy sụp”, “tràn”, “lâu dài”

a Hậu quả “trực tiếp”

Hậu quả trực tiếp ñến kinh tế do dịch bệnh ñộng vật là làm giảm sản lượng hoặc sản phẩm, và do ñó ảnh hưởng ñến thu nhập của người sản xuất

Nếu như nguồn thu nhập của người sản xuất là ña dạng hoặc nếu có các nguồn thu khác ñể tăng thu nhập thì hậu quả hoặc ảnh hưởng của dịch bệnh không ñáng kể Tuy nhiên, nếu như kinh tế người sản xuất phụ thuộc vào một

Trang 15

hoặc nhiều sản phẩm nông nghiệp không bền vững thì thiệt hại kinh tế là rất lớn

và ảnh hưởng nghiêm trọng ñến an ninh thực phẩm tại ñịa phương

Thiệt hại về kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào chiến lược hoặc phản ứng ñối với dịch bệnh của người sản xuất và sự ñiều chỉnh của thị trường Thiệt hại

về tinh thần của người sản xuất sẽ thường là thấp hơn giá trị bị thiệt hại của sản phẩm, trừ trường hợp người sản xuất không có nhiều phương án dự phòng hoặc

là phụ thuộc hoàn toàn vào sản phẩm bị ảnh hưởng, ñây thường là trường hợp hay gặp tại các quốc gia ñang phát triển

Thiệt hại kinh tế trực tiếp vì vậy sẽ là hậu quả do dịch bệnh (thiệt hại này rất lớn nếu như tỷ lệ chết nằm trong khoảng từ 50 ñến 100%), hoặc là từ các biện pháp thú y nhằm khống chế dịch bệnh, ví dụ như biện pháp tiêu hủy hoàn toàn

Tại việt nam, một quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch cúm gia cầm, gần 44 triệu gia cầm, chiếm 17% tổng ñàn gia cầm của cả nước, ñã bị tiêu hủy với chi phí ước tính là 120 triệu ñô la Mỹ (tương ñương 0,3% tổng sản phẩm quốc nội) Những người chăn nuôi quy mô nhỏ nếu tính trên giá trị tuyệt ñối thì bị thiệt hại ít nhất, nhưng nếu tính về giá trị tương ñối thì lại bị thiệt hại lớn nhất, bởi lẽ nếu bị dịch bệnh thì thiệt hại thường tương ñương hoặc gấp tới

50 lần thu nhập trong một ngày (bằng hoặc ít hơn 2 USD) (Cục Thú y) [6]

Thiệt hại trực tiếp thường thấp hơn thiệt hại gián tiếp do dịch bệnh gây ra

và thường là có liên hệ trực tiếp ñến việc khống chế nhanh chóng ổ dịch bệnh: các nghiên cứu cho thấy việc phát hiện dịch bệnh sớm và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch thích hợp trong trường hợp xuất hiện dịch bệnh là rất cần thiết nhằm giảm thiểu tối ña các thiệt hại trực tiếp Nói cách khác, các biện pháp khống chế và chống dịch bệnh không thích hợp sẽ là nguyên nhân cơ bản làm dịch bệnh lan rộng, khó kiểm soát và do ñó làm tăng chi phí khống chế hoặc thanh toán dịch bệnh

b Hậu quả “suy sụp”

Trang 16

Nền chăn nuôi ñóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Sản xuất thịt và các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc từ ñộng vật tạo nên thu nhập, việc làm, trao ñổi thương mại quốc tế cho những nhà ñầu

tư Hậu quả là khi dịch bệnh xuất hiện sẽ ảnh hưởng ñến thượng tầng của nền chăn nuôi (ñầu vào, nguồn gen) và hạ tầng (các cơ sở giết mổ, hoạt ñộng giết

mổ, chế biến, buôn bán), ñến việc làm, thu nhập của những nhà ñầu tư, hoặc việc tiếp cận thị trường

Hậu quả của sự sụt giảm trong chăn nuôi cũng liên quan ñến sự biến ñộng

về giá cả, mà nguyên nhân là do sự mất cân bằng giữa cung và cầu Tùy theo thị trường, giá có thể tăng nhanh chóng (tiêu thụ sản phẩm trong thị trường nội ñịa) hoặc giảm ñột ngột (sản phẩm không xuất khẩu ñược nhưng phù hợp cho tiêu thụ nội ñịa hoặc sản phẩm ñược cho là không phù hợp làm thực phẩm ) Nguy

cơ không thâm nhập ñược thị trường trong nước cũng như quốc tế cũng thường tạo ra những thiệt hại kinh tế lớn hơn cả việc sụt giảm sản lượng

Tuy nhiên, việc thanh toán ñược một số dịch bệnh nghiêm trọng ñể tăng

cơ hội tiếp cận các thị trường xuất khẩu có giá trị lớn cũng ñem lại nhiều lợi ích ñáng kể Việc mất cơ hội tiếp cận các thị trường trong nước cũng như quốc tế cũng ảnh hưởng nhiều ñến kinh tế hơn là thiệt hại về sản xuất

c Hậu quả “tràn”

Dịch bệnh ñộng vật có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng ñến chất lượng của thực phẩm và tính dồi dào của thực phẩm tại một số nước nghèo Ở Việt Nam, trong giai ñoạn hiện nay nông nghiệp ñóng một vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, vì vậy khi xảy ra dịch bệnh ñộng vật sẽ ảnh hưởng lớn tới thu nhập của ñại bộ phận người chăn nuôi

Tại các vùng nông nghiệp, chăn nuôi ñóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp ñến an ninh lương thực và ñến dinh dưỡng vì nó cung cấp các sản phẩm giàu vitamin, protein, các yếu tố vi lượng, cũng như các sản phẩm có thể ñem trao ñổi thương mại Một số dịch bệnh sẽ làm giảm mạnh nguồn cung cấp thực

Trang 17

phẩm, nguồn dinh dưỡng cho các khu vực nghèo ñói nơi không có các sản phẩm khác thay thế, và do ñó có thể dẫn ñến ñói kém

Thiệt hại về kinh tế rất khó có thể tính toán và nói chung sẽ lớn hơn trong các trường hợp dịch bệnh có tỷ lệ tử vong cao và ảnh hưởng của dịch bệnh ñộng vật ñến các ngành khác như du lịch, nghỉ dưỡng cũng rất lớn

d Hậu quả “lâu dài”

Rất khó có thể tính ñược thiệt hại do việc mất lòng tin của công chúng vào ngành công nghiệp chăn nuôi nội ñịa cũng như của quốc gia nhập khẩu ñối với hệ thống thú y của quốc gia xuất khẩu trong trường hợp xuất hiện dịch bệnh

Dịch bệnh ñộng vật cũng gây ảnh hưởng lâu dài ñến chất lượng của thực phẩm tại nơi sản xuất Dịch bệnh ñộng vật cũng có thể gián tiếp gây ảnh hưởng lâu dài tới sản xuất Ví dụ như trong trường hợp giảm tỷ lệ thụ thai của các loài

có vòng ñời lâu dài, ảnh hưởng của dịch bệnh có thể ñến 10-20 năm sau ñó

2.1.2 Khái niệm về thiệt hại kinh tế do bệnh tai xanh gây ra

Theo Tim E Carpenter, khi nghiên cứu thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh gây ra ñã xác ñịnh thiệt hại kinh tế ñược cấu thành bởi:

a) Thiệt hại trực tiếp:

- Giá trị của ñộng vật chết: ở ñiều kiện bình thường khi không có dịch bệnh xảy ra, ñộng vật ñược bán với giá bình thường của thị trường tiêu thụ tại thời ñiểm xuất chuồng Tuy nhiên, khi ñộng bệnh bị mắc bệnh chết thì giá trị của ñộng vật sẽ bằng “0” và người chăn nuôi sẽ bị lỗ 100% giá trị chi phí ñã bỏ ra

- Chi phí tiêu hủy: ñể ñảm bảo vệ sinh môi trường theo quy ñịnh tại mỗi ñịa phương hoặc quốc gia, khi ñộng vật bị nhiễm bệnh chết, người sản xuất hoặc nhà nước phải bỏ ra một khoản chi phí ñể tiêu hủy số ñộng vật này

- Chi phí tiêu trùng, khử ñộc: sau khi ñộng vật bị nhiễm bệnh chết, ñể

Trang 18

bảo ñảm an toàn cho việc tiếp tục ñầu tư chăn nuôi cho giai ñoạn sau dịch, người sản xuất phải tiếp tục ñầu tư thêm chi phí ñể tiêu trùng, khử ñộc chuồng trại và các khu vực có liên quan Chi phí này sẽ ñược tính toán cho ñộng vật ñã bị nhiễm bệnh chết

- Chi phí ñiều trị: mục tiêu của người sản xuất là ñộng vật ñược chăn nuôi khỏe mạnh cho ñến khi ñủ ñiều kiện ñể xuất chuồng, vì vậy, khi ñộng vật nhiễm dịch bệnh, tất cả ñều tìm mọi phương thức ñể chạy chữa b) Thiệt hại gián tiếp:

- Trọng lượng mất mát/lỗ do giảm trọng lượng: ñộng vật trong thời gian

bị nhiễm bệnh trọng lượng sẽ bị giảm ñi ñáng kể do bị mất nước, không tiêu hóa ñược thức ăn Vì vậy, khi bán ñộng vật ở giai ñoạn này người sản xuất sẽ bị mất mát một khối lượng rất lớn

- Các chi phí thức ăn chăn nuôi phải bổ sung: khi ñộng vật bị nhiễm bệnh người sản xuất sẽ phải bổ sung thêm thức ăn chất lượng cao ñể bổ sung năng lượng chống lại dịch bệnh, nếu ñược ñiều trị khỏi thì người sản xuất

sẽ phải chi phí thêm thức ăn bổ sung ñể ñộng vật hồi phục và ñạt trọng lượng ñể xuất chuồng

- Các chi phí cho lao ñộng tăng thêm: cũng do dịch bệnh và thời gian phải chăn nuôi thêm (nếu ñộng vật ñược ñiều trị khỏi), người sản xuất phải mất thêm chi phí cho thời gian chăn nuôi sau dịch bệnh

- Các loại khác: ngoài các chi phí nêu trên, khi dịch bệnh xảy ra người sản xuất còn phải mất thêm các khoản thiệt hại khác như: giá ñộng vật xuất chuồng giảm, ảnh hưởng tâm lý sản xuất, người tiêu dùng tẩy chay Việc xác ñịnh thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh gây ra ñược cấu thành bởi 02 (hai) yếu tố trên Tuy nhiên, một số chi phí cần ñược lượng hóa khi tính toán mức ñộ thiệt hại và chủ yếu là lợn nái, cụ thể như sau:

Chi phí chính trong chăn nuôi lợn là thức ăn, bao gồm tất cả các ñầu vào như tiền mua thức ăn, các sản phẩm cây trồng và rau quả ñã ñược chuyển ñổi thành giá trị tiền mặt cho mỗi con lợn mỗi ngày Chất thải nhà bếp không ñược

Trang 19

ñưa vào chi phí Tổng chi phí thức ăn cho mỗi con lợn bằng chi phí thức ăn bình quân mỗi ngày nhân tổng số ngày nuôi

Chi phí thức ăn cho lợn nái ñược tính toán theo ba giai ñoạn: mang thai, cho con bú và thời gian giữa cai sữa Chi phí thức ăn trước khi cai sữa lợn con (trung bình 51.000 ñồng/con) cũng ñược tính vào chi phí thức ăn cho lợn nái

Chi phí thức ăn mỗi ngày trong thời kỳ mang thai và giai ñoạn sau cai sữa nhưng trước khi thụ thai là như nhau, tổng thời gian của cả hai thời kỳ ước tính

là 117 ngày, trong ñó thời gian mang thai 110 ngày và khoảng thời gian sau khi cai sữa cho ñến ngày phối giống khoảng 7 ngày Thời gian trung bình cho con

bú từ khi ñẻ ñể cai sữa là 30 ngày và sau cai sữa (nuôi bộ) là 30 ngày Tổng chi phí thức ăn cho mỗi con lợn nái bằng tổng chi phí thức ăn trong những thời kỳ

Chi phí ñiều trị trong trường hợp lợn bị nhiễm bệnh (ñược chữa khỏi) ñược xác ñịnh cho một quá trình của 3 - 5 ngày với một ñồng trung bình 24.000ñ/con và 10.000 ñồng/con cho các hóa chất khử trùng

Bên cạnh ñó, chi phí bổ sung khác như lao ñộng, nhiên liệu, ñiện, nước, ñược coi là một phần của chi phí cố ñịnh và vì vậy sẽ ñược khấu trừ trong tổng lợi nhuận

Tóm lại : “thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn”: là những ảnh hưởng về kinh tế do dịch bệnh tạo ra, bao gồm các thiệt hại như: giảm sản lượng ở lợn nuôi (tức là các thiệt hại về sản xuất, chi phí ñiều trị, làm xáo trộn thị trường); giảm thu nhập ñầu vào từ các hoạt ñộng khác (tại các lĩnh vực như

du lịch, vận chuyển, nông nghiệp và năng lượng ); thiệt hại ñến sức khỏe con người (chất lượng và an toàn thực phẩm, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ chết); tăng chi phí phòng và khống chế dịch bệnh (chi phí sản xuất, chi phí xã hội); ñồng thời giảm

cơ hội chọn các sản phẩm tiềm năng (giống, gien, các hoạt ñộng chăn nuôi).

Trước khi có dịch Tai xanh ở lợn, ngành chăn nuôi luôn giữ mức tăng trưởng cao, bình quân giai ñoạn 2001 ÷ 2010 tăng 7,5%/năm Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2006 tăng trưởng 7,3% so với năm 2005 Tuy nhiên, từ năm

2007 ÷ 2010 chỉ ñạt 4,6%, tỷ trọng của ngành tăng 24,1% (giảm 1,4% so với

Trang 20

năm 2006 ) (Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy, 2010)[19]

Kể từ khi xuất hiện dịch bệnh gia súc, gia cầm ñã gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi, ñặc biệt một số dịch bệnh nguy hiểm ở ñộng vật còn lây nhiễm sang người như bệnh cúm gia cầm, bệnh dại, liên cầu khuẩn ở lợn Mô hình chăn nuôi ở các ñịa phương chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán; kết hợp với ý thức về phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm còn hạn chế là nguyên nhân chính dẫn ñến những “thảm hoạ” gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi

Năm 2004, dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng xảy ra ñã làm thiệt hại hàng nghìn tỷ ñồng, bao gồm cả kinh phí chống dịch và rớt giá sản phẩm chăn nuôi Thiệt hại nghiêm trọng hơn ñó là kinh phí phải chi cho các hoạt ñộng xã hội, công tác y tế lên ñến hàng nghìn tỷ ñồng

ðối với dịch tai xanh trên ñàn lợn, ñã xuất hiện lần ñầu tiên vào năm

2007, gây thiệt hại lớn cho các gia trại, trang trại và hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Trong

3 năm (2007 - 2009) số lợn mắc bệnh là 392.797 con, 67.947 lợn chết và 309.931 lợn tiêu hủy bắt buộc ðặc biệt là năm 2008, dịch tai xanh ñã bùng phát trên diện rộng, ước thiệt hại khoảng 36.855 tỷ ñồng, bao gồm chi phí hỗ trợ chủ

hộ chăn nuôi, tiêu trùng khử ñộc, hoạt ñộng chốt kiểm dịch chưa kể các thiệt hại khác về xã hội (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)[1]

Cùng với sự nguy hại của bệnh tai xanh, bệnh lở mồm long móng cũng là mối ñe doạ lớn cho ngành chăn nuôi Năm 2006, dịch lở mồm long móng ở trâu – bò và lợn ñã xảy ra làm thiệt hại khoảng 442,4 tỷ ñồng

Ngoài bệnh tai xanh, lở mồm long móng, ñàn lợn còn mắc một số loại bệnh khác như bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, ñóng dấu và phó thương hàn cũng gây tổn thất khá lớn cho các chủ hộ chăn nuôi lợn

ðối tượng chịu thiệt hại kinh tế lớn nhất do dịch bệnh gây ra là người trực tiếp chăn nuôi Bình quân thiệt hại kinh tế cho mỗi chủ hộ chăn nuôi dao ñộng

từ 1,4 triệu ñồng (cho khu vực có mật ñộ chăn nuôi thấp) ñến 15 triệu ñồng (cho khu vực có mật ñộ chăn nuôi cao)

Ngoài ra, các ổ dịch ñã gây ra một tác ñộng ñáng kể tới người chăn nuôi

Trang 21

như: tăng thời gian, chi phí thức ăn bổ sung, chậm thời gian ñộng dục (ñối với nái sinh sản); Bên cạnh ñó, người chăn nuôi còn phải ñầu tư một khối lượng lớn kinh phí cho việc ñiều trị và hóa chất khử trùng

Trong trường hợp các hộ gia ñình bán ñộng vật của họ một cách nhanh chóng ñể tránh ñược chi phí ñiều trị và khử trùng thì giá bán chỉ bằng khoảng 25% so với giá bán bình thường không có dịch bệnh

2.1 3 Các phương pháp ño lường thiệt hại kinh tế do dịch bệnh

Tổng số thiệt hại kinh tế do bệnh tai xanh gây ra là sự kết hợp của mất mát trực tiếp và gián tiếp

- Sự mất mát trực tiếp bao gồm giá trị của ñộng vật chết, giá trị của ñộng vật chọn lọc/bị phá hủy bởi người chăn nuôi, chi phí khử trùng, chi phí ñiều trị bệnh và chi phí thức ăn bổ sung

- Các thiệt hại gián tiếp bao gồm giá trị ước tính của việc giảm cân hoặc mất mát trong tăng cân, mất mát do bổ sung lao ñộng cho việc chăm sóc lợn bị

ốm và mất mát do giảm giá bán

- Chi phí thức ăn bổ sung bao gồm chi phí thức ăn cần thiết trong thời gian dài hơn so với giai ñoạn bình thường trong việc giữ chân và chi phí thức ăn chất lượng bổ sung ñể cải thiện sức khỏe ñộng vật trong thời gian dịch bệnh bùng phát

ða số người chăn nuôi ở khu vực bị nhiễm bệnh ñã sử dụng thức ăn chăn nuôi chất lượng cao cho lợn bị nhiễm bệnh ñể nhanh phục hồi sức khỏe sau khi bị bệnh

- Các chi phí lao ñộng bao gồm các ngày làm thêm ñể chăm sóc lợn bị nhiễm bệnh So với bình thường, khi lợn bị nhiễm bệnh người chăn nuôi phải dành nhiều thời gian chăm sóc lợn bị nhiễm bệnh và ñiều trị bệnh, khử trùng Lao ñộng thêm ñược tính bằng giờ/người/ngày, chi phí ñược tính như sau:

Chi phí lao ñộng = Số giờ/8 * Tiền lương lao ñộng trung bình ở các thị trường ñịa phương

- Giảm cân là ước tính của người chăn nuôi: người chăn nuôi ước tính trọng lượng lợn của họ bị mất khi bị nhiễm bệnh

Trang 22

- Các chi phí khác bao gồm chi phí bán mất do dịch bệnh tai xanh

2.2 Khái niệm chung về bệnh Tai xanh

2.2.1 ðịnh nghĩa

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome - PRRS) còn gọi là “bệnh Tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ñối với lợn, gây ra do virus Bệnh ñược ghi nhận lần ñầu tiên

ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987 Thời gian ñầu do chưa xác ñịnh ñược nguyên nhân và chưa

có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ñã ñược sử dụng ñể ñặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:

- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS),

- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ,

- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS),

- Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS),

- Bệnh Tai xanh như ở châu Âu

Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này ñược tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) ñã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS) (Bùi Quang Anh và cs) [3]

2.2.2 ðặc ñiểm

Lợn mắc bệnh thường bị sung huyết ở tai, lúc ñầu ñỏ sẫm, sau tím xanh, tuy nhiên triệu chứng này ít gặp ðây là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ñối với lợn, gây ra do vi rút Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện ñặc trưng viêm ñường hô hấp rất nặng như: sốt, ho, thở khó và ở lợn nái chửa là các rối loạn sinh sản như: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu

Cho ñến nay, nhiều nghiên cứu ở Hoa Kỳ, Canada, Hà Lan, Nhật Bản ñều xác ñịnh bệnh này không lây truyền sang các gia súc khác và người Lợn bị nhiễm vi rút Tai xanh thường suy giảm miễn dịch, tạo ñiều kiện cho các loại bệnh nguy hiểm khác kế phát và gây chết nhiều lợn như: dịch tả lợn, tụ huyết

Trang 23

trùng, phĩ thương hàn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, Ecoli

Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc PRRS cho thấy, lợn bệnh thường cĩ các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ

ăn, mẩn đỏ da, khĩ thở, táo bĩn hoặc ỉa chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn:

Lợn nái: Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai

gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: Thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2007)[20]

Lợn nái trong giai đoạn nuơi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, cĩ thể táo bĩn hoặc ỉa chảy, viêm phổi

Lợn đực giống: Sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hơn mê, một số con cĩ hiện tượng tai xanh ðặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hồn, bìu dái nĩng đỏ (chiếm 95%), dịch hồn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007)[6] lượng tinh ít, chất lượng kém biểu hiện: nồng độ tinh trùng C<80.106, hoạt lực của tinh trùng A<0,6, sức kháng của tinh trùng R <3000, tỷ

lệ kỳ hình K>10%, tỷ lệ sống của tinh trùng <70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Như Thanh, 2007)[16]

Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống sĩt tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng cĩ triệu chứng khĩ thở và tiêu chảy (Kamakawaa và cs, 2006)[39]

Lợn cĩ triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lơng xơ xác, gầy yếu, sưng mí mắt

và kết mạc, đơi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đốn đối với lợn con dưới

3 tuần tuổi mắc PRRS, tai xanh tím, rối loạn hơ hấp, tiêu chảy phân màu nâu đỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát

2.2.3 Nguồn gốc

Các nghiên cứu đã dựa vào phân tích trình tự axit amin của virus chủng

2332 và chủng Lelystad cho thấy rằng các virus này đang tiến hĩa do đột biến

Trang 24

ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen

Những nghiên cứu của Benfield, Wensvoort và cs (1992) cho thấy các chủng virus thuộc dòng Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất ñịnh so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương ñồng nhau về cấu trúc kháng nguyên

Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm Tất cả 6 ARNm có trình tự sắp xếp chung ở ñầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng ñều

có ñuôi 3' polyA Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nucleotit, tổ chức hệ gen, cũng như cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus ñộng mạch (Arterivirus) mới (Meulenberg và cs, 1993)[43]

Virus PRRS là một virus ARN chuỗi ñơn, có màng bọc, thuộc giống

Arterivirus , họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh và cs, 1997)[31] Hiện

nay có 2 kiểu gen PRRS chính ñược công nhận là:

Kiểu gen 1 (Nhóm 1): Các nhóm virus thuộc dòng Châu Âu với tên gọi phổ thông là virus Lelystad (Meulenberg và cs, 1993)[43]

Kiểu gen 2 (Nhóm 2): Các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu cho chủng này là chủng virus VR-2332 (Nelsen và cs, 1999)[44]

Khi so sánh về di truyền ñã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa 2 kiểu gen này Những nghiên cứu gần ñây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập ñược từ các vùng ñịa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay ñổi về nucleotit khá cao (ñến 20%), ñặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ

2.2.4 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh

Trong tự nhiên, lợn ñực và lợn nái mang virus, ñây là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng ñóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn

Trang 25

nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng

Khi ñã nhiễm virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân ñến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm virus; virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Tuy nhiên, việc bài thải virus qua phân là một vấn ñề còn gây tranh cãi, một số nghiên cứu báo cáo rằng PRRS có trong phân từ ngày 28 ñến 35 sau khi gây nhiễm thực nghiệm, trong khi ñó một số các nghiên cứu khác lại không phát hiện ñược virus trong các mẫu phân (Yoon và cs, 1993)[52]; (Will và cs, 1997a)[52]

Lợn ñực có thể thải virus trong tinh dịch trong 43 ngày Bằng phương pháp RT-PCR, các nhà nghiên cứu ñã phát hiện ñược ARN của PRRS trong tinh dịch 92 ngày sau khi lợn bị nhiễm virus (Swenson và cs, 1994)[50]; (Christopher-Hennings và cs, 1995)[34] Nguồn gốc của virus trong tinh dịch lợn ñực hiện nay chưa ñược xác ñịnh chính xác, nhưng người ta cũng ñã phân lập ñược virus trong dịch hoàn 25 ngày sau khi nhiễm, trong tuyến củ hành ở

101 ngày sau khi nhiễm virus Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống

Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai ñoạn giữa trở

ñi và cũng thải qua nước bọt và sữa

PRRS thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chửa virus có thể qua ñược nhau thai, tuy nhiên khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và ñám rối màng treo ruột

Virus có thể xâm nhập vào ñại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập ñược vào các ñại thực bào ở gan, thận, tim và các tế bào tiền thân của ñại thực bào như bạch cầu ñơn nhân trung tính,

tế bào tủy xương Tế bào ñích chủ yếu của virus là ñại thực bào phế nang, tại ñây virus nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ có 2% ñại thực bào phế nang bị virus xâm nhập

Trang 26

Truyền lây trực tiếp: Các ñường lây truyền trực tiếp của PRRS trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus PRRS ñược phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa ñầu (Yoon

và cs, 1993)[55]; (Rossow và cs, 1994)[49]; (Swenson và cs, 1994)[50]; (Will

và cs, 1997)[52]; (Wagstrom và cs, 2001)[51]

Sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai ñoạn giữa ñến giai ñoạn cuối của thời kỳ mang thai (Christianson và cs, 1993)[33] Tuy nhiên, khả năng qua nhau thai của virus phụ thuộc vào giai ñoạn mang thai của nái khi virus xâm nhập vào cơ thể chúng Nếu virus xâm nhập vào con nái ñang chửa kỳ

1 hoặc kỳ 2 thì khả năng qua nhau thai của virus là rất thấp, thể hiện ở ñàn con sinh ra tỷ lệ chết thấp, tỷ lệ thai chết lưu cũng thấp, có con non còn hầu như không có triệu chứng bệnh Nếu virus xâm nhập vào những con nái ñàn chửa kỳ

3 (92 ngày trở lên) thì khả năng qua ñược nhau thai là rất cao Chúng thường gây chết lợn mẹ, hoặc tăng tỷ lệ thai chết lưu, ñẻ non, con non chết yểu nhiều, tỷ

lệ cai sữa thấp… Hiện tượng này ñược giải thích là do tính thấm của nhai thai ở các giai ñoạn khác nhau của thai kỳ là khác nhau

Truyền lây theo chiều ngang cũng ñã ñược báo cáo qua tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn cảm nhiễm (Bierk và cs, 2001)[30] cũng như sự lây truyền qua tinh dịch của những lợn ñực nhiễm bệnh (Yaeger và cs, 1993)[54]

Nhiễm trùng kéo dài: Nhiễm bệnh dai dẳng là một ñặc trưng của nhóm

Arterivirus (Plagemann and Moennig, 1992)[48] Sự tồn tại dai dẳng của PRRSV gây ra lây nhiễm “âm ỉ”, virus hiện diện ở mức ñộ thấp trong cơ thể và giảm dần theo thời gian (Wills và cs, 1997)[53] Cơ chế mà virus sử dụng ñể tấn công vào hệ thống miễn dịch của cơ thể chưa ñược làm rõ Thời gian tồn tại của virus ñược công bố trong nhiều nghiên cứu, nhưng kết quả rất khác nhau Sử dụng phản ứng khuếch ñại gen (PCR) ARN của virus ñã ñược phát hiện ở lợn ñực hậu bị (6-7 tháng tuổi) cho tới 120 ngày sau khi gây nhiễm (Batista và cs, 2002)[27] và sự bài thải virus sang ñộng vật chỉ báo mẫn cảm ñược báo cáo là

Trang 27

ñến 86 ngày (Bierk và cs, 2001)[30]

Về sự tồn tại dai dẳng của PRRSV ở mức ñộ quần thể trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, PRRSV ñã ñược phát hiện ở lợn 3 tuần tuổi ñược gây bệnh thực nghiệm cho ñến 63 ngày sau khi gây nhiễm và 90% trên cùng ñàn lợn nói trên lúc 105 ngày sau khi gây nhiễm (Horter và cs, 2002)[38]

Nhiễm các bào thai trong tử cung trong khoảng 85-90 ngày của giai ñoạn mang thai làm thú mắc bệnh bẩm sinh ngay khi mới sinh ra, với ARN của PRRSV ñược phát hiện trong huyết thanh vào ngày 120 sau khi ñẻ (Benfield và

cs, 1997)[29] Lợn chỉ báo ñược nhốt lẫn với những lợn mắc bệnh này (98 ngày sau khi sinh) ñã phát triển kháng thể PRRSV vào 14 ngày sau ñó Cuối cùng, sự tồn tại dai dẳng của PRRSV trong từng cá thể dao ñộng trong khoảng thời gian

từ 154 ñến 157 ngày sau khi nhiễm ñã ñược báo cáo (Albina và cs, 1994)[25]; (Otake và cs, 2002a)[47]

Truyền lây gián tiếp

- Các dụng cụ, thiết bị: Một số ñường truyền lây gián tiếp qua các dụng

cụ, thiết bị ñã ñược xác ñịnh trong những năm gần ñây Ủng và quần áo bảo hộ

ñã ñược chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm (Otake và cs, 2002a)[47] Nguy cơ lây truyền qua những ñường này có thể ñược giảm thiểu qua áp dụng các bảng nội quy: thay quần áo, giày dép, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn

Kim tiêm cũng là phương tiện lan truyền PRRSV giữa các lợn với nhau, chứng minh cho nhu cầu phải quản lý kim tiêm hợp lý (Dee và cs, 2002)[35]

- Các phương tiện vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển là một ñường

chính làm lây lan PRRSV Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm ñã thu nhận PRRSV qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm virus; tuy nhiên, làm khô phương tiện vận chuyển ñã làm giảm sự lây nhiễm (Dee et al, 2002)[35]

Biện pháp làm tăng thời gian sấy khô qua việc sử dụng không khí ấm với tốc ñộ cao (hệ thống khử tạp nhiễm và sấy khô bằng nhiệt) ñã ñược chứng minh

Trang 28

là một phương pháp hiệu quả ñể loại trừ PRRS từ bên trong một phương tiện vận chuyển ñã bị nhiễm virus (Dee và cs, 2002)[35]

Kết hợp với việc sấy khô, các chất sát trùng cũng ñã ñược sử dụng rộng rãi

ñể làm vệ sinh các phương tiện vận chuyển sau khi ñược sử dụng

- Côn trùng: Các loài côn trùng (muỗi - Aedes vexans và ruồi nhà – Musca domestica) ñược theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa hè và ñã cho thấy có lan truyền PRRS bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong ñiều kiện thực nghiệm (Otake et al, 2002 và 2004)[46 và 47]

Trong côn trùng, virus nằm ở ñường tiêu hóa Các côn trùng không phải là vector sinh học của PRRS (Otake et al, 2002)[47] và ; vì thế khoảng thời gian tồn lưu của PRRS trong ñường tiêu hóa côn trùng phụ thuộc vào lượng virus ăn vào

và nhiệt ñộ của môi trường Sự vận chuyển PRRSV bởi các loài côn trùng qua một vùng nông nghiệp ñã ñược báo cáo là có thể tới 2,4km sau khi tiếp xúc với quần thể lợn nhiễm bệnh (Otake et al, 2002)[46]

- Các loài có vú khác và gia cầm: ðiều tra vai trò của các loài có vú khác nhau (loài gặm nhấm, gấu trúc Mỹ, chó, mèo, thú có túi, chồn hôi) và các loài chim (chim sẻ, sáo nuôi) cho thấy không có loài nào là vector sinh học và cơ học trong việc lây lan PRRS (Wills, et al, 1997b)[52] ñã gây bệnh qua ñường miệng cho vịt trời, ngan, gà lôi với khoảng 104 TCID50 virus PRRS Họ có khả năng phân lập ñược virus trong phân gà (5 ngày sau khi tiêm truyền), gà lôi (5 và 12 ngày sau khi tiêm truyền), và tồn tại ở vịt trời (khoảng 5 ngày sau khi tiêm truyền) Triệu chứng lâm sàng không thấy ở bất cứ loài chim nào và chúng không

có sự thay ñổi huyết thanh ñối với PRRS

- Lây lan qua không khí: Hiện nay, sự truyền lây PRRS qua các tiểu phần

lơ lửng trong không khí giữa các trang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi Các dữ liệu trước ñây thu thập từ các ổ dịch diễn ra ở Anh cho thấy virus có thể lan truyền theo các tiểu phần lơ lửng trong không khí xa tới 3 km Hay một vụ dịch nổ ra tại Tây Âu gần như ngay lập tức sau khi ổ dịch ñầu tiên xảy ra tại ðức Nguyên nhân của vụ dịch này ñược giải thích là do virus có khả năng

Trang 29

truyền qua không khí, theo gió tới vùng Tây Âu và gây bệnh cho những lợn trong các trang trại ở khu vực này cũng chứng minh rằng virus có thể truyền qua không khí với khoảng cách lên tới 3 km

Gần ñây, từ một nghiên cứu dịch tễ học trên quy mô lớn cũng cho thấy các tiểu phần không khí là ñường truyền lây gián tiếp giữa các vùng chăn nuôi lợn với nhau (Meulenberg và cs, 1993)[43]

Lợn nái: Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu,

thai gỗ hàng loạt, ñẻ non, lợn con ñẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo ñộ tuổi của thai: Thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2007)[20]

Lợn nái trong giai ñoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm ñạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi

Lợn ñực giống: sốt cao, bỏ ăn, ñờ ñẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh ðặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng ñỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng ñau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007)[6] lượng tinh ít, chất lượng kém biểu hiện: nồng ñộ tinh trùng C<80.106, hoạt lực của tinh trùng A<0,6, sức kháng của tinh trùng R <3000, tỷ

lệ kỳ hình K>10%, tỷ lệ sống của tinh trùng <70%, ñộ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn ñực giống rất lâu mới hồi phục ñược khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Như Thanh, 2007)[16]

Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống ñến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa và cs, 2006)[39]

Trang 30

Lợn có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng mắ mắt

và kết mạc, ựôi khi ựây là triệu chứng mang tắnh chẩn ựoán ựối với lợn con dưới

3 tuần tuổi mắc PRRS, tai xanh tắm, rối loạn hô hấp, tiêu chảy phân màu nâu ựỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát

2.3 Tình hình dịch bệnh Tai xanh

2.3.1 Trên thế giới

Bệnh ựược phát hiện lần ựầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1987 (Keffaber, 1989)[40]; (Loula, 1991)[42] Sau ựó Hội chứng tương tự cũng ựã xuất hiện ở nhiều nước chăn nuôi lợn ở quy mô công nghiệp như Canada (1987); các nước vùng châu Âu:

Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh, Pháp năm 1991 (Baron và cs, 1992)[26] và đan Mạch, Hà Lan năm 1992 Tại Châu Á, năm 1988 bệnh xuất hiện tại Nhật Bản (Hirose và cs, 1995)[37], 1991 tại đài Loan (Chang và cs, 1993)[32]

Chỉ tắnh riêng từ năm 2005 trở lại ựây, 25 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất

cả các châu lục trên thế giới ựều có dịch tai xanh (trừ châu Úc và Newzeland) Tại Hồng Kông và đài Loan ựã xác ựịnh có cả hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ cùng lưu hành; dịch Tai xanh cũng ựược thông báo ở Thái Lan từ các năm 2000 - 2007

Từ tháng 6/2006, ựàn lợn tại các trại chăn nuôi vừa và nhỏ tại Trung Quốc

ựã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi: ỘHội chứng sốt cao ở lợnỢ: với biểu hiện sốt cao và tỉ lệ tử vong cao (50%) trong vòng 5-7 ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng bệnh Hội chứng thấy ở lợn các lứa tuổi nhưng ở lợn con bệnh nặng hơn (Kegong Tian và cs, 2007)[41]

Tháng 7/2007, Philippines là nước thứ 3 (sau Trung Quốc và Việt Nam) báo cáo có dịch bệnh tai xanh do chủng virus ựộc lực cao gây Tiếp theo, vào tháng 9/2007, Nga cũng ựã báo cáo có dịch bệnh tai xanh do chủng virus ựộc lực cao này gây ra

Hiện nay, Hội chứng này ựã trở thành dịch ựịa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan,

Trang 31

Anh…và ñã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi

2.3.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh tai xanh ñược phát hiện lần ñầu tiên vào năm 1997 trên ñàn lợn nhập khẩu từ nước Mỹ, 10/ 51 con có huyết thanh dương tính và cả ñàn ñược tiêu hủy ngay Suốt trong 10 năm (1997 - 2007) bệnh ñã âm thầm tồn tại, lưu hành trong một số ñàn lợn, nhưng không gây thành ổ dịch ðầu năm 2007, bệnh lợn tai xanh ñã bắt ñầu bùng phát, lây lan nhanh, tạo thành dịch

Năm 2007

ðợt dịch thứ nhất:

- Ngày 12/3/2007 ñến 09/4/2007: lần ñầu tiên dịch PRRS xuất hiện ở nước ta trên ñàn lợn của tỉnh Hải Dương với 8 xã thuộc 3 huyện Bình Giàng, Tứ

Kỳ và Ninh Giang ñã làm cho 8.179 con lợn mắc bệnh, 844 lợn chết

Dịch PRRS ñã lây lan do việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm không ñược kiểm soát triệt ñể Tính ñến ngày 15/5/2007, dịch PRRS xảy ra tại 172 xã, phường, thuộc 30 huyện, thị xã của 09 tỉnh là: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Nam ðịnh Số liệu các ổ dịch ñược tóm tắt trên Bảng 2.1 (Cục Thú y, 2008)[5]

Bảng 2 1: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam

(ðợt 1/2007: Từ 12/3-15/5/2007)

TT Tỉnh Số huyện Số xã Tổng số lợn

mắc bệnh

Tổng số lợn chết do PRRS

Trang 32

Qua theo dõi tình hình lây nhiễm bệnh, nguồn bệnh có thể từ Trung Quốc vào Việt Nam qua cửa khẩu Quảng Ninh, Lạng Sơn không ñược kiểm soát chặt chẽ nên nguồn bệnh ñã xâm nhập vào nước ta và sau ñó mầm bệnh ñã làm lây lan theo ñường vận chuyển ñến các tỉnh: Hải Dương, Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Bình ðợt dịch này diễn ra trong thời gian từ 12/3-15/5/2007, tổng cộng là 64 ngày

ðợt dịch thứ 2:

Ngày 25/6/2007 ñến ngày11/12/2007 tổng cộng là 169 ngày Dịch bắt ñầu xuất hiện tại 2 huyện Thăng Bình và Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam, sau ñó lây lan sang 120 xã thuộc 13 huyện của tỉnh Quảng Nam với tổng số lợn mắc bệnh là 31.745 con, làm chết 2.861 con (Cục Thú y, 2008)[5]

Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam

(ðợt 2/2007: Từ 25/6-11/12/2007)

TT Tỉnh Số huyện Số xã Tổng số lợn

mắc bệnh

Tổng số lợn chết do PRRS

Trang 33

TT Tỉnh Số huyện Số xã Tổng số lợn

mắc bệnh

Tổng số lợn chết do PRRS

cơ quan thú y ựịa phương không nắm ựược tình hình dịch, không quản lý ựược việc vận chuyện lợn ốm nên dịch ựã lây lan ra diện rộng Dịch cũng ựã xuất hiện tại các tỉnh khác tại khu vực miền Trung gồm: Thừa Thiên Huế, đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình định

đợt dịch thứ 2 vào năm 2007, dịch PRRS xảy ra chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và miền Nam Trong ựợt dịch này, ựã có 14 tỉnh, thành phố gồm 45 huyện và

233 xã xảy ra dịch bệnh: Cà Mau, Long An, Bà Rịa Vùng Tàu, Khánh Hòa, Bình định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn,

Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương Tổng số lợn ốm là 41.173 con, số chết 4.019 con

Quảng Nam là tỉnh bị dịch PRRS nặng nhất với 31.745 lợn mắc bệnh, 2.861 con lợn chết, tiếp theo ựó là Khánh Hòa với 3.375 con lợn mắc bệnh

và 185 con lợn chết

* Năm 2008: Dịch xảy ra thành 2 ựợt chắnh

Trang 34

Dịch xảy ra chủ yếu ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, nặng nhất là Thanh Hóa với 187.436 lợn mắc bệnh, 37.159 lợn chết, tiếp ñến là Hà Tĩnh với 29.875 lợn mắc bệnh, 296 lợn chết, ñây là 2 tỉnh dịch phát ra sớm ngay từ ñầu ñợt dịch và cũng kết thúc dịch muộn nhất.

Trong ñợt dịch thứ 2/2008, Quảng Trị là tỉnh bị dịch nặng nhất do vận chuyển lợn ñường dài, có thể lợn bệnh từ các tỉnh phía Bắc ñược vận chuyển theo ñường quốc lộ 1 vào các tỉnh phía Nam, ñến ñiểm nghỉ dừng chân, tắm và lợn ăn ñã làm cho mầm bệnh phát tán, gây ô nhiễm môi trường

Trang 35

ðợt 2/2008: dịch xuất hiện từ ngày 04/6/2008 ñến 22/8/2008 tại 132 xã,

phường và thị trấn của 42 huyện, thị và thành phố của 20 tỉnh, gồm: Cà Mau Tây

Ninh, Bắc Ninh, Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nam, Hải Dương, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (tái phát), Quảng Nam (tái phát), Bình ðịnh, Phú Yên, Gia Lai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu và Sóc Trăng

Tỉnh bị dịch nặng nhất là tỉnh Quảng Trị, tiếp theo là Thừa Thiên Huế, Bà Rịa Vũng Tàu Dịch có xu hướng nặng ở các tỉnh dọc theo trục ñường 1 là trục ñường chính từ Bắc vào Nam, nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ

Trang 36

Tổng số lợn mắc bệnh là 37.931 con, số chết là 15.781 con

ðợt dịch này diễn ra trong thời gian từ 04/6 - 22/8/2008 tổng cộng là 80 ngày

Bảng 2.5: Tổng hợp về tình hình dịch PRRS năm 2007 - 2008 tại Việt Nam

Nội dung so sánh

Số con Tỷ lệ % Số con Tỷ lệ % Tổng số lợn mắc bệnh 88.945 298.808

405 xã, 75 huyện thuộc 21 tỉnh, thành phố: 11 tỉnh phía Bắc, 5 tỉnh miền Trung

và 5 tỉnh miền Nam Tổng số lợn ốm là 88.945 con, số chết là 10.780 con (chiếm 12,12%) và số buộc phải tiêu hủy là 19.217 con (chiếm 21,61%)

Dịch xảy ra nhiều nhất ở lợn thịt 38.397 con (chiếm 43,17% tổng số lợn ốm), lợn con và lợn nái với tỷ lệ tương ñương nhau khoảng 28%, lợn ñực mắc bệnh ít nhất 228 con (chiếm khoảng 0,26% tổng số lợn ốm)

Lợn con có tỷ lệ chết cao nhất: 6.479 con (chiếm 60,10% tổng số lợn chết) Tiếp ñến là lợn nái và lợn thịt, chiếm tỷ lệ tương ứng là 22,63% và 17,14%; lợn ñực giống có tỷ lệ chết thấp nhất: 14 con (chiếm tỷ lệ 0,13% tổng số lợn chết)

Tỷ lệ lợn mắc bệnh và lợn chết do PRRS năm 2007 ñược thể hiện như sau:

Trang 37

Biểu ñồ 2.1: So sánh tỷ lệ (%) lợn bị bệnh và bị chết do PRRS năm 2007

Mức ñộ bị bệnh và bị chết cao ở lợn con và lợn nái có liên quan ñến khả năng ñáp ứng miễn dịch Ở lợn con, do lần ñầu tiên dịch PRRS xuất hiện tại Việt Nam vào năm 2007, vì vậy vào thời ñiểm ñó số lợn này có thể chưa có kháng thể kháng virus PRRS truyền từ mẹ sang, trong khi hệ thống ñáp ứng miễn dịch của lợn con vẫn chưa hoàn thiện, dẫn ñến lợn con dễ bị nhiễm bệnh và khi ñã bị bệnh thường chết nhiều hơn Trong khi ñó, ở lợn nái, nhất là lợn nái mang thai giai ñoạn cuối có sức ñề kháng yếu, khả năng nhiễm mầm bệnh kế phát cao nên

tỷ lệ lợn nái chết cũng tương ñối cao.

Năm 2008, dịch xảy ra thành hai ñợt chính tại 949 xã, phường thuộc 99 huyện, thị và thành phố của 28 tỉnh, thành phố: 10 tỉnh phía Bắc, 8 tỉnh miền Trung và 10 tỉnh miền Nam Tổng số lợn mắc bệnh là 298.808 con, buộc phải

tiêu huỷ là 286.351 con (chiếm 95,58%)

Tỷ lệ lợn mắc bệnh và lợn chết do PRRS năm 2008 thể hiện qua Biểu ñồ 2.2

Biểu ñồ 2.2: So sánh tỷ lệ (%) lợn bị bệnh và bị chết do PRRS năm 2008

Trang 38

Tương tự như năm 2007, lợn thịt mắc bệnh nhiều nhất chiếm tỉ lệ 63,89% tổng số lợn ốm, tiếp ñến là lợn nái 18,70% và lợn con chiếm 17,37%, lợn ñực giống ít mắc bệnh 0.04%

Lợn thịt có tỷ lệ chết cao nhất chiếm 59,68%, lợn con có tỷ lệ chết là 25,35%, lợn nái là 14,91%, trong khi lợn ñực có tỷ lệ chết thấp nhất là 0,05% (thấp hơn so với năm 2007) Tổng số lợn phải tiêu hủy chiếm gần như 100% số lợn ốm là

do các ñịa phương có dịch áp dụng Quyết ñịnh số 80/2008/Qð-BNN ngày 15/7/2008 ban hành Quy ñịnh phòng, chống bệnh Tai xanh, chỉ có một số ít lợn ñã

bị người dân và thương lái bán chạy và tiêu thụ ở giai ñoạn ñầu của ñợt dịch

Năm 2009: Dịch PRRS ñã khống chế từ tháng 9/2008 và các tháng ñầu

năm 2009, tuy nhiên, vào ngày 14/2/2009, dịch ñã tái xuất hiện tại xã ðiện Thọ, huyện ðiện Bàn của tỉnh Quảng Nam Sau ñó, dịch tiếp tục xuất hiện rải rác tại

các ñịa phương khác, ñược tổng hợp ở Bảng 2.6

Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình dịch PRRS tại Việt Nam năm 2009

Trang 39

5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu hủy

ðợt dịch lớn nhất và dai dẳng nhất là tại Quảng Nam và Bắc Giang, ñây

là ổ dịch cũ tái phát, các ổ dịch tại các tỉnh còn lại ñều là ổ dịch ñơn lẻ, do thực hiện quy ñịnh hiện hành về biện pháp phòng chống dịch như xử lý triệt ñể các ổ dịch ở giai ñoạn mới phát sinh, tiêu hủy toàn bộ số lợn trong chuồng hoặc hộ chăn nuôi có lợn ốm, do ñó số lượng lợn phải tiêu hủy chiếm hầu hết số lợn ốm, chỉ có một lượng rất nhỏ lợn chết vì bệnh Tính ñến 30/6/2009, cả nước còn 3 tỉnh (Quảng Nam, ðắc Lắc và Bà Rịa - Vũng Tầu) có dịch PRRS chưa qua 21 ngày

Năm 2010

ðợt 1/2010 tại miền Bắc: Dịch lợn tai xanh ñã xảy ra từ ngày 23/3/2010 tại Hải Dương Tính ñến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 461 xã, phường, thị trấn của 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phố gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam ðịnh, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con trong ñó số tiêu hủy là 65.911 con

ðợt 2/2010 tại miền Nam: Theo kết quả ñiều tra, ñợt dịch này bắt ñầu từ ngày 11/6/2010 tại Sóc Trăng Sau ñó dịch xuất hiện tại Tiền Giang (ngày 19/6), Bình Dương (ngày 27/6), Long An (ngày 15/7), Lào Cai (11/7), Quảng Trị (01/7)

Trong ñợt dịch thứ 2, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 38.115 hộ chăn nuôi của 1443 xã, phường, thị trấn thuộc 195 quận, huyện của 32 tỉnh, thành phố Tổng số lợn trong ñàn mắc bệnh là 926.333 con, số mắc bệnh là 621.086 con, trong ñó số chết, tiêu hủy là 336.975 con

Trang 40

gây ra 2 đợt dịch chính tại 21 tỉnh, thành trong phạm vi cả nước Năm 2008, dịch lại xảy ra ở 28 tỉnh, thành rải rác khắp cả nước từ Bạc Liêu đến Lào Cai và đến 30/6/2009 dịch lại xảy ra ở 8 tỉnh, thành Năm 2010 dịch xảy ra tại hầu hết các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh phía Nam như: Sĩc Trăng, Tiền Giang,Bình Dương, Long An Tổng số cả 4 năm từ 2007 – 2010 số lợn mắc bệnh là 1.159.934 con, 67.947 lợn chết và 712.817 lợn tiêu hủy bắt buộc

- Dịch xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn, nhưng tập trung chủ yếu ở lợn thịt, lợn nái mang thai và lợn con theo mẹ Bệnh cĩ đặc trưng là lợn sốt cao Lợn con theo mẹ, lợn nái chửa giai đoạn cuối chết nhanh và chết nhiều hơn

- Việc xảy ra các ổ dịch lần đầu ở các tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2007 cĩ thể liên quan đến tình hình dịch ở các nước láng giềng Trước đĩ, theo thơng báo của các tổ chức quốc tế, trong năm 2006, dịch xảy ra nghiêm trọng ở một số nước trong khu vực Tất cả các mẫu virus PRRS của Việt Nam đều cĩ mức tương đồng chủng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc, ở mức tương đồng về amino acid từ 99 - 99,7% (Cục Thú y, 2008)[5]

- Dịch PRRS lần đầu tiên xuất hiện tại miền Trung (Quảng Nam) vào tháng 6/2007 và lây lan sang các địa phương xung quanh là do cơng tác kiểm dịch vận chuyển lợn và sản phẩm lợn khơng được kiểm sốt tốt, chăn nuơi nhỏ

lẻ, ít hoặc khơng áp dụng các biện pháp an tồn sinh học, đặc biệt tỷ lệ tiêm phịng các bệnh thấp, nhất là các bệnh đỏ, nên khi lợn bị PRRS các mầm bệnh

kế phát đã phát triển và gây bệnh trầm trọng hơn Các ổ dịch xảy ra đầu tiên ở huyện Thăng Bình là xuất phát từ một xã ở ven đường quốc lộ I, nơi tập trung các đồn xe vận chuyển gia súc Bắc Nam, do đĩ nguyên nhân ổ dịch cĩ thể là do lây lan từ các địa phương khác

- Kết quả chống dịch thời gian qua cho thấy: Dịch PRRS xuất hiện tại các tỉnh phía Nam vào giữa năm 2007 nhưng do chủ động giám sát phát hiện bệnh sớm, kịp thời báo cáo và thực hiện quyết liệt các biện pháp chống dịch, xử lý triệt để ổ dịch đã đem lại thành cơng rõ rệt ở các địa phương cĩ các ổ dịch phạm

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 2. 1: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam (Trang 31)
Bảng 2.4: Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 2.4 Tổng hợp tình hình dịch PRRS ở lợn tại Việt Nam (Trang 35)
Bảng 2.5: Tổng hợp về tình hình dịch PRRS năm 2007 - 2008 tại Việt Nam - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 2.5 Tổng hợp về tình hình dịch PRRS năm 2007 - 2008 tại Việt Nam (Trang 36)
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình dịch PRRS tại Việt Nam năm 2009 - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 2.6 Tổng hợp tình hình dịch PRRS tại Việt Nam năm 2009 (Trang 38)
Bảng 4.1:              Số lượng ủàn lợn hiện cú tại ủịa bàn ủiều tra - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.1 Số lượng ủàn lợn hiện cú tại ủịa bàn ủiều tra (Trang 63)
Bảng 4.3 :            Mụ hỡnh tổ chức chăn nuụi tại cỏc hộ gia ủỡnh - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.3 Mụ hỡnh tổ chức chăn nuụi tại cỏc hộ gia ủỡnh (Trang 65)
Hình 4.2 : Mô hình chăn nuôi gia trại tại xã An Lâm, huyện Nam Sách - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Hình 4.2 Mô hình chăn nuôi gia trại tại xã An Lâm, huyện Nam Sách (Trang 66)
Hình 4.3 : Mô hình chăn nuôi lợn trang trại taị xã Nam Hưng, huyện Nam Sách - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Hình 4.3 Mô hình chăn nuôi lợn trang trại taị xã Nam Hưng, huyện Nam Sách (Trang 68)
Bảng 4.9:         Tổng hợp số lợn nhiễm bệnh bị chết hoặc phải tiêu hủy - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.9 Tổng hợp số lợn nhiễm bệnh bị chết hoặc phải tiêu hủy (Trang 72)
Bảng 4.14:    Thiệt hại kinh tế từ nuụi lợn nỏi ở cỏc hộ ủiều tra - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.14 Thiệt hại kinh tế từ nuụi lợn nỏi ở cỏc hộ ủiều tra (Trang 80)
Bảng 4.20:          Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn gia trại - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.20 Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn gia trại (Trang 85)
Bảng 4.21:         Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn trang trại - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Bảng 4.21 Thiệt hại kinh tế từ mô hình chăn nuôi lợn trang trại (Trang 86)
Hình 4.4: Cơ sở giết mổ lợn tại xã An Lâm huyện Nam Sách - Đánh giá thiệt hại kinh tế do dịch bệnh tai xanh ở lợn gây ra cho người sản xuất tại Tỉnh Hải Dương
Hình 4.4 Cơ sở giết mổ lợn tại xã An Lâm huyện Nam Sách (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w