1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF

98 698 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, bài nghiên cứu quyết định nghiên cứu đề tài “ Ứng dụng phương pháp NATREX trong nghiên cứu sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá thực có hiệu lực của Việt Nam”, trên cơ sở đó vận dụng tìm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

-

ĐỖ QUỐC THỊNH

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG

NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC

VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Ứng dụng phương pháp Natrex trong nghiên cứu sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá thực có hiệu lực của Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tôi

Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng mọi số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng dưới bất cứ hình thức nào

TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Đỗ Quốc Thịnh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Dữ liệu nghiên cứu 4

1.8 Bố cục luận văn 5

1.9 Đóng góp của đề tài 5

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

2.1 Tổng quan các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng 6

2.1.1 Ngang giá sức mua (PPP) 6

2.1.2 Tỷ giá cân bằng BEERs (Behavioral equilibrium exchange rates) 6

2.1.3 Tỷ giá cân bằng FEERs (Fundamental equilibrium exchange rates) 7

2.1.4 Tỷ giá cân bằng NATREX (Natural real exchange Rate) 8

2.2 Tổng quan các nghiên cứu tỷ giá cân bằng 9

2.2.1 Phương pháp PPP 9

2.2.2 Phương pháp BEER 10

2.2.3 Phương pháp FEER 13

2.2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mô hình NATREX 16

2.2.5 MQH giữa TG thực hiệu lực và các yếu tố nền tảng của nền kinh tế 22

Trang 4

2.2.6 Nghiên cứu về điểm phá vỡ cấu trúc 25

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 30

3.1 Những điều cần biết về mô hình NATREX và các giả định mô hình 30

3.1.1 Mô hình NATREX mở rộng 30

3.1.2 Các giả định của mô hình NATREX 30

3.1.3 Cấu trúc của mô hình 32

3.1.3.1 Tiết kiệm 32

3.1.3.2 Tỷ lệ mậu dịch và tỷ giá hối đoái thực 33

3.1.3.3 Đầu tư 33

3.1.3.4 Cân bằng thị trường hàng hóa 35

3.1.3.5 Tài khoản vãng lai 35

3.1.3.6 Cân bằng danh mục đầu tư 35

3.1.3.7 Sự tích lũy vốn và tài sản nước ngoài 36

3.1.4 Cân bằng trung hạn 36

3.1.5 Sự điều chỉnh linh hoạt 37

3.1.6 Trạng thái ổn định 38

3.2 Đo lường TGHĐ Hiệu lực REER 40

3.3 Phương pháp thực nghiệm 40

3.4 Mô tả biến nghiên cứu 42

3.5 Chọn rổ tiền tệ đặc trưng 43

3.6 Thu thập số liệu 44

CHƯƠNG 4 - PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH 46

4.1 Tổng hợp dữ liệu thống kê 46

4.2 Các bước thực hiện 46

4.3 Kết quả chạy mô hình 47

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN REER 57

5.1 Phân tích các yếu tố tác động đến REER 57

5.1.1 Lãi suất nước ngoài hiệu quả 57

5.1.2 Hạn chế thanh khoản 58

Trang 5

5.2 Ước lượng REER theo mô hình C (NATREX) 58

5.3 Phân tích biểu đồ và giải thích sự chênh lệch giữa REER và NATREX 60

5.4 Chênh lệch giữa REER và NATREX 63

5.5 Phân tích điểm phá vỡ cấu trúc năm 2005 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Mức thuế suất

ADB Asian Development Bank

Ngân hàng phát triển Châu Á

BEERs Behavioral Equilibrium Exchange Rates

Tỷ giá cân bằng hành vi

ER’ Effective Foreign Interest Rate

Lãi suất nước ngoài hiệu quả

Tỷ lệ mậu dịch hiệu quả

FEERs Fundamental Equilibrium Exchange Rates

Tỷ giá cân bằng cơ sở

GDP Gross Domestic Product

IFS International Financial Statistics

Thống kê tài chính quốc tế

IMF International Monetary Fund

Quỹ tiền tệ thế giới

LIQC Liquidity Constraint

Hạn chế thanh khoản

Trang 7

NATREX Natural Real Exchange Rate

Tỷ giá hối thực tự nhiên

PPP Purchasing Power Parity

Ngang giá sức mua

RDEPO Relative Dependency Ratio Of The Old

Tỷ lệ phụ thuộc tương của người già

RDEPY Relative Dependency Ratio Of The Young

Tỷ lệ phụ thuộc tương của trẻ em

REER Equilibrium Real Effective Exchange Rate

Tỷ giá thực hiệu lực

GDP thực trên đầu người được hiểu chỉnh theo ngang giá sức mua (PPP)

RYGR Relative Real GDP Growth Rate

Tốc độ tăng trưởng GDP thực tương đối

TFP Total Factor Productivity

Năng suất các yếu tố tổng hợp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tóm tắt các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trước đây 9 Bảng 4.1 Tổng hợp thống kê dữ liệu 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Đồ thị 38

Hình 5.1 Biểu đồ so sánh REER và NATREX 59

Hình 5.2 Phân tích biểu đồ so sánh REER và NATREX 60

Hình 5.3 Chênh lệch của REER và NATREX 63

Trang 10

CHƯƠNG I - GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Mức tỷ giá hiện nay có phù hợp đối với nền kinh tế Việt Nam hay chưa? Hiện nay trị giá đồng Việt Nam đang được định ra như thế nào và đang cao, thấp hay là đã sát với tỷ giá thực tế kỳ vọng hay chưa? Mục tiêu nào mà chính sách tỷ giá cần phải đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay cung cấp một môi trường ổn định để phát triển?

Để đánh giá mức độ phù hợp đối với nền kinh tế của mức tỷ giá hiện nay cần phải có một cơ sở khoa học để so sánh Tỷ giá hối đoái cụ thể là tỷ giá thực hiệu lực cân bằng dài hạn (REER) luôn là chỉ số quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, nó gắn liền với hoạt động giao thương quốc tế Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải nắm bắt một cách rõ ràng về tình hình biến động tỷ giá hiện nay để đưa ra các chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cũng như dẫn dắt vượt qua các giai đoạn khó khăn Vấn đề đặt ra có quá nhiều yếu tố tác động đến chỉ số này, nhưng đâu là yếu tố chính tác động mạnh mẽ tới nó, đâu là yếu tố không quan trọng Đặc biệt trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nhiều tác động truyền dẫn với nhau

có thể xảy ra sự biến đổi đột ngột dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc cần phải được xem xét Vì thế, bài nghiên cứu quyết định nghiên cứu đề tài “ Ứng dụng phương pháp NATREX trong nghiên cứu sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá thực có hiệu lực của Việt Nam”, trên cơ sở đó vận dụng tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến REER, xem xét việc định giá Việt Nam đồng cao hay thấp

Trang 11

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện tại, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được sử dụng làm tỷ giá tham chiếu cho các giao dịch trên thị trường Tuy vậy, tỷ giá này thường được ấn định bởi NHNN Mặc khác không ít nhận định cho rằng, chính sách tỷ giá của NHNN cảm tính và thiếu những cơ sở khoa học rõ ràng Do đó, việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực hiệu lực và đánh giá lại những tác động của nó đối với hoạt động thương mại của Việt Nam là cần thiết

1.3 Mục tiêu của đề tài

Bài nghiên cứu này dựa trên mô hình NATREX mở rộng đã từng được

áp dụng ở Trung Quốc để ứng dụng vào Việt Nam nhằm xem xét xem có sự phá vỡ cấu trúc trong mô hình hay không? Khảo sát các yếu tố chính tác động đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng của đồng Việt Nam trong dài hạn

và điều tra những chênh lệch về thương mại mậu dịch trong giai đoạn từ năm

1997 đến năm 2011 Điểm mới lạ của bài nghiên cứu này là sử dụng mô hình NATREX thay cho các mô hình trong các bài nghiên cứu trước đây (mô hình PPP, BEER, FEER) Đồng thời bài nghiên cứu sẽ dựa vào REER để có thể đánh giá đồng Việt Nam trong giai đoạn trên đã được định giá cao hay thấp so với NATREX

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Tỷ giá tiền đồng so với một số đồng tiền của các đối tác thương mại lớn với Việt Nam

Tỷ giá nội tệ của các đối tác này so với đồng USD

REER: Tỷ giá thực hiệu lực đa phương của Việt Nam so với đồng tiền các nước trong rổ tiền tệ các quốc gia có giao thương với Việt Nam

Chỉ số CPI và giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại lớn nói trên

Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại

Trang 12

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn đã sử dụng nhiều phương pháp như:

Phương pháp so sánh: số liệu thu thập so sánh với mục tiêu nghiên cứu Phương pháp mô hình hóa: phương pháp này được sử dụng để làm rõ những phân tích định tính bằng hình vẽ cụ thể để vấn đề trở nên dễ hiểu hơn

Phương pháp phân tích kinh tế lượng: NATREX được xem như là một khái niệm cân bằng dài hạn bài nghiên cứu sử dụng phương pháp xác định đồng liên kết trong các ước lượng của bài nghiên cứu Bài nghiên cứu xây dựng một tập hợp các dữ liệu theo hàng năm và sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết có thể được hạch toán vào sự phá vỡ cấu trúc nội sinh

Bước 1: Kiểm định tính dừng các biến bằng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị Ng- Perron (ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%) của các biến trong phương trình:

REER * = REER * (ET, LIQC, RDEPY, RDEPO, GI, ER’, , RY, RYGR)

Bài nghiên cứu chưa thể thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị Lee và Strazicich để tìm kiếm thời điểm có sự phá vỡ cấu trúc

Bước 2: Tiến hành ước lượng phương trình đồng tích hợp đối với các biến quan trọng Lần lượt đưa các biến vào trong phương trình Để xem xét

Trang 13

mức ý nghĩa các biến, duy trì các biến quan trọng và loại bỏ các biến không có

Bước 4: Sau khi tìm được một điểm phá vỡ cấu trúc, tiếp tục tạo biến giả D1 và hồi quy theo mô hình C, C/T như hướng dẫn của bài nghiên cứu về

tỷ giá Trung Quốc của You, K.,& Sarantis,N (2012b) Sau đó đưa ra kết luận

mô hình nào có ý nghĩa cao hơn

Bước 5: Tiến hành thêm kiểm định đồng liên kết Johansen test để xem xét mối quan hệ đồng tích hợp giữa các yếu tố, từ đó đưa ra kết luận khẳng định kết quả của GH cointegration test

1.7 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn dữ liệu từ Tổng cục thống kê (GSO), Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCB), Bộ tài chính, Quỹ Tiền tệ quốc (IMF), ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), các trang thông tin điện tử của các tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Bộ lao động

Mỹ, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), tính toán tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, tỷ giá thực song phương của đồng tiền của các quốc gia đối tác (các đồng tiền được sử dụng trong rổ tiền tệ tính tỷ giá thực đa phương) so với đồng USD

Trang 14

1.8 Bố cục luận văn

Bài viết này được tổ chức như sau

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mô hình NATREX

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả kiểm định

Chương 5: Kết luận các yếu tố quyết định đến tỷ giá cân bằng thực hiệu lực

là năm 2005 Đồng thời qua biểu đồ so sánh giá trị REER và NATREX ước lượng thấy được chênh lệch trong định giá đồng Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Tổng quan các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng:

2.1.1 Ngang giá sức mua: (PPP)

Vào những năm đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, nhà kinh tế học Gustav Cassel đã phác họa những quan điểm đầu tiên về ngang giá sức mua của tiền tệ Sau đó, với nhiều sự đóng góp khác ngang giá sức mua đã dần được hoàn chỉnh Nội dung của ngang giá sức mua là sự biến động trong tỷ giá giao ngay của một đồng tiền so với một đồng tiền khác là do chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát giữa hai nước Kết quả, sức mua của người tiêu dùng khi mua hàng hóa ở quốc gia nội địa sẽ tương tự với sức mua hàng hóa ở nước ngoài Theo PPP, tỷ giá thực hiệu lực được xác định:

Trong đó, Wi là tổng số mậu dịch với các đối tác thứ i mà quốc gia nước chủ nhà có quan hệ thương mại, Si là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền nước thứ i và đồng nội tệ, Pi là chỉ số giá của nước thứ i

2.1.2 Tỷ giá cân bằng BEERs (Behavioral Equilibrium Exchange Rates)

Phương pháp xác định tỷ giá cân bằng BEERs được 2 nhà nghiên cứu Clark và MacDonald đưa ra vào năm 1997 Phương pháp này được sử dụng khá rộng rãi nhằm phân tích sự biến động của tỷ giá thực theo thời gian chứ không phải sự biến động của tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn Khác với các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trong ngắn hạn khác, phương pháp BEER được xây dựng trên điều kiện ngang giá lãi suất không có bảo hiểm thực (real UIP) Điều đó có nghĩa là thay vì sử dụng tỷ giá danh nghĩa, các nhà nghiên cứu đã xem tỷ giá thực đa phương như là biến số chính của

mô hình, BEER được xác định như sau:

Trang 16

BEER = + β1 INT t + β2TOT t + β3 TNT t + β4 NFA t + β5 GOVD t + u t

INT là chênh lệch tỷ giá

2.1.3 Tỷ giá cân bằng FEERs (Fundamental Equilibrium Exchange

Rates)

Khái niệm tỷ giá cân bằng FEER được GS Williamson đưa ra lần đầu tiên vào năm 1985, sau đó được mở rộng và phát triển trong nghiên cứu của Wren-Lewis (1991, 1992), Clark (1994), Williamson (1994), MacDonald và Clark (1998, 2000, 2004), Barisone (2006) Theo đó, đây là phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trong trung hạn Tỷ giá cân bằng FEER sẽ được xác lập khi mà nền kinh tế đạt cả cân bằng bên trong lẫn cân bằng bên ngoài, tức

là nền kinh tế đảm bảo đầy đủ công ăn việc làm, giá cả ổn định, đồng thời trạng thái của cán cân vãng lai ở mức cân bằng bền vững Nói cách khác, FEER được xác định bởi một số điều kiện kinh tế xác định bởi các biến kinh

tế quan trọng, còn các yếu tố mang tính chu kỳ trong ngắn hạn được loại bỏ

Tỷ giá cân bằng FEER được tính như sau:

Trong đó, FEER phụ thuộc vào cán cân vốn Kt, tổng cầu hoặc thu nhập quốc dân trong nước Yt và tổng cầu hoặc thu nhập quốc dân nước ngoài Yf

Trang 17

2.1.4 Tỷ giá cân bằng NATREX (Natural Real Exchange Rate)

Tỷ giá cân bằng NATREX là tỷ giá thực mà tại đó trạng thái của cán cân vãng lai bằng chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư Phương pháp xác định

tỷ giá cân bằng NATREX tập trung vào sự biến động của tỷ giá thực cân bằng trong trung và dài hạn, bỏ qua mọi biến động mang tính chu kì và đầu cơ trong ngắn hạn Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy phương pháp NATREX giải thích sự biến động của tỷ giá thực trong dài hạn tốt hơn so với học thuyết ngang giá sức mua Về cơ bản tỷ giá cân bằng NATREX được xác định giống như tỷ giá cân bằng trung hạn FEER Tuy nhiên cũng có một số điểm khác biệt như:

Thứ nhất, ngoài các biến số kinh tế như trạng thái của cán cân vốn trong trung hạn, thu nhập quốc dân trong nước và nước ngoài, tỷ giá NATREX còn được xác định phù hợp với phương pháp cân bằng danh mục, theo đó lãi suất thực trong nước phải bằng với lãi suất thực nước ngoài Do điều kiện về lãi suất thực này chỉ được duy trì trong dài hạn, nên tỷ giá NATREX được gọi là

tỷ giá cân bằng trong dài hạn

Thứ hai, tỷ giá thực được dùng trong phương pháp NATREX được xác định theo nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào quy mô của nền kinh

tế Đối với các nền kinh tế lớn như Mỹ, tỷ giá thực được xác định dựa vào tỷ giá danh nghĩa và chỉ số giá tiêu dung CPI hoặc chỉ số giảm phát GDP giữa 2 quốc gia Còn đối với nền kinh tế nhỏ thì tỷ giá thực được tính dựa trên tỷ giá danh nghĩa, và chỉ số giá nhân công giữa 2 quốc gia

Thứ ba, bên cạnh các biến được sử dụng như trong phương pháp tính tỷ giá cân bằng FEER, để tính tỷ giá cân bằng NATREX bài nghiên cứu có thể

sử dụng thêm một số biến khác như tốc độ tăng trưởng GDP thực tế trong nước và nước ngoài, tỷ lệ chi tiêu xã hội hoặc chi tiêu chính phủ trên GNP, điều kiện thương mại TOT, lãi suất thực của nước ngoài

Trang 18

Bảng 2.1 Tóm tắt các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trước đây

Phương pháp

xác định Giả thiết, Giả thuyết được chứng minh Biến được giải thích ( Biến phụ thuộc) Thời gian

Ngang giá sức mua

(PPP)

- Thay đổi tỷ giá tương lai bằng chênh lệch chỉ số giá cả giữa 2 quốc gia

- Tỷ giá thực bằng 1 trong dài hạn

Tỷ giá danh nghĩa hoặc tỷ giá thực

Dài hạn

BEERs - Ngang giá lãi suất không phòng

ngừa thực (gồm phần bù rủi ro) được duy trì

- Thay đổi của tỷ giá thực tương lai được xác định bởi các yếu tố kinh

tế vĩ mô chính

Tỷ giá thực Ngắn hạn

(dự đoán tỷ giá)

FEERs - Tại mức tỷ giá thực, nền kinh tế

đạt được cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài

Tỷ giá thực đa phương Trung hạn

NATREX - Giống tỷ giá FEER, thêm điều

kiện lãi suất thực trong nước bằng lãi suất thực nước ngoài

giá 67% sẽ là cần thiết để loại bỏ định giá thấp

Coudert & Couharde (2005) sử dụng phương pháp PPP-E nghiên cứu

RMB vào năm 2003 Kết quả cho thấy đồng CNY bị định giá thấp khoảng 50% tùy thuộc vào việc có loại bỏ một số quốc gia khỏi hồi quy không

41-Frankel (2006) sử dụng phương pháp PPP-E để nghiên cứu RMB vào

năm 2000, chủ yếu quan tâm đến các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau của Trung Quốc Dựa vào phương pháp PPP-E ước tính rằng đồng CNY bị định giá thấp khoảng 36% so với đồng đô la trong năm 2000 Tuy nhiên, định giá thấp là gần giống như trong năm 1990 (34%) Mức độ định giá thấp trong khoảng thời gian này gần như là không thay đổi trong khi thặng dư tài khoản

Trang 19

vãng lai ngày càng cao hơnđiều này làm tăng thêm nghi ngờ về độ tin cậy của các phương pháp tiếp cận PPP nói chung

Kết luận: tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 56%

Cheung, Chinn & Fujii (2007) sử dụng phương pháp PPP-E để nghiên cứu RMB vào năm 2007 Bài nghiên cứu ước tính mô hình dựa trên số liệu

hàng năm 1975 -2004, có mẫu rất lớn (132 quốc gia).Họ nhận thấy, đồng CNY được ước tính bị định giá thấp khoảng 50%.Tỷ giá thực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 100% so với USD

Chỉ số kinh tế Big Mac(2007) chỉ số Big Mac chính là tỷ giá hối đoái

mà khi đó giá của một chiếc Hamburger ở Hoa Kỳ bằng với giá ở quốc gia khác Cho thấy một sự định giá thấp 58% vào giữa năm 2007 công bố ngày 05/07/2007 Tương ứng, sẽ tăng 138% trong đồng CNY so với đồng USD để các chi phí của một Big Mac ở cùng một mức giá ngang bằng ở hai nước

2.2.2 Phương pháp BEER

Bénassy-Quéré và cộng sự (2004) sử dụng phương pháp BEER để

nghiên cứu RMB vào năm 2001

Nghiên cứu này ước tính cân bằng tỷ giá hối đoái của đồng CNY bằng cách ước tính đồng thời tỷ giá hối đoái cân bằng với tất cả các loại tiền tệ lớn trong G20 và chỉ ra sự gia tăng tương ứng song phương của đồng CNY so với đồng USD ở khoảng 40%

Kết quả: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 16%,

tỷ giá thực song phương với USD cần tăng giá từ 41% đến 44%

Wang (2004) sử dụng phương pháp BEER nghiên cứu RMB

Nghiên cứu bao gồm một phần là các yếu tố quyết định của tỷ giá thực trong trung hạn trong một nghiên cứu của IMF Ước tính một mô hình ERER cho riêng Trung Quốc bằng cách sử dụng các dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1980-2003 Các biến bao gồm các thay đổi năng suất, tài sản nước ngoài

Trang 20

ròng và mức độ mở cửa Cân bằng tỷ giá dự kiến chỉ thấp hơn khoảng 5% so với tỷ giá thực năm 2003 và kết luận rằng tất cả sự định giá thấp là nhỏ

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 5%

Coudert & Couharde (2005) sử dụng phương pháp BEER nghiên cứu

RMB vào năm 2002

Áp dụng một ước lượng dữ liệu bảng cho hiệu ứng Balassa-Samuelson (Trong kinh tế học, hiện tượng đồng nội tệ bị sức ép mất giá khi năng suất trong nước thấp gọi là hiệu ứng Balassa-Samuelson)tại 21 thị trường mới nổi trong giai đoạn 1980-2002 Biến phụ thuộc là chỉ số tỷ giá hối đoái thực so với đồng USD Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc đã cản trở sự điều chỉnh

Kết luận: RMB bị định giá thấp, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 18%

Funke & Rahn (2005) sử dụng phương pháp BEER để nghiên cứu

RMB vào năm 2000, chứng minh một sự đánh giá thấp RMB bằng một so sánh PPP và điều chỉnh cho hiệu ứng Balassa-Samuelson Tuy nhiên, chuyển hướng dùng phương pháp BEER và sau đó một PEER (BEER với các biến độc lập được thiết lập tại các giá trị cố định) Mô hình được ước tính trên số liệu hàng quý cho riêng Trung Quốc từ năm 1985 đến năm 2002 và phát hiện

có một sự phá vỡ cấu trúc, nên rút dữ liệu còn từ năm 1994 đến năm 2002 Đồng CNY chỉ bị định giá thấp từ 3% đến 6% vào năm 2002 và 11% đến 12% song phương so với đồng USD

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá từ 3% đến 6%, tỷ lệ giá thực song phương với đồng USD cần tăng giá từ 12% đến 14%

Bénassy-Quéré và cộng sự (2006) sử dụng phương pháp BEER để

nghiên cứu RMB lần 2 vào năm 2004

Trang 21

Ước tính bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2004 cho 15 quốc gia, đặc biệt chú ý đến tác động của các quốc gia còn lại Sự định giá thấp trong khoảng từ 31% đến 45% tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng, trong khi sự định giá lại tương ứng so với đồng USD thay đổi từ 30% đến 59%

Kết quả: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá từ 31% đến 45%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá từ 30% đến 59%

Stolper & Fuentes (2007)

Stolper & Fuentes (2007b) đã dùng phương pháp BEER để nghiên cứu RMB, đưa ra mô hình DEER Goldman-Sachs là thâm hụt USD sẽ tiệm cận mức độ bền vững theo tỷ giá hiện tại của đồng USD Do đó bất kỳ điều chỉnh đồng CNY sẽ tạo ra sự mất giá của các đồng tiền khác như Euro, so với đồng USD Đồng CNY bị định giá thấp khiêm tốn, khoảng 7% so với USD

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp cần định giá lại 7% so với USD Stolper và Fuentes (2007c) dùng phương pháp BEER Ước tính một mô hình co giãn bổ sung (FEER) thiết kế để giải quyết một số vấn đề Kết quả cho thấy sự cần thiết phải có một sự giảm giá đồng USD khoảng 15%, trong đó Trung Quốc sẽ được đóng một vai trò tương xứng

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp, cần định giá lại 15% so với USD

Mac Donald & Dias (2007) sử dụng phương pháp BEER để nghiên

cứu RMB vào năm 2007

Nghiên cứu này ước tính một mô hình BEER và được sử dụng để dự đoán thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ là phù hợp với 3 mẫu khác nhau của các kết quả tài khoản vãng lai toàn cầu hiện nay Ngoài biến năng suất tiêu chuẩn (đã

bỏ qua các tài sản ròng nước ngoài thông thường), MacDonald và Dias cũng

sử dụng cán cân thương mại (mặc dù hệ số của nó nhỏ), tỷ lệ mậu dịch và lãi suất thực

Trang 22

Kết quả: tỷ giá thực dưới mức cân bằng, tỷ giá thực song phương với USD cần phải đánh giá lại từ 8% đến 42%

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 29%,

tỷ giá thực song phương với USD cần tăng giá 67%

Wang (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào năm 2003 Ước tính số dư tài khoản cơ bản của Trung Quốc hiện nay là 2,1%

GDP và giải thích (a) thặng dư mục tiêu là đưa ra là 3,1% GDP hợp lí trên cơ

sở tiết kiệm và đầu tư và (b) 1,0% GDP thặng dư sẽ ổn định tài sản nước ngoài trên GDP Những mục tiêu này tương ứng đòi hỏi sự tăng giá nhẹ hoặc giảm giá nhẹ tỷ giá hiệu lực của đồng CNY

Kết quả: đòi hỏi RMB tăng nhẹ (từ 0% đến 5%) hoặc giảm giá nhẹ (từ 0% còn -5%)

Trang 23

Wren-Lewis (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB

vào năm 2003

Sử dụng một mô hình tính toán tỷ giá hối đoái song phương với mục tiêu của kết quả là tài khoản vãng lai ở trạng thái cân bằng và thực hiện một phần mở rộng đặc biệt để ước tính giá trị của đồng CNY phù hợp với các điều chỉnh cân bằng khác nhau hiện nay Ước tính rằng Trung Quốc có thặng dư tài khoản vãng lai cơ bản bằng 3,4% GDP vào năm 2002 Để giảm bớt thặng

dư 1% sẽ cần một sự tăng giá song phương so với đồng USD 19%, trong khi loại bỏ toàn bộ thặng dư sẽ cần một sự tăng giá 22%

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp và cần phải định giá lại từ 19%

đến 22% so với đồng USD

Goldstein (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB

Có một dòng vốn vào ròng 1,5% GDP như bình thường và do đó giả định rằng Trung Quốc nên nhắm mục tiêu thâm hụt tài khoản vãng lai Ước tính là Trung Quốc có thặng dư tài khoản vãng lai thường xuyên là 2,5% GDP

và cho rằng cần thiết phải điều chỉnh 4% GDP

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá từ 15% đến 30%

Cline (2005) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB

Nghiên cứu này xem xét cách tối ưu để đạt được một sự điều chỉnh mục tiêu trong tài khoản vãng lai của Mỹ (giảm 3% GDP của Mỹ vào năm 2010) Giả định như một phần của một quá trình điều chỉnh đa phương, thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc và các nước khác sẽ giảm 40% (từ 4,2% GDP năm 2004 còn 2,5% cho Trung Quốc)

Kết quả: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 21%,

tỷ lệ giá thực song phương với đồng USD cần tăng giá 45%

Anderson (2006) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB

Trang 24

Nghiên cứu ước tính rằng số dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc đã được nâng cao trong năm 2006 bởi các yếu tố như công suất dư thừa công nghiệp nặng và thặng dư theo chu kỳ điều chỉnh tài khoản vãng lai là 5% GDP Dòng vốn FDI tiềm ẩn đang được ước tính là 1% GDP, đưa ra một sự điều chỉnh mục tiêu 6% GDP Áp dụng một mô hình với độ co giãn xuất khẩu

là 0,5 và độ đàn hồi nhập khẩu là 0,8 Ước tính rằng sự điều chỉnh này sẽ yêu cầu một đánh giá lại từ 18% đến 25% (đánh giá thấp từ 15% đến 20%)

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp, tỷ giá thực song phương với USD cần phải tăng từ 15% đến 20%

Goldstein & Lardy (2006) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu

RMB

Theo lập luận thặng dư tài khoản vãng lai Trung Quốc năm 2005 cơ bản

là trong khoảng từ 5% đến 7% GDP (trong khi kết quả thực tế 7% đến 9%, phản ánh tăng trưởng trong nước chậm hơn và một sự tăng giá trong năm 2005) Mặc dù điều này có thể là một phản ứng khá khiêm tốn để tăng ít nhất 2,5% GDP, con số cuối cùng là phù hợp với độ co giãn và đáp ứng tài khoản vãng lai được đề xuất trong phần đầu tiên

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá từ 20% đến 35%

Goldstein & Lardy (2007) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu

RMB

Ước lượng xác định mức tăng giá cần thiết để loại bỏ sự đánh giá thấp

từ 35% đến 60% Một lần nữa mẫu hình này là cách tiếp cận độ co giãn, đặt phạm vi cho tham số liên quan đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái để thay đổi tài khoản vãng lai từ 2% đến 3,5% GDP điều chỉnh cho một sự thay đổi 10% tỷ giá hối đoái thực Kết quả phạm vi áp dụng nhiều tham số thặng dư 12% tài

Trang 25

khoản vãng lai vào năm 2007 và bằng cách giả định rằng không có phần thặng

dư này là theo chu kỳ và có thể giảm mà không cần thay đổi tỷ giá hối đoái

Cline (2007) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB

Chấp nhận dự án của IMF, tài khoản vãng lai của Trung Quốc đang trên

đà đạt mức thặng dư 6,3% GDP trong năm 2011 theo xu hướng hiện nay.Giải thích 3 mục tiêu được đưa ra nhằm tìm kiếm những gì cần thiết để giảm tài khoản vãng lai (a) thặng dư 1,7% GDP; (b) để tạo ra một tài khoản vãng lai cân bằng và (c) tạo ra một mức thâm hụt 1,4% GDP Cline cho rằng điều này

sẽ bao hàm một sự tăng giá đồng CNY 21% và tăng giá song phương 45%

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp, tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 11-18%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 34% đến 39%

2.2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mô hình NATREX

Một số nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận NATREX trong các nền kinh tế khác nhau, sử dụng khoảng thời gian khác nhau

- Stein (1995, 1997) sử dụng phương pháp NATREX tại Mỹ Tương tự

như vậy, xem xét các điều khoản thương mại và lãi suất thế giới được đưa ra,

“The Dynamics of Real Exchange Rate and Current Account in a Small Open Economy: Australia” Lim và Stein (1995) xem xét các phương pháp

NATREX cho một nền kinh tế tương đối nhỏ như Úc Lim và Stein (1995) khẳng định rằng quốc gia tương đối nhỏ như Úc, đã không có khả năng ảnh hưởng đến các điều khoản của thương mại và lãi suất thế giới Ngoài ra, Stein

và Sauernheimer (1996) “The Equilibrium Real Exchange Rate of

Germany” và Federicied và Gandolfo (2002) “Endogenous Growth in an Open Economy and the NATREX Approach to the Real Exchange Rate: The Case of Italy” áp dụng phương pháp tương tự trong trường hợp của Đức

Trang 26

và Italia Tương tự như vậy, Stein và Paladino (1998) “Recent Developments

in International Finance: A Guide to Research” áp dụng phương pháp trong

trường hợp của Pháp và Gandolfo và Felettigh (1998) “The NATREX: An

Alternative Approach” áp dụng phương pháp tương tự cho Ý Phương pháp

tiếp cận NATREX cũng được sử dụng trong các trường hợp của các nước

đang phát triển Holger et al (2001) “NATREX and Determinants of the

Real Exchange Rate of RMB” Ví dụ áp dụng phương pháp tiếp cận

NATREX ở Trung Quốc và Kardi (2003) “Structural and Single Equation

Estimation of the NATREX Equilibrium Real Exchange Rate” áp dụng

phương pháp tương tự cho Hungary

Stein (1995) chỉ ra rằng phương pháp NATREX không chỉ là một mô hình mà là một tập hợp của các mô hình có thể được áp dụng cho các nền kinh

tế khác theo đặc điểm của từng nước Ví dụ, phương pháp NATREX áp dụng cho nền kinh tế Mỹ là hoàn toàn khác so với của Đức và Úc Điều này là do tính chất, quy mô của nền kinh tế và ảnh hưởng khác nhau đối với nền kinh tế thế giới Stein (1995) phân loại nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn có thể ảnh hưởng về tỷ lệ mậu dịch và lãi suất thế giới Nền kinh tế Đức được coi là một nền kinh tế quy mô vừa Tương tự, nền kinh tế Úc được phân loại như một nền kinh tế mở nhỏ không ảnh hưởng đến thương mại và lãi suất thế giới

- Holger et al (2002) áp dụng một phiên bản sửa đổi của phương pháp

NATREX trong trường hợp của Trung Quốc, kết hợp di cư trong nước và các biến năng suất trong cách tiếp cận và sử dụng phương pháp ARDL để có được kết quả ước lượng Sự ra đời của kỹ thuật đồng liên kết hiện đại làm cho nó dễ dàng cho các nhà nghiên cứu để thiết lập thời gian mối quan hệ đồng liên kết dài giữa các biến có liên quan

Euro Zone, Duval (2002) áp dụng phương pháp NATREX bằng cách

sử dụng một chuỗi thời gian và Johansen đồng liên kết giữa các biến có liên

Trang 27

quan Giả sử một vector đồng liên kết duy nhất, áp dụng Vector Error Correction Model (VECM), Duval (2002) có được mối quan hệ lâu dài thông qua phương pháp Stock và Watson (1993)

- Augustine C Arize (1994) “Cointegration Test of a Long-run

Relation Between the Real Effective Exchange Rate and the Trade Balance” cũng xem xét mối liên hệ của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với cán

cân thương mại Những thí nghiệm về đồng liên kết và phát triển gần đây của Engle, Yoo (1989) và Johansen (1988) đã cung cấp một phương pháp thay thế khác để xác định mối quan hệ trong dài hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) Các tác giả quan sát thấy được rằng có một mối liên hệ tích cực giữa cán cân thương mại với tỷ giá hối đoái thực hiệu lực

ở hầu hết các nền kinh tế ở Châu Á Mặc dù có một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt, nhưng kết quả nghiên cứu của bài nghiên cứu đưa ra kết luận rằng 2 chỉ số này có liên quan với nhau Điều này ngụ ý rằng sự mất giá trong dài hạn dẫn đến việc cán cân thương mại được cải thiện Nói cách khác, sự gia tăng tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (được định nghĩa là số lượng đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ) đồng nghĩa với sự mất giá của đồng nội tệ

- Connolly, M and Devereux, J., (1995) “The Equilibrium Real

Exchange Rate: Theory and Evidence for Latin America” Trong nghiên

cứu này đã tóm tắt các yếu tố tiền tệ và tài chính ngắn hạn gây ra độ lệch tạm thời trong tỷ giá hối đoái thực tế ngắn hạn từ mức cân bằng tự nhiên của nó Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng chuyển động trong tỷ giá hối đoái cân bằng thực NATREX đối với nền kinh tế Mỹ Latinh trong giai đoạn từ năm

1960 đến năm 1985 có thể được giải thích về sự tăng trưởng, độ mở của nền kinh tế, chi tiêu chính phủ và các điều khoản bên ngoài của thương mại Đặc biệt, tiến bộ kỹ thuật và tăng vốn cổ phần có xu hướng làm tăng tỷ giá thực tế cũng như tự do hóa thương mại (nghịch lý) bằng cách tăng độ mở của nền

Trang 28

kinh tế điều chỉnh Tương tự như vậy, chi tiêu chính phủ cũng xuất hiện để làm tăng tỷ giá hối đoái thực bằng cách giảm chủ yếu vào hàng hóa phi ngoại thương

- Robert Lafrance, Patrick Osakwe, and Pierre St-Amant (1998)

“Evaluating Alternative Measures of the Real Effective Exchange Rate”

Các tác giả đã xem xét ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực đến xuất khẩu và nhập khẩu ở Canada Một sự suy giảm trong REER sẽ dẫn đến một cải thiện trong cán cân thương mại theo thời gian Và chỉ số tỷ giá hối đoái thực hiệu lực được tính toán sử dụng chi phí nhân công giải thích sự biến đổi trong xuất khẩu ròng và sản lượng thực của Canada tốt hơn đáng kể so với cách dựa vào chỉ số giá tiêu dùng

- Menzie D Chinn (2002) “The Measurement of Real Effective

Exchange Rates: A Survey and Applications to East Asia”, đã đưa ra các cơ

sở lý luận cho các định nghĩa khác nhau của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực Các phương pháp thay thế cho việc tính toán tỷ giá hối đoái hiệu lực đang được giới thiệu Cách sử dụng tỷ giá hối đoái thực hiệu lực được trình bày trong một số hoàn cảnh, bao gồm (i) đánh giá quá cao tỷ giá hối đoái, (ii) liên quan đến tỷ giá hối đoái thực đến các khác biệt về năng suất, (iii) ước lượng khả năng đáp ứng giá tương đối của dòng chảy thương mại và (iv) đánh giá tác động của phá giá cạnh tranh Kết luận: trong các cuộc thảo luận về sự tương tác kinh tế vĩ mô giữa các nền kinh tế, tỷ giá hối đoái thực thường là biến số chính của lãi suất Bài nghiên cứu này đã đưa ra các nguyên tắc chung là để giảm giảm phát một cách thích hợp và hợp lý hóa các đề án quan trọng cho các vấn đề kinh tế khác nhau Tuy nhiên việc thực hiện phụ thuộc vào các vấn

đề kinh tế chính bị ràng buộc bởi sự sẵn có của dữ liệu

Trang 29

- Funke, M and Rahn, J., (2005), “Just How Undervalued Is the

Chinese Renminbi” cho rằng giá trị tiền tệ của Trung Quốc đã là một chủ đề

nóng để tìm hiểu mức độ cân bằng của tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa của Trung Quốc Sử dụng một khuôn khổ đồng liên kết của Johansen tập trung vào tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi (BEER) và tỷ giá hối đoái cân bằng vĩnh viễn (PEER) Kết quả cho thấy trong khi đồng CNY bị định giá thấp so với đồng USD

- Coudert, V and Couharde C., (2007), “ Real Equilibrium

Exchange Rate in China: Is the Renminbi Undervalued?”, nghiên cứu này

là để cung cấp cho một số hiểu biết về đánh giá thấp của đồng tiền Trung Quốc Thứ nhất, xem xét "hoài nghi thông thường" cho đánh giá thấp bằng cách nhìn vào các chỉ số kinh tế khác nhau Thứ hai, giải quyết vấn đề của

"hiệu ứng Balassa" bằng cách so sánh Trung Quốc với các quốc gia mới nổi khác Đo khoảng cách giữa sự phát triển của tỷ giá thực tế tại Trung Quốc và những gì sẽ có kết quả từ một "tiêu chuẩn" Balassa hiệu lực Sử dụng 2 phương pháp để đánh giá khoảng cách này, ước tính dữ liệu chéo và đồng liên kết, chỉ rõ thiếu hiệu quả Balassa ở Trung Quốc, phù hợp với sự thật là tỷ giá

thực đã không đánh giá cao mặc dù nhanh chóng bắt kịp Đồng thời sử dụng

một (tỷ giá cân bằng) cách tiếp cận FEER để có được một ý tưởng về sự tồn tại và kích thước của độ lệch của đồng CNY Sử dụng mô hình NIGEM cho đại diện thương mại nước ngoài của Trung Quốc, Hoa Kỳ, khu vực châu Âu, Hàn Quốc và Nhật Bản tính toán tỷ giá thực hiệu lực là phù hợp với tài khoản vãng lai bền vững Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc được đánh giá cao là bị định giá thấp trong năm 2002 và năm 2003 về hiệu quả và thậm chí nhiều hơn so với đồng USD Sử dụng mô hình với giả định khác nhau phân tích như thế nào tầm quan trọng của độ lệch được sửa đổi với mục tiêu thâm hụt ngân sách thấp hơn đối với Trung Quốc Theo dự kiến, độ

Trang 30

lệch của đồng CNY là ít rõ ràng hơn Hơn nữa, nếu đã xem xét tình trạng thất nghiệp trá hình, định giá thấp sẽ có được vẫn còn yếu Một kết quả thú vị khác

độ lệch của đồng USD chỉ bị ảnh hưởng một cách yếu ớt bởi lệch chi tiết của

đồng CNY Điều này cho thấy một định giá lại đồng CNY sẽ chỉ có tác dụng nhỏ trên các thâm hụt đối ngoại của Hoa Kỳ

- Cline, W R and Williamson J (2009) “Estimates of Fundamental

Equilibrium Exchange Rates” đã cho thấy một hệ quả chính của cuộc khủng

hoảng tài chính toàn cầu đã có sự tăng thêm của đồng USD đã được định giá quá cao bởi vì các nhà đầu tư đã chuyển sang Hoa Kỳ như là một nơi trú ẩn tương đối an toàn Một định giá quá cao lớn hơn có nghĩa thâm hụt lớn hơn bên ngoài, sau hai năm hoặc độ trễ lâu hơn từ tỷ giá hối đoái đến dòng chảy thương mại Tương tự, sự gia tăng trong nhận thức rủi ro kết hợp với việc giảm lãi suất trong nước cao ở một số nước cho các mục đích phản chu kỳ đã kết thúc "carry trade" và góp phần làm tăng cường của đồng yên đặc biệt, đảo chiều khoảng cách của tiền tệ từ FEER ước tính trước đây, từ một định giá quá cao thương mại đáng kể trong năm 2008 với một đánh giá thấp nhỏ ngày hôm nay Cực và đồng bộ hóa bất thường suy thoái kinh tế toàn cầu cũng đã gây ra giảm mạnh trong giá dầu và hàng hóa, nguyên nhân có khả năng quan trọng thứ hai của những thay đổi trong FEERs Cuối cùng, suy thoái kinh tế toàn cầu sau chiến tranh nghiêm trọng nhất có thể thay đổi nhận thức của nhà đầu tư về triển vọng tăng trưởng tương đối lâu dài giữa các quốc gia

- Kefei You and Nicholas Sarantis (2012) “Structural Breaks and the

Equilibrium Real Effective Exchange Rate of China: A NATREX Approach” nghiên cứu tỷ giá hữu hiệu thực cân bằng của đồng CNY trong

thời kỳ hậu cải cách từ năm 1982 đến năm 2010 Mở rộng mô hình NATREX trong một số quan điểm quan trọng và áp dụng lần đầu tiên cho Trung Quốc Một loạt các biến số kinh tế quan trọng được tập hợp cho nền kinh tế Trung

Trang 31

Quốc được đưa vào mô hình Xây dựng một tập hợp các dữ liệu theo hàng quý

và sử dụng đơn vị gốc và kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết có thể được hạch toán vào sự phá vỡ cấu trúc nội sinh Ngoài ra để nắm bắt sự phát triển của cán cân thương mại nước ngoài của Trung Quốc, sử dụng thời gian khác nhau (trung bình 3 năm) của quy mô thương mại để xây dựng tỷ giá thực Tìm thấy hai sự phá vỡ cấu trúc trong các mối quan hệ đồng liên kết (năm 1988 và năm 1992) Hiệu quả của điều khoản thương mại, yếu tố nhân khẩu học, khó khăn thanh khoản và đầu tư của chính phủ là yếu tố quyết định quan trọng của tỷ giá hữu hiệu thực cân bằng Đồng CNY được định giá quá cao so với 14 loại tiền tệ cho đến giữa thập niên 1980 Trong thời gian từ năm 1986 đến năm

2010 đã bị định giá thấp nhất, ngoại trừ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á vào năm 1997 Bài nghiên cứu đã tìm thấy sự định giá thấp liên tục từ năm 2004 trở đi Tuy nhiên, mức độ sai lệch về tỷ giá thấp hơn so với báo cáo của các nghiên cứu trước và tỷ lệ định giá thấp hơn thực sự giảm mạnh trong năm 2008 Tỷ lệ định giá thấp tăng nhẹ trong năm 2009 và mạnh trong năm

2010, mặc dù vẫn còn thấp hơn so với những gì đã được đề xuất bởi các nghiên cứu khác

2.2.5 Mối quan hệ giữa TGHĐ thực hiệu lực và các yếu tố nền tảng của nền kinh tế

Kể từ khi Balassa (1964) và Samuelson (1964) cho rằng sự gia tăng trong khác biệt năng suất giữa hàng hóa thương mại và phi thương mại sẽ dẫn đến sự đánh giá cao tỷ giá hối đoái thực và các yếu tố kinh tế Như Edward (1994) và Elbadawi (1994) đã cho thấy càng mở cửa nền kinh tế thì tỷ giá hối đoái càng tăng lên Cũng về vấn đề này nhưng với cách tiếp cận và góc nhìn khác, Connolly và Devereux (1995), Fernandez (2006) và Miyajima (2007) thì lại cho thấy kết quả trái ngược, Edwards và Wijnbergen (1987), Ewadr (1988) cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hữu hiệu và các yếu

Trang 32

tố kinh tế cơ bản Các kết quả đã chứng minh tỷ lệ mậu dịch có ảnh hưởng đến REER thông qua 2 hiệu ứng trái ngược là hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh khi tài sản nước ngoài ròng (NFA) tăng lên thì REER sẽ giảm xuống thông qua các nghiên cứu

về cán cân thanh toán và cân đối tiền tệ Qua đó, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rõ ràng rằng các yếu tố kinh tế cơ bản có tác động đến REER

Nonlinear relationship betwwn the rate exchange and economic fundamentals – Evidence from China and Korea (Xiaolie Tang and Jizhong Zhou – 2013)

Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ phi tuyến tiềm năng giữa tỷ giá hối đoái thực của hai đồng tiền (đồng CNY và đồng Won) và những nhân tố kinh tế cơ bản bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý trong suốt giai đoạn từ quý

1 năm 1980 đến quý 4 năm 2009 Hai nhà nghiên cứu sử dụng thuật toán ACE

và kiểm định đồng liên kết ARDL để tìm hiểu mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và 5 biến đại diện cho nền kinh tế vĩ mô: tăng trưởng năng suất, tỷ lệ mậu dịch, tài sản nước ngoài ròng, sự mở cửa của nền kinh tế và chi tiêu của chính phủ

Kết quả: Kiểm tra đồng liên kết tỷ giá thực, tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực biến đổi (bằng thuật toán ACE) với các nhân tố kinh tế cơ bản

Trang 33

- Độ mở cửa của nền kinh tế (OPEN) có tác động nghịch biến đến REER ở phạm vi giá trị thấp và tác động đồng biến đối với REER ở phạm vi giá trị cao

- Tài sản ròng nước ngoài (NFA) có tác động đồng biến lên REER

- Chi tiêu chính phủ (GEXP) thường có xu hướng tác động nghịch biến lên REER

* Hàn Quốc:

+ Độ mở cửa của nền kinh tế (OPEN) có tác động nghịch biến mạnh đối với REER

+ TOT có tác động đồng biến đối với REER

+ Đối với hai biến PROD và NFA, biểu đồ đối với các biến chuyển đổi tương ứng là khá bất thường, phức tạp vì hướng có thể thay đổi theo thời gian

+ GEXP ở trường hợp này không có ý nghĩa

+ Kết quả cho thấy ngược lại với các mối quan hệ tuyến tính thông thường, độ co giãn của tỷ giá hối đoái thực đối với các nhân tố kinh tế cơ bản thay đổi qua thời gian theo một mối quan hệ phi tuyến

Đồng thời, để xem xét rõ hơn tác động của các biến kinh tế cơ bản đối với tỷ giá hối đoái thực, hai tác giả Xiaolie Tang and Jizhong Zhou tiến hành phân tích độ co giãn của REER đối với các biến trong mô hình

Kết quả phân tích độ co giãn:

Đối với CNY, /EREERx/ < /ENEERx/(x = PROD, OPEN, GEXP và NFA) nhưng /EREERtot / > /Eneertot / có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa CNY phản ứng mạnh mẽ hơn tỷ giá hối đoái thực khi có sự biến động của các yếu tố kinh tế ngoại trừ tỷ lệ mậu dịch

Tuy nhiên, có một chút khác biệt đối với KRW, tại Hàn Quốc: /EREERx/ > /ENEERx/(x = PROD, OPEN, TOT) nhưng / EREER NFA/ ≤ /

Trang 34

ENEER NFA/ và so với CNY, sự khác biệt giữa độ co giãn của REER và NEER là nhỏ hơn nhiều

Sau khi tổng hợp nhận thấy ở cả 2 đồng KRW và đồng CNY đều có trung bình độ lớn của độ co giãn NEER lớn hơn REER Điều này cho thấy trên giác độ tổng thể, tỷ giá hối đoái danh nghĩa phản ứng mạnh mẽ hơn so với tỷ giá hối đoái thực khi có sự biến động của các yếu tố kinh tế Việc này lý giải tại sao tỷ giá hối đoái danh nghĩa thường dễ biến động hơn so với tỷ giá hối đoái thực

Khi so sánh tổng E REERx và tổng E NEERx của CNY và KRW, hai tác giả Xiaolie Tang và Jizhong Zhou nhận thấy rằng tác động tổng thể của các yếu tố kinh tế đến tỷ giá hối đoái của CNY là mạnh mẽ hơn so với tỷ giá hối đoái KRW, điều này hỗ trợ cho quan điểm cho rằng trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn thì tỷ giá hối đoái thực có xu hướng ổn định hơn Các kết quả trên cho thấy rằng các sự phản ứng của tỷ giá hối đoái KRW và CNY là khác nhau Mặc dù cả hai đều có mối quan hệ phi tuyến với các yếu tố kinh tế

2.5.6 Nghiên cứu về điểm phá vỡ cấu trúc

Sources of real exchange rate fluctuations, Tao Wang-2004

Bài viết này nhìn lại sự phát triển của tỷ giá thực của Trung Quốc từ năm 1980 đến năm 2003 và sử dụng cấu trúc mô hình tự hồi quy có hướng để nghiên cứu tầm quan trọng tương đối của những cú sốc kinh tế vĩ mô đến biến động trong tỷ giá hối đoái thực từ năm 1985 đến năm 2003 Sự phân hủy cấu trúc cho thấy liên quan giữa nhu cầu thực tế và các cú sốc cung chiếm hầu hết các biến trong thay đổi tỷ giá hối đoái thực trong quá trình lập dự toán Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những cú sốc về cung ít nhất cũng quan trọng như cú sốc danh nghĩa về cầu được tính cho sự biến động tỷ giá hối đoái thực Ngược lại, các nghiên cứu cho thấy rằng các cú sốc danh nghĩa quan

Trang 35

trọng hơn trong việc giải thích sự biến động tỷ giá hối đoái thực tế ở các nước công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc gần đây tăng nhanh chóng và tăng cường tích lũy dự trữ ngoại hối đã tạo ra lợi ích đáng kể trong

mô hình các yếu tố quyết định (RMB) tỷ giá đồng CNY Phần lớn các tài liệu hiện có đã tập trung vào việc định giá tỷ giá hối đoái liên quan đến trạng thái cân bằng Chou và Shih (1998) ước tính tỷ giá cân bằng của đồng CNY giữa năm 1978 và năm 1994 sử dụng ngang giá sức mua (PPP) và phương pháp tiếp cận dựa trên giá ngầm của tỷ giá hối đoái và thấy rằng đồng CNY được định giá quá cao cho nhiều giai đoạn này Nhưng đến gần trạng thái cân bằng giữa các năm 1990 và 1994

Zhang (2001) ước tính những thay đổi tỷ giá hối đoái cân bằng giữa năm 1952 và năm 1997 bằng cách sử dụng một tập hợp các yếu tố quyết định

cơ bản của tỷ giá hối đoái thực tế thực sự Tỷ giá CNY được định giá quá cao trong khi hầu hết các giai đoạn lập dự toán nhưng đã tiến gần đến trạng thái cân bằng vào năm 1997 Gần đây, một số nhà quan sát và các nhà phân tích (ví dụ, Anderson, 2003) đã ước tính mô hình cân bằng một phần xoay quanh vào phương trình thương mại và thấy rằng đồng CNY hiện nay đang bị đánh giá thấp

Bài viết này góp phần vào các cuộc thảo luận hiện hành về tỷ giá CNY

từ một góc độ khác nhau Thay vì đánh giá tỷ giá hối đoái cân bằng, bài viết này cố gắng để đạt được cái nhìn sâu vào các yếu tố cơ bản thúc đẩy các biến

về tỷ giá thực tế trong hai thập kỷ qua Theo lý thuyết kinh tế (ví dụ, Balassa, 1964) và những kinh nghiệm của nhiều quốc gia, một nền kinh tế trải qua sự tăng trưởng nhanh bền vững trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, chẳng hạn như Trung Quốc, mong chờ một sự đánh giá cao của tỷ giá thực Tuy nhiên, nền kinh tế, chẳng hạn như Trung Quốc, thường bị ảnh hưởng bởi nhiều cú

Trang 36

sốc khác nhau diễn ra đồng thời, đặc biệt là khi đang trải qua giai đoạn thay đổi quan trọng Tìm hiểu về nguồn cơ bản của biến động CNY có thể giúp giải thích tại sao tỷ giá hối đoái thực mất giá mạnh trong thời gian bùng nổ của giữa những năm 1980 trong khi nó đánh giá cao trong suốt quá trình tăng sản lượng của những năm giữa thập niên 1990 và các tác nhân đứng đằng sau các biến động của tỷ giá hối đoái thực

Bài viết này xây dựng một cấu trúc mô hình tự hồi quy có hướng (VAR), theo Clarida và Gali (1994), để đánh giá tầm quan trọng tương đối của những cú sốc kinh tế vĩ mô khác nhau với những biến động trong tỷ giá hối đoái thực Ba loại cú sốc được xác định, mà trong khuôn khổ IS-LM truyền thống có thể được gọi là các cú sốc tổng cung, những cú sốc tổng nhu cầu và

cú sốc về cầu danh nghĩa (tức là những cú sốc ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ) Jin (2003) đã sử dụng một cách tiếp cận tương tự như được sử dụng trong bài báo này Ông đã kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực và hai liên quan trực tiếp khác biệt giữa các yếu tố quyết định lãi suất thực và dự trữ ngoại hối chính thức Phương pháp phân hủy cấu trúc sử dụng trong bài này có lợi ích của việc xác định những cú sốc kinh tế vĩ mô cơ bản đồng thời có thể ảnh hưởng đến các biến số như tỷ giá hối đoái thực và sự khác biệt giữa lãi suất

Sự phân hủy cấu trúc chỉ ra rằng nhu cầu thực tế và cú sốc về cung chiếm hầu hết các biến động về thay đổi của tỷ giá thực tế trong thời gian lập

dự toán, trong khi đó những cú sốc danh nghĩa là ít quan trọng Trong thời gian giữa những năm 1990 sự đóng góp của các cú sốc về nhu cầu thực tăng lên, một yếu tố quan trọng làm nền tảng cho sự đánh giá thực tế của đồng CNY Trong giai đoạn sau khủng hoảng Châu Á, các cú sốc cung và danh nghĩa là quan trọng không kém là yếu tố nhu cầu thực tế trong việc xác định biến động của tỷ giá hối đoái thực của đồng CNY Tất nhiên, những kết quả

Trang 37

này cần được diễn giải một cách thận trọng, do những thay đổi đáng kể có thể

đã xảy ra trong cấu trúc của nền kinh tế của Trung Quốc

Tests for cointegration allowing for an unknown number of breaks Daiki Maki (2012)

Thông thường mối quan hệ cân bằng giữa các biến số kinh tế được nghiên cứu bằng các kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc Mà các điểm gãy cấu trúc lại xuất hiện sau những thay đổi của chính sách, hành vi của các tác nhân kinh tế hoặc của các cú sốc Nó đã tác động đáng kể đến việc hoàn thành kiểm định đồng liên kết với việc sử dụng kiểm định đồng liên kết của Engle and Granger (1987) và Johansen (1988, 1991) và đã được nhấn mạnh bởi Gregory và cộng sự (1996) Cho nên những kiểm định đồng liên kết tiêu chuẩn không thể tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết dưới những điểm gãy

hệ thống Vì vậy để giải quyết những khuyết điểm này Gregory và Hansen (1996a,b) đã đề xuất kiểm định đồng liên kết có sử dụng những điểm gãy cấu trúc trong của các véc tơ đồng liên kết và rồi sau đó Hatemi-J (2008) mở rộng kiểm định của họ thành 2 điểm gãy để áp dụng kiểm định của họ cho các phân tích quá khứ của Vega (1998), Wu và Fountas (2000), Kasman (2008) và Hatemi-J và Roca (2012)

Song các nhà nghiên cứu lại không có các thông tin về những điểm gãy trước đó cho nên nếu số lượng điểm gãy là 2, thì kiểm định của Gregory và Hansen (1996a,b) (GH) sẽ không chính xác và có ý nghĩa thấp, tương tự như vậy nếu số lượng điểm gãy là 1 thì kiểm định của Hatemi-J (2008) (HJ) lại không thể chính xác Và như thế nếu số lượng điểm gãy từ 3 trở lên thì kiểm định GH và HJ lại có ý nghĩa thấp Do đó cần phải có mô hình kiểm định với

số lượng điểm gãy không giới hạn trong kiểm định đồng liên kết để có thể kiểm định tốt hơn trong tất cả các trường hợp như khi không có điểm gãy hoặc điểm gãy kép

Trang 38

Từ đó bài nghiên cứu đã giới thiệu kiểm định đồng liên kết với số lượng điểm gãy chưa xác định Kiểm định này được xây dựng như là một mô hình dựa vào phần dư với giả thiết rằng số lượng điểm gãy chưa xác định của véctơ đồng liên kết nhỏ hơn hoặc bằng số lượng điểm gãy tối đa Dựa vào kiểm định cho những điểm gãy hệ thống đã được đưa ra bởi Bai và Perron (1998) và kiểm định nghiệm đơn vị được phát triển bởi Kapetanios (2005) thì mô phỏng Monte Carlo trong bài đã cho thấy những kiểm định mới được giới thiệu tốt hơn so với kiểm định GH và HJ, điều này được thể hiện khi áp dụng kiểm định này cho cầu về tiền của Mỹ thì kiểm định mới được đưa ra đã loại bỏ các giả thiết vô hiệu của việc không có đồng liên kết bằng cách so sánh với kiểm định khác

Trang 39

CHƯƠNG III – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

3.1 Những điều cần biết về mô hình NATREX

3.1.1 Mô hình NATREX mở rộng

Mô hình về tỷ giá hối đoái thực tự nhiên hay còn được gọi là NATREX (Natural Real Exchange Rate) được Stein giới thiệu vào năm 1995 tỏ ra khá hiệu quả trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong điều kiện các yếu tố mang tính ngẫu nhiên và tuần hoàn có thể được loại bỏ tại mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

Các điều kiện cân bằng trong trung hạn xác định NATREX là sự cân bằng của cán cân thanh toán cơ bản và sự cân bằng danh mục đầu tư giữa việc nắm giữ tài sản bằng nội tệ và ngoại tệ

Trong dài hạn, các yếu tố kinh tế cơ bản như là sự biến đổi trong năng suất và sở thích theo thời gian tác động đến sự tăng lên của vốn và nợ nước ngoài thông qua đầu tư và tài khoản vãng lai Khi vốn và nợ nước ngoài đạt đến trạng thái dừng, lúc này mô hình NATREX trở thành hàm của các yếu tố kinh tế cơ bản

3.1.2 Các giả định của mô hình NATREX:

Mô hình của Stein được xây dựng xây dựng nhằm nghiên cứu sự cân bằng của đồng USD, do đó mô hình đã được thiết lập dựa trên những đặc trưng cơ bản của các quốc gia công nghiệp tiên tiến You và Sarantis đã kết hợp một số lượng lớn các yếu tố kinh tế cơ bản tương ứng với nền kinh tế ở Trung Quốc vào mô hình NATREX của Stein Đặc biệt, You và Sarantis mở rộng mô hình NATREX ban đầu theo 6 khía cạnh giả định quan trọng sau:

Thứ nhất, hai biến chính trong mô hình Stein là vốn trên mỗi lao động hiệu dụng và nợ nước ngoài trên mỗi lao động hiệu dụng Vì Trung Quốc là

Trang 40

chủ nợ ròng nên biến số thử hai (nợ nước ngoài trên mỗi lao động hiệu dụng)

sẽ đổi thành tài sản nước ngoài trên mỗi lao động hiệu dụng

Thứ hai, theo mô hình của Stein sở thích theo thời gian được xem như biến ngoại sinh Theo Modigliani and Cao (2004), sở thích theo thời gian như một biến nội sinh được xác định bởi yếu tố nhân khẩu học và hạn chế thanh khoản

Thứ ba, Stein (1995) đã sử dụng hệ số q Tobin trong các mô hình đầu tư của của mình nhưng hệ số q Tobin lại không thích hợp cho Trung Quốc theo lập luận của Song, Liu và Jaing (2001); He và Quin (2004) Vì thị trường tài chính ở Trung Quốc chỉ mới phát triển 15 năm trở lại đây, quy mô thị trường tương đối nhỏ và có những hạn chế giao dịch do chính phủ đưa ra Bên cạnh

đó mô hình Tobin có giả định về một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giả định này hoàn toàn không đúng ở Trung Quốc Do vậy mà You và Sarantis đã phân tích tổng đầu tư thành đầu tư tư nhân trong nước (DPI), đầu tư của chính phủ (GI), đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) đồng thời mô hình hóa cho mỗi loại hình đầu tư riêng biệt Từ đó mà có thể phân tích những tác động của các yếu

tố kinh tế cơ bản như: chi phí tương đối của mỗi đơn vị lao động, tỷ suất sinh lợi tương đối trên vốn… lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực

Thứ tư, thay vì sử dụng số liệu xấp xỉ về năng suất, You và Sarantis sử dụng hàm sản xuất y = y (K, TFP) có xét đến sự phá vỡ cấu trúc để suy ra năng suất các yếu tố tổng hợp Ngoài ra You và Sarantis cũng xem xét đến tốc

độ tăng trưởng GDP thực tương đối và GDP thực tương đối theo đầu người được điều chỉnh theo phương pháp PPP như 2 giải pháp thay thế để tính toán năng suất lao động được đưa ra bởi Chinn và Prasad (2003)

Thứ năm, ảnh hưởng của Trung Quốc đến tình hình mậu dịch thế giới vẫn bị giới hạn mặc dù tầm quan trọng của quốc gia này đã tăng lên tương đối, You và Sarantis xem tỷ lệ mậu dịch của Trung Quốc là biến ngoại sinh như

Ngày đăng: 09/08/2015, 01:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tóm tắt các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trước đây - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Bảng 2.1. Tóm tắt các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trước đây (Trang 18)
Hình 3.1: Đồ thị - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Hình 3.1 Đồ thị (Trang 47)
Bảng 4.1: Tổng hợp thống kê dữ liệu - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Bảng 4.1 Tổng hợp thống kê dữ liệu (Trang 55)
Hình 5.1: Biểu đồ so sánh REER và NATREX - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Hình 5.1 Biểu đồ so sánh REER và NATREX (Trang 70)
Hình 5.2: Phân tích biểu đồ REER và NATREX - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Hình 5.2 Phân tích biểu đồ REER và NATREX (Trang 71)
Hình 5.3: Chênh lệch của REER và NATREX - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
Hình 5.3 Chênh lệch của REER và NATREX (Trang 74)
Phụ lục 2: Bảng tỷ giá - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 2: Bảng tỷ giá (Trang 86)
Phụ lục 3: Bảng chỉ số giá Xuất Nhập Khẩu - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 3: Bảng chỉ số giá Xuất Nhập Khẩu (Trang 87)
Phụ lục 4: Bảng GDP giảm phát - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 4: Bảng GDP giảm phát (Trang 88)
Phụ lục 5: Bảng GDP (PPP) và GDP (PPP) bình quân đầu người - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 5: Bảng GDP (PPP) và GDP (PPP) bình quân đầu người (Trang 89)
Phụ lục 8: Bảng tính tỷ lệ phụ thuộc người già - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 8: Bảng tính tỷ lệ phụ thuộc người già (Trang 96)
Phụ lục 10: Bảng tổng hợp dữ liệu chưa lấy logarit tự nhiên. - ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP NATREX TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ THỰC CÓ HIỆU LỰC CỦA VN.PDF
h ụ lục 10: Bảng tổng hợp dữ liệu chưa lấy logarit tự nhiên (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w