Những góc độ nghiên cứu khác nhau về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế .... Đối tượng v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
LÊ THỊ QUỲNH CHÂU
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO
CHIỀU SÂU – NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
LÊ THỊ QUỲNH CHÂU
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO
CHIỀU SÂU – NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.TRẦN HOÀNG NGÂN
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
TP.HCM, ngày 30 tháng 12 năm 2013
Tác giả (Chữ ký)
Lê Thị Quỳnh Châu
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Xác định vấn đề nghiên cứu 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
7 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO CHIỀU SÂU 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về tài chính 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Bản chất của tài chính 4
1.1.3 Chức năng tài chính 5
1.1.3.1 Chức năng huy động 5
1.1.3.2 Chức năng phân phối 5
1.1.3.3 Chức năng giám sát 5
1.2 Những vấn đề cơ bản về Hệ thống tài chính 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Phân loại 7
1.2.2.1 Áp chế tài chính 7
1.2.2.2 Tự do hoá tài chính 7
1.2.2.3 Hệ thống tài chính dựa vào thị trường 8
Trang 51.2.3 Cấu trúc hệ thống tài chính 9
1.2.3.1 Thị trường tài chính 10
1.2.3.2 Các định chế tài chính 10
1.2.3.3 Các công cụ tài chính 10
1.2.3.4 Cơ sở hạ tầng tài chính 11
1.2.4 Chức năng của hệ thống tài chính 11
1.2.5 Các nhân tố vĩ mô tác động đến hệ thống tài chính 13
1.2.5.1 Tăng trưởng kinh tế (Economic Growth) 14
1.2.5.2 Lạm phát 14
1.2.5.3 Lãi suất và tỷ giá hối đoái 14
1.2.5.4 Tác động lây truyền và các yếu tố khác 14
1.2.6 Xu hướng phát triển của hệ thống tài chính 15
1.3 Phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu 15
1.3.1 Khái niệm 15
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài chính 16
1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu nói chung (Indicators of financial development) 17
1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ sâu về cấu trúc của hệ thống tài chính (Indicators of financial structure) 18
1.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ sâu chức năng thanh toán của hệ thống tài chính (Indicators of payments and settlements) 19
1.3.3 Hệ thống tài chính phát triển bền vững và hiệu quả: chất lượng hay chiều sâu của phát triển hệ thống tài chính 20
1.4 Tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu 21
1.5 Những góc độ nghiên cứu khác nhau về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế 24
1.5.1 Lịch sử nghiên cứu về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu 24
Trang 6chiều sâu và tăng trưởng kinh tế 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO CHIỀU SÂU TẠI VIỆT NAM 31
2.1 Độ sâu phát triển của hệ thống tài chính 31
2.1.1 Độ sâu phát triển của hệ thống tài chính theo cơ cấu hay cấu trúc 32
2.1.2 Độ sâu phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam theo chức năng 38
2.1.2.1 Chức năng cầu nối tiết kiệm và đầu tư 38
2.1.2.2 Độ sâu phát triển của hệ thống tài chính theo chức năng thanh toán
46
2.1.2.3 Độ sâu phát triển của hệ thống tài chính theo chức năng phân tán rủi ro của hệ thống tài chính Việt Nam 50
2.2 Đánh giá chung về thực trạng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam 52
2.2.1 Những thành tựu chủ yếu của phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam 52
2.2.2 Những hạn chế chủ yếu của phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam 53
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 55
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO CHIỀU SÂU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 56
3.1 Tóm tắt sơ lược về nghiên cứu 56
3.2 Mô hình nghiên cứu quan hệ nhân quả giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam 57
3.3 Kết quả nghiên cứu 59
3.3.1 Kiểm định mối quan hệ tác động trong dài hạn giữa các yếu tố tài chính đến tăng trưởng kinh tế 59
3.3.1.1 Kiểm định tương quan Pearson 59
Trang 73.3.1.3 Kiểm định tính dừng của các yếu tố 61
3.3.1.4 Kiểm định đồng liên kết Johansen 62
3.3.2 Kết quả hồi quy 63
3.3.3 Kiểm định mô hình xác định mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng GDP trong mối quan hệ cân bằng dài hạn 64
3.3.4 Nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2012 69
3.3.4.1 Kiểm định nhân quả Granger 69
3.3.4.2 Kiểm định mô hình VAR 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO CHIỀU SÂU TẠI VIỆT NAM 74
4.1 Định hướng phát triển và yêu cầu đảm bảo an toàn để phát triển bền vững 74
4.1.1 Định hướng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu 74
4.1.1.1 Định hướng phát triển trên thế giới 74
4.1.1.2 Định hướng phát triển của Việt Nam 76
4.1.1.3 Các phương pháp tiến hành 77
4.1.2 Yêu cầu đảm bảo an toàn để phát triển bền vững 78
4.2 Một số giải pháp phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 84
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
2 ĐCTC Định chế tài chính
3 DIV Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
4 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
5 FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
12 NHTW Ngân hàng trung ương
18 TTTP Thị trường trái phiếu
19 UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
21 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9Bảng 2.4: Số lượng máy ATM, các thiết bị ngoại vi (EDC+POS) qua các năm
Bảng 2.5: Tình hình phát hành thẻ tại Việt Nam từ năm 2002-2011
Bảng 3.1: Kiểm định tính dừng của các yếu tố trong mô hình tại Việt Nam giai đoạn 1990-2012
Bảng 3.2: Tổng hợp tác động của các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 1990-2012
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH Danh mục Sơ đồ
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của hệ thống tài chính
Sơ đồ 1.2: Các công cụ tài chính
Sơ đồ 1.3: Quá trình luân chuyển vốn tài chính gián tiếp
Sơ đồ 1.4: Quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính với tăng trưởng kinh tế
Danh mục Hình
Hình 2.1: Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng và GDP tại Việt Nam từ 1999-2013
Hình 2.2: Giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam so với GDP từ năm 2000-2012
Hình 2.3: Giá trị vốn hóa thị trường/GDP giai đoạn 2000-2012 ở một số quốc gia Hình 2.4: Tỷ lệ huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trong tổng giá trị GDP của Việt Nam từ năm 2001-2012
Hình 2.5: Cấu trúc hệ thống tài chính của Việt Nam và một số nước trong khu vực năm
2006
Hình 2.6: Cấu trúc hệ thống tài chính của Việt Nam và một số nước trong khu vực năm
2012
Hình 2.7: Tỷ lệ đầu tư so với GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2012
Hình 2.8: Tỉ trọng vốn đầu tư các khu vực kinh tế từ 2000 – 2012
Hình 2.9: M2/GDP của Việt Nam từ 1999-2013
Hình 2.10: Tốc độ tăng trưởng cung tiền và GDP của Việt Nam giai đoạn 2000-2013 Hình 2.11: Tốc độ tăng trưởng cung tiền và GDP của Trung Quốc giai đoạn 2000-2012 Hình 2.12: Tốc độ tăng trưởng cung tiền và GDP của Thái Lan giai đoạn 2000-2012 Hình 2.13: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với Trung Quốc và Thái Lan 2000-2012
Trang 11Hình 2.15: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 2000-2013
Hình 2.16: Tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán (PTTT) của Việt Nam
từ năm 2000-2013
Hình 2.17: Số lượng máy rút tiền ATM trên 100.000 người
Hình 2.18: Cơ cấu tín dụng cho các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế từ
1999-2013
Hình 2.19: Tỷ lệ tín dụng được cung cấp bởi hệ thống ngân hàng/GDP
Hình 3.1: Mối liên hệ giữa ED và các nhân tố còn lại của mô hình
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, hệ thống tài chính của các nước đang phát triển đều phản ánh sự phát triển nhanh chóng và ngoạn mục về quy mô và mức độ phức tạp giống như của hệ thống tài chính ở các nước có nền kinh tế tiên tiến Sự phát triển này cho thấy, bản chất của những tiến bộ kinh tế đương đại có thể nặng về tài chính hơn là trước đây người ta vẫn nghĩ về nó, và các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam cần quan tâm hơn đến việc đảm bảo cho hệ thống tài chính của nước mình được thiết kế đồng bộ và thực sự vận hành có hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng kinh tế
Vấn đề nghiên cứu vai trò của hệ thống tài chính đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đã được nhiều tác giả quan tâm và tranh luận trong nhiều thập niên, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam Song vấn đề nghiên cứu phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài chính và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam lại chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống
Từ các lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu - Nghiên cứu thực nghiệm và giải pháp cho Việt Nam” là phù hợp với thực tế hiện nay
Hệ thống tài chính Việt Nam đã hình thành và hoạt động như thế nào? Chính phủ đã tác động như thế nào, nhiều hay ít đến hệ thống tài chính của mình?
Trang 13Phân tích và xem xét độ sâu cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính Việt Nam Việc xem xét ảnh hưởng của chính phủ đến hệ thống tài chính được coi như là một yếu tố nhiễu của việc phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
Đặc biệt, nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1990-2012 để đánh giá hiệu quả chức năng của hệ thống tài chính như thế nào?
Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính và những kiến nghị chính sách giúp hệ thống tài chính Việt Nam phát triển bền vững theo xu hướng chung của thế giới, góp phần đưa nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng mà Việt Nam đề ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống tài chính, độ sâu phát triển của nó và mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế
tại Việt Nam
Về thời gian, giới hạn trong nghiên cứu định tính của đề tài là giai đoạn phát triển gần đây của hệ thống tài chính từ 2000-2012 Riêng thời gian trong nghiên
cứu định lượng là giai đoạn 1990-2012
Về không gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
• Nghiên cứu định tính theo quy trình quy nạp để đánh giá, phân tích, mô tả, so sánh độ sâu hệ thống tài chính Việt Nam
• Nghiên cứu định lượng và tiến hành nghiên cứu theo qui trình suy diễn từ các nghiên cứu có trước đưa ra giả thuyết nghiên cứu Từ đó xác định các biến và
mô hình nghiên cứu để phân tích mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Trang 14Dữ liệu nghiên cứu: được thu thập chủ yếu từ Tổng cục thống kê, IMF (International Monetary Bank), WB (World Bank), ADB (Asian Development Bank), Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu này cung cấp một khuôn khổ lý thuyết để đánh giá độ sâu hệ thống tài chính và mô hình thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế từ đó rút ra các bài học chính sách nhằm phát triển hệ thống tài chính Việt Nam sâu, ổn định, bền vững và thực sự hiệu quả góp phần
vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia làm bốn chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan lý luận về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
Chương 2: Thực trạng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam
Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tại Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI
CHÍNH THEO CHIỀU SÂU 1.1 Những vấn đề cơ bản về tài chính
Định nghĩa 2: Theo từ điển kinh tế học hiện đại (từ wikipedia, the free encyclopedia)
tài chính là phạm trù kinh tế phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Qua hai định nghĩa trên có thể thấy tài chính có đặc điểm sau:
Một là, tài chính được đặc trưng không chỉ gồm các nguồn lực dưới dạng tiền mặt hay các khoản tiền gửi mà còn dưới dạng các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hay các công cụ nợ miễn là các loại tài sản này được chấp nhận trên thị trường như là các công cụ trao đổi hay chuyển tải giá trị
Hai là, tài chính liên quan đến việc chuyển giao các nguồn tài chính giữa các chủ thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm sang các chủ thể cần vốn Ở mức độ vĩ
mô tài chính liên quan đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư biểu thị sự chuyển giao nguồn lực tài chính giữa cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ trong tổng thể nền kinh tế
Trang 16trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua việc tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế
Như vậy, bản chất của tài chính là phản ảnh ràng buộc về quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình phân phối nguồn tài chính
1.1.3 Chức năng tài chính
1.1.3.1 Chức năng huy động
Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai
thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việc huy
động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn
1.1.3.2 Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để
sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác
nhau của đời sống xã hội
Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình
thành và sử dụng theo những mục đích nhất định
Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu cơ sở, đó là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (là phân phối cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất
mà chỉ nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội)
1.1.3.3 Chức năng giám sát
Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình
tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Giám sát tài chính là một thuộc tính vốn có của phạm trù tài chính bắt nguồn từ bản chất của tài chính và có quan hệ biện chứng với chức năng huy động và phân phối nguồn tài chính Giám sát tài chính phản ảnh hoạt động thu thập và đánh giá những
Trang 17bằng chứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động và phân bổ các nguồn tài chính với mục đích đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả và hiệu lực của việc tạo lập và sử
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, đó không phải là một hoạt động hỗn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ những nguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng
Giữa các bộ phận này luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ
thống tài chính Do vậy, hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận, thành tố khác nhau trong một cơ cấu tài chính thống nhất, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định
Các thành tố cơ bản của hệ thống tài chính là các định chế tài chính, thị trường tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính Giữa các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất không thể tách rời
Trang 18Như vậy, hệ thống tài chính có thể hiểu là hệ thống thị trường nơi giao dịch các công cụ tài chính và là nơi các chủ thể trong nền kinh tế, các định chế tài chính giao dịch với nhau thông qua sự điều tiết và quản lý của hệ thống
1.2.2 Phân loại
Căn cứ vào mức độ chi phối bởi Nhà nước, hệ thống tài chính được chia thành hai mô hình: Hệ thống tài chính được kiểm soát (mô hình áp chế tài chính) và hệ thống tài chính tự do (mô hình tự do hóa tài chính)
1.2.2.1 Áp chế tài chính
Áp chế tài chính (financial repression) là sự bóp méo trong các hệ thống tài
chính bởi các biện pháp thuế và phi thuế mà chính phủ áp dụng nhằm cô lập khu vực tài chính hay các thị trường vốn khỏi các lực lượng thị trường Nó có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, về lãi suất: Các quốc gia lựa chọn áp chế tài chính thường áp dụng chính sách lãi suất cố định hoặc lãi suất trần
Thứ hai, về chính sách tỷ giá: Chính sách tỷ giá khi các quốc gia theo đuổi áp chế tài chính thường là chính sách tỷ giá cố định hoặc chính sách tỷ giá không linh hoạt
Thứ ba, về mức dự trữ bắt buộc: Mức dự trữ bắt buộc mà các quốc gia theo đuổi áp chế tài chính thường ở mức cao Sự lựa chọn này xuất phát từ quan điểm cho rằng mức
dự trữ cao sẽ hạn chế được rủi ro dẫn đến sự đổ vỡ của hệ thống tài chính
Thứ tư, về mức độ can thiệp của Chính phủ: Sự can thiệp của Chính phủ vào quá trình phân bổ tài chính là rất sâu Các ngân hàng thương mại phải tham gia các dự án của Chính phủ mà biết chắc rằng các dự án này là không hiệu quả nhưng vì mục tiêu xã hội
Trang 19Một là, tự do hoá lãi suất, theo đó những hạn chế (như những quy định về trần và sàn lãi suất) đối với lãi suất tiền gửi cũng như lãi suất cho vay của các ngân hàng được xoá
bỏ và các loại lãi suất này được xác định một cách tự do trên thị trường
Hai là, tự do hoá tỷ giá, nghĩa là không quy định tỷ giá chính thức đối với các giao dịch của tài khoản vãng lai cũng như giao dịch của tài khoản vốn
Ba là, trong trường hợp tự do hoá tài chính toàn bộ thì dự trữ bắt buộc thường được quy định thấp hơn 10%, còn nếu tự do hoá một phần thì dự trữ bắt buộc thường từ 10-
50 %
Bốn là, tự do hoá hoạt động phân bổ tín dụng, theo đó tín dụng được phân bổ theo lãi suất thị trường chứ không phải bởi các quyết định hành chính của chính phủ
Về lý thuyết hiện đại, căn cứ vào trình độ phát triển của các thành tố trong hệ
thống tài chính thì có 2 mô hình: hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (Bank based),
nơi ngân hàng và các định chế tài chính phát triển mạnh mẽ và hệ thống tài chính dựa vào thị trường (Market based), nơi thị trường giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tài chính
1.2.2.3 Hệ thống tài chính dựa vào thị trường:
Thị trường tài chính đóng vai trò chủ yếu trong tài trợ vốn, chi phối mô hình quản trị công ty, tính minh bạch cao, thị trường đòi hỏi phát triển công ty cổ phần là phổ biến
Hệ thống tài chính dựa vào thị trường có thể đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế thông qua:
Gia tăng tỷ lệ tiết kiệm
Gia tăng mức độ đầu tư
Đảm bảo đầu tư trong quá khứ hiệu quả hơn (cơ chế sáp nhập – thâu tóm: các nhà đầu tư thâu tóm công ty)
Cung cấp các khoản tài chính lâu dài
Rất dễ đầu tư (mua chứng khoán)
Trang 201.2.2.4 Hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò cơ bản trong tài trợ vốn, nó đồng thời chi phối
mô hình quản trị công ty Yêu cầu minh bạch thông tin và phổ biến thông tin ở mức phổ biến
Hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng có thể đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế thông qua:
Thúc đẩy việc quản trị công ty tốt hơn
Tài trợ dài hạn ổn định và hiệu quả
Cho phép đầu tư cao hơn so với hệ thống tài chính dựa vào thị trường
Xúc tiến đầu tư dài hạn bằng cách ngăn chặn thị trường tự do để quản lý công ty
Khuyến khích các ngành tăng trưởng nhanh hơn
1.2.3 Cấu trúc hệ thống tài chính
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của hệ thống tài chính
Cấu trúc một hệ thống tài chính bao gồm:
Định chế tài chính
Hệ thống tài chính
Công cụ tài chính
Thị trường tài chính
Cơ sở hạ tầng
tài chính
Trang 211.2.3.1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính, vốn tài chính và các sản phẩm tài chính hay các công cụ biểu thị vốn phát sinh theo từng phương thức giao dịch trên thị trường này Như vậy, thị trường tài chính là một thị trường dành cho các công cụ vốn (capital instruments) Thị trường tài chính được hình thành và phát triển trong một nền kinh tế - dù hình thành một cách tự phát hay có tổ chức đều dựa trên 2 cơ sở chủ yếu là nhu cầu giao lưu vốn cùng với sự xuất hiện các công cụ vốn Cơ chế hoạt động của thị trường tài chính như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người sử dụng vốn cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch và ở mỗi giao dịch cũng tạo ra các dòng chảy về vốn trong một nền kinh tế như là sự lưu thông máu trong một cơ thể
1.2.3.2 Các định chế tài chính
Định chế tài chính là tổ chức tài chính trung gian sử dụng các nguồn vốn của mình chủ yếu để mua các tích sản tài chính (Financial assets) như các khoản ký thác, cho vay, trái phiếu dài hạn bao gồm những trung gian có nhận tiền gửi (depositary intermediaries) và những trung gian không nhận tiền gửi (Nondeposit intermediaries) của công chúng
Theo Peter S.Rose và James W.Kolari thì định chế tài chính là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu là các tài sản tài chính Định chế tài chính cho khách hàng vay hoặc mua chứng khoán trên thị trường tài chính Ngoài ra, còn cung cấp đa dạng dịch vụ tài chính khác, từ bảo hiểm và bán các hợp đồng hưu bổng, giữ hộ tài sản có giá, cung cấp một cơ chế cho việc thanh toán, chuyển tiền và lưu trữ thông tin
1.2.3.3 Các công cụ tài chính
Trong các giáo trình tài chính tiền tệ thường chia các công cụ tài chính trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối, công cụ tài chính phái sinh Việc chia này cũng có tính chất tương đối vì nhiều loại công cụ tài chính được giao dịch trên nhiều thị trường khác nhau Ví dụ: các loại công cụ tài chính phái sinh có thể được giao
dịch trên thị trường tiện tệ, thị trường vốn, thị ngoại hối, thị trường nông sản
Trang 22Sơ đồ 1.2: Các công cụ tài chính
Nguồn: Nguyễn Thị Cành (2009), Tài chính phát triển, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
1.2.3.4 Cơ sở hạ tầng tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống làm nền tảng để các bên (tiết kiệm – cho vay, đi vay – đầu tư) lập kế hoạch, đàm phán và thực hiện các giao dịch tài chính Cơ sở hạ tầng tài chính có nhiệm vụ hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm:
(i) Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước (bao gồm các cơ chế thực hiện
hợp đồng)
(ii) Nguồn lực và thông lệ giám sát
(iii) Cung cấp thông tin (luật và thông lệ kế toán, kiểm toán, trung tâm thông tin tín dụng, các tổ chức định mức tín nhiệm)
(iv) Hệ thống thanh toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán
1.2.4 Chức năng của hệ thống tài chính
Công cụ tài chính
Công cụ thị trường vốn
Công cụ thị
trường tiền tệ
Công cụ tài chính phái sinh
Tín phiếu kho bạc Chứng chỉ tiền gởi
Thương phiếu
Cổ phiếu Trái phiếu
Hợp đồng quyền chọn Hợp đồng tương lai Hợp đồng hoán đổi Hợp đồng kỳ hạn
Chấp phiếu ngân hàng Cam kết mua lại
Euro – Đô la
Trang 23Thứ nhất, chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư: Đây là chức năng khơi thông các nguồn vốn nhàn rỗi để đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế Thông qua các hoạt động của các chủ thể trên thị trường, các nguồn vốn được luân chuyển để cho cung cầu về vốn gặp nhau Quá trình luân chuyển vốn trên thị trường tài chính đã làm cho quá trình chuyển các nguồn vốn tiết kiệm thành đầu tư Quá trình luân chuyển vốn có thể được mô tả qua sơ đồ 1.3 dưới đây
Sơ đồ 1.3: Quá trình luân chuyển vốn tài chính gián tiếp
Nguồn: Nguyễn Thị Cành (2009), Tài chính phát triển, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Ở kênh tài chính gián tiếp, các chủ thể có vốn tiết kiệm thừa không trực tiếp cung ứng cho những người có nhu cầu sử dụng vốn mà cung ứng gián tiếp qua các kênh trung gian tài chính như ngân hàng, các quỹ tín dụng Ở kênh tài chính trực tiếp, các chủ thể có vốn tiết kiệm nhàn rỗi trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể có nhu cầu
Người tiết kiệm -
3 Chính phủ
4 Người nước ngoài
Các thị trường tài chính
Những trung gian tài chính
TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP
Vốn
Vốn Vốn
TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP
Trang 24sử dụng vốn bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp do các chủ thể có nhu cầu vốn phát hành thông qua các thị trường tài chính
Như vậy hệ thống tài chính mà trong đó thị trường tài chính đóng vai trò là cầu nối giúp cho nguồn vốn vận động từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, làm cho quá trình luân chuyển vốn nhanh chóng, khuyến khích tiết kiệm giúp huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời đưa vào sản xuất kinh doanh, mang lại lợi ích cho các chủ thể tham gia thị trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
Thứ hai, chức năng tập trung và phân tán rủi ro: Do các giao dịch tài chính thường đi đôi với rủi ro, một hệ thống tài chính hoạt động tốt sẽ giúp đánh giá, tập trung, chuyển hóa và phân tán rủi ro, “sàng lọc” rủi ro (screening) và quản lý rủi ro qua các công cụ phái sinh, giảm rủi ro qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, các quỹ đầu tư
Thứ ba, chức năng vận hành hệ thống thanh toán Vai trò của các trung gian tài chính đối với thị trường hàng hóa, dịch vụ là cung cấp: các tài khoản ngân hàng, đảm bảo thanh toán chuyển khoản, thực hiện giao dịch qua hệ thống thẻ tín dụng, làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính và cuối cùng là làm giảm chi phí giao dịch và bất cân xứng về thông tin nhờ lợi thế theo quy mô
Thứ tư, chức năng giám sát doanh nghiệp Chức năng giám sát doanh nghiệp đuợc thể
hiện: một là, hệ thống tài chính tốt giúp phân bổ và giám sát việc sử dụng vốn một cách hiệu quả, hai là, hệ thống tài chính tốt giúp giảm sự bất cân xứng về thông tin, ba là, hệ
thống tài chính tốt giúp thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại
Tóm lại, hệ thống tài chính đóng góp vào việc giảm bớt chi phí giao dịch và
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Các chức năng của hệ thống tài chính bao gồm việc đối chiếu so sánh và xử lý các thông tin có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch, quản lý rủi ro, mua bán rủi ro như là một nhân tố của quản lý rủi ro, phân bổ vốn, huy động và hướng dẫn các nguồn lực tài chính Không chức năng nào trong số những chức năng trên có thể tự đạt được hay thực hiện được theo bất cứ ý nghĩa tự động nào
1.2.5 Các nhân tố vĩ mô tác động đến hệ thống tài chính
Trang 25Hoạt động của hệ thống tài chính phụ thuộc vào hoạt động của toàn bộ nền kinh
tế Các nhà phân tích thực nghiệm hiện nay đã chỉ ra rằng trình độ phát triển kinh tế vĩ
mô tác động đến hệ thống tài chính khiến những đánh giá về tính ổn định của hệ thống tài chính cần phải được đưa vào xem xét trong một bức tranh kinh tế rộng lớn
1.2.5.1 Tăng trưởng kinh tế (Economic Growth)
Vấn đề này đã được Gurley và Shaw (1955), Boyd và Smith (1996) nghiên cứu
và rút ra rằng: một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thấp hoặc giảm thường làm yếu năng lực, khả năng trả nợ của các nhà vay mượn nội địa và đóng góp vào việc làm gia tăng rủi ro tín dụng Tình trạng suy thoái đến trước khi xảy ra tai họa cho toàn bộ hệ thống tài chính
1.2.5.2 Lạm phát
Tính không ổn định của lạm phát có thể làm cho việc đánh giá chính xác các rủi
ro tín dụng và thị trường gặp khó khăn Lạm phát thường có quan hệ đồng biến với rủi
ro của danh mục đầu tư và làm xói mòn cơ sở thông tin cho kế hoạch, đầu tư và thẩm định tín dụng của định chế tài chính Mặt khác với việc giảm giá nhanh và đáng kể trong tỷ lệ lạm phát có thể dẫn đến việc giảm thu nhập danh nghĩa và các luồng lưu chuyển tiền mặt (cash flows), do đó có tác động xấu đến khả năng thanh khoản của các định chế tài chính Thêm vào đó, giá trị ký quỹ có thể sụt giảm dưới mức khoản tiền cho vay do tác động của lạm phát
1.2.5.3 Lãi suất và tỷ giá hối đoái
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới chỉ ra rằng sự tăng lên của lãi suất sẽ làm tăng thêm tính nguy hiểm của những thị trường mới nổi và các hệ thống tài chính theo 3 cách: qua kênh thay thế tài sản, qua một tác động ngược lại về khả năng trả nợ của các nước vay nợ ở các thị trường mới nổi và qua các vấn đề thông tin về các thị trường tín dụng Mặt khác, sự đi xuống của lãi suất sẽ đẩy mạnh dòng lưu chuyển vốn
đi vào góp phần vào sự bùng nổ của rủi ro tín dụng Hơn nữa, tính không ổn định của lãi suất quốc tế lẫn nội địa có thể tác động xấu đến hệ thống tài chính theo cả 2 cách – trực tiếp cho các định chế tài chính và gián tiếp cho các khách hàng của họ
1.2.5.4 Tác động lây truyền và các yếu tố khác
Trang 26Từ khi hệ thống tài chính của một quốc gia kết nối với các hệ thống tài chính của các quốc gia khác thông qua các dòng lưu chuyển của thị trường vốn quốc tế và quan hệ thương mại song phương hay đa phương, thì khủng hoảng tài chính ở các nước khác cũng gây ra khủng hoảng tài chính hoặc hiểm họa ở mức độ quốc gia cho nước bị ảnh hưởng lan truyền
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như tăng trưởng tín dụng hay chất lượng của các khoản tín dụng, sự trông cậy của Chính phủ vào hệ thống ngân hàng cũng như sự mất cân đối trong cấu trúc phát triển của hệ thống tài chính cũng tác động đến sự phát triển của hệ thống tài chính
1.2.6 Xu hướng phát triển của hệ thống tài chính
Một là, trong những giai đoạn nhất định, tuỳ thuộc vào những đặc điểm riêng và căn cứ vào những mục tiêu riêng mà mỗi quốc gia có thể theo đuổi chính sách áp chế tài chính hoặc tự do hóa tài chính Tuy nhiên, xu hướng chung là các quốc gia đều chuyển từ áp chế tài chính sang tự do hóa tài chính Áp chế tài chính cũng mang lại một số kết quả nhất định đặc biệt là đối với các mục tiêu về xã hội nhưng nó lại ngăn cản sự phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu Do đó, để có một nền kinh tế phát triển bền vững thì không thể thiếu được một hệ thống tài chính vững mạnh và hiệu quả mà tự do hóa tài chính là nền tảng Do đó, tuỳ thuộc điều kiện cũng như lịch sử của mỗi nước mà chính phủ sẽ lựa chọn mô hình phát triển tốt nhất cho quốc gia mình
Hai là, ngân hàng chiếm ưu thế trong hệ thống tài chính chính thức ở hầu hết các nước
vì mô hình tài chính dựa vào ngân hàng phù hợp với các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên quy mô thị trường chứng khoán so với ngân hàng có xu hướng tăng lên theo trình
độ phát triển kinh tế Sự không hoàn hảo của hệ thống tài chính dựa vào thị trường được bổ sung bằng hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng và ngược lại Thị trường và ngân hàng có thể cung cấp cùng một dịch vụ tài chính hay những dịch vụ bổ sung cho nhau để cùng thực hiện tốt các chức năng của hệ thống tài chính Điều này cũng giải
thích vì sao hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại hai mô hình của hệ thống tài chính này
1.3 Phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
1.3.1 Khái niệm
Trang 27Theo Richard L.Kitchen (1995), phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu có nghĩa là tích lũy các tài sản tài chính nhanh hơn tích lũy các tài sản phi tài chính Hay phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng tỷ lệ giá trị các tài sản tài chính so với tổng sản phẩm nội địa
Theo Victor Murin (1996), độ sâu của hệ thống tài chính thực chất là khả năng huy động các nguồn lực tài chính của hệ thống tài chính trong nền kinh tế Bởi vậy, độ sâu của hệ thống tài chính thường được dùng để đánh giá sự phản ứng của hệ thống tài chính đối với cuộc cải cách tài chính, nó phản ánh sự tăng trưởng tổng tài sản có tài chính
Các đặc trưng của phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu bao gồm:
(i) Sự hình thành và hoạt động của hệ thống tài chính mà làm gia tăng hiệu quả và giảm thiểu chi phí giao dịch, nghĩa là phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu được tạo điều kiện thuận lợi khi các mục tiêu, chức năng của hệ thống tài chính bao gồm: tối thiểu hóa chi phí giao dịch, và tối đa hóa sự phân bổ lợi tức vốn
(ii) Cung cấp các dịch vụ tài chính gần mức tối ưu cho tất cả các ngành, khu vực
của nền kinh tế và tất cả các lĩnh vực của xã hội
Tuy nhiên, cần xây dựng và phát triển một số chỉ tiêu lượng hóa của phát triển
hệ thống tài chính theo chiều sâu phù hợp với đặc trưng chuẩn hóa này
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài
chính
Mục tiêu của phần này là giới thiệu hệ thống các chỉ tiêu đo lường và đánh giá trình độ phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nghiên cứu và thiết lập từ những năm 1990 Khung phân tích lý thuyết này đã được nhiều nhà kinh tế nghiên cứu cũng như nhiều quốc gia vận dụng làm căn cứ để xem xét trình độ phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài chính nói chung và từng bộ phận của
nó nói riêng Toàn bộ khung phân tích trình bày trong phần này được lược dịch từ tài liệu nghiên cứu của IMF (Financial Sector Assessment_A hand book, 2005) và bổ sung
lý giải của Ngân hàng thế giới (WB)
Trang 28Phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu bao gồm cả phát triển theo chiều sâu các định chế tài chính, thị trường tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài chính có thể đo lường qua độ sâu phát triển của các định chế tài chính như quy mô và hiệu quả hoạt động, lưu lượng di chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế thông qua các kênh đầu tư, hay như các chỉ số phát triển của các loại thị trường tài chính (thị trường vốn, thị trường tiền tệ và thị trường tín dụng), độ sâu phát triển các loại sản phẩm hay công
cụ tài chính, tăng cung tiền, độ sâu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và pháp lý cho hệ thống tài chính hoạt động có hiệu quả
1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của hệ thống tài chính theo
chiều sâu nói chung (Indicators of financial development)
Chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ phát triển của hệ thống tài chính theo chiều
sâu (Aggregated indicator of financial development)
Để có cái nhìn tổng quan về trình độ phát triển theo chiều sâu của hệ thống tài chính có thể đánh giá tổng tài sản tài chính (cả số tuyệt đối) và phần trăm trên GDP Cụ
thể là chỉ tiêu sau: Tổng giá trị vốn hóa/GDP (Total capitalization, % of GDP)= [Giá
trị vốn hóa thị trường cổ phiếu (market capitalization) + Dư nợ thị trường trái phiếu (bond outstanding) + Tín dụng nội địa (domestic credit)] / GDP
Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển theo chiều sâu của thị trường tài
chính (Indicators of markets' financial development, % of GDP)
Vốn hóa thị trường/GDP= vốn hóa thị trường chứng khoán (cổ phiếu và trái
phiếu) + thị trường nợ (ngắn hạn và dài hạn)
Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển theo chiều sâu của trung gian tài
chính (Indicators of financial intermediaries development)
• Tổng tài sản của các tổ chức tín dụng/GDP (Total assets of credit institutions, % GDP)
• Tỷ lệ tài sản ngân hàng thương mại/ngân hàng trung ương: chỉ tiêu này cho biết mức độ mà các ngân hàng thương mại phân bổ tiết kiệm của xã hội so với ngân
Trang 29hàng trung ương Ý nghĩa của các chỉ số này là các ngân hàng thương mại có nhiều khả năng huy động tiết kiệm, lựa chọn các đầu tư với lợi nhuận tốt, quản
lý rủi ro hiệu quả và giám sát của chủ dự án tốt hơn là ngân hàng trung ương
• Tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng và số dư tiền gởi trên GDP (%)
• Số lượng các tổ chức tín dụng (Number of credit institutions)
• Số lượng người lao động làm việc tại các trung gian tài chính này (Number of employees)
1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ sâu về cấu trúc của hệ thống tài chính
(Indicators of financial structure)
Cấu trúc của hệ thống tài chính là sự tổng hợp của các thành tố tạo nên một thể thống nhất là hệ thống tài chính Để đánh giá cấu trúc của hệ thống tài chính có thể đánh giá vai trò chủ đạo của những định chế tài chính chủ chốt bao gồm: các ngân hàng thương mại, tổ chức tiết kiệm, tổ chức tài chính phát triển, các công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu và các tổ chức trên thị trường tài chính so với thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường vốn (trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán phái sinh) Để thấy trình độ phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu về cấu trúc có thể sử dụng các chỉ tiêu như sau:
Vai trò của khu vực ngân hàng hay thị trường trong hệ thống tài chính tức là hệ
thống tài chính dựa vào thị trường hay hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (Importance of banking activity vs Markets)
• M3/GDP: Đây là một chỉ tiêu quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
sử dụng để phản ánh độ sâu hệ thống tài chính, chỉ tiêu này cho biết quy mô của khu vực trung gian tài chính so với nền kinh tế Tuy nhiên nó không phản ánh vấn đề phân bổ vốn và hiệu quả của dịch vụ tài chính trong nền kinh tế
M3 là lượng cung tiền được xác định như sau:
M3 = M2 + Các tài khoản dài hạn + Cổ phần các quỹ hỗ tương thị trường tiền + Các thỏa thuận mua lại
M2 = M1 + Tiền gởi ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm
Trang 30M1 = M0 + Tiền gởi ngân hàng có kỳ hạn dưới 1 năm
M0 = Tiền mặt + Tiền gởi ngân hàng có thể ký phát séc
• Ngoài ra có thể sử dụng chỉ tiêu M2/GDP để đánh giá độ sâu hệ thống tài chính
Đánh giá cấu trúc hệ thống tài chính theo chủ thể: đó là doanh nghiệp tài chính
và doanh nghiệp phi tài chính, chính phủ và hộ gia đình (Financial structure by agent: non-financial corporations, financial corporations, general government and households) để đo lường hiệu quả trong việc huy động vốn và đầu tư
• Tín dụng cho nền kinh tế/GDP (%): chỉ tiêu này chỉ xét tới tín dụng của hệ
thống tài chính cho khu vực kinh tế tư nhân chứ không cho Chính phủ Đây là chỉ số bổ sung rất tốt cho M3/GDP trong việc phản ánh trình độ phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu vì nó không tính tới tín dụng cho khu vực nhà nước
• Tổng dư nợ tín dụng/GDP: là một chỉ tiêu truyền thống của độ sâu hệ thống
tài chính được sử dụng bởi King và Levine (1993) trong các nghiên cứu về tài chính và phát triển Nó đo lường những khoản nợ có lãi suất của các ngân hàng
và các trung gian tài chính khác/GDP Chỉ tiêu này khá thích hợp vì nó mở rộng cho cả các trung gian tài chính ngoài ngân hàng
• Tín dụng ngân hàng/GDP: nó là chỉ tiêu cơ bản hẹp của chỉ tiêu trên, tỷ lệ này
ở các nước phát triển tăng rất nhanh và đã chứng minh được mối quan hệ nhân quả của nó với tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo (Beck, Levine and Loayza, 2000; Beck, Demirguc-Kunt and Levine, 2007) Từ năm 1982 khuynh hướng tỷ lệ này giảm ở các nước phát triển nhưng lại tăng ở các nước đang phát triển, và sự trệch hướng này là do khoảng cách thu nhập giữa các nước trên thế giới
1.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ sâu chức năng thanh toán của hệ thống tài
chính (Indicators of payments and settlements)
Tổng phương tiện thanh toán tại khu vực bán lẻ (Means of payments in the
retail area: bank transfers, direct debits, checks, credit cards, etc.)
Trang 31• Tổng khối lượng và giá trị giao dịch thanh toán (Retail payments transactions per capita in retail means of payments)
• Tổng khối lượng và giá trị giao dịch phân theo loại hình công cụ hay phương tiện thanh toán (Distribution of total number and value retail transactions by instrument)
• Số lượng máy ATM và đơn vị chấp nhận thẻ (EDC+POS) trên đầu người (Number of ATM and POS per capita)
• Số lượng giao dịch tại các máy ATM và POS (Number of transactions per ATM and per POS)
• Số lượng thẻ đã phát hành tính trên đầu người (Number of per capita credit cards issued)
• Tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán là chỉ tiêu phản ánh mức độ
tiền tệ hóa của nền kinh tế Chỉ tiêu này càng nhỏ càng thể hiện độ sâu chức năng thanh toán của hệ thống tài chính
1.3.3 Hệ thống tài chính phát triển bền vững và hiệu quả: chất lượng hay chiều
sâu của phát triển hệ thống tài chính
Một hệ thống tài chính phát triển sâu bao gồm đầy đủ các loại định chế tài chính, công cụ và thị trường tài chính khác nhau trong cơ chế điều tiết hiệu quả của cơ
sở hạ tầng tài chính Hệ thống tài chính không mang tính chất tĩnh mà mang tính chất động nghĩa là nó luôn thay đổi liên tục cùng với sự ra đời của các loại tổ chức, công cụ
và thị trường tài chính mới Tuy nhiên đề cập phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu là quan tâm nhiều hơn đến mặt “chất lượng” chứ không chỉ đơn thuần về mặt “số lượng” của các thành tố trong hệ thống tài chính
Các hệ thống tài chính có khả năng quản lý rủi ro một cách hữu hiệu sẽ đóng góp vào sự gia tăng của tăng trưởng kinh tế (King và Levine, 1993b) Ngoài ra, như Levine (1997, trang 715) lập luận “các nước có những thể chế tài chính hiệu quả có thể giảm bớt các rào cản thông tin từ đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn thông
Trang 32qua nhiều khoản đầu tư hơn so với các nước có các hệ thống tài chính kém hiệu quả hơn trong việc đạt được và xử lý thông tin.”
Các hệ thống tài chính được thiết kế thích hợp sẽ cải thiện được chi phí giao dịch (bao gồm chi phí thông tin) và, qua việc nhận biết các bất ổn và rủi ro của việc
quản lý nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bổ nguồn lực Chất lượng phát triển của hệ thống tài chính là có liên quan đến tính hiệu quả về mặt chi phí trong việc cung cấp vốn và dịch vụ của chúng Một thể chế phát triển hơn có khả năng giảm thiểu chi phí giao dịch cũng như tối đa hóa các lợi ích của những mục tiêu vận hành của chúng Việc nghiên cứu thực nghiệm và phân tích đáng kể hơn nữa là rất cần thiết cho việc lượng hóa các khía cạnh “chất lượng” của hệ thống tài chính, và tầm quan trọng của nó trong tăng trưởng kinh tế
Như vậy, phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu là phát triển bền vững và hiệu quả hệ thống tài chính Một hệ thống tài chính phát triển bền vững khi cấu trúc của nó cân đối, tức là các thành tố của nó phải phát triển đồng bộ với nhịp điệu tương đồng nếu không hậu quả là hệ thống tài chính sẽ vướng phải bài toán nút thắt cổ chai dẫn đến nền kinh tế không hấp thụ vốn được Một hệ thống tài chính được coi là hiệu
quả khi nó hoàn thành chức năng và nhiệm vụ đó là khuyến khích tiết kiệm và làm tăng
đầu tư Người tiết kiệm thấy có thể đầu tư trong hệ thống tài chính và thu lợi nhuận Nhà đầu tư có thể tiếp cận nguồn tiết kiệm ngoài khả năng bản thân do vậy làm tăng lượng vốn đầu tư
1.4 Tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
Tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu thể hiện ở vai trò của nó với tăng trưởng và phát triển kinh tế Để xem xét mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu (gọi tắt là phát triển hệ thống tài chính) với phát triển kinh tế, tác giả sẽ xem xét việc phát triển hệ thống tài chính góp phần vào phát triển kinh tế thông qua các mối quan hệ nào? Từ vấn đề này, một số giả thiết hay quan điểm về vai trò phát trỉển được đưa ra bao gồm:
Thứ nhất, phát triển hệ thống tài chính là điều kiện cần cho phát triển kinh tế
Thứ hai, phát triển hệ thống tài chính là một nguồn tạo nên lợi thế so sánh
Trang 33Tuy nhiên, phát triển hệ thống tài chính đi đôi với nguy cơ rủi ro Vì vậy vấn đề quan trọng là phải xem xét chất lượng của phát triển hệ thống tài chính Các quan điểm cũng cho rằng phát triển hệ thống tài chính phát huy tác dụng khi được hỗ trợ bởi hệ thống thể chế và chính sách tốt Tuy nhiên, phát triển hệ thống tài chính không phải là điều kiện đủ cho phát triển kinh tế Đa số quan điểm đều nhấn mạnh vai trò của phát triển hệ thống tài chính thể hiện qua vai trò phát triển nguồn vốn và coi nguồn vốn tài chính như một đầu vào quan trọng của nền kinh tế Để làm rõ vai trò của phát triển hệ thống tài chính qua phát triển nguồn vốn, chúng ta cần nhắc lại các chức năng của hệ thống tài chính, trong đó chức năng thứ nhất là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Chức năng thứ hai của hệ thống tài chính là tập trung và phân tán rủi ro Theo đó một hệ thống tài chính hoạt động tốt sẽ giúp đánh giá, tập trung, chuyển hóa, sàng lọc và phân tán rủi ro Chất lượng hệ thống tài chính tốt tức là phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả Phân bổ nguồn lực hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trái lại, chất lượng hệ thống tài chính thấp có thể gây nên gánh nặng nợ nần, hoặc một hệ thống tài chính kém
sẽ dẫn đến hạn chế khả năng “tiêu hóa” các nguồn tài chính huy động được kể cả vốn
hỗ trợ phát triển ODA Chất lượng phát triển hệ thống tài chính thấp, tức là hệ thống tài chính phát triển thiếu bền vững dẫn đến sụp đổ của hệ thống ngân hàng (ví dụ như sự sụp đổ của hệ thống hợp tác xã tín dụng tại Việt Nam những năm cuối thập niên 1980, hoặc nợ xấu của các ngân hàng thương mại, tăng cung tiền dẫn đến nguy cơ đầu cơ và lạm phát, khủng hoảng tiền tệ ngân hàng và hệ thống tài chính (như các cuộc khủng hoảng Nam Mỹ, khủng hoảng Châu Á và khủng hoảng tài chính Mỹ, toàn cầu hiện nay) Các cuộc khủng hoảng làm cho các nền kinh tế bị suy giảm, làm giảm công ăn việc làm, tăng thất nghiệp và tổn thất giảm về thu nhập của người dân Phát triển hệ thống tài chính không tương thích với điều kiện kinh tế, với hệ thống thể chế và chính sách quốc gia sẽ có tác động hạn chế tới phát triển kinh tế
Joseph Schumpeter (1912) nhấn mạnh sự kết nối giữa tinh thần kinh doanh và tín dụng, giải thích rằng một hệ thống tài chính phát triển sẽ làm cho các nguồn lực tài chính được phân phối và sử dụng hiệu quả, làm giảm thông tin bất cân xứng và giảm rủi ro Giảm rủi ro, đầu tư hiệu quả từ đó sẽ có tác động khuyến khích tinh thần doanh nhân
Trang 34Nghiên cứu của Beck và các đồng tác giả (2000) cho rằng tăng trưởng kinh tế không chỉ thông qua cải thiện vai trò của trung gian tài chính mà còn thông qua sự cải
thiện của “tổng năng suất các yếu tố sản xuất (TFP)” Nghiên cứu này ủng hộ cho quan
điểm cổ điển - quan điểm theo trường phái Schumpeter khi cho rằng mức phát triển trung gian tài chính tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua việc ảnh hưởng đến tốc độ thay đổi năng suất và công nghệ Nghiên cứu của họ sử dụng các quan sát
và phân tích hồi quy cho 63 nước trong giai đoạn 1960-1995, và định nghĩa cách đo lường sự phát triển hệ thống tài chính theo tỷ lệ của tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP
Quan hệ nhân quả giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế có thể mô tả qua sơ đồ dưới đây Theo sơ đồ 1.4 thì hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả dẫn tới tăng tiết kiệm đầu tư Tăng đầu tư sẽ góp phần tạo các khả năng cải tiến công nghệ Công nghệ cải thiện với trình độ công nghệ tiên tiến sẽ làm
tăng tổng năng suất nhân tố (Total factor productivity-TFP)
Sơ đồ 1.4: Quan hệ nhân quả giữa phát triển hệ thống tài chính với tăng trưởng
Tăng S,I (tích lũy vốn)
Sàng lọc &
hỗ trợ các dự
án hiệu quả
Tăng hiệu quả
sử dụng vốn
Tăng trưởng kinh tế
Tinh thần doanh nhân
Giảm bất cân xứng thông tin và rủi ro
Trang 35Có thể giải thích sơ đồ trên dựa vào bốn chức năng của hệ thống tài chính, đó là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tập trung, phân tán và giảm bớt rủi ro, giám sát doanh nghiệp, vận hành hệ thống thanh toán Chức năng cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư là tăng độ sâu hệ thống tài chính, tăng tích lũy (S) và đầu tư vốn (I) sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế thể hiện qua hai nhân tố vốn và vốn đầu tư kỹ thuật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chức năng tập trung, phân tán và giảm thiểu rủi ro sẽ khuyến khích tinh thần doanh nhân tích cực đầu tư mở rộng sản xuất, năng cao năng suất, hiệu quả là nhân tố tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Với chức năng vận hành hệ thống thanh toán, vai trò của các trung gian tài chính có tác động tích cực đối với thị trường hàng hóa, dịch vụ Các dịch vụ thanh toán được thực hiện thông qua tài khoản ngân hàng, qua thanh toán chuyển khoản, thanh toán bằng thẻ tín dụng giúp cho thị trường hàng hóa và dịch vụ hoạt động tốt góp phần vào tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, chức năng thanh toán của hệ thống tài chính sẽ có tác động làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính, giảm chi phí giao dịch và bất cân xứng về thông tin nhờ lợi thế theo quy
mô tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả và tạo lòng tin cho nhà đầu tư là nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Với chức năng giám sát và khuyến khích doanh nghiệp, vai trò của hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế có thể
thể hiện: thứ nhất, hệ thống tài chính tốt giúp phân bổ và giám sát việc sử dụng vốn một cách hiệu quả, thứ hai, hệ thống tài chính tốt giúp thực hiện quản trị doanh nghiệp
hiện đại Chẳng hạn ngân hàng đánh giá khả năng tín dụng và hiệu quả dự án đầu tư của doanh nghiệp khi xem xét cho vay và đe dọa ngưng cấp vốn nếu hoạt động đầu tư sau đó không có hiệu quả Người nắm giữ trái phiếu buộc doanh nghiệp không được phát hành thêm nợ để kiểm soát mức rủi ro tín dụng của trái phiếu Nguy cơ bị thôn tính thông qua thị trường chứng khoán là động cơ quan trọng buộc giám đốc công ty phải điều hành tốt
1.5 Những góc độ nghiên cứu khác nhau về phát triển hệ thống tài chính theo
chiều sâu và mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
và tăng trưởng kinh tế
1.5.1 Lịch sử nghiên cứu về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu
Trang 36Nghiên cứu về hệ thống tài chính đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới đặc biệt quan tâm Nghiên cứu đầu tiên và tổng thể về hệ thống tài chính đã được Fisher (1933), Guyley và Shaw (1955, 1960) đề cập đến trong nhiều bài viết Các nghiên cứu này quan niệm rằng hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động của một tập hợp các định chế tài chính có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau Việc nghiên cứu một hoặc vài thành tố riêng biệt của hệ thống tài chính cũng đã được nhiều hội nghị, hội thảo và nhiều nhà khoa học ở Việt Nam bàn đến Bàn về phát triển thị trường tài chính có Nguyễn Đức Thảo (2006) Bàn về lý thuyết, cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính cũng như việc đẩy mạnh cải cách và phát triển hệ thống tài chính để tăng trưởng kinh tế có Lê Đăng Doanh (2005), Nguyễn Thị Cành (2009)
Khái niệm về phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu dựa trên những nghiên cứu của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) Shaw (1973) cho rằng áp chế tài chính làm cho độ sâu hệ thống tài chính ở các nước bị nông, điều này sẽ hạn chế tăng trưởng kinh tế Áp chế tài chính thường có đặc điểm là mức lãi suất bị kiểm soát bởi Chính phủ, các khoản tích lũy lúc này của tư nhân thường được đầu tư vào các loại hình tài sản phi tài chính như vàng hoặc đất đai do suất sinh lời từ hệ thống tài chính chính thức thấp thậm chí là âm do tác dộng của lạm phát, sự di chuyển vốn bị kiểm soát và tỷ giá hối đoái bị nâng giá quá mức không hỗ trợ xuất khẩu, các tổ chức tài chính thường kém phát triển, các thị trường vốn ngắn hạn và vốn dài hạn bị hạn chế Do vậy áp chế tài chính là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu
Lý thuyết Keynes (1936) và Tobin (1965) ủng hộ quan điểm áp chế tài chính, cho rằng tiền gây ra tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Trong khi lý thuyết ủng hộ
tự do hóa tài chính do Mc Kinnon, Shaw (1973) cho rằng tài chính đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Điểm then chốt của những tranh cãi này xoay quanh tác động của hệ thống tài chính lên tăng trưởng kinh tế, trọng điểm vẫn là tác động của nó lên hành vi tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội
McKinnon nhấn mạnh vai trò của tiết kiệm trong việc tự tài trợ cho các hành vi đầu tư, việc huy động tự tài trợ theo quan điểm này là quá trình tự tài trợ bên trong tổ chức của các nhà đầu tư Quan điểm của Shaw nhấn mạnh vai trò tích lũy tiền để mở
Trang 37rộng tiềm năng cho vay của các trung gian tài chính và từ đó thúc đẩy phát triển hoạt động các tổ chức đầu tư bằng nguồn tài trợ từ bên ngoài Dù Mc Kinnon và Shaw nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của việc tích lũy tài sản tài chính và nợ, nhưng các nghiên cứu sau này đều xem đây là quan điểm bổ sung cho nhau trong lý thuyết tài chính và phát triển Nhìn chung hai luận điểm này chỉ ra rằng với mức phát triển hệ thống tài chính cao hơn, mà có thể là kết quả của tự do hóa tài chính, sẽ dẫn đến gia tăng sản lượng GDP do quá trình tập trung vốn cho tăng trưởng kinh tế bao gồm cả tài trợ và quá trình tài trợ thông qua hệ thống tài chính Quan điểm này tiếp tục phát triển với nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau này của các tác giả King và Levine (1993), Levine, Loayza và Beck (2000) và Ang (2007) thông qua dữ liệu của nhiều quốc gia bằng các mô hình kinh tế lượng
1.5.2 Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo
chiều sâu và tăng trưởng kinh tế
Meier (1989) định nghĩa phát triển kinh tế là một quá trình mà qua đó thu nhập bình quân đầu người của một nuớc tăng lên sau một khoảng thời gian, và số lượng người nghèo cũng như sự bất bình đẳng kinh tế trong xã hội không tăng lên Khái niệm tăng trưởng kinh tế là một khái niệm hẹp hơn của phát triển kinh tế, được định nghĩa là tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng kinh tế, bao gồm cả sự đóng góp của việc tích lũy vốn trong sản lượng này
Ronald McKinnon và Edward Shaw (1973) cũng nhận định rằng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu thực sự đóng góp cho quá trình tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được kích thích thông qua việc khuyến khích dân chúng gửi tiền vào hệ thống ngân hàng Hệ thống ngân hàng với lãi suất huy động cao và dự trữ bắt buộc thấp sẽ thu hút một lượng lớn tiết kiệm dân chúng và phân bổ đầu tư vào nền kinh
tế qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế
Rao (2003) cho rằng, các nghiên cứu thực nghiệm đã thiết lập được mối quan hệ tích cực và vững chắc giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn có sự khác biệt tồn tại ở các nước đối với mối quan hệ này dưới góc
độ nhân quả Các chính sách kinh tế giải thích phần lớn cho những khác biệt này và
Trang 38đặc biệt là ở các quốc gia đang thực hiện áp chế tài chính, nếu tiến hành phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu tự do hơn và ổn định hơn sẽ đóng góp hiệu quả vào việc huy động và phân bổ vốn từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tự do hóa tài chính quá mức luôn có những cái giá phải trả khi thể chế và chính sách còn non yếu Trong hầu hết trường hợp, cải cách thể chế và chính sách đòi hỏi cần có trước khi thực hiện những cải cách tài chính
Các công trình nghiên cứu thực nghiệm gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác lập mối quan hệ nhân quả giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và phát triển kinh tế diễn ra theo chiều hướng nào, tuy nhiên các nhà khoa học dường như cũng đã đạt được một sự nhất trí vào giữa thập niên 70 Đó là phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu có vai trò quan trọng và sẽ đưa tới sự phát triển kinh tế (Patric, 1966; Porter, 1966; Gurley và Shaw, 1955, 1560, 1967; Goldsmith, 1969, Hooley, 1963; McKinnon
và Shaw, 1973; Rousseau và Wachtel, 1998, Bassanini và Leahy, 2001) Những kết quả nghiên cứu đó còn được hỗ trợ bởi công trình nghiên cứu của Gupta (1984)
Ngoài ra quan điểm ngược lại phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của phát triển kinh tế cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Woolmer (1977) khẳng định việc phát triển hệ thống tài chính đã theo sau, chứ không phải là dẫn dắt phát triển kinh tế Trong bối cảnh có các yếu tố khác tác động đến phát triển kinh tế, hệ thống tài chính chỉ đóng một vai trò hỗ trợ mà thôi
Shan và Morris, 2002 đã kết luận rằng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu không phải lúc nào cũng tạo ra tăng trưởng kinh tế, nó chỉ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi độ sâu phát triển của hệ thống tài chính vượt quá một ngưỡng nhất định Các nghiên cứu trước đó của Arestis và Demetriades (1997), và Demetriades
và Hussein (1996) cũng đã kết luận rằng tương quan cùng chiều giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tùy thuộc vào độ sâu phát triển hệ thống tài chính ở từng quốc gia cụ thể và có khả năng bị ảnh hưởng bởi những khác biệt trong cơ cấu kinh tế và các đặc trưng thể chế
Có thể tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm thành ba trường phái chính:
Trang 39Trường phái thực nghiệm thứ nhất với các nhà nghiên cứu tiên phong là Robert King, Ross Levine, 1993 và những người khác, đã sử dụng phân tích kinh tế lượng để tách bạch giữa các yếu tố ngoại sinh của phát triển hệ thống tài chính (mức độ phát triển hệ thống tài chính đã được xác định trước ứng với trình độ phát triển kinh tế) với những yếu tố nội sinh (mức độ phát triển hệ thống tài chính đơn thuần phản ánh phát triển kinh tế) Trong các nghiên cứu này, bốn số đo tăng trưởng khác nhau được chạy hồi quy theo một số lớn các biến kiểm soát mà nói chung được tin là có thể giải thích cho tăng trưởng kinh tế, cộng với các số đo khác nhau về áp chế tài chính hay phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu Công việc này được thực hiện cho tăng trưởng cùng thời và cũng cho tăng trưởng theo sau thời điểm xác định các biến số tài chính Trong mọi trường hợp, hệ số của các biến số tài chính đều có giá trị và có ý nghĩa thống kê Như vậy thông qua việc phân tích hồi quy dữ liệu chéo giữa các nước (King và Levine) nhận thấy độ sâu phát triển hệ thống tài chính có tương quan mạnh
mẽ và có ý nghĩa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cả trong hiện tại và tương lai
Trường phái thực nghiệm thứ hai để phân loại ra các mối liên kết giữa khu vực thực và khu vực tài chính là lập mô hình cơ cấu Việc lập mô hình cơ cấu đòi hỏi người
ta phải ở vào vị thế của những kênh phân phối cụ thể thông qua đó phát triển hệ thống tài chính có tác dụng đối với phát triển kinh tế, và xây dựng mô hình nền kinh tế để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố tài chính ngoại sinh Nghiên cứu cẩn thận và thuyết phục nhất của xu hướng nghiên cứu này là công trình của Alan Taylor Taylor tiếp cận vấn đề rộng hơn là: Tại sao tăng trưởng của châu Á đã vượt qua tăng trưởng của châu Mỹ La tinh trong những thập niên gần đây, và liệu phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu có thúc đẩy tăng trưởng thông qua hạ thấp chi phí đầu tư? Ông nhận thấy một mối liên kết mạnh giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và chi phí tài trợ đầu tư, và những chi phí này có sức mạnh giải thích cho sự khác biệt tăng trưởng giữa châu Á và châu Mỹ La tinh trong thập niên 80
Trường phái thực nghiệm thứ ba là xem xét những ảnh hưởng về thành quả kinh tế của những thay đổi thể chế có thể nhận biết được gắn liền với tự do hoá tài chính Một nghiên cứu mới đây thuộc trường phái này đã kết luận rằng “gần như không
có bằng chứng gì hỗ trợ cho nhận định, mà thoạt đầu được đưa ra để ủng hộ tự do hoá,
Trang 40rằng tự do hoá sẽ làm tăng tiết kiệm, nhưng có những bằng chứng hỗ trợ cho hai nhận định khác, đó là: tự do hoá tài chính sẽ dẫn đến sự phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu, và tự do hoá sẽ đẩy mạnh sự phân bổ đầu tư hiệu quả hơn.” Một nghiên cứu khác nhận thấy rằng việc giảm sở hữu nhà nước đối với các ngân hàng gắn liền với tăng trưởng thu nhập trên đầu người tiếp theo cao hơn và tăng trưởng năng suất cao hơn
Ba trường phái nghiên cứu này mang lại những bằng chứng hùng hồn và thuyết phục rằng phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế
Tóm lại cho tới nay cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của việc phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Trên thực tế, rất khó để đi đến kết luận cụ thể về mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế Trong mọi giai đoạn, tại mọi quốc gia, tăng trưởng kinh tế dường như chịu tác động của nhiều yếu tố khác mà
độ sâu phát triển của hệ thống tài chính chỉ là một trong số đó Rất khó có thể phân tách rõ các yếu tố tác động này, đặc biệt trong điều kiện phần lớn các dữ liệu kinh tế thường mang tính chắp vá và không chính xác Các nhà kinh tế học gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra các mô hình kinh tế lượng về vấn đề này cho các nền kinh
tế đương đại, khi mà các mối quan hệ đã thay đổi rất nhiều