Tôi xin cam đoan bằng công sức của mình đã viết bài luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại thàn
Trang 1-
PHẠM XUÂN CƯỜNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHUYNH HƯỚNG KÊ TOA THUỐC BIỆT DƯỢC GỐC CỦA CÁC BÁC SĨ NỘI KHOA TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2013
Trang 2-
PHẠM XUÂN CƯỜNG
CÁC YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHUYNH HƯỚNG
KÊ TOA THUỐC BIỆT DƯỢC GỐC CỦA BÁC SĨ NỘI KHOA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN ĐÔNG PHONG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Phạm Xuân Cường, học viên lớp cao học khóa 21, chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh của trường Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan bằng công sức của mình đã viết bài luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại thành phố Hồ Chí Minh”
Đề tài này là kết quả của bản thân trong việc nghiên cứu, phân tích, nhận định, đánh giá, tìm hiểu thực tế cũng như tham khảo từ các tài liệu có liên quan
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Phạm Xuân Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
TÓM TẮT LUẬN VĂN ix
CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
1.5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Thuốc biệt dược gốc 4
2.1.2 Thuốc generic 5
2.1.3 Bác sĩ nội khoa 5
2.1.4 Mô hình nhận thức ảnh hưởng đến hành vi 5
2.1.5 Các nghiên cứu đã được thực hiện về các yếu tố tác động 6
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 9
2.2.1 Các yếu tố về thuốc brand name 9
2.2.2 Các yếu tố về công ty dược 10
2.2.3 Các yếu tố về bác sĩ 12
2.2.4 Các giả thiết nghiên cứu 13
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 53.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 15
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO VÀ BẢNG CÂU HỎI 15
3.3 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ THU THẬP SỐ LIỆU 21
3.3.1 Thiết kế nghiên cứu 21
3.3.2 Thông tin về mẫu 21
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 21
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 24
4.2 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ THANG ĐO BẰNG CRONBACH’S ALPHA 25
4.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 29
4.3.1 Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 29
4.3.2 Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 33
4.4 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH HỒI QUY BỘI 35
4.4.1 Kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt 35
4.4.2 Phân tích hồi quy 36
4.4.3 Kiểm định các giả thiết 37
4.5 KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT VỀ MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ĐỘC LẬP THEO TỪNG ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN 39
4.5.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính bác sĩ 39
4.5.2 Kiểm định sự khác biệt theo loại hình bệnh viện 41
4.6 THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.6.1 Về sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng sử dụng thuốc brand name của bác sĩ 43
4.6.2 Về sự khác biệt mức độ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh Hướng sử dụng thuốc brand name của bác sĩ theo các đặc điểm cá nhân 45
Trang 6Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 KẾT LUẬN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 47
5.1.1 Những kết quả nghiên cứu được 47
5.1.2 Đóng góp của đề tài 48
5.2 MỘ SỐ KIẾN NGHỊ 48
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 49
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 49
5.3.2 Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 49
Tài liệu tham khảo 50 Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
C-A-B : Hành vi ảnh hưởng bởi nhận thức (Cognition – Affect – Behaviour) PSR : Trình dược viên (Pharmaceutical Sale Representative)
EFA : Phân tích nhân tố khám phá
KMO : Kaiser – Mayer - Olkin
AVE : Trung bình phương sai trích (Average Variance Extracted)
ANOVA : Phương pháp phân tích phương sai (Analysis of Variance)
CK I : Chuyên khoa I
CK II : Chuyên khoa II
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thang đo Giá cả thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.2 Thang đo Chất lượng thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.3 Thang đo Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.4 Thang đo Chương trình Marketing của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.5 Thang đo Sự chuyên nghiệp của PSR của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.6 Thang đo Nguồn tham khảo thuốc chuyên môn của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.7 Thang đo Chuẩn chủ quan của bác sĩ
Bảng 3.8 Thang đo Khuynh hướng sử dụng thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu
Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s alpha của thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc” trước khi loại biến DP2
Bảng 4.3 Kết quả Cronbac’s alpha của thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc” sau khi loại biến DP2
Bảng 4.4: Kết quả Cronbach’s alpha thang đo các thành phần yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng sử dụng thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
Bảng 4.5: Kết quả Cronbach’s alpha thang đo “Khuynh hướng sử dụng thuốc biệt dược gốc của bác sĩ”
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test các biến độc lập
Bảng 4.7 Kết quả ma trận xoay nhân tố lần 5
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test biến phụ thuộc
Bảng 4.9 Kết quả phân tích giá trị phân biệt
Bảng 4.10 Đánh giá độ phù hợp của mô hình theo R² và Durbin - Watson
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định ANOVA
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy theo phương pháp Enter
Trang 9Bảng 4.13 Kết quả kiểm định các giả thiết
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định sự khác biệt về mức độ đánh giá các yếu tố của bác sĩ theo giới tính
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định sự khác biệt về mức độ đánh giá các yếu tố của bác sĩ theo loại hình bệnh viện
Bảng 4.16 Thống kê mô tả yếu tố “chất lƣợng thuốc biệt dƣợc gốc”
Bảng 4.17 Thống kê mô tả yếu tố “Danh tiếng của công ty dƣợc sản xuất biệt dƣợc gốc”
Bảng 4.18 Thống kê lựa chọn của bác sĩ trên 3 biến quan sát PR1, PR3, CE3
Bảng 4.19 Bảng tổng hợp các kết quả kiểm định T-test
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình lựa chọn thuốc của Denig et al
Hình 2.2 Mô hình của Kareem et al (2011)
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu đã đƣợc hiệu chỉnh
Trang 11TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu được thực hiện nhằm: (1) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại TP.HCM; (2) Kiểm định mô hình các yếu tố tác động đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại TP.HCM
Trên cơ sở lý thuyết về vai trò của nhận thức ảnh hưởng đến hành vi và các nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kê toa của bác sĩ, nghiên cứu
đã khảo sát 107 bác sĩ nội khoa đang làm việc tại TP.HCM nhằm xác định các yếu
tố ảnh hưởng đế khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ nội khoa Phương pháp phân tích nhân tố được thực hiện trên tập hợp 25 biến quan sát ban đầu, đại diện cho 7 nhân tố Qua các bước phân tích độ tin cậy và xoay nhân tố, nghiên cứu đã loại bỏ 4 biến quan sát không phù hợp và điều chỉnh mô hình nghiên cứu còn lại 21 biến quan sát đại diện cho 6 nhân tố Đó là các nhân tố “Sự chuyên nghiệp trong marketing của công ty dược”, “Chất lượng thuốc biệt dược gốc”,
“Chuẩn chủ quan của bác sĩ”, “Nguồn tham khảo của bác sĩ”, “Giá cả của thuốc biệt dược gốc”, “Danh tiếng của công ty dược”
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy chỉ có 2 yếu tố: Sự chuyên nghiệp trong marketing của công ty dược và Nguồn tham khảo của bác sĩ có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ Để kiểm định sự khác biệt về mức độ đánh giá các nhân tố độc lập theo các đặc điểm cá nhân, tác giả kê toa phương pháp Independent Sample T-test để kiểm định sự khác biệt theo giới tính, loại hình bệnh viện công tác Nghiên cứu cho thấy: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ đánh giá sự chuyên nghiệp trong marketing, chất lượng thuốc, chuẩn chủ quan, danh tiếng công ty dược giữa các nhóm bác sĩ theo các đặc điểm cá nhân đã thực hiện Đồng thời, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ đánh giá nguồn tham khảo và giá thuốc giữa các nhóm bác sĩ khác nhau về giới tính, loại hình bệnh viện
Tóm lại, về mặt thực tiễn nghiên cứu giúp góp một phần tài liệu cho các nhà sản xuất và phân phối thuốc biệt dược gốc xác định được yếu tố chính tác động lên việc
Trang 12kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ Từ đó, các công ty dược phẩm sản xuất thuốc biệt dược gốc thực hiện các dự án nghiên cứu thị trường và xây dựng các giải pháp
để gia tăng sự ủng hộ của các bác sĩ đối với thuốc biệt dược gốc Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu tiếp theo về khuynh hướng kê toa thuốc của bác sĩ
Trang 13CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong 5 năm từ 2005 đến 2010, chi phí tiền mua thuốc của người bệnh ở nước ta đã tăng gần gấp đôi, đồng thời chiếm tỷ trọng tới 60 % tổng chi phí tiền khám chữa bệnh Vậy nhưng số tiền bỏ ra để mua các loại thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn, chưa đến 50%, lép vế so với thuốc ngoại và đa phần chỉ là những loại thuốc bổ trợ đơn giản Nhiều người bệnh, ngay cả các bác sĩ, lãnh đạo ngành y cũng thừa nhận việc dùng thuốc nội hay ngoại chủ yếu là do người kê đơn Số ít trường hợp tự đi mua thuốc nội thì cũng chỉ là để chữa các bệnh cảm, sốt thông thường Theo thống kê của ngành y tế, năm 2010, tổng số tiền mua thuốc của các bệnh viện công lập là 15.000 tỷ đồng, trong đó, chưa đến 39 % dành
để mua thuốc nội Đặc biệt ở các bệnh viện tuyến trung tương, số tiền mua thuốc nội chỉ chiếm 12% Nguyên nhân của tình trạng này theo nhiều chuyên gia là ở cả 3 phía: người bệnh, bác sĩ và các công ty dược (theo báo cáo của Bộ Y tế, 2011) Sau khi gia nhập WTO, thị trường dược phẩm Việt Nam đang mở rộng cửa cho các công ty dược đa quốc gia Theo lộ trình cam kết WTO của chính phủ, sau 5 năm mức thuế nhập khẩu trung bình sẽ phải giảm từ 5% xuống còn 2,5% tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty dược đa quốc gia Bên cạnh đó, với tâm lý thích sử dụng thuốc ngoại nhập của người dân, các công ty dược đa quốc gia đã có thể tăng mức lợi nhuận bán hàng đáng kể Ngoài ra các công ty dược đa quốc gia còn có lợi thế vượt trội về nguồn tài chính dồi dào và nền tảng kỹ thuật nghiên cứu và bào chế hiện đại càng gia tăng sự khác biệt về chất lượng và doanh số bán hàng giữa thuốc ngoại nhập và thuốc sản xuất trong nước
Do đó, các công ty dược đa quốc gia không ngừng đầu tư cho các nghiên cứu về thị trường dược phẩm Việt Nam cũng như nhận biết được các lý do bác sĩ kê toa thuốc ngoại nhập và thực tế trong việc kê toa thuốc biệt dược gốc, qua đó có thể đưa ra những chính sách phát triển kinh doanh phù hợp cho thị trường dược phẩm Việt
Nam, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh
Trang 14hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại thành phố Hồ Chí Minh” để góp phần tìm hiểu thị trường dược phẩm Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại thành phố Hồ Chí Minh và mức độ tác động của các yếu tố đó đến khuynh hướng
kê toa
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ nội khoa
- Khách thể nghiên cứu: bác sĩ đang khám chữa bệnh tại các bệnh viện nhà nước và
tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu này tập trung thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Thuốc biệt dược gốc: là thuốc được phát minh đầu tiên và được cấp bằng sáng chế Thuốc biệt dược gốc phải trải qua quá trình nghiên cứu và phát triển từ khâu nghiên cứu công thức hóa học, công thức bào chế cho đến khâu nghiên cứu lâm sàng trên người bệnh (theo Quyết định số 2962 của Bộ Y tế, 2012)
1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Với kết quả nghiên cứu này, các công ty dược đa quốc gia có thể đưa ra những chiến lược phát triển thuốc biệt dược gốc tại Việt Nam tốt hơn, đánh vào đúng nhu cầu thực sự của các bác sĩ nội khoa (là những người sử dụng thuốc thường xuyên trong các cơ sở y tế)
Trang 151.5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 57 trang, 33 bảng biểu, 7 hình và 3 Phụ lục Nội dung luận văn gồm
có 5 chương:
Chương 1: Phần mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích dữ liệu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Thuốc biệt dược gốc
Thông thường thuốc có ba tên: tên hóa học (chi tiết), tên gốc (ngắn gọn hơn) và tên thương mại (do nhà sản xuất đặt) Ví dụ: hoạt chất có tác dụng chống lại sự tăng huyết áp có tên hóa học là 2-[4-[[4-methyl-6-(1-methylbenzimidazol-2-yl)-2-propyl-benzimidazol-1-l]methyl]phenyl]benzoic acid, hay còn gọi là telmisartan (tên gốc) và có tên thương mại đang được biết đến nhiều nhất là Micardis (được sản xuất bởi công ty Boehringer Ingelheim – Đức)
Thuốc biệt dược gốc là thuốc được phát minh đầu tiên và được cấp bằng sáng chế Thuốc biệt dược gốc phải trải qua quá trình nghiên cứu và phát triển từ khâu nghiên cứu công thức hóa học, công thức bào chế cho đến khâu nghiên cứu lâm sàng trên người bệnh (theo Quyết định số 2962 của Bộ Y tế, 2012) Một thuốc mới thông thường mất khoảng 5 đến 7 năm cho nghiên cứu và các thử nghiệm lâm sàng, sau khi đạt các chỉ tiêu lâm sàng như mong muốn phải mất thêm 3 đến 4 năm để các cơ quan quản lý dược phẩm của các quốc gia chấp thuận cho phép lưu hành Do đó, một thuốc được cấp bằng phát minh sáng chế và được bảo hộ độc quyền có thời hạn thông thường từ 15 đến 20 năm (trong đó mất khoảng 10 năm cho nghiên cứu thử nghiệm và xin phép lưu hành), trong thời gian này người bệnh sẽ phải mua thuốc được bảo hộ với giá rất cao để trả cho những khoản đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm của công ty dược sản xuất ra thuốc đó
2.1.2 Thuốc generic
Khi hoạt chất trong thuốc biệt dược gốc hết thời gian bảo hộ độc quyền thì các công
ty sản xuất dược phẩm có quyền sản xuất thuốc chứa hoạt chất đó và tạo ra loại thuốc tương tự Thuốc generic là thuốc tương tự như thuốc biệt dược gốc về hàm lượng, đường sử dụng, hình dạng, tính chất dược dụng và mục đích điều trị Sự
Trang 17khác biệt rõ ràng nhất giữa thuốc generic và thuốc biệt dược gốc là giá tiền Thuốc generic luôn có giá rẻ hơn thuốc biệt dược gốc nhiều lần, nguyên nhân do các công
ty sản xuất thuốc biệt dược gốc phải thu lại những chi phí to lớn cho việc nghiên cứu phát minh và thử nghiệm để đưa ra thuốc biệt dược gốc
2.1.3 Bác sĩ nội khoa
Trong y khoa, khái niệm Nội khoa và Ngoại khoa không có nghĩa là khoa phòng đó chỉ khám bệnh bên trong hay bên ngoài cơ thể, mà là điều trị bệnh theo hai hướng khác nhau Bác sĩ nội khoa chủ yếu điều trị bằng thuốc, trong khi bác sĩ khoa ngoại chủ yếu điều trị bằng phẫu thuật (cũng có thể kê toa nhưng ít hơn bác sĩ nội khoa nhiều) Nói một cách đơn giản hơn: Ngoại khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến điều trị bệnh hoặc tổn thương bằng phẫu thuật Nội khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến việc chẩn đoán và điều trị không phẫu thuật các bệnh của cơ quan bên trong cơ thể, đặc biệt là ở người lớn (trẻ em dưới 15 tuổi thường khám trong chuyên ngành Nhi)
2.1.4 Mô hình nhận thức ảnh hưởng đến hành vi C-A-B Behaviour Paradigm)
(Cognition-Affect-Mô hình C-A-B là một mô hình lý thuyết tương tự như thuyết hành động hợp lý, nó
cố gắng giải thích hành vi của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhận thức như thế nào (Holbrooke & Batra, 1987) Mô hình này có thể giải thích được mối liên quan nguyên nhân – kết quả giữa nhận thức và hành vi của bác sĩ Những gì bác sĩ nghĩ
và tin tưởng về thuốc sẽ ảnh hưởng đến cảm nghĩ của họ như thế nào và có thể kiểm soát hành vi kê toa loại thuốc đó Những hành vi của bác sĩ khi kê toa thường có liên quan đến thái độ của họ đối với loại thuốc đó (Ernest Cyril & Mee-kon N Felix, 2006)
Về mặt tâm lý học thì thái độ đối với một vấn đề có ba kiểu biểu hiện là: biểu hiện kiểu nhận thức, biểu hiện kiểu bị ảnh hưởng, biểu hiện bằng hành vi (Schiffman & Kanuk, 2004) Theo mô hình C-A-B này, bác sĩ ban đầu được đánh giá nhận thức
về một số yếu tố của thuốc biệt dược gốc và thuốc generic thông qua những câu phát biểu về các yếu tố đó của thuốc biệt dược gốc và generic Sau đó từ những nhận thức của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc và generic sẽ tiếp tục khảo sát về cách
Trang 18mà họ kê toa hai loại thuốc biệt dược gốc và generic như thế nào Mô hình này được Ernest Cyril & Mee-kon N Felix (2006) áp dụng trên những bác sĩ tại Malaysia nghiên cứu về nhận thức của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
và những yếu tố ảnh hưởng lên việc kê toa của bác sĩ
2.1.5 Các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện về các yếu tố tác động lên việc kê toa thuốc của bác sĩ
Thuốc là một loại sản phẩm đặc biệt do cần phải có sự kê toa của các bác sĩ hoặc dược sĩ (trừ một số thuốc được bán tự do trong siêu thị hay các kênh mua bán thông thường) Người thầy thuốc là một dạng khách hàng có nhiều khác biệt với người tiêu dùng các sản phẩm thông thường nên ngoài các yếu tố như yếu tố văn hóa, xã hội, tâm lý, xu hướng lựa chọn thuốc điều trị của người thầy thuốc còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác
Những nghiên cứu về hành vi kê toa của bác sĩ thông thường đều có những kiểu mô hình giống như mô hình “giá trị mong đợi” (expectancy – value, theo Schumock et al., 2 0 0 4 ) và những yếu tố đặc trưng phản ánh về nhận thức và hiểu biết của bác sĩ trong quá trình kê toa Theo Schumock et al ( 2004), thì những giá trị mong đợi trong quá trình kê toa của bác sĩ như kết quả điều trị, mong muốn được tôn trọng, mong muốn được biết đến nhiều bởi các đồng nghiệp và bệnh nhân thường giải thích cho việc lựa chọn thuốc khi kê toa của bác sĩ
Denig et al (1988) đã có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng mô hình “lựa chọn thuốc” (drug choice model) trong đó có đề cập đến thái độ của bác sĩ (physician’s attitudes), những chuẩn chủ quan và kinh nghiệm của bác sĩ Mô hình này được thực hiện tại Hà Lan trong việc điều trị hội chứng ruột kích thích và đau liên quan đến thận, kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối tương quan giữa việc lựa chọn thuốc với thái độ của bác sĩ, những yếu tố đặc trưng và kinh nghiệm của bác
sĩ Kết quả nghiên cứu còn cho thấy trong một vài lĩnh vực chuyên sâu, bác sĩ luôn cân nhắc kỹ càng về ưu và nhược điểm khác nhau của những giá trị mong đợi trước khi lựa chọn một loại thuốc Ngoài ra, trong nghiên cứu này những yếu tố tác động khác như yêu cầu của bệnh nhân về thuốc gần như không đáng kể
Trang 19Hình 2.1 Mô hình lựa chọn thuốc của Denig et al
Sau nghiên cứu của Denig et al (1988) đã có không ít nghiên cứu trên thế giới cho thấy những yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến việc kê toa của bác sĩ: các yếu tố về bệnh nhân như khả năng chi trả của bệnh nhân, tình trạng bệnh của bệnh nhân (Robert E Howard, 1997; Ernest Cyril & Mee-kon N Felix, 2006), yếu tố thuộc về bác sĩ như rủi ro y đức, mức độ cập nhật thông tin y khoa của bác sĩ (Judith K Hellerstein, 1994; Robert E Howard, 1997; Kareem et al, 2011), yếu tố đặc điểm của thuốc như giá cả của thuốc, chất lượng của thuốc (Ernest Cyril & Mee-kon N Felix, 2006; Zolaly & Hafany, 2011; Kareem et al, 2011), các tác động từ các công
ty dược phẩm như danh tiếng của công ty dược, chương trình marketing, trình dược viên (Ernest Cyril & Mee-kon N Felix, 2006; Kareem et al, 2011; Nadrendran & Naredranathan, 2013)
Kinh nghiệm
đúc kết được Thái độ khi kê toa thuốc
Chuẩn chủ quan của bác sĩ
Mong đợi và giá
Mong đợi và giá trị từ
sự chuyên nghiệp của bác sĩ và yêu cầu của bệnh nhân
-Hiệu quả -Tác dụng phụ -Sự tuân thủ -Chi phí điều trị
-Đồng nghiệp -Chuyên gia -Dược sĩ -Bệnh nhân
Lựa chọn thuốc
Trang 20Trong nghiên cứu của Kareem et al (2011) về hành vi kê toa của bác sĩ được thực hiện tại Ấn Độ đưa ra mô hình gồm bảy yếu tố dựa theo những nghiên cứu trước đó của Dey et al (1999), Abratte & Lanteigne (2000), Wight & Lundstrom (2004) (trích trong Kareem et al (2011)): sự chuyên nghiệp của trình dược viên, sự thân thiện của của trình dược viên, sự tương đồng của trình dược viên với bác sĩ, chất lượng của thuốc, danh tiếng của công ty dược, những quà tặng hữu hình (bao gồm những quà tặng có giá trị và thuốc mẫu), những ảnh hưởng chuyên môn (từ các bác
sĩ đầu ngành hay đồng nghiệp) được mô tả trong Hình 2.4
Hình 2.2 Mô hình của Kareem et al (2011)
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy chỉ có hai yếu tố là sự chuyên nghiệp của trình dược viên và những quà tặng hữu hình là có tác động có ý nghĩa thống kê đến sự kê toa trung thành của bác sĩ đối với một loại thuốc nào đó Tuy nhiên các tác giả này cũng đưa ra nhận xét so sánh với nghiên cứu trước đó của Denig et al (1988) kết luận chất lượng của thuốc có tác động có ý nghĩa thống kê lên việc lựa chọn thuốc của bác sĩ, trong nghiên cứu này chất lượng thuốc không có ảnh hưởng có ý nghĩa
Sự trung thành kê toa
Sự chuyên nghiệp của PSR
Tính cách của PSR
Ảnh hưởng
chuyên môn
Chất lượng thuốc Danh tiếng công ty dược
Tính cách của PSR
Trang 21thống kê đến sự kê toa của bác sĩ là do trong nhận thức của bác sĩ, chất lượng thuốc
có lẽ là một yếu tố tương tự (point of parity factor) giữa các công ty dược lớn Tương tự như vậy, yếu tố tính cách của trình dược viên và danh tiếng của công ty dược cũng được các tác giả giải thích là một yếu tố tương tự giữa các công ty dược Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ (71 bác sĩ) và phương pháp lấy mẫu thuận tiện nên các tác giả đề nghị thực hiện lại trên cỡ mẫu lớn hơn và dùng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hơn
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Trên cơ sở nền tảng là mô hình C-A-B và những mô hình trong các nghiên cứu trước có đề cập đến việc kê toa thuốc (Hellerstein , 1994; Robert E Howard, 1997; Kareem et al., 2011) và nhận thức của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc (Cyril & Mee-kon N Felix, 2006), ảnh hưởng của chương trình marketing đến việc kê toa của bác
sĩ (Nadrendran & Naredranathan, 2013) và một số nghiên cứu khác Nghiên cứu đề xuất ba nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ là:
2.2.1 Các yếu tố về thuốc biệt dƣợc gốc
2.2.1.1 Giá cả thuốc biệt dược gốc
Theo nghiên cứu của Robert E Howard (1997) thì đối với bệnh nhân tự chi trả thì giá thuốc ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên việc lựa chọn thuốc generic thay cho thuốc biệt dược gốc của bác sĩ, tuy nhiên đối với những bệnh nhân có mua bảo hiểm thì dường như giá thuốc không có ảnh hưởng đến việc chọn thuốc generic hay thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ Kết luận này đối nghịch lại với kết luận của nghiên cứu trước đó của Hellerstein (1994) là đối với bệnh nhân có mua bảo hiểm y tế quốc gia thì bác sĩ có khuynh hướng kê toa thuốc generic cho bệnh nhân vì giá thuốc rẻ hơn Điểm giới hạn trong nghiên cứu của Robert E Howard là chỉ nghiên cứu trên việc kê toa thuốc kháng sinh cho bệnh nhân Vakratsas and Kalyanaram (2011) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, bác sĩ sẽ sử dụng một thuốc nào đó với tần suất
ít hơn nếu thuốc đó giá cao và có thuốc generic thay thế
Theo nghiên cứu của Ernest Cyril & Mee-kon N Felix (2006) đánh giá nhận thức của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc và generic được thực hiện trên các bác sĩ Malaysia thì giá thuốc generic rẻ hơn, tiết kiệm chi phí điều trị và phù hợp với thu
Trang 22nhập của người dân tại Malaysia Trong nghiên cứu này thì biến giá thuốc biệt dược gốc nằm trong nhân tố “R&D” khi các tác giả thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), còn đối với thuốc generic thì sau khi thực hiện EFA các biến liên quan đến giá thuốc nằm trong nhân tố “Cheap price” Ngoài ra, trong nghiên cứu này còn cho thấy yếu tố “Patient use and Cost” có ảnh hưởng đến việc kê toa của bác sĩ
2.2.1.2 Chất lượng của thuốc biệt dược gốc
Mặc dù nghiên cứu của Kareem et al (2011) cho thấy yếu tố chất lượng thuốc ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến việc kê toa của bác sĩ nhưng những nghiên cứu trước đó của Denig et al (1988), Gonul et al (2001) lại chỉ ra rằng yếu tố chất lượng thuốc là yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thuốc của bác sĩ và 53,8 % số người được hỏi cho rằng thuốc generic có rủi ro cao hơn trong điều trị so với thuốc biệt dược gốc dù có chi phí điều trị thấp hơn Do đó, trong nghiên cứu này, yếu tố chất lượng thuốc tiếp tục được đưa vào trong mô hình nghiên cứu
2.2.2 Các yếu tố về công ty dƣợc
2.2.2.1 Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Trong nghiên cứu của Ernest Cyril & Mee-kon N Felix (2006), trong phần nhận thức của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc, có một yếu tố “big pro” chứa những biến như “thuốc được sản xuất bởi các công ty dược lớn”, “được sử dụng ở nhiều nước”,
“có kinh nghiệm sử dụng nhiều”, “được chấp nhận toàn cầu”
Trong nghiên cứu của Kareem et al (2011), yếu tố “danh tiếng của công ty dược”
có các biến “tôi tin tưởng công ty dược này”, “tôi cảm giác tốt về công ty dược này”, “tôi tôn trọng công ty dược này” Mặc dù yếu tố này sau đó được kết luận là ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê nhưng trong nghiên cứu này vẫn đưa vào khảo sát vì các tác giả Kareem et al cho rằng cần phải quan sát trên cỡ mẫu lớn hơn
để khẳng định lại
2.2.2.2 Những chương trình marketing cho thuốc biệt dược gốc
Trong vài năm qua, mối quan hệ giữa bác sĩ và các công ty dược phẩm đã nhận được sự chú ý đáng kể Tiếp thị dược phẩm (pharmaceutical marketing) khác với các loại tiếp thị khác bởi vì đối tượng mục tiêu của công ty dược phẩm không phải
là người tiêu dùng (tức là bệnh nhân) mà các bác sĩ kê đơn các loại thuốc mới là những đối tượng mục tiêu của công ty dược phẩm (Campbell et al., 2007) Các bác
Trang 23sĩ được công nhận quyền kê toa cho bệnh nhân của họ và đơn thuốc được xem là y lệnh đối với bệnh nhân của họ Do đó, mối quan hệ giữa bác sĩ và các công ty dược phẩm có thể tạo ra một cuộc xung đột giữa rủi ro đạo đức của bác sĩ và lợi ích tài chính của họ Các hình thức tiếp thị sản phẩm của các công ty dược phẩm đa quốc gia như quà tặng hữu hình, bữa ăn trưa miễn phí, tài trợ giáo dục và các chuyến tham dự hội thảo ở ngoài nước cũng như trong nước đều bị chỉ trích giống như sự cam kết ngầm mà buộc một bác sĩ kê đơn mà có thể không có cơ sở khoa học (Nadrendran & Naredranathan, 2013) Một nghiên cứu từ Canada cho thấy sự kết hợp với các hoạt động tiếp thị dược phẩm dẫn đến việc ít hơn hành vi kê đơn hợp lý của bác sĩ (Gonul et al., 2001) Tuy nhiên, nhiều bác sĩ khác không có cảm giác họ
bị ảnh hưởng bởi những món quà và ưu đãi khác được cung cấp bởi các công ty dược phẩm (Gonul et al., 2001)
Hiện nay, tại Việt Nam, với sự canh tranh gay gắt từ các công ty dược trong nước, các công ty dược phẩm đa quốc gia đã thành lập nhóm những công ty dược đa quốc gia (Pharma Group với 20 công ty có thị phần lớn nhất tại Việt Nam) tại Việt Nam
và đưa ra những luật trong hoạt động giới thiệu thuốc (Pharma Group Code) nhằm cạnh tranh lành mạnh, giữ uy tín và hình ảnh của các công ty dược đa quốc gia Theo đó, những quà tặng có giá trị bị giới hạn dưới 100.000 đồng và phải mang tính giáo dục y khoa, các chuyến đi hội thảo tại nước ngoài bị giới hạn số ngày ở tại nước sở tại không quá 24 giờ trước và sau khi kết thúc hội thảo
2.2.2.3 Sự chuyên nghiệp của trình dược viên (PSR) thuốc biệt dược gốc
Trong nghiên cứu của Ernest Cyril & Mee-kon N Felix (2006), trong phần các yếu
tố có ảnh hưởng đến việc kê toa của bác sĩ, có một yếu tố “Personal & Rep” chứa những biến như “tác động của trình dược viên”, “thông tin y khoa từ trình dược viên”, “kê toa theo thói quen của bác sĩ”
Trong nghiên cứu của Kareem et al (2011), yếu tố “sự chuyên nghiệp của trình dược viên” có các biến quan sát “Người trình dược viên giới thiệu những thông tin
về ca lâm sàng giúp tôi có lựa sự chọn thuốc tốt hơn”, “Trình dược viên luôn thể hiện sự chuyên nghiệp trong giao tiếp với tôi”, “Người trình dược viên có những sở thích tương tự như tôi”
Trang 24Tại Việt Nam, các công ty dược phẩm đa quốc gia tuyển PSR đều có yêu cầu tốt nghiệp đại học chính quy với mục tiêu đem lại hình ảnh chuyên nghiệp của nhân viên công ty, có kiến thức tốt và bài bản về sản phẩm, huấn luyện kỹ năng giới thiệu thuốc chuyên nghiệp đến bác sĩ
2.2.3 Các yếu tố về bác sĩ
2.2.3.1 Nguồn tham khảo chuyên môn cho bác sĩ về thuốc biệt dược gốc
Theo Kareem et al (2011), thông thường, hầu hết các bác sĩ tham dự hội nghị, hội thảo để được nghe những khuyến cáo kê đơn thuốc của một vài thuốc cụ thể từ các chuyên gia trong lĩnh vực đó Các bác sĩ cũng gặp đồng nghiệp của họ và tương tác với đồng nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm điều trị của họ Hơn nữa, bác sĩ có thể nghe
và xem những tình huống lâm sàng (case study) từ những vị chuyên gia đầu ngành này có liên quan đến thuốc của những công ty tổ chức hội thảo Những lời khuyến cáo này có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi kê toa của bác sĩ Bác sĩ cũng có thể tin rằng một phương pháp điều trị thành công - dựa trên kinh nghiệm của các bác sĩ khác - cũng có thể áp dụng cho phương pháp điều trị của họ Nair et al (2010) đã định lượng tác động của tương tác chuyên môn giữa đồng nghiệp và trong môi trường ngành ảnh hưởng đến sự lựa chọn theo toa bác sĩ và tìm thấy rằng hành vi kê toa bị ảnh hưởng đáng kể bởi các hành vi kê toa của các chuyên gia đầu ngành, hoặc "nhà lãnh đạo" (opinion leader) trong nhóm tham khảo của bác sĩ
2.2.3.2 Chuẩn chủ quan của bác sĩ
Trong nghiên cứu của Denig et al (1988), khi phân tích hồi quy đa biến cho thấy thái độ của bác sĩ, chuẩn chủ quan và kinh nghiệm riêng của bác sĩ giải thích 47%
lý do bác sĩ kê toa một loại thuốc nào đó (R2 =0.47) Thái độ của bác sĩ dựa trên những mong đợi về kết quả điều trị và hiệu quả điều trị có vượt trội so với tác dụng phụ của thuốc hay không Đồng thời, các tác giả đồng ý rằng những kinh nghiệm riêng và quan niệm chủ quan của bác sĩ là những nhân tố dự đoán có ý nghĩa thống
kê về lựa chọn thuốc trong điều trị Trong một nghiên cứu khác của Luminita Mihaela Ion (2013), ngoài những yếu tố như chất lượng của thuốc, giá thuốc, hình ảnh của công ty dược, tần suất viếng thăm của PSR thì có một yếu tố không kém
Trang 25quan trọng ảnh hưởng đến động cơ kê toa của bác sĩ (prescription motivation) là bác
sĩ sử dụng một thuốc nào đó là để làm tăng độ danh tiếng của bác sĩ (reputation)
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Đề xuất của tác giả
2.2.4 Các giả thiết nghiên cứu
Trên cơ sở 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định kê toa thuốc biệt dược gốc với 25 biến quan sát đề xuất trong mô hình nghiên cứu, có 7 giả thiết được đưa ra như sau
Giả thiết H1: Giá cả của thuốc biệt dược gốc có tác động ngược chiều đến khuynh
hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Giả thiết H2: Chất lượng của thuốc biệt dược gốc có tác động cùng chiều đến
khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Khuynh hướng
kê toa thuốc biệt dược gốc
Chất lượng thuốc biệt dược gốc
Giá cả thuốc biệt dược gốc
Sự chuyên nghiệp của PSR
Chuẩn chủ quan của bác
sĩ
Trang 26Giả thiết H3: Danh tiếng của các công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc có tác
động cùng chiều đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Giả thiết H4: Các chương trình marketing của các công ty dược sản xuất thuốc
biệt dược gốc có tác động cùng chiều đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Giả thiết H5: Sự chuyên nghiệp của PSR công ty dược sản xuất thuốc biệt dược
gốc có tác động cùng chiều đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Giả thiết H6: Nguồn tham khảo chuyên môn về thuốc biệt dược gốc có tác động
cùng chiều đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Giả thiết H7: Chuẩn chủ quan của các bác sĩ về thuốc biệt dược gốc có tác động
cùng chiều đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ
Trang 27CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu cho đề tài này được trong Hình 3.1
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO VÀ BẢNG CÂU HỎI
Các thang đo được xây dựng và phát triển từ cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước Trước khi hình thành thang đo chính thức cho các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu định tính đã được thực hiện thông qua thảo luận nhóm nhằm vừa để khám phá, vừa để khẳng định định các đối tượng được phỏng vấn hiểu rõ được nội
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Nghiên cứu định tính Bảng hỏi khảo sát sơ bộ Điều tra sơ bộ
Điều chỉnh bảng câu hỏi sơ bộ Bảng hỏi khảo sát chính thức Khảo sát chính thức
Kiểm định thang đo bằng Cronbach’s alpha Phân tích độ tin cậy
Phân tích nhân tố (EFA)
Kiểm định giả thiết nghiên cứu
Kết luận
Phân tích hồi quy
Trang 28dung các khái niệm và ý nghĩa của từ ngữ, điều chỉnh, bổ sung các nhân tố cấu thành yếu tố ảnh hưởng tới khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ thời phát triển thang đo những nhân tố này Nhóm thảo luận gồm có 12 bác sĩ thuộc các khoa khác nhau của bệnh viện Quận Bình Thạnh Kết quả nghiên cứu như sau:
- Qua thảo luận, tất cả thành viên của nhóm thảo luận đều thống nhất thay thuật ngữ
“thuốc biệt dược gốc” thành thuốc “brand name” Vì các bác sĩ cho rằng thuật ngữ thuốc “brand name” được sử dụng rộng rãi trong giới chuyên môn dùng để chỉ thuốc được các công ty dược lớn sản xuất và có đăng ký bản quyền, còn thuật ngữ thuốc “biệt dược gốc” chỉ là thuật ngữ trong văn bản của Bộ Y tế về các quy định đấu thầu thuốc Tuy nhiên trong phần phụ lục của đề tài này, bảng câu hỏi phỏng vấn sẽ vẫn sử dụng khái niệm “biệt dược gốc” để cho đồng nhất khái niệm nghiên cứu
- Qua thảo luận cho thấy, yếu tố “yêu cầu của bệnh nhân” và “Quà tặng giá trị” được các bác sĩ xếp vào nhóm yếu tố ít ảnh hưởng nhất do việc kê toa thuốc nào là tùy vào bệnh cảnh và những lợi ích cho bệnh nhân và phù hợp với bệnh viện cũng như bác sĩ điều trị Các bác sĩ cho rằng những quà tặng hiện nay của các công ty dược chỉ là những vật dụng có giá trị thấp, chỉ là vật dụng cho người trình dược viên khi bắt đầu cuộc nói chuyện với bác sĩ về thuốc của họ như viết, ba lô, chuột vi tính, nước rửa tay,…
- Ngoài ra, nhóm thảo luận còn đồng ý rằng tùy theo các đặc điểm cá nhân như số năm kinh nghiệm, học vị, hay bệnh viện đang công tác sẽ có ảnh hưởng đến việc kê toa thuốc của các bác sĩ Khi làm các câu hỏi nên hỏi ngắn gọn và dễ hiểu vì các bác
sĩ rất ít thời gian để đọc và trả lời những phiếu khảo sát như vậy
- Dựa vào kết quả thảo luận nhóm, tác giả đã hiệu chỉnh bổ sung các thành phần cấu thành yếu tố ảnh hưởng tới khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc đồng thời phát triển thành thang đo sơ bộ Thang đo sơ bộ các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ được tác giả phát triển dựa trên cơ
sở kết quả thảo luận nhóm, kết hợp tham khảo các thang đo của các nghiên cứu trước
Trang 29Thang đo sơ bộ được phát triển dưới hình thức thang đo Likert 5 bậc (1 là hoàn toàn không đồng ý và 5 là hoàn toàn đồng ý) như sau: hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý một phần, không có ý kiến, đồng ý một phần, hoàn toàn đồng ý Việc sử dụng thang đo này thường được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế xã hội vì các vấn
đề trong kinh tế xã hội đều mang tính đa khía cạnh
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất ở Hình 2.5, nghiên cứu tiến hành xây dựng thang đo cho từng yếu tố ảnh hưởng
3.2.1.1 Yếu tố giá cả thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.1 Thang đo Giá cả thuốc biệt dược gốc
Mã Thang đo Nguồn tham khảo
DP1 Tôi nghĩ giá cả thuốc biệt dược gốc ở Việt Nam là rõ
ràng và phù hợp
Gonul et al (2001), Ernest Cyril & Mee-kon
N Felix (2006), Lalit Kumar Sharma (2012), Vakarasas &
Kayalnaram (2011), Luminita Mihaela Ion (2013)
DP2 Giá cả của thuốc biệt dược gốc ở Việt Nam không cao
hơn bao nhiêu so với thuốc generic
DP3 Giá cả của thuốc biệt dược gốc là thỏa đáng với giá trị
của nó đem lại cho bệnh nhân của tôi
DP4 Giá cả của thuốc biệt dược gốc phù hợp với khả năng
chi trả của bệnh nhân của tôi
3.2.1.2 Yếu tố chất lượng thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.2 Thang đo Chất lượng thuốc biệt dược gốc
Mã Thang đo Nguồn tham khảo
DQ1 Hiệu quả điều trị của thuốc biệt dược gốc đã được chứng
minh bằng các nghiên cứu lâm sàng
Ernest Cyril & kon N Felix (2006), Lalit Kumar Sharma (2012), Kareem et al (2011)
Mee-DQ2 Hiệu quả điều trị của thuốc biệt dược gốc có thể dự đoán
Trang 303.2.1.3 Yếu tố Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.3 Thang đo Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Mã Thang đo Nguồn tham khảo
CR1 Các thuốc biệt dược gốc được chấp nhận sử dụng hầu hết
nhiều nước phát triển trên thế giới
Ernest Cyril & kon N Felix (2006), Lalit Kumar Sharma (2012) , Kareem et al (2011)
Mee-CR2 Các thuốc biệt dược gốc là thuốc gốc, có bằng phát minh
sáng chế nên đáng tin cậy hơn
CR3 Thuốc biệt dược gốc được sản xuất bởi các công ty dược
có danh tiếng
3.2.1.4 Yếu tố Chương trình Marketing của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.4 Thang đo Chương trình Marketing của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược
gốc
Mã Thang đo Nguồn tham khảo
CM1 Các buổi hội thảo, hội nghị của các công ty dược mang
lại thông tin bổ ích cho tôi
Gonul et al (2001), Nadrendran &
Naredranathan (2013),
Luminita Mihaela Ion
(2013)
CM2 Các công ty dược có nhiều chương trình hỗ trợ bác sĩ
tham dự hội thảo trong và ngoài nước
CM3 Những câu slogan trên tờ brochure của thuốc biệt dược
gốc giúp bác sĩ dễ dàng nhớ các chỉ định của thuốc biệt
dược gốc
CM4 Các công ty dược sản xuất biệt dược gốc sẵn sàng cung
cấp nhiều tài liệu y khoa bổ ích cho tôi
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 313.2.1.5 Yếu tố Sự chuyên nghiệp của PSR của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.5 Thang đo Sự chuyên nghiệp của PSR của công ty dược sản xuất thuốc biệt
dược gốc
CE1 Trình dược viên thuốc biệt dược gốc thực hiện cuộc
trình dược hay và chuyên nghiệp hơn so với người giới
thiệu thuốc generic
Ernest Cyril & kon N Felix (2006), Lalit Kumar Sharma (2012), Kareem et
Mee-al (2011)
CE2 Trình dược viên thuốc biệt dược gốc đem lại nhiều
thông tin y khoa cho bác sĩ hơn
CE3 Trình dược viên thuốc biệt dược gốc có kiến thức
chuyên môn tốt
CE4 Trình dược viên thuốc biệt dược gốc có cách tiếp xúc và
gặp gỡ bác sĩ chuyên nghiệp và luôn giữ uy tín với bác sĩ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.1.6 Yếu tố Nguồn tham khảo thuốc chuyên môn của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc
Bảng 3.6 Thang đo Nguồn tham khảo thuốc chuyên môn của bác sĩ về thuốc biệt dược
gốc
RE1 Những kinh nghiệm kê toa thuốc biệt dược gốc từ
các bác sĩ đầu ngành hay bác sĩ trưởng khoa là
những thông tin bổ ích cho tôi
Kareem et al (2011)
RE2 Những kinh nghiệm kê toa thuốc biệt dược gốc từ
các bác sĩ đầu ngành hay bác sĩ trưởng khoa là
những thông tin đáng tin cậy cho tôi
RE3 Những kinh nghiệm kê toa thuốc biệt dược gốc từ
các bác sĩ đầu ngành hay bác sĩ trưởng khoa giúp tôi
kê toa thuốc biệt dược gốc tốt hơn cho bệnh nhân
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 323.2.1.7 Yếu tố Chuẩn chủ quan của bác sĩ
Bảng 3.7 Thang đo Chuẩn chủ quan của bác sĩ
PR1 Bác sĩ cảm thấy an tâm hơn khi kê toa thuốc biệt
dược gốc trong điều trị
Denig et al (1988), Ernest Cyril & Mee- kon N Felix (2006) PR2 Bác sĩ kê toa thuốc biệt dược gốc vì bác sĩ đã quen
sử dụng thuốc biệt dược gốc hơn generic
PR3 Bác sĩ sử dụng biệt dược gốc vì thuốc có thể tăng uy
tín của bác sĩ với bệnh nhân
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.1.8 Thang đo khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
Thang đo khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Kareem et al (2011) và những thang đo có tính chất tương
tự trong các nghiên cứu về khuynh hướng, ý định hay quyết định mua sắm đã được thực hiện trước đây bằng nhiều câu hỏi nhận định khác nhau về hành vi của người được khảo sát
Bảng 3.8 Thang đo Khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
IU1 Bác sĩ cảm thấy hài lòng và sẽ tiếp tục kê toa thuốc
biệt dược gốc cho những bệnh nhân của bác sĩ
Kareem et al (2011)
và đề xuất của tác giả
IU2 Bác sĩ sẵn lòng chia sẽ kinh nghiệm kê toa thuốc
biệt dược gốc cho những bác sĩ khác
IU3 Thuốc biệt dược gốc đóng vai trò quan trọng trong
việc điều trị của bác sĩ
IU4 Bác sĩ sẽ cân nhắc kê toa thuốc biệt dược gốc nhiều
hơn trong tương lai
Trang 333.3 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ THU THẬP SỐ LIỆU
3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu này được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, với phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất
Đối tượng khảo sát là các bác sĩ đang công tác khám chữa bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc các chuyên khoa nội như nội tổng quát, nội tim mạch, nội tiêu hóa,…
Kích thước mẫu: Kích thước mẫu bao nhiêu là tối ưu phụ thuộc vào kỳ vọng về độ tin cậy, phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp ước lượng các tham số cần ước lượng và quy luật phân phối của tập các lựa chọn trả lời của đáp viên Trong phân tích EFA, Hair et al (2006) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là trên 100 và tỉ lệ quan sát/ biến đo lường là 5:1 (Hair et al (2006), trích trong Nguyễn Đình Thọ (2011)) Trong mô hình hồi quy bội, kích thước mẫu như sau:
n ≥ 50 + 8p Trong đó, n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết và p là số lượng biến độc lập trong
mô hình Green (1991) cho rằng công thức trên tương đối phù hợp nếu p < 7
Cách lấy mẫu: Khảo sát được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn các bác sĩ bằng bảng câu hỏi chi tiết Bảng câu hỏi được gửi đến người được khảo sát dưới hai hình thức là phỏng vấn trực tiếp bằng câu hỏi giấy hay thông qua Forms Google-docs được gửi đường dẫn cho người khảo sát bằng email
3.3.2 Thông tin về mẫu
Với thời gian có hạn và việc gặp được bác sĩ chịu phỏng vấn là khó khăn nên chỉ thu thập được 107 bảng trả lời đầy đủ (gồm 82 bảng trả lời bằng giấy và 25 bảng trả lời qua email)
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Mức ý nghĩa thống kê alpha trong phương pháp phân tích dữ liệu này là 0.05 (alpha
= 0.05) Số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và XLSTAT
2013 Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện qua các giai đoạn như sau
Trang 343.3.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
Một thang đo được coi là có giá trị khi nó đo lường đúng cái cần đo, có ý nghĩa là phương pháp đo lường đó không có sai lệch mang tính hệ thống và sai lệch ngẫu nhiên Điều kiện đầu tiên cần phải có thang đo áp dụng phải đạt độ tin cậy Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi Cronbach alpha từ 0.8 trở lên đến gần 1 thì thang
đo lường là tốt, từ 0.7 đến gần 0.8 là sử dụng được Cũng có nhiều nhà nghiên cứu
đề nghị rằng Cronbach alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang đo lường là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Nunnally và Burnstein,1994 trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2011) Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định sử dụng tiêu chuẩn Cronbach alpha nhỏ hơn hoặc bằng 0.6 và các biến quan sát hệ số tương quan biến tổng (Corrected item- total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại
3.3.3.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis)
Phân tích nhân tố sẽ trả lời câu hỏi liệu các biến quan sát dùng để xem xét sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của khách hàng có độ kết dính cao không và chúng có thể gom gọn lại thành một số nhân tố ít hơn để xem xét không Những biến không đảm bảo độ tin cậy sẽ bị loại khỏi thang đo Các tham số thống kê trong phân tích EFA như sau:
- Đánh giá chỉ số Kaiser – Mayer – Olkin (KMO) để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố khám phá (EFA), chỉ số KMO phải lớn hơn 0.5 (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
- Kiểm định Bartlett dùng để xem xét giả thiết các biến không có tương quan trong tổng thể Kiểm định Bartlett phải có ý nghĩa thống kê (Sig ≤0.05 ) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể (Hoàng trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008 )
- Các trọng số nhân tố (factor loading) nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại để đảm bảo giá trị hội tụ giữa các biến (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Phương pháp trích
hệ số sử dụng là principal components (với phép quay nhân tố varimax) và điểm
Trang 35dừng khi trích các nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1, tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
3.3.3.3 Mô hình hồi quy bội
Trước hết hệ số tương quan giữa khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc và các nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa TP HCM sẽ được xem xét Tiếp đến, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (ordinary Least Square- OLS ) được thực hiện nhằm kiểm định mô hình lý thuyết và qua đó xác định cường độtác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
Trang 36CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ
Sau khi phát ra 150 bảng câu hỏi thì có 107 bảng câu hỏi được thu về với đầy đủ câu trả lời hợp lệ trong đó có 82 bảng câu hỏi bằng giấy và 25 bảng thu được từ trả lời trực tiếp trên Form-Google Docs
Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu phân chia theo giới tính, loại hình bệnh viện đang công tác, học vị, số năm kinh nghiệm và chuyên khoa của đối tượng được khảo sát được trình bày trong Bảng 4.1
Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu
Trang 37Đặc điểm
của mẫu
(%)
Nhận xét
- Thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc” có hệ số Cronbach Alpha = 0.574 nhỏ hơn 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của biến quan sát DP2 nhỏ hơn 0.3 Tác giả đề nghị loại biến DP2 ra khỏi thang đo giá
cả và kiểm tra lại hệ số Cronbach’s alpha thang đo giá cả sau khi loại biến DP2 (tuy nhiên vẫn giữ lại để chạy EFA để xem biến DP2 có chuyển sang nhân tố nào khác hay không) Kết quả sau khi loại biến DP2, hệ số Cronbach’s alpha = 0.708 > 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát còn lại đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo Bảng 4.2 và Bảng 4.3 thể hiện kết quả Cronbach’s alpha của thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc” trước và sau khi loại biến DP2
Trang 38Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s alpha của thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc”
trước khi loại biến DP2
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items 574 4
Item-Total Statistics
Trung bình thang
đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến DP1 5.97 1.877 504 390
DP2 5.88 2.391 092 708
DP3 5.62 1.956 474 418
DP4 6.08 1.719 432 434
Bảng 4.3 Kết quả Cronbac’s alpha của thang đo “Giá cả của thuốc biệt dược gốc”
sau khi loại biến DP2
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items 708 3
Item-Total Statistics
Trung bình thang
đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến DP1 4.00 1.283 533 613
DP3 3.64 1.363 490 663
DP4 4.11 1.006 574 564
- Thang đo “Chất lượng của thuốc biệt dược gốc” có hệ số Cronbach Alpha = 0.779
> 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
Trang 39- Thang đo “Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc” có hệ số Cronbach Alpha = 0.654 > 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
- Thang đo “Chương trình marketing của các công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc” có hệ số Cronbach Alpha = 0.743 > 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
- Thang đo “Sự chuyên nghiệp của PSR” có hệ số Cronbach Alpha = 0.773 > 0.6
và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
- Thang đo “Nguồn tham khảo chuyên môn của các bác sĩ” có hệ số Cronbach Alpha = 0.804 > 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
- Thang đo “Chuẩn chủ quan của bác sĩ” có hệ số Cronbach Alpha = 0.695 > 0.6 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo
- Thang đo “Khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ” có hệ số Cronbach Alpha = 0.782 > 0.7 và các hệ số tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3 nên đạt yêu cầu đưa vào phân tích nhân tố EFA tiếp theo Bảng 4.5 thể hiện kết quả Cronbach’s alpha của thang đo “Khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ”
Trang 40Bảng 4.4: Kết quả Cronbach’s alpha thang đo các thành phần yếu tố ảnh hưởng đến
khuynh hướng kê toa thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến tổng
Cronbach’s alpha nếu loại biến
Giá cả thuốc biệt dược gốc (alpha = 0.708)