Tính cấp thiết của đề tài: Mặc dù TTCK Việt Nam đã phát triển đáng kể cả về số lượng cổ phiếu niêm yết và giá trị giao dịch trong hơn 12 năm qua, nhưng biến động giá cổ phiếu vẫn rất th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
NGUYỄN VIẾT CƯỜNG
HÀNH VI GIAO DỊCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ ĐẠT CHÍ
TP.HCM, NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu: 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
4 Ý nghĩa của luận văn: 5
5 Cấu trúc của luận văn: 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 6
1.1 Lý thuyết tài chính truyền thống so với Lý thuyết Tài chính hành vi: 6
1.2 Các yếu tố hành vi tác động đến qui trình ra quyết định của NĐT: 7
1.2.1 Lý thuyết tự nghiệm - Heuristic theory: 8
1.2.2 Thuyết triển vọng - Prospect Theory: 10
1.2.3 Các nhân tố thị trường: 12
1.2.4 Tâm lý bầy đàn: 14
1.3 Quyết định giao dịch và hiệu quả đầu tư chứng khoán: 17
1.3.1 Quyết định bán: 17
1.3.2 Quyết định mua: 17
1.3.3 Hiệu quả đầu tư: 18
1.4 Những nghiên cứu trước đây: 20
1.5 Mô hình nghiên cứu: 24
Trang 3CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 26
2.1 Phương pháp nghiên cứu: 26
2.2 Loại hình nghiên cứu: 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 27
2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu: 28
2.5 Lựa chọn người trả lời: 29
2.6 Thiết kế phép đo và bảng câu hỏi: 30
2.7 Quy trình phân tích số liệu: 33
2.8 Độ tin cậy của phép đo: 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thông tin cơ bản: 38
3.2 Phân tích nhân tố các biến hành vi ảnh hưởng lên quyết định của NĐT cá nhân: 41
3.3 Kiểm định Cronbach’s Alpha: 45
3.4 Mức độ tác động của các yếu tố hành vi lên các quyết định đầu tư cá nhân và Hiệu quả đầu tư: 46
3.4.1 Tác động của biến Tự nghiệm lên việc ra quyết định đầu tư: 46
3.4.2 Tác động của biến triển vọng lên việc ra quyết định đầu tư: 47
3.4.3 Tác động của biến thị trường lên việc ra quyết định đầu tư: 48
3.4.4 Tác động của biến tâm lý bày đàn lên các quyết định đầu tư: 49
3.4.5 Hiệu quả đầu tư: 50
3.5 Ảnh hưởng của các nhân tố hành vi lên Hiệu quả đầu tư cá nhân: 51
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 54
4.1 Nhân tố hành vi: 54
4.1.1 Các biến Tự nghiệm: 54
4.1.2 Các biến triển vọng: 55
4.1.3 Biến thị trường tác động khá cao: 56
4.1.4 Biến tâm lý bầy đàn - tác động vừa phải (trung bình 3-4) 57
4.2 Hiệu quả đầu tư 58
Trang 44.2.1 Tỷ suất sinh lời 58
4.2.2 Sự hài lòng với quyết định đầu tư (trung bình=3.37) 60
4.3 Ảnh hưởng của các nhân tố hành vi lên hiệu quả đầu tư 60
4.3.1 Nhân tố Tự nghiệm - tương quan dương: 60
4.3.2 Các nhân tố bầy đàn - tương quan dương 61
4.3.3 Nhân tố thị trường- tương quan dương: 62
4.3.4 Nhân tố Triển vọng - tương quan âm 63
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận: 65
5.2 Đóng góp của luận văn: 66
5.3 Hạn chế của đề tài: 67
5.4 Những kiến nghị: 68
5.4.1 Đối với NĐT cá nhân Việt Nam: 68
5.4.2 Đối với các Sở giao dịch, Bộ tài chính: 69
5.5 Đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo: 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi khảo sát cuối cùng
Phụ lục 3.1: Phân tích nhân tố EFA
Phụ lục 3.2: Kiểm định Cronbach’s Alpha cho các biến nhân tố
Phụ lục 3.3: Phân tích cấu trúc SEM của các nhân tố hành vi và hiệu quả đầu tư Phụ lục 4: Thông tin về các cuộc phỏng vấn
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Hàm giá trị (Tversky & Kahneman, 1974) 11
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu các nhân tố hành vi tác động đến các quyết định và hiệu quả đầu tư của NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam 25
Hình 3.1: Quy trình phân tích dữ liệu 36
Hình 4.1: Phân phối mẫu về giới tính 38
Hình 4.2: Phân phối mẫu về tuổi và thời gian tham gia TTCK 38
Hình 4.3: Tỷ lệ người trả lời tham dự khóa học về thị trường chứng khoán 39
Hình 4.4: Tỷ lệ phần trăm số người được hỏi với khoản tiền đầu tư của họ năm trước 40
Hình 4.5: Phân phối mẫu về trình độ học vấn của NĐT 40
Hình 4.6: Mô hình phương trình cấu trúc cho các nhân tố hành vi và hiệu quả đầu tư 52
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư 16
Bảng 2.1: Các loại thang đo cho thông tin cá nhân 31
Bảng 2.2: Các loại thang đo cho các biến hành vi 32
Bảng 3.1: Phân phối trình độ học vấn của NĐT 40
Bảng 3.2: Phân tích nhân tố các biến hành vi 43
Bảng 3.3: Phân tích nhân tố biến hiệu quả đầu tư 44
Bảng 3.4: Kiểm định Cronbach’s Alpha các biến của các nhân tố 45
Bảng 3.5: Tác động của biến Tự nghiệm lên việc ra quyết định đầu tư 47
Bảng 3.6: Tác động của biến Triển vọng lên việc ra quyết định đầu tư 47
Bảng 3.7: Tác động của biến thị trường lên việc ra quyết định đầu tư 48
Bảng 3.8: Tác động của biến tâm lý bầy đàn lên việc ra quyết định đầu tư 49
Bảng 3.9: Kết quả của hiệu quả đầu tư 50
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Mặc dù TTCK Việt Nam đã phát triển đáng kể cả về số lượng cổ phiếu niêm yết và giá trị giao dịch trong hơn 12 năm qua, nhưng biến động giá cổ phiếu vẫn rất thất thường trong từng khoảng thời gian khác nhau và sự hiểu biết về tài chính hành vi của các NĐT cá nhân và các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của
họ là rất hạn chế Các yếu tố hành vi là yếu tố tâm lý bao gồm cả cảm xúc và nhận thức, cái mà đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định của NĐT Sự phát triển của TTCK Việt Nam bị ảnh hưởng bởi quyết định của NĐT được tóm tắt trong những giai đoạn quan trọng được liệt kê dưới đây
Bắt đầu từ 100 điểm vào năm 2000, sau một năm, vào tháng sáu năm 2001, Index gấp hơn năm lần và đạt tới đỉnh cao ở 571 điểm NĐT đã quá vui mừng và
VN-mơ ước kiếm tiền một cách nhanh chóng, nhu cầu tăng mạnh trong khi chỉ có vài
cổ phiếu niêm yết trên thị trường Tuy nhiên, đó là sự thiếu xót về kiến thức và tâm
lý của các NĐT cũng như thiếu sự hỗ trợ từ các nhà chức trách đã làm cho Index đi xuống không ngừng, chạm đáy tại 139 điểm vào tháng 3/2003 NĐT tham gia thị trường trong giai đoạn này và không thể nhảy ra khỏi một cách nhanh chóng phải đối mặt với những khó khăn về tài chính do sự mất mát tài sản khổng lồ Thị trường chứng khoán sau đó dường như rơi vào trạng thái ngủ đông cho đến năm 2005 và thực sự thức dậy trong năm 2006 Sự bùng nổ bắt đầu vào nửa cuối năm 2006 và tăng vọt lên tới 1170 điểm vào tháng 3/2007 và dao động quanh mức
VN-1000 điểm cho đến tháng 10/2007 TTCK Việt Nam chưa bao giờ “nóng” hơn so với thời điểm đó Tuy nhiên, VN-Index đã đi vào giai đoạn giảm điểm mạnh sau khi được đẩy lên đến đỉnh cao trước đó TTCK Việt Nam đã trải qua một năm ảm đạm trong năm 2008 và VN-Index chỉ ngừng giảm vào tháng 2/2009 tại mốc 235 điểm Sự sụt giảm mạnh của VN-Index bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như thắt chặt chính sách tiền tệ, lãi suất huy động cao, tỷ lệ lạm phát cao, và cuộc suy thoái của nền kinh tế Mỹ Thiếu can thiệp kịp thời của chính phủ cũng là một lý do
Trang 9tại sao VN-Index đã giảm mạnh Từ năm 2009 đến quý II năm 2013, VN-Index tiếp tục trải qua nhiều thăng trầm: đạt đỉnh điểm tại 633 điểm trong tháng 10/2009, đáy
ở mốc 332.28 điểm vào ngày 1/9/2012
Sau 13 năm hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam, những quyết định của NĐT Việt Nam vẫn còn quá khó để cho các nhà phân tích tài chính có thể hiểu được Nhiều ý kiến và khuyến nghị được đưa ra bởi các công ty chứng khoán, thậm chí của những tổ chức tài chính toàn cầu cũng không phù hợp với những gì đã thực
sự xảy ra Rất nhiều dự báo, phân tích của các chuyên gia, các công ty chứng khoán hàng đầu đều có chung một kết quả là sai lệch với diễn biến thật của thị trường rất nhiều Năm 2008, HSBC và nhiều công ty chứng khoán cũng khẳng định VN-Index
có thể sẽ đạt 1.100 điểm vào cuối năm 2008 Tuy nhiên, thị trường chứng khoán năm 2008 là một năm tệ hại Trong một dự báo đầu năm 2009, HSBC dự báo rằng năm 2009 sẽ là một năm khó khăn và TTCK Việt Nam sẽ biến động mạnh, nhưng kết thúc ở mức độ tương tự như năm 2008, xung quanh 316 điểm Dự báo này là không chính xác vì vào cuối năm 2009, VN-Index tăng hơn 1.5 lần so với năm
2008 Do đó, có thể nói rằng các phương pháp dự báo dựa trên các lý thuyết tài chính thông thường không phù hợp với TTCK Việt Nam trong bối cảnh này Những lý thuyết này cho rằng các NĐT là hợp lý và tối đa hóa tài sản của mình bằng cách làm theo các quy tắc tài chính cơ bản và ra quyết định đầu tư khi cân nhắc kỹ giữa rủi ro và lợi nhuận Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của các NĐT phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của họ và thái độ đối với rủi ro Do đó, thật cần thiết để khám phá các yếu tố hành vi có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của các NĐT cá nhân trên TTCK Việt Nam hiện tại để giúp các NĐT cũng như các công ty chứng khoán làm tốt hơn những dự đoán và quyết định cho việc kinh doanh của họ Tài chính hành vi có thể hữu ích trong trường hợp này bởi vì nó dựa trên tâm lý học để giải thích tại sao người ta mua hay bán cổ phiếu
Nhiều nhà nghiên cứu xem tài chính hành vi như là một lý thuyết tốt để hiểu và giải thích được những cảm xúc và nhận thức sai lầm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Những người ủng hộ tài chính hành vi tin rằng việc nghiên cứu khoa học xã hội
Trang 10như tâm lý học có thể giúp hé lộ những hành vi trong thị trường chứng khoán, bong bóng thị trường và các cuộc khủng hoảng (Gao và Schmidt, 2005, tr.37) Có hai lý
do tại sao tài chính hành vi là quan trọng và thú vị để áp dụng cho TTCK Việt Nam Thứ nhất, tài chính hành vi vẫn còn là một chủ đề mới để nghiên cứu Cho đến gần đây, nó được chấp nhận như một mô hình khả thi để giải thích tại sao các NĐT trên thị trường tài chính đưa ra những quyết định và sau đó những quyết định này ảnh hưởng đến thị trường tài chính Thứ hai, do một số bằng chứng chủ quan, khoa học, và thực nghiệm; có thể kết luận rằng các NĐT châu Á, bao gồm Việt Nam, thường bị lệch lạc về nhận thức hơn so với những NĐT từ các nền văn hóa khác (Kim và Nofsinger, 2008, trang 1) Vì vậy, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của các NĐT Việt Nam thì không thể bỏ qua các yếu tố hành vi Nghiên cứu tài chính hành vi đã được thực hiện phổ biến tại các thị trường phát triển của châu Âu và Mỹ và nhiều nước khác cũng như trong thị trường mới nổi Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu sử dụng tài chính hành vi cho các thị trường mới nổi là ít hơn nhiều so với thị trường phát triển Trong nghiên cứu này, tài chính hành vi được sử dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam, một thị trường chứng khoán tiền mới nổi của khu vực châu Á, để tìm ra những yếu tố định hướng hành vi của NĐT cá nhân Tác giả hy vọng rằng luận văn này có thể làm phong phú thêm những nghiên cứu sử dụng tài chính hành vi cho các thị trường chứng khoán kém phát triển như Việt Nam
Do sự tương quan giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế, sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế và ngược lại Như vậy, các quyết định của NĐT trên thị trường chứng khoán đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định xu hướng thị trường, sau đó ảnh hưởng đến nền kinh tế Để hiểu và đưa ra một số lời giải thích phù hợp với quyết định của NĐT, điều quan trọng là khám phá những yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam và các yếu tố này tác động như thế nào hiệu quả đầu tư của họ Thật hữu ích để cho các NĐT hiểu được những hành vi thông thường, từ đó giúp lý giải cho những phản ứng của họ để có lợi nhuận tốt hơn Các
Trang 11công ty chứng khoán cũng có thể sử dụng nghiên cứu này để hiểu rõ hơn các NĐT
để dự báo chính xác hơn và đưa ra khuyến nghị tốt hơn Khi đó, giá cổ phiếu sẽ phản ánh giá trị thực sự của nó và TTCK Việt Nam trở thành thước đo cho sự phát triển của nền kinh tế và giúp các doanh nghiệp huy động vốn cho sản xuất và mở rộng kinh doanh
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
Luận văn này tập trung vào việc đạt được các mục tiêu sau đây:
• Áp dụng tài chính hành vi để xác định các yếu tố hành vi có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam
• Xác định mức độ tác động của các yếu tố hành vi lên quyết định đầu tư và hiệu quả của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam
• Đưa một số kiến nghị cho các NĐT cá nhân để điều chỉnh hành vi của họ để đạt được kết quả đầu tư tốt hơn
Để có được những mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi được đưa ra cho tác giả trong quá trình nghiên cứu Luận văn này được thực hiện bằng việc trả lời những câu hỏi sau đây:
- Các biến hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cá nhân tại thị TTCK
Việt Nam là gì và chúng thuộc về yếu tố nào?
- Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cá nhân tại TTCK
Việt Nam ở mức độ tác động nào?
- Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các NĐT cá nhân tại
TTCK Việt Nam ở mức độ tác động nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào các NĐT cá nhân năng động ở TTCK Việt Nam Năng động nghĩa là các NĐT rất thích đầu tư, có thể nói
Trang 12là họ có kiến thức về thị trường tài chính trên mức trung bình và họ được chọn ra một cách ngẫu nhiên bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên
4 Ý nghĩa của luận văn:
Đối với NĐT cá nhân: Luận văn phân tích các yếu tố tác động đến hành vi tài chính của NĐT cá nhân, đánh giá một cách khách quan hành vi đầu tư của họ Từ đó, đưa
ra những giải pháp và kiến nghị thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiến trình
ra quyết định của các NĐT cá nhân và giúp cho họ tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư
Đối với các công ty chứng khoán: Luận văn cung cấp cho họ một nền tảng tốt cho những dự đoán của họ về xu hướng thị trường chứng khoán trong tương lai và cung cấp thông tin tư vấn đáng tin cậy hơn cho NĐT
5 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn được chia thành 5 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan Lý thuyết Tài chính hành vi
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Phân tích và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH
VI 1.1 Lý thuyết tài chính truyền thống so với Lý thuyết Tài chính hành vi:
Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) ủng hộ các ý kiến cho rằng giá thực tế phản ánh giá trị cơ bản, khẳng định giá là đúng khi chúng được xác định bởi các NĐT, những người hợp lý hơn với những suy nghĩ đầu óc và hiểu luật, có liên quan đến xác suất có điều kiện (xác suất một sự kiện được đưa ra bởi một số khác) Theo EMH, mặc dù không phải tất cả các NĐT là hợp lý, thì thị trường vẫn được giả định là hợp lý Hơn nữa, thay vì dự báo tương lai, thị trường được giả định là những dự báo không lệch lạc
Khác với lý thuyết này, tài chính hành vi tin rằng đôi khi thị trường tài chính không hiệu quả về thông tin Do thực tế rằng con người không luôn luôn hợp lý, những quyết định tài chính của họ có thể được điều khiển bởi những ý kiến mang tính hành vi Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của ba trụ cột: Tâm lý học (Psychology), Xã hội học (Sociology), và Tài chính (Finance)
Giữa những năm 1980 được coi là sự khởi đầu của lĩnh vực nghiên cứu này Thị trường chứng khoán đã được chứng minh là phản ứng thái quá với thông tin bởi DeBondt và Thaler (1985, tr.392-393) Hơn nữa, Shefrin và Statman (1985, tr.777) khẳng định rằng NĐT có xu hướng sẵn sàng bán cổ phiếu đang có lời của họ hơn là
cổ phiếu đang thua lỗ ngay cả khi đặt những khoản đầu tư thua lỗ này vào mức giá
là sự lựa chọn tốt nhất Nếu những nghiên cứu này là bước khởi đầu của tài chính hành vi, thì lĩnh vực này đã có hơn hai thập kỷ phát triển Lĩnh vực này nghiên cứu
bổ sung cho những lý thuyết tài chính truyền thống (standard theories of finance) bằng
việc giới thiệu hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định Trái ngược với quan điểm của Markowitz và Sharp, tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và cách thức thu thập, sử dụng thông tin Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự báo những dính líu giữa quá trình ra quyết định mang tính tâm lý với hoạt động tài chính
Trang 14Ban đầu, tài chính hành vi không được chấp nhận rộng rãi và nghiên cứu của DeBondt và Thaler không phải là một ngoại lệ vì nó bị nghi ngờ và phải đối mặt với rất nhiều tranh luận Lúc đầu, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc định giá tài sản, tuy nhiên, gần đây, những ảnh hưởng nhiều hơn lên NĐT hợp lý cái mà các nhà quản lý có thể gặp phải trong quá trình ra quyết định đã được đưa vào nhiều mô hình Barberis và Thaler được coi là một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, người cung cấp một nghiên cứu xuất sắc về các loại lệch lạc hành vi khác nhau có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư chứng khoán cũng như thị trường tài chính
Mặc dù là một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi với các nhà nghiên cứu tài chính theo quan niệm truyền thống, nhưng tài chính hành vi đang dần khẳng định vị trí then chốt trong xu hướng tài chính ngày nay Bằng sự gắn kết lý thuyết về hình thành tâm lý với ngành tài chính và kinh tế học cổ điển, tài chính hành vi là chìa khóa giúp tìm ra lời giải thích cho các quyết định liên quan đến kinh tế Trước đây, quá trình nghiên cứu về tài chính hành vi không được tiến hành triệt để do quan niệm cho rằng NĐT chỉ cần quan sát người khác mua bán như thế nào và làm theo Đây được coi là cơ sở cho mọi quyết định giao dịch Nghiên cứu về tài chính hành vi sẽ giúp giải mã cho các hoạt động giao dịch nên dựa trên hành vi của NĐT cá nhân hoặc tổ chức Ví dụ, tài chính hành vi giúp lý giải nguyên nhân và biểu hiện của các thị trường hoạt động không hiệu quả
1.2 Các yếu tố hành vi tác động đến qui trình ra quyết định của NĐT:
Tài chính hành vi dựa trên tâm lý cho rằng qui trình ra quyết định của con người gây ra một vài ảo tưởng nhận thức Những ảo tưởng này được chia thành hai nhóm:
ảo tưởng gây ra bởi qui trình ra quyết định tự nghiệm và ảo tưởng bắt nguồn từ việc
áp dụng các khung tinh thần được xếp vào nhóm thuyết triển vọng (Waweru và cộng sự, 2008, tr.27) Hai loại này cũng như tâm lý bầy đàn và các yếu tố thị trường được trình bày như sau:
Trang 151.2.1 Lý thuyết tự nghiệm - Heuristic theory:
Tự nghiệm (Heuristics) còn được gọi là quy tắc “ngón tay cái, là phương pháp mà NĐT sử dụng để giảm thiểu sự tìm kiếm thông tin cần thiết để đưa ra giải pháp cho một vấn đề, tức là NĐT giải quyết vấn đề dựa vào kinh nghiệm.Tự nghiệm hay còn được gọi là quy tắc dựa vào kinh nghiệm theo một số tài liệu Kahneman và
Tversky dường như là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu các yếu tố thuộc về Tự nghiệm khi giới thiệu ba yếu tố cụ thể là tính đại diện, lệch lạc do sẵn
có, và neo quyết định (Kahneman và Tversky, 1974, tr.1124-1131) Waweru và cộng sự cũng liệt kê hai yếu tố được đặt tên Ảo tưởng con bạc và Quá tự tin (Waweru và cộng sự, 2008, tr.27)
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness): Lệch lạc này thường được
diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến nhân tố dài hạn
mà thường đặt nhiều quan tâm đến những nhân tố điển hình ngắn hạn Điều này chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm mà chúng ta có được trong quá khứ Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã có xu hướng phân loại các hiện tượng, sự vật và suy nghĩ Khi con người đối mặt với một hiện tượng mới, không hoàn toàn phù hợp với hiện tượng đã phân loại trước đó, họ cũng sẽ cố đưa chúng vào một tập hợp nào đó dựa trên những sự tương đồng đã kiếm được và từ đó sẽ định hình nên nền tảng để
họ có thể hiểu biết về những nhân tố mới
Cách thức tiếp thu này cung cấp một công cụ hữu hiệu cho việc xử lý thông tin mới bằng cách đồng thời kết hợp với những kinh nghiệm có liên quan trong quá khứ Tuy nhiên, dựa vào tình huống điển hình có thể tạo ra một số lệch lạc như suy ra xu hướng thị trường trong tương lai dựa trên một giai đoạn ngắn trong quá khứ mà xu hướng này không phải là quy luật chung Tương tự, con người thường có xu hướng nhận biết xác suất của các vấn đề tương đồng với những ý tưởng trước đó của họ ngay cả khi kết quả nhận được không có ý nghĩa thống kê
Ảo tưởng con bạc (Gambler’s fallacy): Niềm tin rằng một mẫu nhỏ có thể giống
với mẫu lớn, xác suất xảy ra trong mẫu nhỏ cũng giống như trong mẫu lớn Điều
Trang 16này được biết đến như là “luật số nhỏ” (law of small numbers) Người có niềm tin này có thể dẫn đến “Ảo tưởng con bạc” (Barberis & Thaler, 2003, tr.1065) Cụ thể hơn, trong thị trường chứng khoán, ảo tưởng con bạc phát sinh khi người ta dự đoán không chính xác các điểm hồi của thị trường (Waweru và cộng sự, 2008, tr.27) Ngoài ra, khi người ta rơi vào tình trạng lệch lạc, họ có xu hướng lựa chọn
những thay thế tối ưu đơn giản chỉ vì nó đã được lựa chọn trước đó
Neo quyết định (Anchoring): Là tâm lý khi cần ước lượng một giá trị với một độ
lớn không biết, con người bắt đầu bằng hình dung bằng một vài số ước lượng ban đầu và ngầm định một “nguồn tin tưởng” mà sau đó họ sẽ điều chỉnh lên hoặc xuống theo các thông tin và sự phân tích Ước lượng, điều chỉnh và đánh giá lại được hoàn thiện thành ước lượng cuối cùng Do đó, mốc neo có thể xuất hiện với những con số rất vô nghĩa
Quá tự tin (Overconfidence): Trạng thái tâm lý khi một người có niềm tin quá mức
vào khả năng của họ, đánh giá và khả năng nhận thức mang tính trực giác Trong việc ước lượng về khả năng xảy ra của một sự việc nào đó, họ thường đánh giá không chính xác vì họ cho rằng mình thông minh hơn hoặc thông tin mà họ nhận được tốt hơn những NĐT khác trên thị trường Lý do gây ra tâm lý này là do xu hướng tìm kiếm thông tin mang tính bổ sung và củng cố thêm cho các thông tin mà các NĐT sẵn có và mong muốn được trở nên chuyên nghiệp và thành thạo hơn so với người khác Tuy vây, tâm lý này ẩn chứa nhiều rủi ro cho NĐT Khi NĐT quá
tự tin vào quyết định của mình, họ thường làm ngơ trước những thông tin trái chiều Những người quá tự tin thường giao dịch tương đối lớn vì họ muốn nắm bắt tối đa các cơ hội mà mình có được từ các thông tin đặc biệt kia
Oberlechner & Osler (2004, tr.3) thì cho rằng việc quá tự tin có thể nâng cao khả năng nhận thức khác của một người, có thể giúp xúc tiến nhanh hơn và thời gian đầu tư nhiều hơn
Lệch lạc do sẵn có thông tin (Availability bias): Lệch lạc này xảy ra khi người sử
dụng thông tin sẵn có quá dễ dàng Trong lĩnh vực giao dịch chứng khoán, lệch lạc
Trang 17này biểu hiện thông qua các sở thích đầu tư vào các công ty địa phương mà các NĐT đã quen thuộc hoặc dễ dàng có được thông tin, mặc cho các nguyên tắc cơ bản được gọi là đa dạng hóa danh mục đầu tư để tối ưu hóa (Waweru và cộng sự,
1.2.2 Thuyết triển vọng - Prospect Theory:
“Lý thuyết triển vọng” (Prospect Theory): là một đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu
kinh tế Nó thách thức một số giả định cơ bản mà các nhà kinh tế đặt ra cho hành vi của con người Giáo sư tâm lý học người Mỹ Daniel Kahneman, một trong những nhà nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này, đã đoạt được giải Nobel Kinh tế vào năm 2002, là người tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng tài chính hành vi học với “Thuyết triển vọng” Nền tảng của thuyết kỳ vọng là hàm giá trị được Kahneman và Tversky (1979) tìm ra khi mô tả
độ hữu dụng của một NĐT tài chính bằng một hàm hữu dụng lõm, hữu dụng biên của tài sản giảm, tức là mỗi đơn vị tăng thêm trong giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lại một giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so với sự tăng lên trước đó trong giá trị tài sản đầu tư nhưng sẽ mang đến sự đau khổ và dằn vặt nhiều hơn khi một giá trị tài sản bị sụt giảm do thua lỗ
Lý thuyết triển vọng mô tả một trạng thái tâm lý ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của một cá nhân bao gồm ác cảm hối tiếc, sợ thua lỗ và tính toán bất hợp lý (Waweru và cộng sự, 2003, tr.28)
Trang 18Hình 1.1: Hàm giá trị (Tversky & Kahneman, 1974)
Ác cảm hối tiếc (Regret Aversion): Là tâm lý con người luôn tránh các hành động
có tính chất quyết định vì họ sợ rằng, trong nhận thức muộn màng, bất cứ điều gì
họ chọn sẽ ít tối ưu Về cơ bản, tâm lý này cốt là để ngăn chặn sự nuối tiếc liên quan đến việc ra quyết định tồi tệ Nó là một dấu hiệu nhận thức phát sinh trong các NĐT, khiến họ tránh những hối tiếc khi từ chối bán cổ phiếu đang giảm giá và sẵn sàng bán những cổ phiếu đang tăng giá Hơn nữa, các NĐT có xu hướng hối hận hơn về việc nắm giữ cổ phiếu giảm giá quá lâu hơn so với việc bán những cổ phiếu đang tăng quá sớm Con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn sau khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán NĐT luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán lỗ cổ phiếu Vì thế, khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, họ càng kỳ vọng vào lợi nhuận trong tương lai và thể hiện sự liều lĩnh củamình
Tâm lý sợ thua lỗ (Loss Aversion): Là trạng thái tâm lý con người sợ sự thua lỗ,
một khoản thua lỗ tác động quá lớn đến tâm lý so với một khoản lời tương đương Tâm lý sợ thua lỗ ngày càng trở nên phổ biến hơn ở các NĐT chứng khoán cá nhân trên thị trường Có thể giải thích hiện tượng tâm lý này dựa vào thuyết triển vọng của Tversky và Kahneman năm 1979
Trang 19Tâm lý sợ thua lỗ sẽ khiến cho NĐT có xu hướng gắn chặt với các chứng khoán đang bị giảm giá vì họ có tâm lý chờ cho chứng khoán tăng lên trở lại mới tiến hành giao dịch Tuy nhiên, sự thiếu quyết đoán này sẽ đẩy họ chìm sâu hơn vào thua lỗ Ngược lại, họ lại thường dễ dàng bán đi cổ phiếu đang trong xu hướng tăng điểm do họ lo sợ giá cổ phiếu sẽ nhanh chóng sụt giảm về mức giá mua lúc đầu Khi đó, họ cho rằng họ đã hạn chế được rủi ro nhưng thực tế rủi ro danh mục gia tăng khi danh mục đầu tư trở nên thiếu cân bằng
Tính toán bất hợp lý (Mental accounting): là một thuật ngữ đề cập đến “quá trình
mà mọi người nghĩ và đánh giá các giao dịch tài chính của họ” Tính toán bất hợp
lý cho phép các NĐT sắp xếp danh mục đầu tư của họ vào các tài khoản riêng biệt Thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện đóng tài khoản khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ Khi mua cổ phiếu ở mức giá cao, nhưng khi cổ phiếu đó xuống giá thì anh ta
sẽ không cắt lỗ, vì nghĩ rằng đó chỉ là “thua lỗ trên giấy tờ” Điều đó có nghĩa là tình trạng tài khoản này vẫn đang mở Khi thấy giá xuống mạnh, người ta thường khuyên rằng nên bán cắt lỗ Tâm lý sợ lỗ có thể khiến NĐT thất bại nặng nề Thế nhưng họ lại có thể dễ dàng đưa ra quyết định bán cổ phiếu khi cổ phiếu đang lên, trong khi giá của nó có thể còn lên cao nhiều hơn nữa Vì họ đã tách biệt giữa “tài khoản lời” và “tài khoản lỗ” trong tâm trí của họ, cho nên họ cố tối đa hoá tài khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì
cứ giữ, xem như nó chưa bị chuyển qua tài khoản lỗ
Trong luận văn này, ba yếu tố của thuyết triển vọng: Sợ thua lỗ, Ác cảm hối tiếc,
Tính toán bất hợp lý được sử dụng để đo lường mức độ tác động của chúng lên các
quyết định đầu tư cũng như hiệu quả hoạt động đầu tư của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam
1.2.3 Các nhân tố thị trường:
Các thị trường tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của NĐT theo cách của tài chính hành vi (DeBondt và Thaler 1995, tr.396) Nếu quan điểm của tài chính hành
Trang 20vi là chính xác, người ta tin rằng các NĐT có thể có phản ứng thái quá hoặc chậm quá với những thay đổi giá hoặc tin tức, ngoại suy các xu hướng trong quá khứ vào tương lai; thiếu quan tâm đến giá trị cơ bản của một cổ phiếu; tập trung vào cổ phiếu phổ biến và chu kỳ giá có tính thời vụ Các yếu tố thị trường rõ ràng có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của NĐT trong thị trường chứng khoán Waweru và các cộng sự (2008, tr.36) xác định các yếu tố của thị trường có ảnh hưởng đến việc
ra quyết định của NĐT: thay đổi của giá, thông tin thị trường, xu hướng trong quá khứ của các cổ phiếu, thị hiếu của NĐT đối với cổ phiếu, phản ứng thái quá với những thay đổi giá cả, và giá trị cơ bản của cổ phiếu
Thông thường, sự thay đổi của thông tin thị trường, giá trị cơ bản của các cổ phiếu
và giá cổ phiếu có thể gây ra phản ứng thái quá hoặc phản ứng chậm quá đối với sự thay đổi giá Những thay đổi này được thực nghiệm chứng minh là có ảnh hưởng mạnh đến hành vi ra quyết định của NĐT Các nhà nghiên cứu cho rằng phản ứng thái quá hoặc phản ứng chậm quá đối với tin tức có thể dẫn đến chiến lược giao dịch khác nhau của các NĐT và do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ Waweru và các cộng sự (2008, tr.36) kết luận rằng thông tin thị trường có tác động rất cao trong việc ra quyết định của NĐT và một ở khía cạnh nào đó, làm cho các NĐT có xu hướng tập trung vào các cổ phiếu phổ biến và các sự kiện được sự chú
ý khác dựa trên các thông tin thị trường chứng khoán Các NĐT hoàn toàn dựa vào chất lượng thông tin của thị trường hoặc cổ phiếu mà họ có khi ra quyết định đầu
tư
Waweru và các cộng sự (2008, tr.37) chỉ ra rằng sự thay đổi giá của các cổ phiếu có ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của họ ở vài mức độ Odean (1999, tr.1292) cho rằng các NĐT thích mua hơn là bán cổ phiếu Thay đổi về giá cổ phiếu trong bối cảnh này có thể được coi như một sự kiện được sự chú ý trên thị trường bởi các NĐT Ngoài ra, Caparrelli và cộng sự (2004, tr.223) cho rằng các NĐT bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng bầy đàn và có xu hướng đưa ra quyết định đầu tư theo những NĐT khác khi xảy ra sự thay đổi giá, điều này ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ
Trang 21Nhiều NĐT có xu hướng tập trung vào các cổ phiếu phổ thông hay cổ phiếu nóng trên thị trường (Waweru và cộng sự, 2008, tr.37) Odean (1999, tr.1296) cho rằng các NĐT thường chọn những cổ phiếu thu hút sự chú ý của họ Bên cạnh đó, lựa chọn cổ phiếu còn phụ thuộc vào thị hiếu của các NĐT Các NĐT xu hướng thích
cổ phiếu có hiệu suất tốt gần đây trong khi các NĐT hợp lý có xu hướng bán đi những cổ phiếu thua lỗ trong quá khứ Ngược lại, các NĐT hành vi thích bán cổ phiếu đã lời trong quá khứ của họ để hoãn sự hối tiếc liên quan đến một khoản lỗ
mà họ có thể gặp phải trong các các quyết định giao dịch cổ phiếu của họ (Waweru
và cộng sự, 2008, tr.30) Bên cạnh đó, xu hướng trong quá khứ của các cổ phiếu cũng được khám phá để xem tác động của nó đến hành vi ra quyết định của các NĐT ở một mức độ nhất định Trong trường hợp này, các NĐT thường phân tích các xu hướng trong quá khứ của các cổ phiếu bằng phương pháp phân tích kỹ thuật trước khi quyết định đầu tư
Nói chung, các yếu tố thị trường không bao gồm các yếu tố hành vi bởi vì chúng là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi của NĐT Tuy nhiên, các yếu tố thị trường ảnh hưởng đến các NĐT hành vi và các NĐT hợp lý theo những cách khác nhau, do đó, thật không đầy đủ nếu các yếu tố thị trường không được liệt kê khi xem xét các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Cùng với các nghiên cứu của Waweru và cộng sự (2008), luận văn này xem xét các yếu tố thị trường hoàn toàn như yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT trong thị trường chứng khoán
1.2.4 Tâm lý bầy đàn:
Tâm lý bầy đàn hay còn gọi là tâm lý đám đông trong thị trường tài chính được xác định là xu hướng hành vi của NĐT làm theo những hành động của NĐT khác hoặc tuân theo các chuyển động của thị trường thay vì dựa trên nguồn thông tin và chiến lược của chính NĐT Theo nghĩa rộng, Nguyễn Đức Hiển (2012) cho rằng, hành vi bầy đàn trên TTCK có thể được hiểu là một sự hội tụ của hành vi khi các cá nhân đưa ra các quyết định cùng một chiều hướng trong một thời gian nhất định Theo
Trang 22quan điểm về tài chính hành vi, tâm lý bầy đàn có thể gây ra một số lệch lạc cảm xúc, bao gồm sự phù hợp, tương đồng và xung đột về nhận thức, sự lệch lạc và tin đồn NĐT có thể thích tâm lý bầy đàn nếu họ tin rằng tâm lý bầy đàn có thể giúp họ lấy thông tin hữu ích và đáng tin cậy
Hành vi bầy đàn có lẽ được nhận diện trên hầu hết thị trường tài chính trong một hoàn cảnh tâm lý Hành vi bầy đàn gây ra tình trạng thị trường không hiệu quả Hành vi bầy đàn có thể xuất hiện đối với NĐT cá nhân và NĐT tổ chức là nguyên nhân chính gây ra tình trạng bong bóng đầu cơ bởi vì có một xu hướng quan sát người thắng gần đây, đặc biệt là biểu hiện tốt lặp đi lặp lại nhiều lần
Trong thị trường chứng khoán, các NĐT có tâm lý bầy đàn đặt quyết định đầu tư của họ vào quyết định của đám đông trong việc mua hoặc bán cổ phiếu Ngược lại, các NĐT theo thông tin và hợp lý thường bỏ qua việc theo đám đông, và điều này làm cho thị trường hiệu quả Có một số thành tố ảnh hưởng đến hành vi bầy đàn của một NĐT, ví dụ: quá tự tin, khối lượng đầu tư Càng ngày NĐT càng tự tin,
họ càng dựa vào thông tin cá nhân của họ cho các quyết định đầu tư Trong trường hợp này, NĐT dường như ít quan tâm đến hành vi bầy đàn Khi các NĐT đặt một lượng vốn lớn vào hoạt động đầu tư của họ, họ có xu hướng làm theo những hành động của những người khác để giảm thiểu rủi ro, ít nhất là theo cách mà họ cảm nhận được Bên cạnh đó, tâm lý bầy đàn cũng phụ thuộc vào từng loại NĐT, ví dụ, các NĐT cá nhân có xu hướng theo đám đông trong việc đưa ra quyết định đầu tư nhiều hơn các NĐT tổ chức
Waweru và cộng sự (2008, tr.37) xác định các quyết định đầu tư chứng khoán: mua, bán, lựa chọn cổ phiếu, thời gian để nắm giữ cổ phiếu và khối lượng cổ phiếu giao dịch có thể bị tác động bởi những NĐT khác Waweru và cộng sự kết luận rằng quyết định mua bán của NĐT bị tác động đáng kể bởi quyết định của người khác, và hành vi bầy đàn sẽ giúp NĐT nhận thức được ác cảm hối tiếc cho quyết định của mình Đối với các quyết định khác: lựa chọn cổ phiếu, thời gian để nắm giữ cổ phiếu và khối lượng cổ phiếu giao dịch, NĐT dường như ít bị ảnh hưởng bởi
Trang 23hành vi bầy đàn Tuy nhiên, những kết luận được đưa ra đối với trường hợp các NĐT tổ chức, kết quả có thể khác trong trường hợp các NĐT cá nhân bởi vì, như đã
đề cập ở trên, các cá nhân có xu hướng hành động theo bầy đàn trong hoạt động đầu tư nhiều hơn các NĐT tổ chức
Tóm lại, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của NĐT được chia thành
bốn nhóm: Tự nghiệm, thuyết triển vọng, các yếu tố thị trường, và hiệu ứng bầy đàn:
Tự nghiệm
Tình huống điển hình Tâm lý quá tự tin Neo quyết định Tâm lý con bạc Lệch lạc do tính sẵn có thông tin
Thuyết triển
vọng
Tâm lý ghét lỗ Tâm lý ác cảm hối tiếc Tính toán bất hợp lý
Phản ứng thái quá đến sự thay đổi về giá
Hiệu ứng bầy
đàn
Quyết định mua bán của NĐT khác Việc lựa chọn cổ phiếu giao dịch của NĐT khác Khối lượng cổ phiếu giao dịch của NĐT khác Tốc độ của tâm lý bầy đàn
Bảng 1.1: Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư (Nguồn:
Waweru và cộng sự, 2008)
Các nhóm này phản ánh một bức tranh tổng thể của hầu hết các yếu tố hành vi có thể ảnh hưởng đến quyết định của NĐT tại thị trường chứng khoán Do đó, chúng
Trang 24có thể được sử dụng để nhận ra những hành vi của NĐT cá nhân hoặc thậm chí những NĐT tổ chức trong hoạt động giao dịch chứng khoán, bất kể các loại thị trường chứng khoán: mới nổi hoặc phát triển Vì vậy, giả thuyết H1 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H1: Các biến hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các NĐT cá
nhân tại TTCK Việt Nam được nhóm lại trong bốn yếu tố như các lý thuyết đã được xem xét: Tự nghiệm, thuyết triển vọng, yếu tố thị trường, và hiệu ứng bầy đàn
1.3 Quyết định giao dịch và hiệu quả đầu tư chứng khoán:
1.3.1 Quyết định bán:
Các nghiên cứu trước đây cho rằng các NĐT giảm quyết định bán những tài sản đang bị một khoản lỗ so với giá mua ban đầu, được gọi là “hiệu ứng phân bổ tài khoản” của Shefrin và Statman (1985, tr.778) Odean (1998b, tr.1795) xác nhận cùng một kết luận rằng các NĐT cá nhân có xu hướng bán cổ phiếu có giá trị tăng
so với giá mua ban đầu của họ hơn là bán các cổ phiếu giảm giá Tuy nhiên, rất khó
để chứng minh hiện tượng này với cơ sở hợp lý Thật không thực sự hợp lý để kết luận rằng các NĐT hợp lý bán cổ phiếu đang có lời bởi vì họ có thể thấy trước hiệu quả đầu tư kém của họ Bên cạnh đó, Odean cũng công nhận rằng lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu bán ra là lớn hơn so với lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu mà các NĐT nắm giữ
1.3.2 Quyết định mua:
Theo Barberis và Thaler (2003, tr.1103), các NĐT cá nhân dường như ít bị tác động bởi sự quan tâm nắm giữ cổ phiếu nào cho quyết định bán, vì quyết định bán và quyết định mua được điều hành khác nhau Bởi vì ràng buộc bán khống, khi quyết định chọn một cổ phiếu để bán, họ có thể chỉ tập trung vào các cổ phiếu hiện đang thuộc về họ Trong khi đó, với một quyết định mua, NĐT cá nhân có nhiều cơ hội
để lựa chọn các cổ phiếu mong muốn từ nhiều nguồn lựa chọn, điều này giải thích
lý do tại sao yếu tố quan tâm tác động nhiều hơn lên quyết định mua chứng khoán hơn là quyết định bán
Trang 25Odean (1999, tr.1293) cho rằng quyết định mua có thể là một kết quả của một
“hiệu ứng quan tâm” Khi đưa ra quyết định mua cổ phiếu, người ta không thể tìm
thấy một cổ phiếu tốt nào để mua sau khi xem xét một cách hệ thống hàng trăm cổ phiếu niêm yết Thông thường họ mua một cổ phiếu thu hút sự quan tâm của họ và
có thể nguồn lớn nhất thu hút chú ý là từ hiệu quả hoạt động lớn trong quá khứ, kể
cả tốt hay xấu
Barber và Odean (2002, tr.2) đã chứng minh rằng quyết định bán ít được chú ý hơn
so với quyết định mua với trường hợp các NĐT cá nhân Để đưa ra kết luận này, họ cho rằng sự quan tâm nắm giữ cổ phiếu thể hiện ở một số tiêu chí: cổ phiếu có khối lượng giao dịch cao bất thường, cổ phiếu sinh lời bất thường, và cổ phiếu có tin tức Cuối cùng, các tác giả khám phá rằng các NĐT cá nhân trong mẫu của họ quan tâm nhiều đến việc mua các cổ phiếu được quan tâm hơn là bán chúng Odean (1999, tr.1293) cung cấp một số hiểu biết về các cổ phiếu ưa thích mà các NĐT cá nhân muốn mua Như đã đề cập ở trên, quyết định bán chủ yếu ưu tiên bán cổ phiếu có lời, trong khi đó, quyết định mua hàng có liên quan đến cả những cổ phiếu lời và cổ phiếu lỗ trước đó
Như vậy, từ quan điểm của tài chính hành vi, hành vi của NĐT cá nhân tác động lên cả quyết định bán và quyết định mua ở các cấp độ khác nhau, trong đó các NĐT
cá nhân quan tâm nhiều hơn đến việc mua các cổ phiếu hơn là bán chúng, và sau đó chúng cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của thị trường cũng như hiệu quả đầu
tư của NĐT cá nhân
1.3.3 Hiệu quả đầu tư:
Một số quan điểm phản đối tài chính hành vi chỉ trích rằng hiệu quả kém của các NĐT không hợp lý có thể loại bỏ họ ra khỏi thị trường chứng khoán Ngược lại, một số khác tin rằng các NĐT quá tự tin là những người có hành vi giao dịch quá mức để có thể kiếm lợi nhiều hơn Kyle và Wang (1997, tr.2) định nghĩa quá tự tin giống như hành vi của một ai đó đánh giá quá cao tính chính xác của thông tin riêng của anh ta Trong điều kiện cân bằng, các NĐT quá tự tin giao dịch nhiều hơn
Trang 26so với đối thủ hợp lý của họ, và mong đợi lợi nhuận đầu tư cao hơn trong dài hạn Wang (2001, tr.138) nhận ra rằng sự thiếu tự tin và tự cao không có khả năng tồn tại trong dài hạn, nhưng quá tự tin vừa phải có thể chịu đựng và điều phối các hành
vi hợp lý
Oberlechner và Osler (2004, tr.1-33) xác định mức độ tác động của quá tự tin lên hiệu quả đầu tư cái mà được đo bằng tỷ suất sinh lời đầu tư và kinh nghiệm giao dịch Oberlechner và Osler tin rằng tỷ suất sinh lời đầu tư cho thấy hiệu quả đầu tư một cách khách quan Tỷ suất sinh lời được đánh giá bởi các NĐT khi so sánh với
tỷ suất sinh lời của các đồng nghiệp Kinh nghiệm giao dịch của NĐT được coi là một tiêu chí về thời gian mà một NĐT tồn tại trong thị trường chứng khoán Những nhà nghiên cứu này thấy rằng lợi nhuận đầu tư không bị tác động bởi sự quá tự tin, tuy nhiên, quá tự tin có thể tác động đến kinh nghiệm giao dịch của các NĐT cá nhân
Có khá nhiều phương pháp để đo lường hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán Các tác giả trước chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp kết quả các NĐT trong các thị trường chứng khoán để đo lường hiệu quả đầu tư chứng khoán (Lin và Swanson (2003), Kim và Nofsinger (2003) v.v…) Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ yêu cầu các NĐT tự đánh giá hiệu quả đầu tư của chính họ, để mà các phép đo lường hiệu quả đầu tư dựa theo cách tính tỷ suất sinh lời đầu tư trong nghiên cứu của Oberlechner
và Osler (2004) Chi tiết hơn, các tỷ suất sinh lời đầu tư chứng khoán được đánh giá bằng quan điểm khách quan và chủ quan của các NĐT cá nhân Những đánh giá chủ quan của NĐT được thực hiện bằng cách yêu cầu họ so sánh tỷ suất sinh lời thực tế hiện tại với tỷ suất sinh lợi mong đợi của họ trong khi những đánh giá khách quan được thực hiện bằng việc so sánh giữa tỷ suất sinh lời thực tế và tỷ suất sinh lợi trung bình của thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, mức độ hài lòng của các quyết định đầu tư được đề xuất trong luận văn này như là một tiêu chuẩn để đo lường hiệu quả đầu tư Trong thực tế, có NĐT cảm thấy hài lòng với hiệu quả đầu
tư của mình ngay cả khi lợi nhuận đầu tư của họ là không cao, ngược lại, các NĐT khác không cảm thấy hài lòng với khoản đầu tư của họ ngay cả khi lợi nhuận của
Trang 27họ là tương đối cao Do đó, mức độ hài lòng của các quyết định đầu tư với tỷ suất sinh lợi đầu tư được đề xuất như là phép đo cho hiệu quả đầu tư trong luận văn này
Từ những lập luận trên, các yếu tố về hành vi được cho là ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư của NĐT cá nhân, tác giả đưa ra hai giả thuyết H2
và H3:
Giả thuyết H2: Các yếu tố hành vi có tác động đến quyết định đầu tư của các NĐT
cá nhân tại TTCK Việt Nam ở mức cao
Giả thuyết H3: Các yếu tố hành vi có tác động tích cực đến hiệu quả đầu tư của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam
1.4 Những nghiên cứu trước đây:
A Chandra & R Kumar (2011) thu thập các dữ liệu từ cuộc khảo sát cho biết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của NĐT cá nhân Ấn Độ trong thị trường chứng khoán Sử dụng phân tích đơn biến và đa biến và tìm thấy năm yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của NĐT cá nhân trong thị trường chứng khoán cụ thể là thái độ thận trọng và phòng ngữa, bảo thủ, sự thiếu tự tin, bất cân xứng thông tin và yếu tố tài chính công ty Cuối cùng ông kết luận rằng đây dường như là những thành phần tâm lý chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi giao dịch của NĐT cá nhân trên thị trường chứng khoán Ấn Độ
Shiller (1999), khảo sát một số ý tưởng quan trọng trong tài chính hành vi, bao gồm
cả lý thuyết Triển vọng, lý thuyết Tiếc nuối, Neo quyết định, và phản ứng quá mức hay phản ứng quá chậm trước thị trường Lý thuyết triển vọng được giới thiệu bởi Kahneman và Tversky (1979, 1981, 1986) cho thấy rằng con người phản ứng khác nhau với các tình huống tương tự tùy thuộc vào việc nó được trình bày trong bối cảnh của một khoản lời hay một khoản lỗ “Lý thuyết Hối tiếc” (Larrick, Boles, 1995) là một lý thuyết khác cho rằng phản ứng cảm tính của con người gây ra những lỗi quyết định Neo quyết định (Yates, 1990), là một hiện tượng trong đó, trong trường hợp không có thông tin tốt hơn, các NĐT cho rằng mức giá hiện tại là đúng Phản ứng quá mức hay quá chậm trước thị trường (DeBondt và Thaler,
Trang 281985), là hậu quả của việc các NĐT đặt quá nhiều kỳ vọng vào các tin tức gần đây Con người thể hiện sự quá tự tin Họ có xu hướng trở nên lạc quan hơn khi thị trường đi lên và bi quan hơn khi thị trường đi xuống Do đó, giá rơi quá nhiều khi thị trường xấu
Nghiên cứu thực hiện bởi Kent, Hirshleifer và Subrahmanyan (2001) đã tìm thấy những bằng chứng về lỗi nhận thức hệ thống được thực hiện bởi các NĐT và những lệch lạc này ảnh hưởng đến giá Theo Kent và cộng sự (2001), hành vi phổ biến nhất mà hầu hết các NĐT thực hiện khi đưa ra quyết định đầu tư là (1) Các NĐT thường không tham gia tất cả vào danh mục các tài sản và chứng khoán, (2) NĐT
cá nhân thể hiện sự sợ thua lỗ, (3) NĐT dùng hiệu quả đầu tư quá khứ như là một chỉ dẫn cho hiệu quả đầu tư trong tương lai trong các quyết định mua cổ phiếu, (4) các NĐT giao dịch quá tích cực, (5) Các NĐT hành xử trong một hiện trạng, (6) NĐT không phải lúc nào cũng tạo ra được những danh mục đầu tư hiệu quả, (7) Các NĐT hành xử tương tự nhau, và (8) Các NĐT bị ảnh hưởng bởi các cổ phiếu giao dịch cao hay thấp trong lịch sử
Nghiên cứu của Barber và Odean (2000, 2001) cho thấy các NĐT cá nhân quá tự tin giao dịch quá nhiều và giữ danh mục đầu tư rủi ro cao Như lập luận của Barber
và Odean (2001), các NĐT quá tự tin quá nhiều trong khả năng của mình giải thích thông tin vụn vặt và không rõ ràng vì vậy họ thường chậm chạp để xác nhận và xử
lý thông tin thống kê và có liên quan (như thu nhập của doanh nghiệp) và các thông tin của người khác (chẳng hạn như thông tin từ các NĐT hợp lý) Kết quả là, các NĐT quá tự tin sẽ phản ứng theo thông tin, phù hợp với việc mua (bán) cổ phiếu thắng (thua lỗ) trong quá khứ
Trong một nghiên cứu về hành vi và hiệu quả đầu tư của các NĐT cá nhân tại Nhật Bản của Kim và Nofsinger (2007), hành vi NĐT cụ thể như quá tự tin, giao dịch phản hồi, và hiệu ứng phân bổ tài khoản đã được nghiên cứu xác định Nghiên cứu tìm thấy rằng các NĐT cá nhân Nhật Bản nắm giữ cổ phiếu có rủi ro cao, tỷ lệ giá trị sổ sách-thị trường (BM) lớn, khối lượng giao dịch cao, và kiếm được lợi nhuận
Trang 29thấp Với mối quan hệ cùng chiều rủi ro/lợi nhuận được giả định và sự thành công được chứng minh của các công ty giá trị, họ đã nghi ngờ rằng các NĐT có thể nắm giữ các công ty có rủi ro hệ thống cao hơn và các công ty giá trị nhưng vẫn không hiệu quả Hơn nữa, trong giai đoạn mẫu đầy đủ của họ, họ cũng nhận thấy rằng các NĐT cá nhân đã giao dịch kém hiệu quả tức là, cá nhân bán (mua) cổ phiếu tốt (kém), và họ mua và bán cổ phiếu lời trong quá khứ Phát hiện của họ là phù hợp với dự đoán của các mô hình quá tự tin
Waweru và cộng sự (2008) đưa ra bốn nhóm yếu tố hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư: (1) Tự nghiệm, (2) Thuyết triển vọng, (3) Các yếu tố thị trường,
và (4) Hiệu ứng bầy đàn Waweru và cộng sự (2008) cho rằng neo quyết định có sự liên kết với tình huống điển hình như nó cũng phản ánh rằng người ta thường tập trung vào kinh nghiệm gần đây và xu hướng lạc quan hơn khi thị trường tăng và bi quan hơn khi thị trường giảm Ông cũng kết luận rằng thông tin thị trường có tác động rất cao trong việc ra quyết định của NĐT và một cách nào đó, điều này làm cho các NĐT có xu hướng tập trung vào các cổ phiếu phổ biến và các sự kiện được
sự chú ý khác dựa trên các thông tin thị trường chứng khoán Waweru và cộng sự (2008, tr.31) cho rằng tâm lý bầy đàn có thể tác động đến giao dịch chứng khoán và tạo ra xu thế cho việc giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, tác động của tâm lý bầy đàn có thể bị phá vỡ khi nó đạt đến một mức độ nhất định vì chi phí để theo bầy đàn có thể tăng lên để có được lợi nhuận bất thường
Một số mô hình về hành vi NĐT dự đoán rằng các quyết định đầu tư sẽ phụ thuộc vào điều kiện thị trường Đó là, thị trường tăng trưởng sẽ được gắn với một số đặc điểm NĐT và thị trường suy giảm gắn với những người khác Ví dụ, Gervais và Odean (2001) thừa nhận rằng trong thời kỳ thị trường tăng giá, các NĐT cá nhân sẽ cho rằng sự thành công là do khả năng của chính họ là quá nhiều, cái mà làm cho
họ thậm chí ngày càng quá tự tin Kết quả là, hành vi quá tự tin (ví dụ, mức độ giao dịch cao và chấp nhận rủi ro) sẽ được dễ dàng nhận thấy hơn tại thị trường tăng trưởng hơn trong thị trường suy giảm Tương tự như vậy, Daniel, Hirshleifer, và Subrahmanyam (2001) dự đoán rằng do kết quả của sự quá tự tin trong đầu tư, xu
Trang 30hướng việc định giá cơ bản sai có thể lớn hơn trong thị trường tăng trưởng Một mô hình khác dựa trên lỗi nhận thức đầu tư của Barberis và Huang (2001) minh họa ác cảm thua lỗ kết hợp thế nào với tính toán bất hợp lý Khi các NĐT bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng phân bổ tài khoản ở mức độ danh mục đầu tư (đối lập với trình độ của NĐT cá nhân), họ xem cổ phiếu là ít rủi ro hơn khi thị trường tăng và nguy hiểm hơn khi thị trường sụt giảm Sự lo ngại của NĐT đến những thay đổi rủi ro tùy thuộc vào chiều hướng gần đây của thị trường chứng khoán Tóm lại, mô hình của
họ dự đoán rằng thay đổi ác cảm thua lỗ của các NĐT ảnh hưởng đến lợi nhuận của thị trường và những biến động
Tuy nhiên, một vài nghiên cứu thực nghiệm về giao dịch của NĐT xem xét hành vi khác nhau như thế nào giữa những môi trường thị trường khác nhau Một ngoại lệ
là Kim và Nofsinger (2003), người đã điều tra tâm lý bầy đàn của NĐT Nhật Bản trong những hoàn cảnh thị trường khác nhau Kết quả của họ cho thấy rằng tâm lý bầy đàn trong việc mua cổ phiếu là năng động hơn (hoặc ít hơn) trong suốt thời kỳ thị trường tăng trưởng (suy giảm) Hơn nữa, tác động của giá mua và bán bầy đàn lớn hơn nhiều trong suốt thị trường tăng trưởng Ngoài ra, bất kỳ bằng chứng nào
về giao dịch phản hồi dường như được tập trung trong giai đoạn thị trường đi xuống, khi các NĐT tổ chức của Nhật Bản mua cổ phiếu thắng trong quá khứ và bán những cổ phiếu thua lỗ trong quá khứ
Anderson, Henker và Owen (2005, tr.71) kết luận rằng các NĐT cá nhân người mà thực hiện số lượng giao dịch nhiều hơn có thể có lợi nhuận lớn hơn những NĐT cá nhân với số lượng giao dịch ít hơn Các tác giả thấy rằng cổ phiếu có sự gia tăng đáng kể thuộc quyền sở hữu NĐT cá nhân (cổ phiếu được mua) là những cổ phiếu
có lời trong quá khứ Bên cạnh đó, họ cũng ngạc nhiên khi khám phá ra rằng cổ phiếu giảm giá đáng kể thuộc quyền sở hữu NĐT cá nhân (cổ phiếu được bán) cũng
là những cổ phiếu có lời trong quá khứ Phát hiện này phù hợp với hiệu ứng phân
bổ, cái mà khiến cho các NĐT sẵn sàng bán chứng khoán có lời và giữ chứng khoán thua lỗ
Trang 311.5 Mô hình nghiên cứu:
Như đã nêu ra trong phần nghiên cứu ở trên thì chắc chắn là các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các NĐT trong thị trường tài chính, đặc biệt là trong TTCK Luận văn này tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các biến hành vi lên
quyết định của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam, như trong giả thuyết nghiên
cứu và mô hình sau đây:
Giả thuyết H1: Các biến hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam được nhóm lại trong bốn yếu tố như các lý thuyết đã được xem xét: thuyết tự nghiệm, thuyết triển vọng, các yếu tố thị trường, và hiệu ứng bầy đàn
Giả thuyết này được kiểm định bằng cách phân tích nhân tố khám phá để xác định kích thước các biến hành vi
Giả thuyết H2: Các yếu tố hành vi có tác động đến quyết định đầu tư của các NĐT
cá nhân tại TTCK Việt Nam ở mức cao
Giả thuyết này được kiểm tra bằng cách tổng hợp các đánh giá của người trả lời về
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hành vi trên quyết định đầu tư
Giả thuyết H3: Các yếu tố hành vi có tác động tích cực đến hiệu quả đầu tư của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam
Giả thuyết này được kiểm định bằng cách sử dụng SEM (mô hình phương trình cấu trúc) trình bày các chỉ số tương quan giữa các nhân tố hành vi và hiệu quả đầu tư của NĐT cá nhân Tác giả sẽ sử dụng phần mềm AMOS để phân tích cấu trúc SEM
Trang 32Các biến Triển vọng:
Ác cảm thua lỗ, Ác cảm hối tiếc,
Tính toán bất hợp lý
Các biến Tự nghiệm:
Tình huống điển hình, Quá tự tin,
Neo quyết định, Ảo tưởng con
bạc, Lệch lạc do sẵn có thông tin
Các biến Bầy đàn:
Tác động của các quyết định của
NĐT khác (mua, bán, lựa chọn cổ
phiếu giao dịch, khối lượng cổ
phiếu giao dịch, tốc độ bầy đàn
Các biến Thị trường:
Sự thay đổi giá, Thông tin thị trường,
Xu hướng quá khứ của cổ phiếu, Giá
trị cơ bản của cổ phiếu, Thị hiếu của
NĐT, Phản ứng thái quá đến sự thay
đổi của giá
Trang 33CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên các phương pháp hỗn hợp định lượng và định tính nhưng tập trung nhiều hơn vào chiến lược nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng thường được kết hợp với việc nghiên cứu hành vi, điều đó là phù hợp với chủ đề của tài chính hành vi Hơn nữa, mục đích chính là khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cái mà chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả bằng cách sử dụng nghiên cứu định lượng vì nghiên cứu định lượng được thiết kế để xác định và mô tả các biến để thiết lập mối quan hệ giữa chúng Để đạt được kết quả hợp lệ, đáng tin cậy và khái quát, kích cỡ mẫu đầy đủ được lựa chọn thông qua bảng câu hỏi Hơn nữa, nghiên cứu định lượng cho phép chúng ta phân tích kết quả bằng cách sử dụng phương pháp thống kê, đặc biệt là với sự hỗ trợ của máy tính Phần lớn các nghiên cứu có chất lượng công bố trên các tạp chí hàng đầu sử dụng chiến lược định lượng với các mô hình thống kê tiên tiến và được máy tính hỗ trợ phân tích dữ liệu
Tuy nhiên, nghiên cứu định lượng tập trung vào các con số và thống kê, ở một khía cạnh nào đó, nó mất khả năng phân biệt giữa cá nhân và các tổ chức Mặc dù được khoa học chứng minh, nghiên cứu định lượng vẫn bị xem là hời hợt và không thể kết nối trực tiếp cuộc sống và nghiên cứu (Bryman & Bell, 2007, tr.174-175) Vì vậy, để hiểu kết quả một cách sâu sắc, cả hai phương pháp định lượng và định tính được sử dụng Sau khi có kết quả từ các bảng câu hỏi thu thập, luân văn này tiếp tục với một số cuộc phỏng vấn với một số chuyên gia chứng khoán, có thể được coi
là phương pháp định tính để có được dữ liệu sâu sắc hơn để hiểu hơn về hành vi của NĐT và các lý do đằng sau quyết định đó
2.2 Loại hình nghiên cứu:
Các câu hỏi nghiên cứu có thể là khám phá, hoặc là mô tả Nghiên cứu khám phá
mô tả là một phương pháp hiệu quả để tìm hiểu những gì đang xảy ra và tìm kiếm những hiểu biết mới Nó rất hữu ích để làm rõ một vấn đề không chắc chắn Do đó,
Trang 34loại nghiên cứu này là sự lựa chọn tốt nhất phù hợp với mục tiêu khám phá các yếu
tố hành vi ảnh hưởng đến các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam, cái mà dường như rất ít được nghiên cứu trước đó Lĩnh vực nghiên cứu này đã tồn tại trong hơn hai thập kỷ nhưng khá mới đối với TTCK Việt Nam Vì vậy, hầu hết mọi người có hiểu biết rất hạn chế về nó, và trong trường hợp này, nghiên cứu khám phá có thể giúp hiểu chủ đề này đầy đủ hơn Nghiên cứu này đề xuất một số giả thuyết về hành vi của NĐT tại TTCK Việt Nam và những giả thuyết này được kiểm định bằng cách thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi tự hoàn thành
Bên cạnh nghiên cứu khám phá, thì cũng có hai loại nghiên cứu khác như nghiên cứu mô tả và giải thích Nghiên cứu mô tả liên quan đến việc tìm ra “ai, cái gì, ở đâu, khi nào và bao nhiêu”, trong khi nghiên cứu giải thích hoặc nghiên cứu quan
hệ nhân quả tập trung vào việc tìm ra nguyên nhân và tác động của một biến vào các biến khác (Blumberg và cộng sự, 2005, tr.130) Vì luận văn này cố gắng giải thích hành vi của NĐT bằng cách phỏng vấn một số chuyên gia chứng khoán tại TP.HCM nên nghiên cứu này có thể được coi như là một sự kết hợp của cả hai loại nghiên cứu giải thích và khám phá trong khi nghiên cứu mô tả là không phù hợp
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Trong luận văn này chúng ta cần phải nghiên cứu một cỡ mẫu tương đối lớn tại một
thời điểm duy nhất Vì vậy, thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study)
được ưa thích trong chủ đề này
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang liên quan đến việc sử dụng các chiến lược nghiên cứu khác nhau, và có lợi cho nghiên cứu này vì nó cho phép thu thập dữ liệu định tính và định lượng, phù hợp cho các phương pháp hỗn hợp được lựa chọn như được nêu ra trong các phần trước Các dạng điển hình thu thập dữ liệu định lượng trong cách tiếp cận loại này là các nghiên cứu khảo sát xã hội trên một mẫu tại một thời điểm duy nhất trong khi các dạng điển hình thu thập dữ liệu định tính là các cuộc phỏng vấn định tính hoặc các nhóm người được khảo sát tại một thời điểm duy nhất
Trang 352.4 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi tự hoàn thành được chọn để thu thập dữ liệu định lượng và phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được chọn để thu thập dữ liệu định tính trong nghiên cứu này
Bảng câu hỏi tự hoàn thành có vẻ là một trong những phương pháp phổ biến nhất của nghiên cứu định lượng Với một bảng câu hỏi tự hoàn thành, người trả lời trả lời câu hỏi bằng cách hoàn thành bảng câu hỏi của mình Phương pháp này được lựa chọn vì một số lý do Lý do đầu tiên là khi các câu hỏi nghiên cứu được xác định rõ ràng, bảng câu hỏi là sự lựa chọn tốt nhất để có dữ liệu được chuẩn hóa, điều đó dễ dàng xử lý, và phân tích Đặc biệt, vì không có người phỏng vấn nào có mặt khi các bảng câu hỏi được hoàn thành, kết quả có thể không bị ảnh hưởng bởi những người phỏng vấn Hơn nữa, chi phí rẻ hơn so với các phương pháp khác và giúp tiết kiệm thời gian nên hàng trăm bảng câu hỏi có thể được gửi ra cùng một lúc Vì người được hỏi là các NĐT, họ có thể không có nhiều thời gian cho các cuộc phỏng vấn, do đó, bảng câu hỏi có thể làm cho họ cảm thấy thoải mái hơn vì
họ có thể làm điều đó bất cứ khi nào họ có thời gian rảnh Bảng câu hỏi cũng được thuận tiện hơn cho người trả lời trong trường hợp họ cần phải cung cấp một số thông tin nhạy cảm, nói cách khác, họ có xu hướng trung thực hơn so với một cuộc phỏng vấn (Bryman & Bell, 2007, tr.242)
Trong luận văn này, tác giả sử dụng thu thập dữ liệu bằng cách gửi đường link có thiết kế bảng câu hỏi online trong đó đến NĐT và đề nghị họ tự hoàn thành Kết quả phản hồi đều được thu thập lại một cách hệ thống với sự hỗ trợ của công cụ Google Docs Điểm mạnh của phương pháp này là hầu như ít có bảng trả lời nào là không hợp lệ vì cách thiết kế bảng câu hỏi với những câu hỏi bắt buộc phải trả lời
Vì vậy, hầu như các bảng trả lời nhận lại là hợp lệ
Sau khi thu thập và phân tích dữ liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng để mở rộng phạm vi nghiên cứu Các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc
Trang 36hơn về kết quả cũng như kinh nghiệm của họ về tài chính hành vi của NĐT Việt Nam trên thị trường chứng khoán Phỏng vấn bán cấu trúc ít được chuẩn hóa, do
đó, nó tạo ra cơ hội để có được những câu trả lời bất cứ khi nào người phỏng vấn muốn người được phỏng vấn giải thích, hoặc tin vào câu trả lời của họ (Saunders và cộng sự, 2009, tr.320) Trong loại phỏng vấn này, các nhà nghiên cứu chuẩn bị một danh sách các chủ đề và câu hỏi được sử dụng, chúng có thể được thêm vào hoặc
bỏ qua tùy thuộc vào dòng cảm xúc của cuộc trò chuyện Do đó, thông tin phong phú về các hành vi tài chính thu được thông qua các cuộc đàm đạo với các chuyên gia trong lĩnh vực này
Tóm lại, dữ liệu cho luận văn này được thu thập bằng cách sử dụng cả dữ liệu định lượng được tổng hợp từ các bảng câu hỏi gửi đến các NĐT cá nhân và dữ liệu định tính thu được từ các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với hai chuyên gia chứng khoán
uy tín tại TP.HCM Dữ liệu thu thập từ các bảng câu hỏi cung cấp những hiểu biết
cơ bản về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của NĐT và kết quả phân tích dữ liệu định hướng nội dung của cuộc phỏng vấn
2.5 Lựa chọn người trả lời:
Vì các nghiên cứu nhằm khám phá những yếu tố hành vi tại TTCK Việt Nam, kích thước mẫu tương đối lớn được khuyến khích Kích thước mẫu càng lớn càng có tính đại diện, do đó kết quả có được sẽ đáng tin cậy hơn Tuy nhiên, kích thước mẫu phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của các nhà nghiên cứu bao gồm cả thời gian, tài chính và con người Hair và cộng sự (1998, tr.111) cho rằng với nghiên cứu định lượng, ít nhất cần có 100 người trả lời để có phù hợp với phương pháp thống kê phân tích dữ liệu Do đó, tác giả đã gửi đường link bảng câu hỏi đến khoảng 500 NĐT cá nhân với hy vọng nhận được hơn 100 bảng trả lời
Bảng câu hỏi được gửi đến các NĐT cá nhân một cách ngẫu nhiên Ngoài ra, nó sẽ giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc Tuy nhiên, lấy mẫu thuận tiện là một trong những loại mẫu không xác suất, cái mà không thể cung cấp mẫu đại diện, do đó kết quả không thể được tổng quát cho toàn bộ NĐT trong khi mục tiêu là để tìm hiểu
Trang 37các hành vi tài chính của toàn bộ các NĐT cá nhân Do thời gian hạn chế, chỉ có các NĐT cá nhân từ một số công ty chứng khoán được lựa chọn: VNdirect, Phú Hưng, Chứng khoán Sài Gòn (SSI) Mặc dù các NĐT từ các công ty này không phải là toàn bộ các NĐT, nhưng họ có thể được coi như là đại diện một số phạm vi Vấn đề này có thể được coi như là một hạn chế của luận văn này
Sau khi có kết quả phân tích dữ liệu, các cuộc phỏng vấn với một số chuyên gia chứng khoán được tiến hành để có sự hiểu biết sâu sắc hơn về các hành vi tài chính của NĐT cá nhân Việt Nam Danh sách phỏng vấn được chọn dựa trên mẫu thuận tiện do thời gian rảnh của những chuyên gia này bị hạn chế Hai chuyên gia này được mời phỏng vấn riêng biệt Họ được mong đợi là có sự hiểu biết sâu sắc về thị trường chứng khoán và các hành vi NĐT Do đó, tác giả tin rằng họ là những người được phỏng vấn chất lượng cho nghiên cứu này, những người mà có thể cung cấp các phân tích và thảo luận ý nghĩa về chủ đề này Các cuộc phỏng vấn với hai chuyên gia này sẽ giúp mang lại một số cái nhìn bên trong vấn đề nghiên cứu
2.6 Thiết kế phép đo và bảng câu hỏi:
Các câu hỏi được chia thành ba phần: thông tin cá nhân, các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư Trong phần thông tin cá nhân, phương pháp đo lường danh nghĩa và thứ bậc được sử dụng Thang đo danh nghĩa được sử dụng để phân loại các đối tượng trong khi thang đo thứ bậc là cần thiết cho
cả hai mục tiêu: phân loại và xếp hạng thứ tự của các đối tượng quan sát Các loại phép đo sử dụng cho phần này được thể hiện trong bảng 2.1:
Thông tin cá nhân Câu hỏi Phương pháp
Phân loại và xếp hạng thứ bậc: Tuổi tác, trình độ
học vấn, thời gian làm việc, thu nhập, thời gian
tham gia thị trường chứng khoán, tiền cho đầu tư
Câu hỏi 2,
3, 4, 5, 6, 8,9
Thang đo thứ bậc
Trang 38Bảng 2.1: Các loại thang đo cho thông tin cá nhân (Nguồn: tác giả)
Luận văn này được dựa trên các lý thuyết tài chính hành vi: lý thuyết tự nghiệm, lý thuyết Triển vọng, và các lý thuyết khác về sự tác động của các yếu tố hành vi lên việc ra quyết định của NĐT, được đề xuất bởi Waweru và cộng sự (2008, tr.24, 38)
và nhiều các tác giả khác được trích dẫn trong phần Tổng quan lý thuyết, tổng hợp một loạt các câu hỏi liên quan đến các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Trong phần này, thang đo Likert-6 điểm là thang đo tỷ lệ được sử dụng rộng rãi để hỏi ý kiến và thái độ của người trả lời, là hữu dụng để yêu cầu các NĐT cá nhân để đánh giá mức độ đồng ý của họ với các tác động của các yếu tố hành vi lên
quyết định đầu tư của họ Sáu điểm trong thang đo tương ứng từ 1 đến 6: rất không
đồng ý, không đồng ý, hơi không đồng ý, hơi đồng ý, đồng ý, và rất đồng ý Các
phép đo và các câu hỏi được thể hiện trong bảng 2.2
Mẫu bảng câu hỏi tự hoàn thành được lựa chọn bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên, đại diện cho toàn bộ NĐT trên thị trường, do đó, có cơ hội cao để nhận được kết quả tương tự trong cuộc khảo sát thứ hai với bối cảnh tương tự Tuy nhiên, trong thực
tế, các hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như các quy tắc, niềm tin; đặc biệt là các hành vi tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, cái mà
có thể thay đổi theo thời gian Thật là bất hợp lý để mong đợi tất cả mọi thứ còn nguyên cho đến khi nghiên cứu tiếp theo để kiểm định sự ổn định Thang đo Likert
6 điểm được sử dụng trong nghiên cứu này để giới hạn việc đánh giá lệch lạc của người trả lời bởi vì người trả lời không thể tìm thấy các giá trị của thang đo 6 điểm trong các câu hỏi mà họ dễ dàng tìm thấy trong thang đo 5 điểm hoặc 7 điểm và giúp loại bỏ các ý kiến trung lập, làm tăng độ chính xác của phép đo Rungson Chomeya (2010) cho rằng thang đo Likert 6 điểm có xu hướng chỉ ra các điểm khác biệt và độ tin cậy cao hơn so với thang đo quy mô 5 điểm Likert Nếu muốn nhấn mạnh sự khác biệt và độ tin cậy cao, nên sử dụng thang đo Likert 6 điểm Likert 6 điểm là phù hợp với các nghiên cứu cái mà chứa các biến bởi vì nó sẽ làm cho các bài kiểm tra nói chung có số lượng các biến không nhiều và nó sẽ không
Trang 39phải là gánh nặng của người trả lời trong khi độ tin cậy chấp nhận được theo tiêu chuẩn kiểm định tâm lý
Bảng nháp các câu hỏi được kiểm tra bởi Giảng viên hướng dẫn và năm NĐT cá nhân trước khi câu hỏi cuối cùng được hoàn thành Các câu hỏi được thể hiện trong phụ lục 2
Tình huống điển hình Câu hỏi 10, 11
Tâm lý quá tự tin Câu hỏi 12
Neo quyết định Câu hỏi 13, 14
Ảo tưởng con bạc Câu hỏi 15
Lệch lạc tâm lý do sẵn có thông tin Câu hỏi 16, 17
Likert điểm
Tâm lý ghét lỗ Câu hỏi 18, 19
Tâm lý ác cảm hối tiếc Câu hỏi 20, 21
Tính toán bất hợp lý Câu hỏi 22, 23
Likert điểm
Thông tin thị trường
Xu hướng quá khứ của cổ phiếu Giá trị cơ bản của cổ phiếu Thị hiếu của NĐT
Phản ứng thái quá đến sự thay đổi về giá
Likert điểm
Tỷ suất sinh lời và sự thỏa mãn với các
quyết định đầu tư
Câu hỏi 34-36
Bảng 2.2: Các loại thang đo cho các biến hành vi (Nguồn: tác giả)
Trang 402.7 Quy trình phân tích số liệu:
Các dữ liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS và AMOS Lúc đầu, dữ liệu được làm sạch bằng cách loại bỏ các bảng câu hỏi kém chất lượng Sau
đó, sử dụng kỹ thuật thống kê dữ liệu để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả, phân tích nhân tố, kiểm định Cronbach’s Alpha, và mô hình phương trình cấu trúc SEM
Thống kê mô tả: Thống kê mô tả (Mode, trung vị, trung bình, phương sai, độ lệch
chuẩn) được sử dụng để mô tả thông tin cá nhân của người trả lời Thống kê mô tả cũng được sử dụng để mô tả mức độ ảnh hưởng của các biến hành vi lên các quyết định đầu tư của các NĐT Tuy nhiên, chỉ có các biến hành vi còn lại sau khi phân tích nhân tố khám phá và kiểm định Cronbach’s Alpha được đưa vào xem xét mô
tả Những mô tả này giúp kiểm định giả thuyết H2
Phân tích nhân tố: là tên gọi chung của các phương pháp thống kê đa biến, nhằm
mục đích xác định cấu trúc cốt lõi trong một ma trận của dữ liệu Nó giúp phân tích cấu trúc hệ số tương quan giữa nhiều biến bằng cách xác định một bộ kích thước cốt lõi, được gọi là các nhân tố Trong phân tích nhân tố, các biến của bảng câu hỏi được bao gồm trong phạm vi đồng nhất, nghĩa là có các đặc tính tương tự nhau Có hai loại phân tích nhân tố chính: EFA (phân tích nhân tố khám phá) và CFA (phân tích nhân tố khẳng định) EFA là hình thức phổ biến hơn, cái mà cố gắng khám phá cấu trúc cơ bản của một số lượng khá lớn của các biến Trong khi đó, CFA đóng một vai trò trong việc khẳng định tính tương thích giữa các con số của các nhân tố được chiết xuất bởi qui trình phân tích và được hình thành bởi các lý thuyết có sẵn Trong nghiên cứu này, EFA được sử dụng để khám phá những nhân tố là các biến tài chính hành vi và hiệu quả đầu tư của bảng câu hỏi (câu hỏi 10 đến 36) EFA được sử dụng để giảm số lượng các biến trong bảng câu hỏi cái mà không đáp ứng được các tiêu chí của phân tích Trong trường hợp này, EFA được ứng dụng để
kiểm tra giả thuyết H1