Nếu một tổ chức thành viên bị phá sản, công ty BHTG sẽ đứng ra bồi thường cho những người gửi tiền tại tổ chức đó” - Luật BHTG việt Nam số 06/2012/QH13: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Phương Duy
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Phương Duy
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Trần Hoàng Ngân
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Đề tài "Hoàn thiện hoạt động Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam" là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu đề cập trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Tp Hổ Chí Minh, ngày tháng năm
Học viên
Nguyễn Phương Duy
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
Mở đầu
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1
1.1 Bảo hiểm tiền gửi 1
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 1
1.1.2 Bản chất bảo hiểm tiền gửi 2
1.1.3 Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi 3
1.1.4 Các mô hình tổ chức của tổ chức bảo hiểm tiền gửi: 4
1.1.5 Các mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 5
1.1.6 Các nhân tố chủ yếu trong hệ thống bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.7 Bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính quốc gia 15
1.2 Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 16
1.2.1 Đối với người gửi tiền 16
1.2.2 Đối với ngân hàng 17
1.2.3 Đối với nền kinh tế 18
1.3 Vai trò bảo hiểm tiền gửi trong phát triển an toàn lành mạnh hệ thống TCTD Việt Nam 18
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới 19
1.4.1 Lịch sử hình thành Bảo hiểm tiền gửi 19
1.4.2 Sự thay đổi cách nhìn về BHTG sau cuộc khủng khoảng năm 2008 20
1.4.3 Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả 21
1.5 Kinh nghiệm BHTG của một số nước trên thế giới và bài học về BHTG đối với Việt Nam 25
1.5.1 Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ 25
1.5.2 Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật 26
1.5.3 Bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan 28
1.5.4 Kinh nghiệm BHTG Hungary: Về hoạt động truyền thông 28
1.5.5 Bài học về Bảo hiểm tiền gửi đối với Việt Nam 29
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM 32
2.1 Giới thiệu về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 32
2.1.2 Tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 34
2.1.3 BHTGVN trong mạng an toàn TC quốc gia 37
2.2 Thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam 38
2.2.1 Những qui định hiện hành liên quan đến hoạt động BHTG 38
2.2.2 Tình hình hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 46
2.3 Hạn chế của hoạt động BHTG và nguyên nhân 57
2.3.1 Hạn chế 57
2.3.2 Nguyên nhân 60
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 65
3.1 Định hướng phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 65
3.2 Các giải pháp 65
3.2.1 Về phía Nhà nước 65
3.2.2 Đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 75
3.2.3 Đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 85
3.2.4 Đối với người gửi tiền 87
Kết luận 88 Tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IADI Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác 3
Bảng 2.1 Qui định hiện hành liên quan đến hoạt động BHTG 38
Bảng 2.2 Tình hình các tổ chức tham gia BHTG giai đoạn 2010-2012 47
Bảng 2.3 Tình hình kiểm tra tại chỗ các TCTG BHTG giai đoạn 2005-2012 52
Bảng 2.4 Tỷ lệ quỹ BHTG mục tiêu giai đoạn 2000-2012 57
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Quan hệ bảo hiểm tiền gửi 2
Hình 1.2 Mô hình tổ chức mạng an toàn tài chính quốc gia 16
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHTG Việt Nam 35
Hình 2.2 Cơ cấu mạng an toàn tài chính quốc gia của Việt Nam 37
Hình 2.3 Biểu đồ số lượng các tổ chức tham gia BHTG giai đoạn 2000-2012 46
Hình 2.4 Biểu đồ kết quả thu phí BHTG giai đoạn 2000-2012 49
Hình 2.5 Biểu đồ tổng nguồn vốn BHTGVN giai đoạn 2000-2012 50
Hình 2.6 Biểu đồ hoạt động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong qua các năm 50
Hình 2.7 Các thành phần trong nghiệp vụ quan hệ công chúng 55
Hình 3.1 Mô hình chiến lược phát triển bền vững của BHTGVN 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế Nền kinh tế hội nhập sâu sắc, việc hoạch định chính sách và điều hành hệ thống tài chính ngân hàng cần chuẩn mực, hòa nhập và thống nhất với những chuẩn mực chung của thế giới Tư duy thực hiện quản lý đòi hỏi sự thay thế các công cụ hành chính bằng các công cụ kinh tế Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ra đời và là một trong những công cụ kinh tế được sử dụng trong công tác quản lý Tài chính-ngân hàng là lĩnh vực có nhiều thay đổi nên hoạt động BHTG cần nhanh chóng hoàn thiện để đáp ứng hơn với những yêu cầu mới của thị trường
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra vừa qua đã bộc lộ những yếu kém đặt ra vấn đề xem xét, nhìn nhận lại hệ thống và cách thức quản lý tài chính của thế giới cũng như của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam Trong quá trình rà soát
để hoàn thiện các hệ thống chính sách tài chính của mình, nhiều quốc gia nhận thấy
sự cần thiết nâng cao vai trò của BHTG trong quá trình ổn định nền tài chính, phòng chống khủng hoảng Ở Việt Nam cũng vậy, hoạt động BHTG cần được kiện toàn để tạo điều kiện duy trì sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hướng đến việc phân tích đánh giá được thực trạng trong công tác hoạt động của BHTG ở Việt Nam làm cơ sở đề xuất được phương hướng và một
số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động BHTG tại Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trong đề tài tiếp cận việc sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu cơ bản: (i) phương pháp phân tích và tổng hợp; (ii) phương pháp thống kê và so sánh, kết hợp với việc quy chiếu các văn bản quy phạm và thông lệ quốc tế
BHTG là lĩnh vực có quy mô lớn dẫn đến những khó khăn trong việc tiếp cận, thu thập số liệu; do đó, nghiên cứu sử dụng nguồn thông tin thứ cấp và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và các hoạt động của ngân hàng thương mại và người gửi tiền có liên quan Nghiên cứu tiến hành xem xét kinh nghiệm của thế giới, công tác quản lý hoạt động BHTG và các nhân tố ảnh hưởng của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) Nghiên cứu giới hạn ở các vấn đề có tính chất nguyên lý, chuẩn mực về quản lý và không vận dụng trực tiếp các mô hình toán học để giải quyết các vấn đề
Nghiên cứu tập trung vào những thay đổi trong cách nhìn nhận về bảo hiểm tiền gửi từ sau cuộc khủng hoảng thế giới năm 2008 Nghiên cứu có khảo sát sự thay đổi chính sách của các nước trên thế giới trong lĩnh vực này và chỉ tập trung các giải pháp cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu
Về mặt khoa học, kết quả của nghiên cứu hệ thống hóa có chọn lọc những lý luận cơ bản về quản lý hoạt động BHTG của cơ quan BHTG
Vể mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá thực trạng, tham chiếu với một số quốc gia và vùng lãnh thổ, nghiên cứu đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động BHTG của BHTGVN
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở nước ngoài:
BHTG ra đời từ năm 1934 nên đến nay đã có nhiều nghiên cứu được công
bố Các kết quả nghiên cứu đã làm rõ bản chất và sự cần thiết của BHTG, đồng thời làm rõ một số nội dung của hoạt động BHTG Việc quản lý rủi ro trong hoạt động
BHTG được đề cập trong nghiên cứu "Deposit insurance and crisis management"
(Garcia, 2000) Hạn mức chi trả bảo hiểm đã được nghiên cứu bởi Bradley năm
2000 trong "A historical perspective on deposit insurance coverage" (Bradley,
2000) với xem xét trường hợp BHTG của Mỹ qua các giai đoạn Phí BHTG được
nghiên cứu "Does Croatia need risk-based deposit insurance premia?" (Galac,
2005) thực hiện các tính toán lợi ích đối với hệ thống tài chính Croatia dựa trên phí BHTG theo mức độ rủi ro Mối quan hệ giữa BHTG và các cơ quan giám sát đối
Trang 11chiểu với các kinh nghiệm quốc tế được nghiên cứu trong "Interrelationship
between Deposit Insurer and Supervisor authorities in the Italian and International experience" (Boccuzzi, 2005)
Ở Việt Nam:
Đến nay mới có 2 cuốn sách được xuất bản về lĩnh vực BHTG là "Bảo hiểm
tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng" của TS Nguyễn Thị Kim Oanh
(Oanh, 2004) và "Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" của TS Lê Thị Thu
Thủy (Thủy, 2008) về các nội dung như tên gọi của cuốn sách Cuốn sách đầu tiên
đã hệ thống các vấn đề có tính chất nguyên lý cơ bản về hoạt động BHTG, như mô hình tổ chức BHTG, phí BHTG, hạn mức chi trả, loại tiền gửi được bảo hiểm Cuốn sách thứ hai chia sẻ nhiều khái niệm với cuốn đầu và tác giả đi sâu nghiên cứu
về các khía cạnh pháp luật của BHTG, từ đó làm rõ quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quan hệ BHTG như: tổ chức BHTG, TCTG BHTG, người gửi tiền
Một số đề tài luận văn trong nước đã nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi Các nghiên cứu trước đây chưa xem xét đến bối cảnh mới đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng thế giới Các tác động của cuộc khủng hoảng khiến nhiều nước phải thay đổi chính sách đến niềm tin của người gửi tiền Việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 tác động và đặt ra nhiều vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, các danh mục chữ viết tắt, bảng, biểu đồ, hình vẽ và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2 Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Trang 121
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Kể từ khi hoạt động BHTG xuất hiện đến nay đã có rất nhiều khái niệm về hoạt động này:
- Từ điển kinh tế OxFord phát hành năm 1997 : “BHTG là dịch vụ bảo hiểm rủi
ro các NH hoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho người có tiền gửi tại các NH hoặc trung gian tài chính đó”
- Qui chế bảo hiểm của công ty BHTG Canada: “BHTG bảo vệ những khoản tiền gửi qui định tại các tổ chức thành viên của hệ thống BHTG trong trường hợp tổ chức thành viên bị phá sản Nếu một tổ chức thành viên bị phá sản, công ty BHTG sẽ đứng ra bồi thường cho những người gửi tiền tại tổ chức đó”
- Luật BHTG việt Nam số 06/2012/QH13: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi TCTG BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”
Như vậy, cam kết công khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp dồng BH gồm có ba đối tượng: tổ chức BHTG, tổ chức tham ga BHTG và người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: Là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các TCTG
BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được BH đến người gửi tiền thuộc đối tượng được BH tại TCTG BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán
- Người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm: người gửi tiền không phải đóng góp
tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán TG
kể cả tiền lãi trong hạn mức chi trả tiền gửi được BH theo luật pháp qui dịnh khi TCTG BHTG bị phá sản
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi: là các NH và các trung gian tài chính có
hoạt động huy động tiền gửi:
Trang 132
- Các NHTM trong nước: tư cách thành viên là tất yếu khi cấp giấy phép hoạt động cho một NH Tuy nhiên, Các NH quốc doanh thường là những định chế thụ hưởng của một bảo vệ ngầm hoặc trọn vẹn của Chính phủ, sự bảo lãnh này làm cho
sự có mặt của nó trong hệ thống BHTG dường như không cần thiết
- Các NH nước ngoài: các quốc gia cũng yêu cầu các NH nước ngoài và các đơn
vị phụ thuộc tham gia vào hệ thống này
- Các định chế tài chính phi NH: ở vài quốc gia các định chế phi NH cũng là thành viên được BHTG nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các tổ chức nhận TG Mặc dù vậy, ở nhiều nước các định chế tài chính phi NH được loại trừ khỏi
tư cách thành viên
Các tổ chức này tham gia đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG phải chi trả tiền cho người gửi tiền tại các tổ chức này, trong trường hợp các tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
Hình 1.1 Quan hệ bảo hiểm tiền gửi
1.1.2 Bản chất bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG cho người gửi tiền Dịch vụ BHTG là loại hàng hóa mang tính xã hội cao, theo cách phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hóa công không thuần túy
Cơ sở để gọi dịch vụ BHTG là hàng hóa công không thuần túy, căn cứ vào tính chất không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối dịch vụ này Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ
Người gửi tiền
Tổ chức BHTG
Tổ chức tham gia BHTG
Cam kết
Gửi tiền
Trang 143
thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội Người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được BH sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách BHTG qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền BH khi tổ chức nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán Công tác giám sát các TCTG BHTG tạo điều kiện để các tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn và tính ổn định của hệ thống tài chính giúp cho người vay sử dụng tiền vay an toàn và hiệu quả Bên cạnh đó, khi hệ thống tài chính được khỏe mạnh, hoạt động hiệu quả thì có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của những ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội Chính vì lẽ đó mà BHTG được xếp vào hàng hóa công không thuần túy
1.1.3 Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
BHTG cũng mang đặc điểm của BH nói chung là nguyên tắc lấy "số đông bù
số ít" nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro cho khách hàng, song đặc thù của BHTG là thực hiện chính sách công nhằm mục tiêu bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo
an toàn hoạt động NH mà rộng hơn là hệ thống tài chính Vì vậy, BHTG khác với các loại BH khác ở một số đặc điểm cơ bản trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác
Bắt buộc cung cấp cho KH là người gửi
tiền, mà không cần sự đồng ý của KH
Chỉ có thể cung cấp khi có sự đồng ý của KH
Người gửi tiền được BH mà không
phải ký hợp đồng với tổ chức BHTG
Chỉ khi hợp đồng BH được ký kết thì quyền và nghĩ vụ của người BH và người được BH mới được xác lập
Phí BH, số tiền đền bù khi có tổn thất
được qui định bởi các văn bản luật, người
gửi tiền không thể thỏa thuận
Phí BH, số tiền đền bù có thể thỏa thuận với tổ chức BH, có thể tăng mức đền bù bằng cách tăng mức đóng góp TCTG BHTG trực tiếp điều hành hoạt
động rủi ro và đóng phí BH, trong khi đó
người gửi tiền được BH
Đói tượng nộp phí thường là đối tượng thực hiện hoạt động rủi ro và cũng
là đối tượng được chi trả BH
Trang 154
1.1.4 Các mô hình tổ chức của tổ chức bảo hiểm tiền gửi:
1.1.4.1 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thực hiện hoạt động BHTG
Mô hình này được hiểu là hoạt động BHTG sẽ được thực hiện bởi một DN đang kinh doanh trong lĩnh vực BH Doanh nghiệp này duy trì hoạt động BHTG thông qua việc thu phí từ các TCTG BHTG và việc tham gia của các tổ chức này không bắt buộc mà hoàn toàn tự nguyện Hoạt động của DN bảo hiểm này chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận là chính
Hệ thống BHTG tư nhân không được thiết lập bằng luật, nó có rất ít hoặc không có nghĩa vụ pháp lý chi trả cho người gửi tiền và không nhận được sự trợ giúp của Chính phủ, dẫn đến kết quả là những hệ thống này không thể tự gánh vác được trách nhiệm mà Chính phủ mới là người gánh chịu tổn thất Hình thức sở hữu này có thể làm giảm rủi ro đạo đức Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hầu hết hệ thống BHTG tư nhân chỉ thực hiện tốt các chức năng của nó khi tình trạng phá sản xảy ra không thường xuyên và chỉ liên quan đến định chế nhỏ Còn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, khi hệ thống BHTG đang gặp khó khăn, khả năng giảm bớt tổn thất hoặc chi trả cho người gửi tiền của những hệ thống này càng trở nên khó khăn
1.1.4.2 Quỹ bảo toàn tiền gửi
Hoạt động BHTG sẽ được thực hiện trực tiếp bởi các NH, của Hiệp hội NH Theo đó các thành viên của Hiệp hội sẽ đóng góp tài chính vào quỹ bảo toàn TG để duy trì hoạt động cũng như năng lực tài chính để luôn sẵn sàng bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền khi tổ chức thành viên lâm vào tình trạng khó khăn hay phá sản Hoạt động của quỹ này cũng nhằm đảm bảo an toàn, tăng cường niềm tin của công chúng vào hoạt động của các tổ chức trong Hiệp hội
1.1.4.3 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi độc lập của nhà nước
Tổ chức này thực hiện hoạt động BHTG không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện chính sách công của Nhà nước Tổ chức này duy trì hoạt động bằng cách thu phí từ các TCTG BHTG Do là một tổ chức tài chính của Nhà nước nên việc các tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG là bắt buộc và mức thu phí BHTG được quy định theo pháp luật Thông thường, nếu đi theo mô hình này, tổ chức BHTG là tổ
Trang 165
chức duy nhất do Nhà nước lập nên hoạt động BHTG sẽ hoạt động trong môi trường không có đối thủ cạnh tranh như ở các loại hình dịch vụ khác
Hệ thống BHTG của Chính phủ là loại hình thông dụng nhất Thuận lợi của
hệ thống này là hầu hết đều cung cấp sự tin cậy hoàn toàn và là một bộ phận của mạng lưới tài chính an toàn, nó có thể duy trì lòng tin của công chúng ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng Bên cạnh đó, hệ thống được sự đảm bảo của Chính phủ thường có thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho người gửi tiền Tuy nhiên, nếu không được thiết kế tốt hệ thống này có thể tạo ra rủi ro đạo đức
1.1.5 Các mô hình hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Hiện nay trên thế giới có 3 mô hình hoạt động phổ biến
1.1.5.1 Mô hình chuyên chi trả
Theo mô hình này, tổ chức BHTG được thành lập chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ duy nhất đó là chi trả BH cho người gửi tiền khi TCTG BHTG bị phá sản, nhằm một số mục tiêu của chính sách công, trong đó hai mục tiêu quan trọng nhất đó là: (i) khẳng định sự tuyên bố của Chính phủ về sự bảo đảm của Nhà nước (ở một mức độ nào đó) đối với tiền gửi của dân cư ở các tổ chức nhận tiền gửi thông qua một
tổ chức và một cơ chế BHTG công khai; (ii) bảo vệ những người gửi tiền nhỏ thông qua việc hình thành cơ chế bồi thường
Mô hình này đơn giản, dễ áp dụng nhưng kém hiệu quả do đó trong giai đoạn hiện nay các tổ chức BHTG trên thế giới ít đi theo mô hình này vì mô hình này chưa phát huy được vai trò quan trọng của BHTG đối với nền kinh tế
1.1.5.2 Mô hình chi trả với quyền hạn được mở rộng
Theo mô hình này ngoài chức năng thực hiện chi trả cho người gửi tiền sau khi TCTG BHTG bị phá sản thì tổ chức BHTG còn được trao thêm một số quyền hạn
mở rộng như: hỗ trợ tài chính cho TCTG BHTG gặp khó khăn trong thanh toán, theo dõi và hỗ trợ phòng tránh rủi ro cho các TCTG BHTG, tham gia xử lý nợ và thu hồi
nợ của TCTG BHTG bị phá sản Qua đó làm tăng hiệu quả của chính sách BHTG đối với nền kinh tế như hạn chế rủi ro cho các TCTG BHTG, phòng tránh đổ vỡ hệ
Trang 176
thống hoặc khủng khoảng tài chính, gia tăng niềm tin của công chúng do đó mô hình này được áp dụng phổ biến hơn mô hình chuyên chi trả
1.1.5.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro
Đây là mô hình tiên tiến và cũng rất phổ biến trên thế giới hiện nay Theo mô hình này, tổ chức BHTG được trao những quyền hạn và phạm vi hoạt động rộng lớn hơn Ngoài nhiệm vụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức BHTG theo mô hình này với tư cách là cơ quan GS còn cùng với cơ quan GS khác và Ngân hàng trung ương (NHNN) thực hiện hoạt động GS và đánh giá rủi ro của các TCTG BHTG để hỗ trợ hoạt động của các tổ chức này, góp phần bảo đảm sự an toàn của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia Đồng thời thông qua cơ chế tính phí BH dựa trên cơ
sở mức độ rủi ro tạo sự công bằng và động lực cạnh tranh lành mạnh cho các TCTG BHTG, tiếp nhận xử lý nợ và thu hồi nợ đối với các TCTG BHTG bị phá sản và được trao quyền thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn phát triển vốn ban đầu tăng cường sức mạnh TC, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách của Chính phủ, tiến tới độc lập về TC Theo đó, nền kinh tế quốc gia cũng nhận được những hiệu quả to lớn hơn trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách công như phòng tránh có hiệu quả những đổ vỡ dây chuyền hoặc khủng hoảng TC; khuyến khích tiết kiệm, tăng trưởng tín dụng, góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
1.1.6 Các nhân tố chủ yếu trong hệ thống bảo hiểm tiền gửi
1.1.6.1 Năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức BHTG phải có năng lực TC đủ mạnh để chủ động triển khai các nghiệp vụ như cho vay hỗ trợ TCTG BHTG, tiếp nhận xử lý và đảm bảo chi trả cho người gửi tiền khi TCTG BHTG phá sản để tạo lòng tin cho người gửi tiền, tránh tình trạng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền khi nghi ngờ các NH phá sản Nguồn vốn hoạt động của tổ chức BHTG được hình thành từ nhiều nguồn có thể bao gồm:
- Vốn cấp hoặc các chủ sở hữu đóng góp: tổ chức BHTG được Chính phủ cấp ban đầu khi mới thành lập hoặc cấp bổ sung nhằm nâng cao năng lực TC cho tổ chức BHTG; vốn góp của các chủ sở hữu khi mới thành lập hoặc các đợt tăng vốn của tổ chức BHTG
Trang 187
- Thu phí bảo hiểm từ các TCTG BHTG: đây là khoản thu lớn, quan trọng của
tổ chức BHTG
- Đóng góp của các định chế được BH: các định chế mới gia nhập vào hệ thống
BH được qui định phải đóng góp một khoản để được gia nhập
- Thu từ hoạt động đầu tư kinh doanh: tổ chức BHTG có thể gửi tiền tại các NH, định chế trung gian khác hưởng lãi TG; mua trái phiếu, tín phiếu của Chính phủ hoặc NHTW để đầu tư
- Thu hoạt động nghiệp vụ: thu lãi cho vay hỗ trợ, thu từ phí bảo lãnh, thu từ mua bán nợ, thu tiền phạt chậm nộp phí, từ nghiệp vụ tư vấn…
- Vay vốn: được phép vay vốn từ Chính phủ, NHTW, các NH khác để chi trả tiền BH; Tổ chức BHTG cũng có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn
- Nguồn vốn từ thanh lý các TCTG BHTG bị phá sản, thu khác
1.1.6.2 Cơ chế bảo hiểm tiền gửi
Hình thức bảo hiểm tiền gửi
Trên thế giới có hai hình thức BHTG bao gồm BHTG tự nguyện và BHTG bắt buộc:
BHTG tự nguyện: các ngân hàng cam kết tham gia vào một hệ thống bảo vệ
người gửi tiền và sự tham gia của các NH không cần sự bắt buộc về mặt pháp lý Trong một hệ thống tự nguyện, các NH mạnh có thể quyết định không thực hiện nghĩa vụ nếu giá phá sản cao và điều đó có thể tác động đến khả năng thanh toán và hiệu quả của một hệ thống BHTG
BHTG bắt buộc: các NH được cấp giấy phép hoạt động đều phải tham gia
đóng BH Đa số các nước áp dụng hình thức BHTG bắt buộc vì:
Về kinh tế: công ty BHTG sẽ không gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, nhất
là lúc đầu mới thành lập Bên cạnh đó, rủi ro sẽ được phân tán cho các đối tượng BH
đa dạng và tránh được tình trạng chỉ có NH yếu kém mới mua BH, còn những NH hoạt động tốt thì không mua BH, qua đó góp phần giảm thiểu mức độ rủi ro của Công
ty BHTG;
Trang 198
Về chính trị: ở những nước mà thể chế chính trị mang tính xã hội hóa cao, Chính phủ thường không muốn có sự đổ vỡ kể cả trường hợp NH không tham gia BHTG thì bằng cách này hay cách khác Chính phủ vẫn phải can thiệp Vì vậy, cơ chế BHTG bắt buộc sẽ chia sẻ trách nhiệm cũng như gánh nặng tài chính cho Chính phủ
Các loại tiền gửi được bảo hiểm
Tiền gửi có nhiều loại khác nhau như: TG có kỳ hạn, TG không kỳ hạn, TG tiết kiệm, TG thanh toán, chứng chỉ TG…Chủ sở hữu các loại TG này cũng rất đa dạng: cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ, các TCTD,…Tùy theo mục đích và đối tượng được BH mà mỗi nước có quy định cụ thể về loại TG nào được BH
Tuy nhiên, thông thường có các loại TG sau đây không thuộc diện được BH:
- TG của người được cho là có khả năng xác định được điều kiện TC của một
NH và tác động đến kỷ luật thị trường Tiêu biểu là các khoản TG của các NH, Chính phủ và các nhà đầu tư chuyên nghiệp
- Các khoản TG của các giám đốc và các nhân viên NH
- Các khoản TG có lợi tức cao cũng loại trừ khỏi BH, hoặc nếu có thì việc bồi hoàn chỉ giới hạn ở phần vốn gốc với lãi suất thấp
- Các khoản TG vô danh vì khó xác định được chủ của tài khoản là ai
- TG bằng ngoại tệ: do các khoản TG này không được cọi là một phần của cung tiền tệ trong nước nên chúng không được BH nhằm bảo vệ cơ chế thanh toán Hoặc đối với các nước đang phát triển thì có thể tổ chức BHTG không có đủ số ngoại tệ cần thiết để thanh toán cho những người có TG bằng ngoại tệ Nhiều nước cũng thấy rằng việc BHTG bằng ngoại tệ sẽ gặp nhiều vướng mắc về kỹ thuật khi tính toán mức BHTG tối đa quy đổi ra ngoại tệ Tuy nhiên với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, vấn
đề BHTG cho TG bằng ngoại tệ cũng có nhiều lợi ích, đặc biệt là giúp thu hút được nhiều nguồn vốn bằng ngoại tệ cho hệ thống NH quốc gia.Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Hạn mức chi trả BHTG
Hạn mức chi trả BHTG có thể được hiểu là số tiền tối đa mà người gửi tiền
có thể được BHTG cam kết chi trả trong trường hợp tổ chức nhận TG của họ bị đổ
Trang 209
vỡ Tùy theo quy định của mỗi quốc gia, hạn mức chi trả BHTG có thể là một mức tiền có giới hạn hoặc không giới hạn Thậm chí, tùy theo tình trạng của hệ thống NH, mức độ lòng tin của người gửi tiền vào sự an toàn của hệ thống các tổ chức nhận TG, hạn mức này có thể thay đổi theo thời gian Đặc biệt trong một số trường hợp khi có khủng hoảng xảy ra, đe dọa đến sự an toàn của hệ thống NH, hạn mức này đã được chính phủ hay tổ chức BHTG một số nước điều chỉnh lên mức bảo đảm toàn bộ (tức
là hạn mức chi trả không giới hạn) đối với các khoản TG để khôi phục sự tín nhiệm của người dân vào hệ thống NH đang gặp khó khăn
Để giữ ổn giá trị thực của hạn mức chi trả BHTG, cách dễ dàng là lấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) làm chỉ tiêu đánh giá, và hạn mức sẽ tự động cập nhật theo trượt giá Tuy nhiên biện pháp này có nhược điểm là sẽ khiến người gửi tiền khó khăn trong việc ghi nhớ hạn mức chi trả BHTG hiện tại, từ đó dẫn đến sự khó khăn cho việc tự bảo vệ quyền lợi của họ Mặt khác, theo IADI việc tăng hạn mức chi trả BHTG cũng cần được xem xét rất kỹ càng trong trường hợp lạm phát cao vì nó có thể tăng chi phí cho tổ chức BHTG Việc tăng hạn mức chi trả BHTG cũng làm tăng rủi
ro đạo đức cũng như những ảnh hưởng không lường trước đối với tình hình cạnh tranh của các TCTG BHTG, với mức độ an toàn khá cách biệt của các tổ chức này lại cùng hưởng những quyền lợi tương đương về BHTG Do vậy cần có thêm những chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro của TCTG BHTG khi tính phí BH phải đóng
Một chỉ tiêu khác cũng hết sức quan trọng để đánh giá sự hợp lý hạn mức chi trả BHTG là tỉ lệ hạn mức chi trả BHTG trên GDP bình quân đầu người Vì khi GDP bình quân đầu người thay đổi, nó sẽ có tương quan với sự thay đổi quy mô của các khoản TG trong dân cư, chỉ số này thường được đem ra phân tích để đánh giá giá trị thực của hạn mức chi trả BHTG Theo IADI, hạn mức chi trả BHTG có thể cần được điều chỉnh tăng dần theo thời gian để phản ánh GDP cao hơn (đặc biệt được so sánh với GDP bình quân đầu người) và tỉ lệ lạm phát gia tăng Ngoài hai yếu tố trên, sự gia tăng không ngừng của các dịch vụ tài chính mới trong thị trường tài chính – ngân hàng cũng là một yếu tố thứ ba tác động đến giá trị thực của hạn mức chi trả BHTG
Mức tăng hạn mức chi trả BHTG cần thỏa mãn nhu cầu của đại đa số người gửi tiền, vì suy cho cùng tăng hạn mức chi trả BHTG cũng để duy trì niềm tin của
Trang 2110
người gửi tiền vào hệ thống các tổ chức nhận tiền gửi Khi người gửi tiền có thêm một nguồn động viên gửi tiền vào các NH, nền kinh tế sẽ được gia tăng nguồn vốn đầu vào cho các hoạt động kinh tế - xã hội để phát triển Tuy nhiên mức tăng hạn mức chi trả BHTG cũng cần phải xét đến rủi ro đạo đức của các tổ chức nhận tiền gửi Hạn mức chi trả cao sẽ khuyến khích các tổ chức này sử dụng TG vào những dự
án có rủi ro cao để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, vì họ đã yên tâm có sự bảo vệ cần thiết khi đổ vỡ chẳng may xảy ra
Nguyên tắc chung được thừa nhận là hạn mức chi trả không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền yên tâm gửi tiền vào NH và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức Có 2 cách thức xác định hạn mức chi trả tiền gửi được BH:
- Xác định hạn mức chi trả TG được BH theo mỗi loại TG:: cách thức chi trả
này khách hàng có thể dễ dàng trốn tránh giới hạn BH bằng cách mở nhiều tài khoản
ở một NH với số tiền bằng hoặc thấp hơn giới hạn được BH
- Xác định hạn mức chi trả TG được BH theo mỗi khách hàng: việc tập trung
giới hạn BH vào khách hàng tránh được “cạm bẫy trên”, tuy nhiên cần có nhiều thông tin hơn bởi vì tất cả các tài khoản TG của một khách hàng cần được xác định rõ và được gộp lại cho mục đích BHTG
Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí bảo hiểm TG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG để BH cho TG của người gửi tiền tại TCTG BHTG Việc tổ chức BHTG thu phí từ các TCTG BHTG mà không thu phí người gửi tiền dựa trên thực tế TCTG BHTG là đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động rủi ro chứ không phải là người gửi tiền điều này cũng góp phần tạo nên sự khác biệt của BHTG so với các hình thức bảo hiểm khác Mục đích của thu phí BHTG là để hình thành nguồn quỹ có sẵn giúp xử lý kịp thời đổ vỡ NH và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền Nguồn vốn này bảo đảm hạn chế, hoặc không phải sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả cho người gửi tiền khi TCTG BHTG gửi gặp vấn đề
o Cơ sở tính phí: Có 3 cách lựa chọn cơ sở tính phí:
Trang 2211
- Toàn bộ TG của một NH: theo cách này tổ chức BHTG dễ dàng trong việc tính
toán và kiểm tra Tuy nhiên, không có sự phân biệt cạnh tranh giữa các NH đối với người gửi tiền
- Tiền gửi thuộc đối tượng được BH: qui định rõ các loại tiền gửi nào là đối
tượng được BH, phản ánh được mối quan hệ giữa phí BH với quyền lợi được BH đối với loại tiền gửi mà các NH huy động Từ đó, tạo niềm tin của người gửi tiền thuộc
đối tượng tiền gửi được BH đối với NH
- Tiền gửi được BH nhưng chỉ tính trong giới hạn được chi trả: theo cách này
việc tính toán và kiểm tra gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên nó phản ánh được mối tương quan giữa phí phải đóng với quyền hạn được BH Tạo được niềm tin của số người gửi tiền nhỏ trong giới hạn được chi trả đối với NH, tăng sự kiểm soát hoạt động mạo hiểm của NH đối với người gửi tiền lớn Nhưng các NH có đa số TG huy động là các khoản tiền nhỏ, nằm trong hạn mức chi trả BH sẽ gặp bất lợi trong đóng phí Ngược lại, các NH có nhiều TG không thuộc đối tượng BH đóng phí thấp
o Cách tính phí: hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống phí BHTG được
áp dụng đó là hệ thống phí đồng hạng và hệ thống phí trên cơ sở rủi ro
- Phí đồng hạng: là mức phí BHTG áp dụng chung cho tất cả các TCTG BHTG
trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia Đây là phương thức tính phí BHTG được sử dụng đầu tiên trong lịch sử hoạt động BHTG Ưu điểm lớn nhất của phương thức là chi phí thấp và tiện lợi khi tổ chức BHTG có ít thông tin về TCTG BHTG trong trường hợp các tổ chức BHTG mới được thành lập Trên thế giới, đa số các hệ thống BHTG đều áp dụng phương thức tính phí này trong giai đoạn mới đi vào hoạt động Hạn chế của phương thức này là không có tác dụng khuyến khích các TCTG BHTG nâng cao chất lượng hoạt động và có thể tạo ra rủi ro đạo đức
- Phí BHTG trên cơ sở rủi ro: theo phương thức thu phí này, cơ sở để xác định
tỷ lệ phí BHTG là kết quả đánh giá, phân loại TCTG BHTG theo mức độ tín nhiệm
Tổ chức nào hoạt động với mức độ rủi ro cao hơn sẽ phải chịu tỷ lệ phí BHTG cao Ngược lại, tổ chức nào hoạt động tốt, rủi ro thấp sẽ được áp dụng tỷ lệ phí BHTG thấp Phí BHTG trên cơ sở rủi ro có nhiều ưu việt,tạo được cơ chế đối xử bình đẳng giữa các TCTG BHTG, thể hiện xu thế thị trường trong hoạt động BHTG, hạn chế
Trang 2312
được rủi ro đạo đức phát sinh, thúc đẩy tổ chức BHTG phải đưa ra nhiều thông tin, có phương pháp để đo lường rủi ro chính xác.Tuy nhiên, tổ chức BHTG cần xác định một cách chính xác mức độ rủi ro cho từng TCTG BHTG, hoạt động này đòi hỏi chi phí lớn và nguồn nhân lực có kỹ năng cao
o Cách thức đóng phí:
- Đóng phí trước: nguyên tắc quan trọng trong hệ thống đóng phí trước là các
NH đóng góp phí BH trước khi phá sản Cách thức đóng phí này được nhiều nước áp dụng, ưu điểm chính là tạo được nguồn vốn ổn định cho tổ chức BHTG
- Đóng phí sau: hệ thống đóng phí sau được qui định bằng hợp đồng và dựa vào
khả năng của các NH “sống sót” để đóng góp cho những tổn thất đã xẩy ra Tuy nhiên, do việc tính toán và thu phí xảy ra sau khi NH phá sản, việc chi trả ngay lập tức cho những người gửi tiền trở nên khó khăn hơn, nếu các nguồn vốn khác không sẵn có, hơn nữa các NH phá sản sẽ không đóng góp vào quỹ những chi phí liên quan đến thất bại của họ Nhược điểm trên có thể được cải thiện với sự kiểm soát liên NH,
để tránh những chi phí liên quan đến thất bại của mỗi thành viên Cơ chế này được đánh giá cao ở việc giảm bớt gánh nặng cho TCTG BHTG khi nền kinh tế hoạt động bình thường, ít hoặc không có tổ chức thành viên bị đỗ vỡ
- Kết hợp cả cách thức đóng phí trước và sau: cơ chế thu phí kết hợp này thì có
ưu điểm của cả hai hình thức trên
1.1.6.3 Sử dụng vốn nhàn rỗi và qui chế an toàn của tổ chức BHTG
Nhẳm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, thanh toán nhanh chóng TG của dân chúng, ngăn ngừa việc rút tiền ồ ạt Cơ quan BHTG cần phải đảm bảo có sẵn một mức nhất định về nguồn vốn để can thiệp khẩn cấp khi cần, thông thường các nước đều quy định trích lập một tỷ lệ % tổng mức thu phí bảo hiểm để duy trì quỹ thanh toán Ngoài tỷ lệ an toàn này, để đảm bảo duy trì, phát triển nguồn vốn, Công ty BHTG có thể dùng nguồn vốn để đầu tư vào các hoạt động khác có mức độ an toàn cao như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty có bảo lãnh của Chính phủ,…
1.1.6.4 Giám sát, kiểm tra và đánh giá rủi ro hoạt động của TCTG BHTG
Xây dựng công ty BHTG thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý Nhà nước đối với hệ thống tài chính – ngân hàng cụ thể là tham gia công tác kiểm
Trang 2413
tra, giám sát, đánh giá và theo dõi hoạt động của các TCTG BHTG chia sẻ gánh nặng với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động tài chính – ngân hàng,…
1.1.6.5 Hỗ trợ tài chính
Trong trường hợp TCTG BHTG gặp khó khăn về khả năng chi trả tạm thời
và có khả năng phải đình chỉ chi trả cho người gửi tiền hoặc khó khăn khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập vào tổ chức khác do gặp khó khăn nêu trên thì tổ chức BHTG có thể hỗ trợ dưới các hình thức cho vay, mua tài sản có, bảo lãnh các khoản nợ và các hình thức hỗ trợ khác
1.1.6.6 Nghiệp vụ xử lý đổ vỡ ngân hàng
Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng của tổ chức BHTG, đặc biệt là trong giai đoạn xảy ra khủng hoảng tài chính Tổ chức BHTG thực hiện tiếp nhận, xử lý TCTG BHTG có vấn đề theo nguyên tắc chi phí thấp nhất, chi trả nhanh nhất và bán lại tài sản với giá cao nhất
Khôi phục hoạt động
- Phương pháp hỗ trợ TC: ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ra lệnh đóng cửa TCTG BHTG, tổ chức BHTG tiến hành tìm kiếm tổ chức tiếp nhận tổ chức đỗ vỡ Tổ chức này sẽ tiếp quản các khoản TG và ttoàn bộ TG của khách hàng được giao dịch bình thường tại tổ chức tiếp nhận Các khoản thâm hụt tài sản, phí chuyển giao do tổ chức BHTG chi trả từ nguồn quỹ BHTG tích lũy được;
- Nếu chưa có tổ chức nào đứng ra mua lại, tổ chức BHTG sẽ sử dụng cơ quan quản lý tài chính hoặc NH bắc cầu (bridge bank) để tài cơ cấu và quản lý hoạt động của tổ chức đổ vỡ dưới tên gọi mới (do tổ chức BHTG thành lập) cho đến khi tìm được một TCTG BHTG khác tiếp nhận
Chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Chi trả tiền BH xảy ra khi TCTG BHTG bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả năng thanh toán Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng áp dụng, khi mà mọi biện pháp nhằm khôi phục cho TCTG BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng Việc chi trả kịp thời, thuận tiện cho người gửi tiền sẽ tăng niềm tin của công chúng
Trang 2514
với hệ thống NH, dập tắt sự khủng hoảng cục bộ tại NH đổ vỡ, không để lây lan ra hệ thống Chi trả BHTG cần thực hiện các công việc:
o Điều kiện cho việc chi trả hiệu quả: người gửi tiền cần biết khi nào tổ chức
BHTG sẽ bắt đầu tiến trình bồi hoàn, khung thời gian tiến hành việc bồi hoàn, hạn mức chi trả tiền BH Tổ chức BHTG cần biết càng sớm càng tốt khi nào NH sẽ bị đóng cửa, việc tiếp cận các số liệu về TG trước khi NH đóng cửa sẽ làm giảm thiểu rủi ro, rút ngắn thời gian chi trả và giữ được lòng tin của công chúng
o Đủ tư cách để được chi trả: Việc xác định xem ai là người được bồi hoàn Các
nhà BH phải đánh giá số tiền của mỗi tài khoản TG vào thời điểm NH đóng cửa, xác định xem những tài khoản đó có nằm trong phạm vi và giới hạn của hệ thống BHTG Các bước quan trọng khác trong tiến trình chi trả bao gồm việc đối chiếu các tài khoản chưa quyết toán, các khoản mục khác trong việc chuyển đổi, bù trừ và thanh toán, các luật liên quan đến điều khoản trừ nợ và tài sản thế chấp phải được áp dụng trong việc xác định số tiền chi trả
o Thủ tục bồi hoàn cho người gửi: Kiểm tra và đối chiếu các tài khoản dựa trên
sổ sách của từng NH riêng biệt Người gửi tiền được yêu cầu đệ trình mẫu khiếu nại chứng minh chủ sở hữu của tài khoản, mặc dù việc đệ trình đơn khiếu nại có thể gây bất tiện đối với khách hàng và trì hoãn tiến trình chi trả, song thủ tục này là cần thiết nếu cảm thấy nghi ngờ về chất lượng sổ sách của NH đó
o Việc bồi hoàn cho người gửi: tổ chức BHTG chọn một trong những cách thức
thanh toán: chi trả bằng tiền mặt hoặc bằng các hình thức thanh toán khác như gửi séc qua bưu điện, chuyển tiền đến NH khác theo yêu cầu của người gửi, phát hành thẻ ghi
nợ hoặc chuyển tiềng bằng thư…Trong vài tình huống có thể áp dụng biện pháp
thanh toán từng phần cho người được BH
Tham gia quản lý, thanh lý tài sản:
Sau khi chi trả TG được BH cho người gửi tiền tại TCTG BHTG bị đỗ vỡ, tổ chức BHTG trở thành chủ nợ được phân chia giá trị tài sản theo thứ tự thanh toán như đối với người gửi tiền và được quyền tham gia vào quá trình quản lý, thanh lý tài sản của
TCTG BHTG theo qui định của pháp luật
Trang 2615
1.1.6.7 Nhân thức của công chúng
Vấn đề nhận thức của công chứng rất quan trọng, bởi chỉ khi hiểu rõ vai trò, chức năng của hoạt động BHTG họ mới thấy được các quyền lợi mà mình nhận được
từ chính sách BHTG Từ đó họ mới hoàn toàn tin tưởng vào hoạt động BHTG, vào sự đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống tài chính quốc gia Để nâng cao nhận thức của công chúng, tổ chức BHTG phải thiết kế được chương trình nâng cao nhận thức công chúng, đồng thời gia tăng hiệu quả trong hoạt động tuyên truyền để truyền tải chính sách BHTG đến được với công chúng
1.1.7 Bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính quốc gia
Mỗi một quốc gia đều có một mạng an toàn tài chính và mạng an toàn TC này là sự phối hợp các yếu tố cấu thành nên nó Việc phối hợp các yếu tố trong mạng
an toàn TC quốc gia chặt chẽ đến mức độ nào là còn tùy thuộc vào khả năng và cách quản lý từng quốc gia Tuy nhiên có thể nhận thấy ở quốc gia nào có mạng an toàn
TC vững mạnh thì hệ thống TC của quốc gia đó càng an toàn và hiệu quả Mặc dù có nhiều nghiên cứu và quan tâm về các quy định đảm bảo an toàn trong các hoạt động
NH và mạng an toàn TC, nhưng chưa có một định nghĩa chung, thống nhất về các yếu
tố của một mạng an toàn TC Thông thường, định nghĩa hẹp đề cập tới hai yếu tố: chức năng cho vay cuối cùng và BHTG Một định nghĩa khác 3 yếu tố: chức năng cho vay cuối cùng, BHTG, khung GS và các quy định quản lý về an toàn một định nghĩa rộng hơn về mạng an toàn TC được sử dụng, gồm 4 yếu tố: chức năng cho vay cuối cùng, BHTG, khung GS và các quy định quản lý về an toàn, cơ chế giải quyết
đổ vỡ các TCTG Thực tế, có rất nhiều mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố khác nhau trong mạng an toàn TC Tóm lại, mạng lưới an toàn TC quốc gia bao gồm 4 cấu phần hay 4 chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng GS hệ thống TC do cơ quan giám sát TC đảm nhận,có thể là ngân hàng Trung ương hoặc BTC hoặc cơ quan giám sát độc lập
- Chức năng cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương nhằm cứu cánh cho các
NH trong tường hợp mất khả năng thanh toán
- BHTG đối với người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi
Trang 2716
- Chính sách quản lý khủng hoảng nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử
lý các vụ hoảng loạn, khủng hoảng của hệ thống tài chính
Hình 1.2 Mô hình tổ chức mạng an toàn tài chính quốc gia
Vai trò của mạng an toàn TC quốc gia là rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, hệ thống TC nói riêng, và BHTG lại là một bộ phận cấu thành trong mạng an toàn TC đó Do đó để mạng an toàn TC hoạt động hiệu quả thì cũng phải đảm bảo rằng hoạt động của BHTG cũng phải hiệu quả Hoạt động BHTG hiệu quả không chỉ đảm bảo tổ chức BHTG thực hiện tốt các nhiệm vụ, chức năng của mình mà còn cần
có sự phối hợp chặt chẽ với các yếu tố khác trong mạng an toàn TC
1.2 Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
1.2.1 Đối với người gửi tiền
Hoạt động BHTG bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,
củng cố lòng tin của người gửi tiền vào hệ thống NH: đối với những người gửi tiền
nhỏ, thì số tiền gửi giá trị có thể không lớn nhưng có ý nghĩa rất lớn với cuộc sống của họ Bên cạnh đó, sự hạn chế về khả năng tiếp cận và phân tích chính xác thông tin trong quá trình hoạt động của các NH, họ rất nhạy cảm với những “tin đồn thất thiệt”
và chịu ảnh hưởng khá lớn bởi “hiệu ứng đám đông” Vì vậy, sự xuất hiện của tổ chức BHTG bằng việc cam kết sẽ hoàn trả cho người gửi tiền theo hạn mức hay toàn
CẤU PHẦN MẠNG AN TOÀN TÀI CHÍNH
Trang 281.2.2 Đối với ngân hàng
Hoạt động BHTG tạo điều kiện thuận lợi cho các NH mới ra đời và các NH có qui mô nhỏ phát triển tốt hơn: khi hoạt động BHTG với chính sách bắt buộc, tất cả NH
có nhận tiền gửi đều phải tham gia, từ đó TG của công chúng được bảo vệ dù gửi bất
kỳ nơi đâu không phân biệt quy mô hay thương hiệu của bất kì NH nào Tâm lý lo ngại của người gửi tiền không còn nữa, chính yếu tố này làm cho các NH mới thành lập và các NH nhỏ huy động vốn một cách dễ dàng, hộ trợ các NH triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu của xã hội
Hoạt động BHTG góp phần gia tăng mức độ huy động vốn của các NH:
Nguồn vốn TG tiết kiệm dân cư trong bất kỳ quốc gia nào là một trong nguồn vốn có chi phí rẻ, nhằm đầu tư cho phát triển kinh tế đất nước Thông qua vai trò bảo vệ người gửi tiền, xây dưng và củng có niềm tin của công chúng đối với hện thống NH, BHTG có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình huy động vốn của các NH
Hoạt động của BHTG giúp cho toàn hệ thống NH hoạt động một cách ổn đinh: tổ chức BHTG đánh giá kịp thời những khả năng hoạt động của các NH và nhất
là NH nhỏ Từ đó giúp cho hệ thống NH không bị phản ứng dây chuyền một khi xảy
ra đỗ vỡ NH, bằng cách đưa NH yếu kém rút khỏi lĩnh vực kinh doanh tiền tê một cách có trật tự mà không làm ảnh hưởng đến các NH khác thông qua chi trả tiền gửi được BH và tiến hành thanh lý tài sản Các ngân hàng bị mất khả năng thanh toán
Trang 291.2.3 Đối với nền kinh tế
Hệ thống NH đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống kinh tế của một quốc gia Sự sụp đổ của một NH thường có ảnh hưởng lây lan tác động tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia ấy Thông qua vai trò bảo
vệ người gửi tiền Một mặt BHTG cung cấp sự ổn định tài chính bằng cách giảm thiểu những vụ đổ xô rút tiền ở NH, mặt khác nó cũng góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô nhờ việc ngăn ngừa được những tác động lan truyền do những vụ vỡ nợ của các NH Nhờ vậy BHTG đã góp phần quan trọng vào việc củng cố an ninh chính trị xã hội của một quốc gia
1.3 Vai trò bảo hiểm tiền gửi trong phát triển an toàn lành mạnh hệ thống TCTD Việt Nam
Trong những năm gần đây, sự bùng nổ về quy mô hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các NH tại Việt Nam đặt ra yêu cầu về phát triển bền vững hệ thống TCTD Việt Nam Mục tiêu về sự phát triển bền vững cũng đã được nêu trong
đề án của Chính phủ “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” Mục tiêu phát triển năm 2020 hướng đến hiện đại, hoạt động an toàn và hiệu quả vững
Trang 3019
chắc Theo đó, TCTD sẽ có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình, có khả năng cạnh tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị NH tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động NH nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu
về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế, xác định việc sáp nhập, hợp nhất NH theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền nghĩa
vụ kinh tế của các bên có liên quan Tính đến nay đã có một số TCTD tự nguyện sáp nhập, hợp nhất và NHNN sẽ tiếp tục đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc NH với mục tiêu tăng cường năng lực TC, khả năng tuân thủ và minh bạch của hệ thống Trong tương lai gần, thị trường sẽ tiếp tục chứng kiến nhiều thương vụ sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD với sự giám sát chặt chẽ của NHNN
Bên cạnh những thuận lợi trong quá trình triển khai, việc tái cấu trúc hệ thống các TCTD phải đối mặt với nhiều thách thức, cụ thể: nguồn lực của Nhà nước hạn chế, dự trữ ngoại hối nhỏ; thâm hụt ngân sách lớn, nợ công cao và có chiều hướng tăng nhanh, chính sách tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát; hành lang pháp lý còn nhiều hạn chế…Ngoài ra, tái cấu trúc có thể dẫn tới nhiều xáo trộn trên thị trường, đặc biệt, tâm lý và niềm tin của người gửi tiền rất dễ bị lung lay trước nhiều luồng thông tin trái chiều, người dân thường nghĩ ngay tới việc NH đang lâm vào tình trạng phá sản hay chuẩn bị đổ vỡ nên mới tiến hành tái cấu trúc v.v Chính vì vậy, hoạt động tái cấu trúc hệ thống các TCTD cần gắn với việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Đây cũng được coi là một giải pháp hữu hiệu góp phần ngăn chặn kịp thời nguy
cơ rút tiền ồ ạt, đồng thời đối phó với những tác động tiêu cực mà khủng hoảng tài chính mang lại
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
1.4.1 Lịch sử hình thành Bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động BHTG được triển khai đầu tiên ở New York, Mỹ năm 1829 với danh hiệu “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, hàm ý BH trách nhiệm đối với tiền gửi NH và chứng chỉ huy động TG Từ năm 1831 đến năm 1858, năm bang tiếp theo ở Mỹ đã thành lập tổ chức BHTG Mặc dù, hầu hết các tổ chức BHTG
có lúc hoạt động thành đạt, một số chính sách về NH có liên quan được ban hành
Trang 3120
trong những năm sau đó (1886) đã góp phần làm cho các tổ chức này đóng cửa Thời
kỳ thử nghiệm tiếp theo của hoạt động BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-1930 Từ 1908 đến 1917 ở Mỹ đã có 8 bang thành lập hệ thống BHTG Tính đến 1930 cả 8 hệ thống này đã đóng cửa do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế bất lợi làm cho nhiều NH ở 8 bang này đóng cửa và dẫn đến các tổ chức BHTG ở đó bị mất khả năng thanh toán Hoạt động NH ở Mỹ đầu những năm 30 tiếp tục gặp khó khăn Trong giai đoạn 1930 - 1933 mỗi năm có hơn 1.000 NH ngừng hoạt động, đỉnh cao là năm 1933 có 4.000 NHTM phải ngừng hoạt động Trước tình hình đó, ngày 01/01/1934 BHTG liên bang Mỹ (FDIC) đã được thành lập, đây là mô hình được xem
là hình mẫu đầu tiên về BHTG
Tiếp theo FDIC, trong những năm 1960, trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức BHTG, những năm 1970 có thêm bốn quốc gia Hầu hết các quốc gia triển khai hoạt động BHTG công khai vào những năm cuối 1990 Đến nay, trên thế giới có 98 quốc gia có tổ chức hoạt động BHTG công khai Đặc biệt, ngày 06/5/2002 Hiệp hội BHTG quốc tế được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ Đến nay IADI đã
có 52 tổ chức BHTG các nước là thành viên, 6 hiệp hội, 5 quan sát viên và 12 đối tác (số liệu tính đến năm 2008, IADI) Điều đó đánh dấu sự quan tâm chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực mới thúc đẩy phát triển hoạt động này trên toàn thế giới (Oanh, 2009)
1.4.2 Sự thay đổi cách nhìn về BHTG sau cuộc khủng khoảng năm 2008
Khủng hoảng TC đang diễn ra tại Mỹ được đánh giá là cuộc khủng hoảng tồi
tệ nhất trong 80 năm qua đối với một nền kinh tế lớn nhất thế giới, vượt ra khỏi biên giới của nước Mỹ và lây lan sang nhiều nước Châu Âu, Châu Á Mức độ thiệt hại của cuộc khủng hoảng này là lớn, có nguy cơ làm cho kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái, hoạt động của nhiều NH trên thế giới có dấu hiệu suy giảm nhanh, niềm tin của người gửi tiền vào các NH bị xói mòn Trước bối cảnh đó, Chính phủ, NHTW và các cơ quan khác của một loạt các quốc gia trên thế giới đã có những động thái nhằm ổn định tình hình, trấn an người gửi tiền, giảm thiểu hậu quả của khủng hoảng, trong đó vai trò của tổ chức BHTG đã được phát huy Các công ty BHTG trên thế giới đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau như: Tiếp nhận xử lý các TCTC có vấn đề, nâng hạn
Trang 32Hy Lạp nâng hạn mức chi trả BHTG từ 20.000EUR lên 100.000EUR trong vòng 3 năm Châu Á tại Đài Loan, hạn mức chi trả BHTG được tăng gấp 2 lần, lên 3 triệu đôla Đài Loan
Thực tế từ đầu năm 2008 tới nay cho thấy hệ thống các công ty BHTG trên thế giới đã thực hiện các biện pháp nhằm củng cố niềm tin, bảo vệ người gửi tiền, đặc biệt đưa ra các chính sách về BHTG linh hoạt, góp phần ổn định hệ thống TC
1.4.3 Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả
Đây là bộ nguyên tắc cơ bản do Hiệp hội BHTG quốc tế ban hành nhằm mục tiêu phát triển hệ thống BHTG hiệu quả (IADI, 2009) gồm 18 nguyên tắc
Nguyên tắc 1 – Mục tiêu chính sách công: Bước đầu tiên trong việc áp
dụng một hệ thống BHTG hoặc cải cách hệ thống hiện tại là xác định rõ mục tiêu chính sách công phù hợp cần đạt được Những mục tiêu này phải được chính thức cụ thể hóa và được đưa vào thiết kế của hệ thống BHTG Các mục tiêu chính của hệ thống bảo BHTG là góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và bảo vệ người gửi tiền
Nguyên tắc 2 – Giảm thiểu rủi ro đảo đức: Rủi ro đạo đức sẽ được giảm
thiểu bằng cách đảm bảo rằng hệ thống BHTG có các đặc điểm thiết kế phù hợp và thông qua các yếu tố khác của mạng an toàn TC
Nguyên tắc 3 – Nhiệm vụ: Điều quan trọng là nhiệm vụ của một hệ thống
BHTG cần phải rõ ràng và được quy định chi tiết, chính thức; cần phải có sự nhất
Trang 3322
quán giữa mục tiêu chính sách công với quyền hạn, trách nhiệm được trao cho hệ thống BHTG
Nguyên tắc 4 – Quyền hạn: Một tổ chức BHTG cần phải có tất cả các quyền
hạn cần thiết để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình Các quyền hạn này cần phải được chính thức quy định cụ thể Tất cả các tổ chức BHTG cần phải có quyền lập quỹ phục vụ công tác chi trả, tham gia ký kết hợp đồng, đặt ra các quy trình và ngân sách hoạt động nội bộ, và có thể tiếp cận kịp thời và chính xác các thông tin để đảm bảo rằng hệ thống BHTG có thể đáp ứng các yêu cầu trách nhiệm của mình đối với người gửi tiền một cách kịp thời
Nguyên tắc 5 – Quản trị: Tổ chức BHTG cần hoạt động một cách độc lập,
minh bạch có uy tín và không bị tác động bởi hệ thống chính trị và khu vực TCNH
Nguyên tắc 6 – Mối quan hệ với các thành viên khác trong mạng an toàn tài chính: Cần phải xây dựng một khung phối hợp chặt chẽ và chia sẻ thông tin định
kỳ hoặc thông tin liên quan đến các NH cụ thể giữa tổ chức BHTG và các thành viên khác của mạng an toàn TC Các thông tin này phải chính xác và kịp thời (có thể bảo mật mật khi cần thiết) Cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin phải được chính thức hóa
Nguyên tắc 7 – Các vấn đề xuyên quốc gia: Trước hết phải đảm bảo tính
bảo mật tất cả các thông tin liên quan phải được trao đổi giữa các tổ chức BHTG trong phạm vi quy định của pháp luật khác nhau, và có thể được trao đổi giữa tổ chức BHTG và các thành viên mạng an toàn TC của nước khác khi thích hợp Trong trường hợp có nhiều tổ chức BHTG khác nhau có trách nhiệm thực hiện BH, điều quan trọng là phải xác định tổ chức BHTG nào sẽ có trách nhiệm đối với việc chi trả Khi xác định số tiền thu phí BH, cần phải tính tới việc các tổ chức đã được BHTG tại chính quốc
Nguyên tắc 8 – Bắt buộc tham gia BHTG: Cần áp dụng cơ chế BHTG bắt buộc
đối với tất cả các tổ chức TC nhận TG để tránh vấn đề lựa chọn đối nghịch
Nguyên tắc 9 – Phạm vi bảo hiểm: Các nhà hoạch định chính sách phải quy
định rõ ràng bằng luật, các quy định an toàn hoặc các văn bản dưới luật định về loại
TG có thể được BH Mức BH nên có giới hạn nhưng phải đủ lớn và có thể nhanh
Trang 3423
chóng xác định được Mức BH này cần phải BH đầy đủ cho phần lớn người tiền nhằm đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống và phải nhất quán với đặc điểm thiết kế của thệ thống BHTG khác trong nước
Nguyên tắc 10 – Chuyển từ hệ thống đảm bảo toàn phần sang áp dụng
hệ thống BHTG có hạn mức: Khi một nước quyết định chuyển từ hệ thống đảm bảo
toàn phần sang áp dụng hệ thống BHTG có giới hạn, hoặc thay đổi hệ thống đảm bảo toàn phần hiện có, việc chuyển giao này nên được thực hiện nhanh chóng ngay khi các điều kiện của nước đó cho phép Đảm bảo toàn phần có thể gây ra nhiều tác động xấu nếu được áp dụng lâu dài, đặc biệt là rủi ro đạo đức Các nhà hoạch định chính sách cần phải đặc biệt chú ý tới thái độ và kỳ vọng của công chúng trong giai đoạn chuyển giao này
Nguyên tắc 11 – Cấp vốn: Một hệ thống BHTG phải có sẵn các cơ chế cấp
vốn nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động chi trả cho người gửi tiền được nhanh chóng, bao gồm cả cách thức huy động nguồn TC dự phòng bổ sung cho mục đích thanh khoản khi cần Các NH chịu trách nhiệm chính trong việc nộp phí BHTG bởi chính NH và khách hàng của NH sẽ trực tiếp được hưởng lợi từ hệ thống BHTG hoạt động hiệu quả
Đối với mọi hệ thống BHTG (dù áp dụng hình thức thu phí trước, thu phí sau hay kết hợp) khi áp dụng cách thức thu phí theo mức độ rủi ro, các tiêu chí được sử dụng trong hệ thống thu phí này cần phải minh bạch đối với tất cả các thành viên tham gia Ngoài ra, cần phải có sẵn mọi nguồn lực cần thiết để hỗ trợ công tác quản trị hệ thống thu phí theo mức độ rủi ro theo cách phù hợp nhất
Nguyên tắc 12 – Nâng cao nhận thức: Để một hệ thống BHTG hoạt động
hiệu quả, công chúng nhất thiết phải được biết đến lợi ích cũng như hạn chế của hệ thống BHTG
Nguyên tắc 13 - Bảo vệ pháp lý: Tổ chức BHTG và nhân viên làm việc cho
cơ quan này phải được bảo vệ trước các vụ kiện liên đới tới quyết định và hành động của họ “với thiện ý” trong khi thực hiện sứ mệnh Tuy nhiên, họ có trách nhiệm phải tuân thủ đúng các quy định liên quan đến xung đột lợi ích và hành vi ứng xử nhằm đảm bảo họ luôn có trách nhiệm Việc bảo vệ pháp luật phải được xác định rõ trong
Trang 3524
các quy trình lập pháp và hành pháp, và trong những trường hợp nhất định, phải bao gồm cả việc trang trải chi phí pháp lý đối với những người được bồi thường theo luật định
Nguyên tắc 14 - Ứng phó với các bên gây ra đổ vỡ NH: Một tổ chức
BHTG, hoặc một cơ quan chức năng, phải được trao quyền yêu cầu các bên gây ra đổ
vỡ NH bồi thường theo luật định
Nguyên tắc 15 – Phát hiện sớm, can thiệp và xử lý kịp thời: Cơ quan
BHTG nhất thiết phải là một phần trong hệ thống an toàn TC để phát hiện sớm, can thiệp, và xử lý kịp thời các NH gặp vấn đề Việc xác định và thừa nhận một NH đang hoặc được xem là có nguy cơ rơi vào khó khăn tài chính nghiêm trọng cần phải được thực hiện sớm trên cơ sở các tiêu chí đã được các thành viên độc lập khác nhau và có thẩm quyền liên quan của mạng an toàn tài chính xác định rõ ràng
Nguyên tắc 16 – Quy trình xử lý hiệu quả: Các quy trình xử lý đổ vỡ hiệu
quả phải giúp: tăng cường khả năng của cơ quan BHTG thực hiện các nghĩa vụ, bao gồm việc chi trả cho người gửi tiền một cách nhanh chóng, chính xác, và trên cơ sở công bằng; giảm thiểu chi phí xử lý và không gây xáo động thị trường; tối đa hóa việc thu hồi lại tài sản đã mất; và tăng cường kỷ cương thông qua việc áp dụng truy cứu pháp lý đối với các trường hợp sao nhãng hoặc có những hành động sai trái Ngoài ra,
cơ quan BHTG cùng các thành viên trong mạng an toàn tài chính quốc gia cần phải
có đầy đủ thẩm quyền để thiết lập một cơ chế linh hoạt giúp duy trì các chức năng chính của NH bằng việc thúc đẩy hoạt động tiếp nhận của đơn vị chuyên trách thực hiện tiếp nhận tài sản có và tài sản nợ của một NH đổ vỡ (chẳng hạn cho phép người gửi tiền luôn được tiếp cận khoản TG của họ hay duy trì các hoạt động thanh quyết toán)
Nguyên tắc 17 – Chi trả người gửi tiền: Hệ thống BHTG phải hỗ trợ được
người gửi tiền tiếp cận nhanh chóng TG được BH của họ Do vậy, cơ quan BHTG cần phải được sớm thông báo hoặc cung cấp đầy đủ thông tin trước trong các trường hợp được yêu cầu chi trả cũng như được tiếp cận nguồn thông tin về người gửi tiền sớm Người gửi tiền phải có quyền hợp pháp được chi trả đúng hạn mức BHTG và phải được biết khi nào và trong hoàn cảnh nào cơ quan BHTG bắt đầu tiến trình chi
Trang 3625
trả, khung thời gian chi trả Họ cũng phải được biết trước liệu có được chi trả trước hoặc tạm chi hay không, cũng như được biết hạn mức chi trả BHTG theo luật định
Nguyên tắc 18 – Thu hồi: Cơ quan BHTG phải được tham gia nhận các
khoản thu hồi được trong quá trình thu hồi từ tài sản của NH bị đổ vỡ Việc quản lý tài sản và NH đổ vỡ và quy trình thu hồi (do cơ quan BHTG hoặc một bên khác thực thi theo quy định) cần phải được hướng dẫn cụ thể trên cơ sở các yếu tố thương mại
và lợi ích kinh tế của hoạt động này
1.5 Kinh nghiệm BHTG của một số nước trên thế giới và bài học về BHTG đối với Việt Nam
1.5.1 Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ
Thành công của chính sách BHTG ở Mỹ có thể được tóm tắt ở một số điểm nỏi bật như sau:
BHTG theo mô hình chức năng đầy đủ: chính sách BHTG ở Mỹ đã khảng định
năng lực kiểm soát rủi ro NH của BHTG theo mô hình chức năng đầy đủ là rất lớn: từ tháng 10/1929 đến cuối năm 1933 đã có 4.000 NH đổ vỡ Nhưng khi có tổ chức FDIC ra đời, trong năm 1934 ở Mỹ chỉ có 9 NH đổ vỡ Giai đoạn 1934-1941 mặc dù
ở Mỹ có 370 NH đóng cửa, nhưng FDIC đã tạo điều kiện để các NH này rút hoạt động khỏi lĩnh vực NH mà không ảnh hưởng đến các NH khác Trong giai đoạn khủng hoảng TC toàn cầu hiện nay, với sức ảnh hưởng lan rộng và để lại hậu quả năng nề cho nền kinh tế thế giới, nhưng với nỗ lực của Chính phủ và FDIC thì từ năm 2007 đến 4/2010, ở Mỹ có gần 250 NH bị phá sản nhưng những tổ chức này đã được FDIC giải quyết một cách êm thấm Quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ kịp thời, giảm tổn thất cho người gửi tiền, NH và nền kinh tế Năm 1934 tới năm
1997, có 2.192 ngân hàng đổ vỡ, đã được FIDC giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối
đa ảnh hưởng tới hệ thống NH Mỹ, Người gửi tiền ở các vụ đổ bể NH trong thời gian này nhận được tiền chi trả BH với tổng số là 106.560 triệu USD
Mỹ dành nhiều quan tâm tới GS hoạt động NH, ngay sau khi thành lập, FDIC
đã cử 4.000 kiểm tra viên thực hiện công tác kiểm tra, GS các NH nhằm đánh giá tiêu chí là thành viên của FDIC Nguồn lực để triển khai chính sách BHTG ở Mỹ được
Trang 3726
đầu tư rất lớn: có cơ sở pháp lý cao (Luật BHTG) ngay từ đầu và được điều chỉnh kịp thời trong quá trình triển khai; có nguồn TC lớn và có cơ chế huy động TC thích ứng với đặc thù và vai trò quan trọng của chính sách BHTG trong giải quyết rủi ro của lĩnh vực TC-NH; có nguồn nhân lực lớn đáp ứng yêu cầu triển khai cảu chính sách (nhân lực hiện nay của FDIC là trên 4.500 người)
Tỷ lệ dự trữ: FDIC, tính đến thời điểm 31/12/2005, tổng số dư TG được BH
là 3.892,5 tỷ USD, tổng số dư quỹ BHTG hợp nhất là 48,6 tỷ USD, và tỷ lệ dự trữ là 1.25% [16] Hiện nay tỷ lệ này theo FDIC đối với các nước phát triển là 2% tổng số
TG trong hệ thống NH Thông lệ quốc tế các nước đang phát triển 3%-5%/tổng số
TG trong hệ thống NH
1.5.2 Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật
Công ty BHTG Nhật Bản (DICJ) được thành lập năm 1971, mục tiêu chính của hệ thống BHTG Nhật Bản là bảo vệ những người gửi tiền và các bên liên quan trong trường hợp TCTC không có khả năng chi trả TG và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống TC thông qua nhiều công cụ nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ tiếp nhận
và xử lý
- Cơ chế xử lý TCTC bị đổ vỡ tại Nhật Bản: khi hệ thống BHTG mới được thành
lập, chỉ có phương pháp chi trả BHTG được áp dụng để bảo vệ người gửi tiền khi xử
lý tổ chức bị đổ vỡ ở Nhật Bản Tuy nhiên, phương pháp hỗ trợ TC đã được bổ sung
và quy định trong Luật BHTG sửa đổi năm 1996
- Phương pháp hỗ trợ tài chính: xử lý đổ vỡ bằng phương pháp hỗ trợ TC là
dùng một TCTC vững mạnh (tổ chức tiếp nhận) tiếp quản các chức năng TC của TCTC bị đổ vỡ DICJ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để TCTC tiếp nhận có thể tiếp quản TCTC bị đổ vỡ với điều kiện tài sản có cân bằng với tài sản nợ bằng cách cấp số tiền tương ứng với khoản tài sản nợ vượt quá tài sản có của TCTC bị đổ vỡ và mua lại các khoản nợ xấu tài sản như một phần của hoạt động hỗ trợ TC Phương pháp hỗ trợ TC đảm bảo người gửi tiền tiếp tục được bảo vệ tại TCTC tiếp nhận và tiếp tục được hưởng lãi Hơn nữa, khi áp dụng phương pháp hỗ trợ TC, DICJ cũng giảm được chi phí hơn so với trường hợp phải chi trả bảo hiểm
Trang 3827
Đối với các hoạt động chuyển giao toàn phần hoặc một phần hoạt động của một TCTC bị đổ vỡ sang TCTC tiếp nhận, DICJ cung cấp hỗ trợ TC để thực hiện việc chuyển giao Trong trường hợp chuyển giao một phần hoạt động, những tài sản có và tài sản nợ không được chuyển giao sẽ vẫn thuộc về TCTC bị đổ vỡ Để xử công bằng đối với tất cả chủ nợ của TCTC bị đổ vỡ, DICJ sẽ cung cấp hỗ trợ TC (không hoàn lại) cho TCTC bị đổ vỡ sau khi đã thực hiện chuyển giao nhằm đảm bảo tiền lãi cổ tức thanh lý của các chủ nợ của TCTC bị đổ vỡ Ngoài ra, sau khi thực hiện hỗ trợ TC cho việc chuyển giao, DICJ có thể tiếp tục hỗ trợ TCTC tiếp nhận DICJ có thể đăng
ký mua cổ phiếu ưu đãi của TCTC tiếp nhận và các tổ chức liên quan khác khi được Hội đồng Cơ quan dịch vụ TC và Bộ tài chính chấp nhận Mục đích của hoạt động này là nhằm ngăn chặn việc giảm mức độ an toàn vốn của tổ chức tiếp nhận sau do thực hiện chuyển giao Sau khi chuyển giao, nếu các khoản vay được tiếp nhận từ TCTC bị đổ vỡ bị suy giảm giá trị vì không thể thu hồi hoàn toàn, thì TCTC tiếp nhận
sẽ phải chịu tổn thất này DICJ sẽ có thể ký kết một thỏa thuận bồi thường một phần các tổn thất này trong một khoảng thời gian nhất định cho TCTC tiếp nhận Ngược lại, nếu những khoản vay này làm tăng lợi nhuận sau khi chuyển giao, thì một phần lợi nhuận đó sẽ được trả cho DICJ
- Cơ quan quản lý tài chính: khi một TCTC bị đổ vỡ, nhưng chưa thể thực hiện
việc sáp nhập, chuyển giao toàn bộ hoạt động kinh doanh hoặc việc giải thể TCTC gây nhiều bất lợi Hội đồng Cơ quan dịch vụ TC Nhật Bản có thể ban hành lệnh chuyển giao việc quản lý hoạt động và tài sản của TCTC đó cho một cơ quan quản lý
TC Cơ quan quản lý TC sẽ do Hội đồng cơ quan dịch vụ TC bổ nhiệm và giám sát
Cơ quan quản lý TC có trách nhiệm: quản lý công việc kinh doanh của TCTC bị đổ
vỡ, thực hiện công việc để chuyển giao TCTC bị đổ vỡ cho tổ chức tiếp nhận, điều tra
để làm rõ trách nhiệm gây ra đổ vỡ theo quy định của pháp luật Việc chuyển giao tổ chức tiếp nhận thực hiện trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định quản lý và có thể được gia hạn thêm một năm khi cần thiết
- Ngân hàng bắc cầu: Theo quy định của Luật BHTG, khi xử lý đổ vỡ, DICJ
cũng có thể thành lập Ngân hàng bắc cầu với 100% vốn của DICJ Ngân hàng bắc cầu có nhiệm vụ chính là tiếp tục công việc kinh doanh của TCTC đổ vỡ khi chưa có
Trang 3928
TCTC tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ TC để duy trì và tiếp tục các hoạt động kinh doanh của TCTC bị đổ vỡ TCTC bị đổ vỡ sẽ ký kết thỏa thuận cơ sở về việc tiếp tục kinh doanh và các thỏa thuận kèm theo với ngân hàng bắc cầu trước khi gửi đơn yêu cầu bắt đầu thực hiện thủ tục phục hồi dân sự sau khi xảy ra đổ vỡ Sau đó, ngân hàng bắc cầu cung cấp hỗ trợ TC dưới hình thức thực hiện các nghĩa vụ, cấp tiền hoặc cho vay
đề duy trì và tiếp tục các giá trị kinh doanh của TCTC bị đổ vỡ
1.5.3 Bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan
Ngày 27/9/1985 Tổng công ty BHTG Trung ương Đài Loan (CDIC) khai trương hoạt động Sau 5 năm hoạt động vào năm 1990 Đài Loan là quốc gia đầu tiên ở Châu
Á áp dụng thành công phí BHTG theo mức độ rủi ro (FDIC sau 59 năm) CDIC đã xây dựng hệ thống cảnh bảo sớm tình hình TC của các TCTG BHTG xuất săc và được BTC Đài Loan ủy quyền phát triển và xây dựng thành công Hệ thống cảnh bảo sớm TC quốc gia Tháng 6/1990 - tháng 4/2004 CDIC đã hỗ trợ giải quyết thành công khó khăn của 54 tổ chức huy động TG bị hoảng loạn và đột biến rút tiền
1.5.4 Kinh nghiệm BHTG Hungary: Về hoạt động truyền thông
Năm 2008 với sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng TC toàn cầu, gây hiệu ứng lây lan mạnh mẽ đến nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Hungary Trong bối cảnh đó, Quỹ BHTG Quốc gia Hungary (NDIF - đi vào hoạt động tháng 7/1993) đã kịp thời triển khai một số biện pháp hữu hiệu nhằm trấn an niềm tin người gửi tiền và duy trì an toàn trật tự hệ thống NH, cụ thể:
Nâng cao hạn mức chi trả từ mức 50.000 euro đến 100.000 eu-ro, áp dụng cơ chế chi trả nhanh trong vòng “20 ngày làm việc” (dự kiến sẽ tiếp tục giảm xuống còn
7 ngày làm việc sau năm 2012), tăng cường hoạt động tương tác với công chúng và tích cực trao đổi thông tin với cơ Cơ quan giám sát TC (HFSA) và NHTW Hungary (NBH) Đầu năm 2012, tổng số dư TG tại các NH lên tới 17,371 tỷ HUF, tăng 4,4%
so với cùng kỳ năm 2011 Phần lớn người gửi tiền bày tỏ thái độ hài lòng với các dịch
vụ TC được cung cấp,
Bên cạnh một số hình thức truyền thông thường như: ấn phẩm (2 lần/năm), họp báo (1-2 lần/năm), tổ chức sự kiện (thường xuyên), phỏng vấn trực tiếp người gửi tiền (thường xuyên), báo cáo thường niên, NDIF còn tăng cường tuyên truyền qua
Trang 4029
mạng xã hội: facebook, twitter account, Website cũng thiết lập một Cơ quan thanh tra BHTG với chức năng triển khai một số giải pháp khách quan và chính xác liên quan đến những thắc mắc của khách hàng về chính sách BHTG; khách hàng có thể gửi e-mail và trong mọi trường hợp, thông tin sẽ được bảo mật như Luật định, khảo sát khách hàng định kỳ, khi cần thiết Theo phản hồi của người gửi tiền tại quỹ này, 76% đồng ý với hạn mức chi trả 100,000 euro và 92% trong số họ khẳng định thời gian
“20 ngày làm việc” để người gửi tiền được chi trả là hoàn toàn hợp lý Mô hình khảo sát mức độ hài lòng của người gửi tiền đã có đóng góp lớn trong việc hỗ trợ NDIF và các cơ quan giám sát có cái nhìn sâu sắc hơn về việc liệu niềm tin công chúng có bị ảnh hưởng hay suy hại không khi xảy ra sự cố trong hệ thống NH?
1.5.5 Bài học về Bảo hiểm tiền gửi đối với Việt Nam
Bài học 1: Các mục tiêu chính của hệ thống BHTG là góp phần duy trì sự ổn định
của hệ thống TC và bảo vệ người gửi tiền
Bài học 2 Áp dụng cơ chế BHTG bắt buộc đối với tất cả các tổ chức tài chính nhận
TG để tránh vấn đề lựa chọn đối nghịch
Bài học 3 Hạn mức chi trả tiền được BH: mức BH nên có giới hạn nhưng phải
đủ lớn và có thể nhanh chóng xác định được Mức BH này cần phải BH đầy đủ cho phần lớn người tiền nhằm đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống và có thể nâng mức BH cao hoặc toàn phần khi xảy ra khủng khoảng để tạo niềm tin cho người gửi tiền Tuy nhiên, chỉ nên trong một thời gian, đảm bảo toàn phần có thể gây
ra nhiều tác động xấu nếu được áp dụng lâu dài, đặc biệt là rủi ro đạo đức
Bài học 4 Phí BHTG: cần áp dụng mức phí trên cơ sở rủi ro để đảm bảo sự công
bằng cho các TCTG BHTG và đảm bảo nguyên tắc thị trường Khi áp dụng cách thức thu phí theo mức độ rủi ro, các tiêu chí được sử dụng trong hệ thống thu phí này cần phải minh bạch đối với tất cả các thành viên tham gia
Bài học 5 : Cần phải duy trì quỹ BHTG với tỷ lệ dự trữ là 3%-5% tổng số TG
trong hệ thống NH
Bài học 6 Cần xây dựng năng lực TC của tổ chức BHTG đủ mạnh để tổ chức đó
thực hiện tốt chức năng bảo vệ người gửi tiền, đồng thời phải có cơ chế đảm bảo cho
tổ chức BHTG huy động nguồn lực TC ứng phó với khủng khoảng