1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF

83 780 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 913,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

the Poor IDB : Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ Inter-American Development Bank IFAD : Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế International Fund for Agricultural Development FinP : Hiệu quả tài

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

TP HCM – Năm 2013

Trang 2

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên

Trang 3

đã giúp tôi chọn đề tài nghiên cứu phù hợp và định hướng khoa học cho tôi hoàn thành bài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang đưa ra ý kiến nhận xét

vô cùng bổ ích cho tôi thực hiện bài luận văn này

Tôi cũng xin gởi lời cám ơn anh Hoàng Văn Thành – Trưởng phòng nhân lực – hành chính của Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm TP Hồ Chí Minh (CEP) – đã cho tôi những gợi ý và những đóng góp rất giá trị

Tôi xin chân thành cám ơn anh Trần Thanh Bình – Trưởng chi nhánh Quỹ CEP, chi nhánh Nhà Bè – đã cho tôi nhận xét bổ ích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bài luận văn này trong thời gian tôi công tác tại Quỹ CEP, chi nhánh Nhà Bè Tôi cũng xin cám ơn tập thể các anh chị Quỹ CEP chi nhánh Nhà Bè chia sẽ công việc cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin gởi lời cám ơn đến ThS Hà Văn Hiếu – Thạc Sĩ Toán, Trường đại học Bordeaux Pháp – đã giúp tôi hiểu về mô hình sử dụng trong bài luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Đức Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Tài

chính Vi mô Học viên ngân hàng, anh Nguyễn Hải Đường - Phó giám đốc Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thanh Hoá, chị Nguyễn Thu Hương – Cán bộ giám sát M7 Điện Biên, anh Nguyễn Thanh Hà – Cán bộ Quỹ VietED, chị Nguyễn Thị Hà – Kế toán Quỹ phát triển phụ nữ Uông Bí, chị Nguyễn Thị Tiếp – Quỹ phụ nữ nghèo Sóc Sơn

và các anh chị đang công tác tại các tổ chức tài chính vi mô khác đã cung cấp thông tin và dành thời gian trả lời email của tôi

Trang 4

the Poor) IDB : Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (Inter-American Development Bank) IFAD : Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (International Fund for

Agricultural Development) FinP : Hiệu quả tài chính

HĐQT : Hội đồng quản trị

HTX : Hợp tác xã

MIX : Tổ chức trao đổi thông tin vi mô (Microfinance Information

Exchange, Inc) NGO : Hình thức sở hữu bởi tổ chức phi lợi nhuận

OC : Chi phí hoạt động

Outreach : Tiếp cận cộng đồng (hiệu quả xã hội)

PY : Sản lượng danh mục đầu tư

SHF : Hình thức sở hữu công ty cổ phần

SPI : Chỉ số đo lường hiệu quả xã hội (Social Performance Indicators

Initiative) TCVM : Tài chính vi mô

TCTCVM : Tổ chức tài chính vi mô

USAID : Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for

International Development)

Trang 5

Bảng 2: Bảng miêu tả các biến độc lập và các tác động trên lý thuyết của chúng đối với hiệu quả tài chính (FinP) và tiếp cận cộng đồng (Outreach)……… 23 Bảng 3: Bảng thống kê mô tả các biến trong đặc điểm hội đồng quản trị…………35 Bảng 4: Bảng thống kê mô tả các biến phụ thuộc được sử dụng trong phân tích….37 Bảng 5: Bảng thống kê miêu tả của các biến còn lại trong mô hình……….38 Bảng 6: Bảng hồi quy ROA qua bốn năm và tỷ suất sinh lợi danh mục, chi phí hoạt động trong năm 2012 đối với các biến độc lập……….42 Bảng 7: Bảng hồi quy mức vay trung bình qua bốn năm và số lượng khách hàng trong năm 2012 đối với các biến độc lập……… 46 Bảng 8: Bảng hệ số tương quan giữa một số biến độc lập trong mô hình…………49 Bảng 9: Bảng hồi quy sau khi loại bỏ lần lượt phương pháp cho vay và số nhân viên trong các hồi quy ROA và mức vay trung bình năm 2012……… 50

Trang 6

Hình 2: Các chỉ số thống kê về các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại Việt Nam……… 15

Trang 7

Tóm tắt

Bài luận văn này xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam Trong đó, bài luận văn đi vào tìm hiểu ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị, hình thức sở hữu doanh nghiệp và khuôn khổ pháp lý đối với việc đo lường hiệu quả của 29 tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Kết quả cho thấy rằng, trong đặc điểm hội đồng quản trị, việc phân quyền giữa người quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp (phân quyền giám đốc điều hành/thành viên hội đồng quản trị) cho hiệu quả xã hội tốt hơn nhưng không mang lại hiệu quả tài chính Bên cạnh đó, giám đốc điều hành là phụ

nữ cũng mang lại hiệu quả xã hội nhưng đối với hiệu quả tài chính thì không Kết quả tiếp theo đưa ra rằng, các tổ chức tài chính vi mô sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận sẽ hoạt động tốt hơn trong lĩnh vực này Và cuối cùng, khuôn khổ pháp lý quy định phù hợp hơn đối với các tổ chức tài chính vi mô, làm gia tăng khả năng

mở rộng hoạt động và tiếp cận những người nghèo của các tổ chức này

Từ khóa: tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, quản trị, hiệu quả

Trang 8

Giới thiệu

Việt Nam đã xác định ba vấn đề cốt lõi để đảm bảo con đường phát triển bền vững của đất nước là: tăng trưởng cao về kinh tế gắn với công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường Với mục tiêu này, hoạt động tài chính vi mô của Việt Nam đã và đang thể hiện vai trò quan trọng, tăng cường hỗ trợ tài chính cho khu vực nông thôn và các hộ gia đình thu nhập thấp Vấn đề đặt ra là, chúng ta không dễ

đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Thật vậy, chúng ta xem xét tính bền vững tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chỉ cho thấy một trong những đặc điểm trong hiệu quả hoạt động Các tổ chức tài chính vi mô được thành lập để giúp đỡ những người nghèo nhất, đó là khía cạnh tiếp cận cộng đồng trong hoạt động của các tổ chức này Vì vậy, hiệu quả của một tổ chức tài chính vi mô có thể xem là đa chiều

Trong bài luận văn này, tập trung vào các mối quan hệ giữa hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô Hầu hết, các tổ chức tài chính vi mô tuyên bố có một nhiệm vụ kép là: tiếp cận khách hàng là những người nghèo và bền vững về tài chính Do đó, hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô nên được đo lường theo cả hai khía cạnh này

Quản trị doanh nghiệp tốt được xác định là một nút thắt quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô và gia tăng tiếp cận cộng đồng (Rock và các cộng sự, 1998; Labie, 2001; Helms, 2006; United Nations, 2006; Otero và Chu, 2002) Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ có nghiên cứu của Hartarska (2005) ở các tổ chức tài chính vi mô Đông Âu, xét đến ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đối với hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Do đó, bài nghiên

cứu của Roy Mersland và Reidar Oystein Strom “Performance and corporate governance in microfinance institutions” năm 2007, đã phân tích rõ hơn mối quan

hệ giữa hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô Trong đó, Mersland và Strom (2007) đã khai thác dữ liệu công bố gần đây của các

tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới, để thiết lập dữ liệu bảng cho các tổ chức tài

Trang 9

chính vi mô ở 57 quốc gia Bài luận văn này, dựa trên những nghiên cứu của hai tác giả trên, xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam

Trong năm 2005, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức nhiều chương trình nghị sự về tài chính vi mô Thêm vào đó, giải Nobel Hòa Bình cho Mohammed Yunus và Ngân hàng Grameen trong năm 2006, đã chứng tỏ thế giới ngày càng quan tâm đến hoạt động và lợi ích mang lại của tài chính vi mô Báo cáo của Christen và các cộng sự (2004) cho thấy con số đáng kinh ngạc 500 triệu lượt vay, chủ yếu là với các tài khoản tiết kiệm Trong khi đó, Hội nghị Thượng đỉnh Tín dụng vi mô trong các cuộc họp năm 2006 tại Halifax kỷ niệm cột mốc 100 triệu người vay Tuy nhiên, lĩnh vực tài chính vi mô vẫn chỉ đạt một phần nhỏ của người nghèo trên thế giới (Robinson, 2001; Christen và cộng sự, 2004) Do đó, việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của lĩnh vực tài chính vi mô vẫn còn nhiều thách thức (Helms, 2006; CGAP, 2004, 2006)

Chúng ta thấy rằng có một sự khác biệt trong quản trị giữa các công ty trong lĩnh vực ngân hàng và các công ty sản xuất Trong đó, mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý gần như tìm thấy trong tất cả các công ty Tuy nhiên, mối quan hệ giữa công ty và khách hàng trong ngành ngân hàng thì quan trọng hơn trong ngành sản xuất Đặc biệt, trong các tổ chức tài chính vi mô, điều này càng trở cần thiết, bởi

vì các tổ chức này không chỉ quan tâm đến quá trình hoàn trả vốn vay của các khách hàng, mà còn đến đời sống cá nhân của họ

 Mục tiêu nghiên cứu

Bài luận văn này xem xét đặc điểm hội đồng quản trị tác động đến hiệu quả của các

tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam Các đặc điểm này bao gồm: việc phân quyền giám đốc điều hành/thành viên hội đồng quản trị, giám đốc điều hành là

nữ, hình thức sở hữu doanh nghiệp tác động đến hiệu quả trên hai khía cạnh của các

tổ chức tài chính vi mô Bên cạnh đó, bài luận văn cũng xem xét các nhân tố tác

Trang 10

động đến hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng trên phương diện lý thuyết và thực nghiệm Trong đó nổi bật lên các nhân tố như: phương pháp cho vay (cho vay theo cá nhân hay theo nhóm), thị trường tiếp cận (thành thị hay nông thôn), khuôn khổ pháp lý và số lượng nhân viên trong một tổ chức tài chính vi mô ảnh hưởng như thế nào đến việc đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô

 Câu hỏi nghiên cứu

Bài luận văn đi vào lý giải hai câu hỏi quan trọng trong lĩnh vực tài chính vi mô mà còn có nhiều tranh luận trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là:

Câu hỏi thứ nhất: Các nhân tố nào tác động đến hiệu quả của các tổ chức tài chính

vi mô được điều tra tại Việt Nam?

Câu hỏi thứ hai: Quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam như thế nào?

 Bố cục luận văn

Bố cục bài luận văn gồm 5 phần Phần 1 nêu lên tổng quan về tài chính vi mô, cũng như lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới và Việt Nam Phần 2 xem xét một số nghiên cứu có liên quan và phát triển giả thuyết Sau đó, phần 3 đưa ra cách thu thập dữ liệu và những thống kê mô tả Phần 4 trình bày các kết quả chính của bài luận văn cũng như các kiểm định thống kê, và cuối cùng kết luận ở phần 5

Trang 11

1 Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô

1.1 Tài chính vi mô là gì?

Tài chính vi mô – theo nghị định 165/2007/NĐ - CP – được định nghĩa là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản bảo đảm đối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống

Như vậy, định nghĩa tài chính vi mô thường bao gồm 2 yếu tố: trung gian tài chính

và trung gian xã hội Tài chính vi mô không đơn giản chỉ là công cụ ngân hàng, nó còn là một công cụ phát triển

Tài chính vi mô thường đề cập đến:

 Các khoản vay nhỏ, đặc biệt là các khoản vay để làm vốn luân chuyển

 Thẩm định phi chính thức về người vay và các hoạt động đầu tư của họ

 Các hình thức ký quỹ thay thế tài sản thế chấp như bảo lãnh nhóm và tiết kiệm bắt buộc

 Vay nhiều lần và số tiền vay lớn dần dựa trên quá trình hoàn trả vốn vay, giải ngân nhanh gọn và có sự giám sát

 Các sản phẩm tiết kiệm an toàn và tạo sự tin tưởng cho người gửi tiền

Theo điều 4 khoản 5 của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định:

“Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.”

Các tổ chức tài chính vi mô là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính - ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình và cá nhân có

Trang 12

thu nhập thấp Sự phát triển của các tổ chức tổ chức tài chính vi mô thường được đánh giá qua hai nhóm chỉ tiêu chính: mức độ tiếp cận cộng đồng và tính bền vững của tổ chức

 Mức độ tiếp cận cộng đồng là khả năng khách hàng có thể sử dụng dịch vụ có chất lượng của các tổ chức tài chính vi mô, đặc biệt là đối với khách hàng nghèo

và dễ bị tổn thương (tiếp cận những người nghèo và nghèo nhất)

 Tính bền vững của các tổ chức tài chính vi mô là khả năng các tổ chức đó cung ứng cho khách hàng các dịch vụ tài chính – ngân hàng một cách có lợi nhuận và phát triển lâu dài Tính bền vững của các tổ chức tài chính vi mô được đo bằng các tỷ lệ tự bền vững và các hệ số sinh lời Có ba mức độ bền vững là: tự bền vững về hoạt động OSS (Operation Self – Sustainability), tự bền vững về tài chính FSS (Financial Self – Sustainability) và tự bền vững về thể chế ISS (Institutional Self – Sustainability) Và hai hệ số sinh lời là: ROA (Return on Asset) và ROE (Return on Equity)

1.2 Đối tượng của các tổ chức tài chính vi mô

Đối tượng của ngành tài chính vi mô là người nghèo Một đối tượng mà dưới góc nhìn của khu vực tài chính chính thức, mà cụ thể là các ngân hàng thương mại là nhóm người có đặc điểm sau:

 Đối tượng cho vay có rủi ro tín dụng rất cao (tỷ lệ vỡ nợ rất cao) Họ là những người có thu nhập thấp, người nghèo, các nông dân không có tài sản thế chấp, thậm chí không có đất sản xuất Rồi họ được phác họa như những người không có khả năng làm ăn, phát triển sản xuất, thậm chí có những nhận thức ngược chiều hơn là những người lười biếng

 Người nghèo là những người không có khả năng tiết kiệm và khả năng trả nợ của họ rất hạn chế Theo góc nhìn này, người nghèo là những người đáng thương và cần những sự giúp đỡ mang tính chất từ thiện nhiều hơn Việc cho

Trang 13

họ vay chỉ mang ý nghĩa phúc lợi và nhân đạo là chính, chứ không được coi

là đối tượng vay (khách hàng thực sự) một cách sòng phẳng

 Đối tượng cho vay có chi phí cấp xét tín dụng rất cao Với những quy trình cấp xét tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, các hợp đồng tín dụng

5 tỷ và 10 tỷ thì các thủ tục cấp xét là như nhau Nhân viên ngân hàng có tâm

lý và xu hướng muốn cho vay những khoản vay lớn nhằm tăng hiệu quả kinh

tế theo quy mô, giảm thiểu chi phí thủ tục trên một đơn vị tiền cho vay Điều này làm cho khu vực này không mấy để tâm đến những khoản vay vi mô (khoản vay nhỏ) cho các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, người nghèo, các nông dân không có đất thế chấp Chính

vì vậy, các đối tượng này không có cơ hội tiếp cận những dịch vụ tài chính

để họ phát triển sản xuất, tạo thu nhập, cải thiện cuộc sống gia đình Rõ ràng rằng, vấn đề như vậy sẽ làm trầm trọng thêm những khó khăn của người nghèo, làm cho thực trạng nghèo đói khó có thể được cải thiện

Với sự thành công của mô hình tài chính vi mô, mà điển hình là ngân hàng Grameen đã thay đổi nhận thức về người nghèo một cách triệt để:

 Người nghèo có các kỹ năng mà chưa được tận dụng hết, họ hoàn toàn có khả năng phát triển kinh tế, sản xuất, kinh doanh Từ đó, họ có thể gia tăng cuộc sống gia đình khi được tiếp cận các nguồn vốn với một cơ chế cho vay thích hợp và linh hoạt (thuộc về mô hình hoạt động của các tổ chức tài chính

vi mô) Họ coi trọng việc được tiếp cận tín dụng và họ chấp nhận cơ chế lãi suất sòng phẳng như các đối tượng vay khác, thậm chí họ tự nguyện trả thêm

để được vay

 Ý thức vươn lên thoát nghèo của họ là rất mãnh liệt, tiềm năng của họ nếu như được khai thác và có cơ chế cung cấp dịch vụ tài chính thích hợp thì nhất định họ sẽ thoát nghèo thành công và tiến đến cuộc sống trung bình và khá giả trong tương lai

 Với tỉ lệ thu hồi nợ gần 100% của ngân hàng Grameen và các tổ chức tài chính vi mô khác trên thế giới, người nghèo không phải là những người hạn

Trang 14

chế về khả năng trả nợ Mặt khác, nếu xem xét tỷ trọng tiết kiệm trên mức thu nhập thì khả năng tiết kiệm của họ là rất phi thường và thậm chí cao hơn rất nhiều so với một số đối tượng khác

Rõ ràng là, không phù hợp nếu xem người nghèo là những người đáng thương và cần những sự giúp đỡ mang tính chất từ thiện Chúng ta cần xem họ như những khách hàng thực sự, đối tượng vay bình đẳng về lãi suất

Trang 15

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của tài chính vi mô

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô trên thế

giới

Cách đây 200 năm, quỹ tín dụng vi mô đầu tiên được Jonathan Swift lập ra tại Ailen Đầu tiên ông bỏ ra 500 bảng tiền túi để xoay vòng cho các chủ của hàng vay trong lúc khó khăn với điều kiện là có hai người hàng xóm đứng ra bảo lãnh rằng: ông ta là người tốt bụng, chăm chỉ và không nghiện ngập (Aidan Hollis, 1999) Mô hình này sau đó phát triển thành quỹ Irish Loan fund, được nhân rộng và phát triển rất mạnh tại Ailen trong thời kỳ này

Trong thế kỷ 19, các nhóm tiết kiệm và tín dụng đã phát triển khắp các khu vực nông thôn và các thành phố nghèo đói ở Châu Âu dưới các hình thức: ngân hàng nhân dân (People’s Bank), liên hiệp tín dụng (Credit Unions), và hợp tác xã tín dụng (Savings and Credit Cooperatives)

Friedrich Wilhelm Raiffeisen và cộng sự của ông đã phát triển hình thức liên hiệp tín dụng Họ đã thúc đẩy sự quan tâm đến việc hỗ trợ người dân ở khu vực nông thôn thoát khỏi sự phụ thuộc vào người cho vay và tăng cường phúc lợi cho người nghèo Từ năm 1870, các liên hiệp tín dụng phát triển mạnh, mở rộng ra khỏi vùng Rhine và các bang khác của nước Đức và phát triển nhanh chóng sang các nước Châu Âu và Bắc Mỹ, cuối cùng được nhân rộng sang các nước đang phát triển Tại Indonesia ngân hàng Perkreditan Rakyat (BPR) được lập ra năm 1895 BPR trở thành mạng lưới tài chính vi mô lớn nhất Indonesia với gần 9,000 thành viên

Đầu những năm 1900, hàng loạt các ngân hàng tương tự BPR ra đời tại khu vực nông thôn ở Châu Mỹ Latinh, với mục tiêu là hiện đại hóa nông thôn Họ đưa ra các tiêu chí như sau: phát triển thương mại khu vực nông thôn; tập trung các nguồn tiết kiệm nhàn rỗi; gia tăng đầu tư thông qua tín dụng; và xóa bỏ các tập tục lạc hậu Đa

số các ngân hàng cho ngời nghèo này thì không thuộc sở hữu của người nghèo như

Trang 16

ở Châu Âu mà được sở hữu bởi chính phủ hoặc tư nhân Qua một thời gian hoạt động thì các ngân hàng này càng không hiệu quả

Giai đoạn những năm 1950 đến năm 1970, chính phủ và các nhà tài trợ quan tâm đến việc hỗ trợ tín dụng cho các nông dân với mục tiêu tăng năng suất và thu nhập cho họ Các chương trình này cố gắng hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận các khoản vay bằng việc tài trợ lãi suất Tuy nhiên, các chương trình tài trợ này hiếm khi thành công Các ngân hàng nông nghiệp bị tổn thất lớn về vốn do lãi suất thấp và khả năng hoàn trả kém của người nghèo, nên nguồn vốn này nhiều khi không đến tay người nghèo thực sự mà tập trung vào các đối tượng khá giả

Trong khi đó, vào những năm 1970, tại Bangladesh, Brazil và một vài nước khác đã thực hiện chương trình cho vay nhỏ đối với nhóm phụ nữ nghèo để đầu tư sản xuất nhỏ Cơ sở của mô hình này là sự đoàn kết trong nhóm, cả nhóm sẽ phải đứng ra bảo đảm việc chi trả cho từng thành viên trong nhóm Các chương trình cho vay theo nhóm nhỏ này đặt trọng tâm vào tín dụng cho các hoạt động tạo thu nhập (đôi khi bao gồm cả tiết kiệm bắt buộc) cho các đối tượng rất nghèo, thường là phụ nữ Các tổ chức tín dụng vi mô tiêu biểu trong giai đoạn này là: ACCION, SEWA Bank, Grammeen Bank

Trong suốt những năm 1980, chính sách bao cấp tín dụng nông nghiệp đã bộc lộ các điểm yếu trong các chương trình tín dụng, đặc biệt là khả năng thu hồi nợ và chi phí quản lý cao Các ngân hàng nông nghiệp bị vỡ nợ, hướng tiếp cận tín dụng trực tiếp

bị thất bại, thay thế đó là phương pháp tiếp cận một cách hệ thống hơn và cách thức giám sát phù hợp hơn

Đến những năm 1990, khái niệm tài chính vi mô (microfinance) đã bắt đầu xuất hiện và thay thế cho khái niệm tín dụng vi mô (microcredit) Hệ thống tài chính vi

mô phát triển mạnh mẽ tại nhiều quốc gia, nó không chỉ cung cấp các dịch vụ tín dụng mà còn cung cấp các dịch vụ tài chính khác như: tiết kiệm, bảo hiểm và

Trang 17

chuyển tiền Dưới đây là sơ đồ cung cấp các dịch vị tài chính – ngân hàng trên thế giới

Hình 1: Sơ đồ cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng

Các tổ chức tài chính vi mô ra đời với mục tiêu và sứ mệnh là cung cấp dịch vụ tài chính cho hơn 4 tỷ người trên thế giới Đây có thể xem là một thách thức lớn đối với các tổ chức tài chính vi mô

Trang 18

1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt

Nam

Các tổ chức tài chính – ngân hàng khác nhau hướng đến từng đối tượng khách hàng mục tiêu khác nhau Đặc biệt với sự ra đời của các tổ chức tài chính vi mô, có thể đảm bảo gần như tất cả thành viên trong xã hội đều có thể tiếp cận với dịch vụ tài chính – ngân hàng

Chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số tổ chức tài chính vi mô đang phục vụ cho người nghèo ở Việt Nam

 Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm thành phố Hồ Chí Minh

(Quỹ trợ vốn CEP)

Quỹ trợ vốn CEP được thành lập bởi Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/11/1991, theo mô hình Ngân hàng Grameen Mục tiêu của quỹ trợ vốn CEP nhằm giảm tình trạng nghèo của công nhân và người lao động, bằng việc giúp

họ tự tạo việc làm thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính

Sứ mệnh của quỹ trợ vốn CEP là làm việc vì người nghèo và nghèo nhất, nhằm giúp

họ đạt được những cải thiện về an sinh lâu dài thông qua cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính một cách thiết thực và hiệu quả Quỹ trợ vốn CEP hoạt động

Trang 19

không vì lợi nhuận, kiên trì và nhất quán với tôn chỉ là phục vụ thành phần lao động nghèo khó

Về đối tượng phục vụ, quỹ trợ vốn CEP ưu tiên phục vụ người nghèo, tập trung vào đối tượng nữ và cung cấp trực tiếp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho những khách hàng sinh sống và làm việc tại các cộng đồng Khách hàng của quỹ trợ vốn CEP được chia làm 3 nhóm: nghèo nhất, nghèo và tương đối nghèo Quỹ trợ vốn CEP tập trung vào phục vụ người nghèo và những người dễ bị tổn thương, những khách hàng tương đối nghèo có mức độ ưu tiên thấp hơn

 Quỹ Tình Thương - Hội Liên hiệp Phụ nữ (TMY)

Tổ chức này được hình thành bắt đầu từ Dự án Quỹ Tình Thương (TYM) theo quyết định số 11/QĐ và trình thủ tướng chính phủ cho cấp phép hoạt động thử nghiệm trên địa bàn huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội vào ngày 7/1/1992 Ngày 20/2/1992, Chính phủ đã ban hành văn bản số 563/KTĐN cho phép Hội thực thi dự

án trên các vùng miền nghèo

Sứ mệnh của TYM là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện địa vị cho phụ nữ nghèo, nghèo nhất và gia đình họ thông qua các dịch vụ tài chính

và phi tài chính phù hợp cho các nhóm phụ nữ ở cộng đồng TYM tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế và nâng cao vai trò của họ trong xã hội Với phương châm cam kết phục vụ người nghèo, TYM luôn nghiên cứu và thiết kế các sản phẩm phù hợp với nhu cầu người nghèo về mục đích sử dụng và khả năng hoàn trả của họ

 Mạng lưới tổ chức tài chính vi mô M7

Ngày 05/07/2006, thành phố Điện Biên Phủ, Mạng lưới tài chính vi mô quốc gia - nhóm M7 được thành lập, gồm 7 chương trình tài chính vi mô hợp thành mạng lưới M7 Mạng lưới trải dài trên 52 xã thuộc địa bàn 7 huyện với 31,492 hội viên tham gia, trong đó 7,289 người là dân tộc thiểu số Vào tháng 12/2007, tổng doanh số cho

Trang 20

vay của M7 đạt 2,865,862 USD, giá trị bình quân mỗi khoản vay là 113 USD Thành viên của mạng lưới M7 gồm 7 tổ chức đang cung cấp dịch vụ tiết kiệm tín dụng cho người nghèo Mạng lưới M7 theo mô hình do ActionAid thiết kế và hỗ trợ hoạt động từ năm 1993 tới năm 2003 và một tổ chức hỗ trợ kỹ thuật

Sau đây, là một số thống kê các chỉ số của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

có thể cho chúng ta thấy một cái nhìn tổng quan trong hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam

Trang 21

Hình 2: Các chỉ số thống kê về các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại

Việt Nam

(Nguồn: Thông tin của Planet Rating tới tháng 12/2008: số liệu của Mix Market

dành cho các tài chính vi mô Việt Nam tới tháng 12/2008)

Trang 22

Qua hình trên, chúng ta có thể thấy được phần nào hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Và điều này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau khi đi vào so sánh các số liệu thống kê của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Chương tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, để đo lường hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới

2 Các nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết về tài chính vi mô

2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm

Nếu như, việc đo lường hiệu quả tài chính trong các tổ chức tài chính vi mô có thể

đo lường như trong các tổ chức tài chính ngân hàng khác, thì hiệu quả xã hội được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Bài nghiên cứu của Schreiner (2002) đã đưa

ra sáu biến trong việc đo lường tiếp cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi mô là: Worth, Cost, Depth, Breadth, Length, Scope Tác giả cũng đưa ra hai phương pháp tiếp cận là: phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo (poverty approach) và phương pháp tiếp cận bền vững tài chính (self-sustainability approach) để đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Trong đó, Worth (giá trị của phần vượt trội cho khách hàng) được định nghĩa là việc sẵn sàng chi trả của các khách hàng; Cost (chi phí tiếp cận khách hàng) là tổng chi phí giá cả và chi phí giao dịch; Depth (độ sâu tiếp cận cộng đồng) là giá trị mà xã hội gắn với lợi ích ròng của một khách hàng nhất định; Breadth (bề rộng của tiếp cận cộng đồng) là số lượng khách hàng; Length (chiều dài của tiếp cận cộng đồng) là thời gian của việc cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ tài chính vi mô; Scope (phạm vi tiếp cận cộng đồng) là số lượng các loại sản phẩm và dịch vụ mà các tổ chức tài chính vi mô cung cấp Biến đầu tiên - biến Worth - rất khó để đo lường giá trị phần vượt trội cho khách hàng Lý do cho điều này là: một phần vì, giá trị gia tăng của khách hàng phụ thuộc vào mức tăng chủ quan mà một khách hàng nhận được từ hợp đồng tài chính vi mô; một phần vì,

Trang 23

chúng ta rất khó để biết những gì sẽ xảy ra, trong trường hợp khách hàng đó không được phục vụ bởi các tổ chức tài chính vi mô

Một nghiên cứu khác, Zeller và các cộng sự (2003) đã đưa ra chỉ số đo lường hiệu quả xã hội (Social Performance Indicators Initiative – SPI), để phát triển một khung

lý thuyết nhằm xác định hiệu quả xã hội trong lĩnh vực tài chính vi mô Các tác giả

đã phân biệt bốn khía cạnh chính của hiệu quả xã hội như sau:

 Thứ nhất, tiếp cận cộng đồng cho người nghèo và sự loại trừ Các tổ chức tài chính vi mô được thành lập để tiếp cận những người bị loại ra khỏi hệ thống ngân hàng cổ điển Lý do cho điều này bởi vì hiệu quả kinh tế theo qui mô, nên các ngân hàng cổ điển không chú trọng vào các khoản vay nhỏ lẻ Độ sâu của tiếp cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi mô được đo lường dựa trên sự tập trung vào phục vụ những người nghèo và nghèo nhất

 Thứ hai, sự phù hợp của các dịch vụ và sản phẩm cho khách hàng mục tiêu Các tổ chức tài chính vi mô phải thiết kế của các dịch vụ tài chính có thể phù hợp với nhu cầu và những khó khăn của khách hàng Chỉ số hoạt động xã hội phân tích mức độ mà các tổ chức tài chính vi mô có thể đáp ứng những nhu cầu này của khách hàng

 Thứ ba, cải thiện đời sống của khách hàng và cộng đồng Đối với các tổ chức tài chính vi mô, sự tin tưởng của khách hàng có thể làm giảm chi phí giao dịch và nâng cao tỉ lệ hoàn trả Đối với các khách hàng, các dịch vụ của các

tổ chức tài chính vi mô giúp khách hàng gia tăng sự tự tin, hòa nhập tốt hơn vào các hoạt động cộng đồng Chỉ số hoạt động xã hội được đo lường bằng mức độ minh bạch, sự nỗ lực của các tổ chức tài chính vi mô theo hướng nâng cao đời sống của khách hàng

 Thứ tư, trách nhiệm xã hội của các tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm xã hội đòi hỏi phải có một sự phù hợp của văn hóa doanh nghiệp với bối cảnh văn hóa và kinh tế - xã hội của khách hàng Các tổ chức tài chính vi mô chú

Trang 24

trọng xây dựng văn hóa tổ chức trên cơ sở tôn trọng, đồng cảm và chia sẻ đối với khách hàng

Tiếp đến, Hartarska (2005) đã xem xét mối quan hệ giữa cơ chế quản lý và hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô ở các nước Đông Âu trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2002 Trong đó, hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng là các biến phụ thuộc, và cơ chế quản lý bao gồm các đặc điểm hội đồng quản trị và hình thức sở hữu là các biến độc lập Tác giả phát hiện ra rằng, trong một tổ chức tài chính vi mô

có một hội đồng quản trị tách biệt với người quản lý có ROA tốt hơn Nhưng một tổ chức tài chính vi mô với giám đốc là một thành viên trong hội đồng quản trị, cho hiệu quả tài chính thấp hơn và tiếp cận cộng đồng cũng thấp hơn Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa các loại hình sở hữu trong các tổ chức tài chính vi mô đối với hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng là không đáng kể

Trong khi đó, Luzzi và Weber (2006) đã cung cấp những hiểu biết mới và phương pháp luận về chủ đề quan trọng trong việc đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Theo đó, các tổ chức tài chính vi mô có hai khía cạnh trong đo lường

về sự hiệu quả là: hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng Luzzi và Weber (2006) còn sử dụng phân tích nhóm, để chia các tổ chức tài chính vi mô thành 4 nhóm: nhóm đạt được cả hai hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng; nhóm chỉ đạt hiệu quả tài chính nhưng tiếp cận cộng đồng thì không; nhóm đạt được tiếp cận cộng đồng nhưng không đạt hiệu quả tài chính và nhóm không đạt được trên cả hai đo lường

Một nghiên cứu nữa của Cull và các cộng sự (2007) cũng xem xét hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô Nhưng khác với các nghiên cứu trước, các tác giả chú trọng vào phương pháp cho vay, kiểm soát vốn và chi phí lao động cũng như các đặc điểm về thể chế của từng quốc gia, tác động đến hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Cull và các cộng sự (2007) sử dụng dữ liệu từ 124 tổ chức tài chính vi mô được xếp hạng đánh giá Trong đó, bài nghiên

Trang 25

cứu này đã đưa ra một kết quả quan trọng, hiệu quả tài chính được cải thiện khi sử dụng phương pháp cho vay theo cá nhân hơn là phương pháp cho vay theo nhóm Bài nghiên cứu của Nghiêm Hồng Sơn và các cộng sự (2010) phân tích hiệu quả của chương trình tài chính vi mô ở miền bắc và miền trung Việt Nam sử dụng kỹ thuật DEA Bài nghiên cứu dùng phương pháp tiếp cận sản xuất (production approach) để đo lường hiệu quả chương trình tài chính vi mô Điểm hiệu quả của chương trình là 76% Để có thể so sánh, bài nghiên cứu cũng sử dụng kỹ thuật SFA

và PLP Điểm hiệu quả trung bình ước tính lần lượt là 69% và 78% Hệ số tương quan của 3 cách tính này cũng được xác định là tương tự nhau

Qua những nghiên cứu trên, chúng ta thấy được rằng có nhiều nhân tố để đo lường hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô Và vấn đề, thống nhất nhân tố nào là cần thiết và quan trọng trong việc đo lường này vẫn đang còn nhiều tranh luận Tương tự như vậy, việc xem xét hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô cần có nhiều những nghiên cứu trong tương lai để có thể làm rõ được điều này Chương tiếp theo, bài luận văn trình

bày những hiểu biết sâu hơn trong lĩnh vực tài chính vi mô

2.2 Lý thuyết về tài chính vi mô

2.2.1 Thách thức của tài chính vi mô

Trước khi thảo luận về cơ chế quản lý, chúng ta cần phải xem xét tính chất đặc biệt của các tổ chức tài chính vi mô Như một nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng, các tổ chức tài chính vi mô là đối tượng lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức từ các khách hàng tín dụng Thêm vào đó, Stiglitz và Weiss (1981) chỉ ra rằng lựa chọn bất lợi phát sinh kể từ khi các tổ chức tài chính vi mô không có đủ thông tin để xác định rủi

ro tốt và xấu Lý do là vì khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô thường có một lịch sử tín dụng ngắn hoặc là khách hàng lần đầu tiên, với ít hoặc không có tài sản

Trang 26

thế chấp (Armendariz de Aghion và Morduch, 2005) Rủi ro đạo đức là vấn đề mà người vay sẽ không nổ lực cần thiết để hoàn trả khoản vay, khi mà các tổ chức tài chính vi mô không có khả năng giám sát Điều này thúc đẩy các tổ chức tài chính vi

mô cần có những cách làm mới như: cho vay nhóm, cho vay theo đặc điểm khu vực

và từng bước xây dụng một lịch sử tín dụng cho khách hàng Từ đó, các tổ chức tài chính vi mô đã thiết lập mô hình kinh doanh hoàn toàn khả thi

Việc lựa chọn bất lợi và câu chuyện rủi ro đạo đức của các tổ chức tài chính vi mô, cần được mở rộng đến các vấn đề của người gửi tiền và người đi vay Câu hỏi đặt ra: làm thế nào để biết được, các tổ chức tài chính vi mô không sử dụng lợi thế thông tin trong thị trường tài chính, để tính lãi suất cho vay quá cao, hoặc đem đến quá nhiều rủi ro với tiền của người gửi? Đây là câu hỏi đặc biệt quan trọng trong thị trường tài chính vi mô, nơi trình độ học vấn của khách hàng ở mức độ vừa phải Chính vì vậy, Macey và O'Hara (2003) cho rằng các mối quan hệ giữa các tổ chức tài chính vi mô với người gửi tiền và người đi vay, cũng quan trọng như mối quan

hệ giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và người quản lý Vì vậy, các tổ chức tài chính vi

mô đối mặt với hai bất cân xứng thông tin: một là, giữa chủ sở hữu và người quản lý; hai là, giữa tổ chức tài chính vi mô và khách hàng Hơn nữa, do tính chất đặc biệt của ngành ngân hàng, nên các nhà làm chính sách đòi hỏi quy định công khai mối quan hệ ngân hàng - khách hàng, để tránh những cú sốc cho nền kinh tế Do đó, việc giám sát trong các tổ chức tài chính vi mô không phải là đơn giản như trong các công ty sản xuất Chính vì vậy, bài luận văn đã đưa khuôn khổ pháp lý đối với các tổ chức tổ chức tài chính vi mô vào xem xét

Trang 27

2.2.2 Đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô

Các tổ chức tài chính vi mô có mục tiêu kép Mục tiêu thứ nhất là góp phần vào sự phát triển Các tổ chức tài chính vi mô cần tiếp cận nhiều khách hàng và tầng lớp dân cư nghèo (Helms, 2006; Johnson và cộng sự, 2006) Mục tiêu thứ hai là các tổ chức tài chính vi mô cần đạt được sự bền vững tài chính và độc lập từ các nhà tài trợ (Mersland và Strom, 2007) Bài luận văn phân tích mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp phù hợp với cả hai mục tiêu là: hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng Đối với biện pháp đo lường hiệu quả tài chính, bài nghiên cứu sử dụng lợi nhuận trên tài sản (ROA), cũng như các biến chi phí hoạt động và tỷ suất sinh lợi danh mục như trong đề xuất của Christen (2000) Các biện pháp đo lường tiếp cận cộng đồng là dư nợ cho vay trung bình của các tổ chức tài chính vi mô và số lượng khách hàng phục vụ (Schreiner, 2002) Trong đó, dư nợ cho vay trung bình là thước

đo cho độ sâu của tài chính vi mô, có nghĩa là dư nợ càng thấp tiếp cận với những người nghèo nhất Số lượng khách hàng tín dụng là thước đo chiều rộng của tiếp

cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi mô

Trang 28

Bảng 1: Bảng miêu tả các biến phụ thuộc

Hiệu quả tài chính

OPECOSTS Chi phí hoạt động được chia cho tổng tài sản trung bình

hàng năm DEBTRATIO Tổng nợ, bao gồm cả tiết kiệm chia cho vốn chủ sở hữu

Tiếp cận cộng đồng

AVERAGELOAN Dư nợ cho vay trung bình khách hàng/ Thu nhập quốc dân

bình quân đầu người (GNI per capita) NUMCUSTOMERS Số lượng khách hàng tín dụng

Trong khi Rhyne (1998) xem xét hai mục tiêu chính của hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng là một tình huống "win-win" Tác giả cho rằng, các tổ chức tài chính

vi mô hoạt động hiệu quả sẽ giảm bớt đói nghèo Tuy nhiên, Woller và các cộng sự (1999); Morduch (2000) lại cho rằng các tổ chức tài chính vi mô cần được trợ cấp

để tiếp tục hoạt động, và các tổ chức tài chính vi mô không phải là các tổ chức duy nhất để phục vụ các khách hàng nghèo Trong bài luận văn này, tác giả cũng làm một thử nghiệm của tình huống "win-win" trong mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng Cách thức là, tác giả so sánh các kết quả hồi quy của

dư nợ cho vay trung bình khách hàng của biến tiếp cận cộng đồng, với hồi quy ROA của biến hiệu quả tài chính

Trang 29

2.2.3 Cơ chế quản trị nội bộ và bên ngoài

Trong phần này, chúng ta cần tìm ra giả thuyết về mối liên hệ giữa hiệu quả công ty

và quản trị doanh nghiệp Bảng 2 tóm tắt các biến phụ thuộc, định nghĩa và giả thuyết cho các biến trong bảng 1

Bảng 2: Bảng miêu tả các biến độc lập và các tác động trên lý thuyết của chúng đối với hiệu quả tài chính (FinP) và tiếp cận cộng đồng (Outreach)

Lý thuyết FinP Outreach

viên nội bộ báo cáo trực tiếp cho HĐQT

cho vay chủ yếu là cá nhân

pháp lý được quy định bởi các

Trang 30

cơ quan chức năng

LABOR

PRODUCTIVITY

Tổng số khách hàng cho vay chia cho tổng số nhân viên

Quản trị thành công sẽ giảm bớt lựa chọn bất lợi và các vấn đề rủi ro đạo đức Ở đây, chúng ta phân biệt giữa cơ chế quản trị nội bộ và bên ngoài Cơ chế quản trị nội bộ bao gồm các đặc điểm của giám đốc điều hành và hội đồng quản trị, và các hình thức sở hữu trong các tổ chức tài chính vi mô Cơ chế quản trị bên ngoài như các khách hàng và khuôn khổ pháp lý quy định đối với các tổ chức tài chính vi mô

Cả hai loại cơ chế quản trị nội bộ và bên ngoài đều được đưa vào trong phân tích Qua đó, chúng ta có thể xác định được mối quan hệ giữa hiệu quả công ty và quản

trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô

Trang 31

2.2.4 Cơ chế quản trị nội bộ

Tầm quan trọng của cơ chế quản trị nội bộ được công nhận trong các tài liệu tài chính vi mô (Rock và cộng sự, 1998; Otero và Chu, 2002; Helms, 2006) Trong cơ chế quản trị nội bộ, biến đầu tiên là mối quan hệ giữa hội đồng quản trị và người quản lý doanh nghiệp Trong tổ chức tài chính vi mô nên có sự phân quyền giữa giám đốc điều hành và các thành viên trong hội đồng quản trị Trong khi đó, một giám đốc điều hành được kiêm nhiệm bởi thành viên trong hội đồng quản trị, có thể dẫn đến, giám đốc điều hành theo đuổi các chính sách cho lợi ích cá nhân (Hermalin

và Weisbach, 1998) Tuy nhiên, Brickley và các cộng sự (1997) đã không thấy bằng chứng rằng, các tổ chức tài chính vi mô có một sự phân quyền giám đốc điều hành/thành viên hội đồng quản trị, đạt kết quả vượt trội hơn so với các tổ chức có kiêm nhiệm vị trí này

Biến thông tin trong cơ chế quản trị nội bộ của các tổ chức tài chính vi mô còn bao gồm: biến thứ nhất là, giám đốc điều hành có phải là nữ; biến thứ hai là, trong các

tổ chức tài chính vi mô có hay không các kiểm toán viên nội bộ báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị

Một trong những đổi mới trong tài chính vi mô là hướng đến khách hàng mục tiêu

là nữ, những người cần được quan tâm nhiều hơn trong xã hội (Armendariz de Aghion và Morduch, 2005) Chính vì vậy, trong một tổ chức tài chính vi mô có giám đốc điều hành là nữ, sẽ giúp các tổ chức tài chính vi mô hiểu khách hàng của mình tốt hơn và đem lại hiệu quả hoạt động tốt hơn

Trang 32

Trong khi đó, chúng ta cũng xét đến trong các tổ chức tài vi mô, có kiểm toán viên nội bộ báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị hay không Kiểm toán viên nội bộ cung cấp các đánh giá khách quan, độc lập về hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô Các tổ chức tài chính vi mô cần nâng cao tầm quan trọng của kiểm toán viên nội bộ, và đề nghị kiểm toán viên nội bộ thường xuyên báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị (Steinwand, 2000) Do đó, trong một tổ chức tài chính vi mô, yêu cầu kiểm toán viên nội bộ phải báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị sẽ hiển thị kết quả kinh doanh cao hơn

Biến thông tin tiếp theo là, các hình thức sở hữu trong các tổ chức tài chính vi mô,

có thể đóng vai trò trong hiệu quả công ty Tương tự như trong ngành ngân hàng, chủ sở hữu của tổ chức tài chính vi mô khá rộng (Rasmussen, 1988; Hansmann 1996; Labie, 2001) Tổ chức tài chính vi mô được sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận (NPO), các công ty cổ phần (SHFs) hay các nhà cung cấp tư nhân thường dưới hình thức hợp tác xã (HTX) Trong đó, hình thức sở hữu NPO thường được xem là có cấu trúc yếu hơn vì thiếu chủ sở hữu có quyền lợi tài chính (Jansson và Westley, 2004) Điều này, dẫn đến một vấn đề là hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận thì thấp hơn khi sở hữu bởi các công ty cổ phần Gutierrez - Nieto và các cộng sự (2007) đã cho thấy điều này khi điều tra 30 tổ chức tài chính vi mô ở Mỹ Latinh Chính vì vậy, các nghiên cứu khác nữa của Ledgerwood và White (2006), Hishigsuren (2006), Fernando (2004) lập luận cho rằng cần thiết chuyển đổi hình thức sở hữu NPO trở thành SHF Tuy nhiên, các tổ chức tài chính vi mô còn có nghĩa vụ phải tiếp cận với khách hàng người nghèo Do đó, hình thức sở hữu SHF trong các tổ chức tài chính vi mô có hiệu quả tài chính tốt hơn nhưng tiếp cận khách hàng nghèo ít hơn hình thức sở hữu NPO Vì vậy, việc chuyển đổi hình thức sở hữu trong các tổ chức tài chính vi mô cần thiết có những nghiên cứu thêm

Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính vi mô có thêm những tranh luận cho vấn đề này Trước hết, các tổ chức tài chính vi mô cần thực hiện tốt để tồn tại trong

Trang 33

kinh doanh Tuy nhiên, các tổ chức tài chính vi mô sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận (NPO) có một lợi ích bù đắp là làm giảm lựa chọn bất lợi của khách hàng và rủi ro đạo đức (Hansmann, 1996; Desrochers và Fischer, 2002) Bởi vì, hình thức sở hữu NPO giúp cho các tổ chức tài chính vi mô có thể để khai thác tốt hơn vào các mạng lưới thông tin địa phương

Trong khi đó, Crespi và các cộng sự (2004), Bohren và Josefsen (2007) cho thấy hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng tiết kiệm là ngang bằng với các ngân hàng thương mại ở Tây Ban Nha và Na Uy Bên cạnh đó, Valnek (1998) báo cáo rằng những tổ chức xã hội hỗ tương đã vượt trội so với các cổ phiếu ngân hàng bán lẻ ở Anh Tuy nhiên, trong một cuộc khảo sát của các ngân hàng tại 15 quốc gia châu Âu, Iannotta và các cộng sự (2007) thấy rằng các ngân hàng tương hỗ và các

tổ chức tài chính vi mô sở hữu nhà nước, thể hiện một lợi nhuận thấp hơn so với các ngân hàng tư nhân

Bằng chứng lịch sử cung cấp trong Cull và các cộng sự (2006) cho thấy, trong các quốc gia Bắc Đại Tây Dương, xuất hiện các trung gian tài chính khác ngoài các tổ chức tài chính vi mô, để cung cấp các khoản vay đối với doanh nghiệp nhỏ và cá nhân Ở Pháp, công chứng viên đóng vai trò này Trong khi đó, ở các nước Anh và

Mỹ vai trò này được đảm nhận bởi các ngân hàng thương mại nhỏ cũng như các công đoàn tín dụng Và ở Đức và các nước Bắc Âu, chức năng này được lấp đầy bởi các ngân hàng tiết kiệm

Tóm lại, những so sánh trong hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô với các loại hình sở hữu khác nhau đều cho thấy kết quả khả quan Chính vì vậy, một giả thuyết

có thể là cả hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi

mô của hai loại hình sở hữu NPO và SHF đều tốt

Ở Việt Nam các tổ chức tài chính vi mô còn khá non trẻ nên chỉ chủ yếu là được sở hữu bởi các tổ chức phi chính phủ, còn các hình thức sở hữu khác là ít hơn nhiều Chính vì vậy, bài luận văn chia các hình thức sở hữu các tổ chức tài chính vi mô ở

Trang 34

Việt Nam làm hai loại: một là, các tổ chức tài chính vi mô được sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận; hai là, các loại hình thức sở hữu khác Do đó, bài luận văn thực hiện hồi quy với biến giả, các tổ chức tài chính vi mô có hình thức sở hữu khác nếu biến giả là 1 và hình thức sở hữu bởi các tổ chức phi lợi nhuận nếu biến giả là 0

2.2.5 Cơ chế quản trị bên ngoài

Chúng ta hãy cùng xem xét khuôn khổ pháp lý quy định đối với các tổ chức tài chính vi mô Khi một tổ chức tài chính vi mô được quy định bằng một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, có thể đem lại sự tin tưởng của khách hàng, từ đó dẫn đến hiệu quả tài chính cao hơn Mặt khác, Macey và O'Hara (2003) cho thấy một vấn đề khác: các tổ chức tài chính vi mô có thể theo đuổi một thực tế cho vay rủi ro hơn, khi biết rằng chính phủ sẽ đảm bảo tiền gửi Như vậy, chi phí đại diện cao hơn có thể dẫn đến hoạt động tài chính vi mô vào hướng ngược lại

Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý còn quy định tài chính vi mô trong việc tiếp cận với nguồn tài trợ chi phí thấp và quyền huy động tiết kiệm Điều này, cho phép các

tổ chức tài chính vi mô cơ hội để tăng số lượng khách hàng, đưa ra mức lãi suất hợp

lý, đem lại hiệu quả cho các tổ chức tài chính vi mô

Trang 35

2.5.6 Biến kiểm soát

Cuối cùng, chúng ta sẽ đề cập đến các biến kiểm soát cụ thể cho các tổ chức tài chính vi mô Các biến này sẽ làm rõ hơn các tranh luận đang diễn ra trong các lý thuyết tài chính vi mô về các vấn đề đo lường hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi mô (Morduch, 2000) Bài luận văn cũng sẽ đưa

ra những nhận xét về các kết quả của các biến này

Đầu tiên là các phương pháp cho vay sử dụng trong các tổ chức tài chính vi mô Các

tổ chức tài chính vi mô sử dụng hai phương pháp cho vay cơ bản là: cho vay cá nhân và cho vay theo nhóm Tài chính vi mô đã tạo ra một sự đổi mới trong phương pháp cho vay có thể vượt qua những lựa chọn bất lợi và các vấn đề rủi ro đạo đức,

đó là cho vay theo nhóm Aghion và Morduch (2005) chỉ ra rằng cho vay theo nhóm

có thể làm tăng tỷ lệ trả nợ Điều này xảy ra, bởi vì cho vay nhóm dẫn đến các khách hàng có bảo lãnh tín dụng lẫn nhau, các nhóm gắn kết với nhau một cách tự nhiên, cùng đôn đốc nhau thực hiện tốt quá trình hoàn trả vốn vay Trong bài luận văn, sử dụng biến giả là 1 nếu phương pháp cho vay chủ yếu là cho vay cá nhân và

0 nếu phương pháp chủ yếu là cho vay theo nhóm

Biến kiểm soát thứ hai là, các tổ chức tài chính vi mô thường nhắm đến mục tiêu cho vay các khách hàng ở khu vực nông thôn (Johnson và các cộng sự, 2006) Tỷ lệ khác nhau của các nhóm khách hàng ở thành thị và nông thôn cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô Đặc điểm các khách hàng ở nông thôn có mức sống thấp hơn ở thành thị và điều kiện sống cũng khó khăn hơn Chính vì vây, tiếp cận càng nhiều khách hàng ở nông thông sẽ mang đến hiệu quả cho tiếp cận cộng đồng tốt hơn Tuy nhiên, mật độ dân số ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều so với thành thị nên đòi hỏi chi phí tiếp cận nhiều hơn Điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô Bài luận văn đưa ra biến giả cho biến kiểm soát này Trong đó, biến giả là 1 nếu như các tổ chức tài

Trang 36

chính vi mô hoạt động chính ở khu vực thành thị và 0 nếu như hoạt động chủ yếu ở nông thôn

Biến kiểm soát thứ ba là mức vay trung bình khách hàng Các tổ chức tài chính vi

mô có mức vay trung bình khách hàng thấp có nghĩa là tiếp cận những khách hàng

là những người nghèo hơn Những đồng vốn nhỏ nhưng thực sự cần thiết giúp cho những khách hàng vượt qua những khó khăn hiện tại

Tương tự như vậy, năng suất lao động bình quân, kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô, và quy mô doanh nghiệp được bao gồm như các biến điều khiển Biến năng suất lao động bình quân được tính bằng cách lấy mức vay bình quân chia cho

số lượng nhân viên của các tổ chức tài chính vi mô Biến kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô là năm mà các tổ chức này thành lập Biến còn lại, quy mô doanh nghiệp là tổng tài sản của các tổ chức tài chính vi mô

Chúng ta vừa tìm hiểu những biến sử dụng trong mô hình và những kỳ vọng lý thuyết đối với hai khía cạnh trong việc đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính

vi mô Sau đây, là phần thu thập dữ liệu và trình bày phương pháp nghiên cứu được

sử dụng trong bài luận văn

Trang 37

3 Thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài luận văn

3.1 Thu thập dữ liệu

Các tổ chức tài chính vi mô ngày càng phải minh bạch trong hoạt động tài chính của mình Trong những năm trở lại đây, cơ quan đánh giá MicroRate đã mời Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (IDB), Tập đoàn Tư vấn Hỗ trợ người nghèo (CGAP), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và hai trong số các cơ quan xếp hạng khác MCril và Planet Rating đồng ý đưa ra một bộ chỉ số sử dụng trong các tổ chức tài chính vi mô Điều này dẫn đến một tài liệu được xuất bản bởi Ngân hàng quốc tế liên Mỹ (IDB) được gọi là chỉ số hiệu quả cho các tổ chức tài chính vi mô Tất cả năm tổ chức đánh giá xếp hạng các tổ chức tài chính vi mô theo bộ chỉ số này

Đánh giá xếp hạng được coi là một lợi ích trong lĩnh vực tài chính vi mô Theo Ratingfund, một tổ chức tài chính vi mô được hưởng lợi từ đánh giá xếp hạng theo bốn cách Đầu tiên, đánh giá xếp hạng tăng tính minh bạch tài chính và được công khai cho tất cả các bên quan tâm Thứ hai, đánh giá xếp hạng cung cấp một chuẩn mực đối với tổ chức tài chính vi mô và cung cấp cho các nhà quản lý của các tổ chức khác nhau cơ hội để so sánh kết quả của họ Thứ ba, đánh giá xếp hạng làm cho các tổ chức muốn cải thiện hiệu quả, và thông qua phân tích chuyên sâu, các nhà quản lý có thể chỉ ra những điểm cần chú ý trong hoạt động tài chính vi mô Thứ tư, đánh giá xếp hạng cho các nhà đầu tư và các nhà tài trợ cơ hội để so sánh và theo dõi thông tin đầu tư của họ

Trang 38

Các tổ chức tài chính vi mô khác nhau đôi khi có nhiều cách khác nhau để trình bày

số liệu Do đó, các cơ quan đánh giá này trình bày một số biến điều chỉnh, để cho phép một so sánh tốt hơn với các tổ chức khác nhau Điều chỉnh chính thường liên quan đến lãi suất cho vay quá hạn, loại bỏ các khoản trợ cấp, điều chỉnh cho lạm phát, và điều chỉnh ghi nhận khoản vay

Ngoài ra, Ratingfund đã đồng tài trợ hầu hết các chi phí liên quan đến việc đánh giá xếp hạng các tổ chức tài chính vi mô, nhưng vẫn chỉ có khoảng 300 tổ chức đã chấp nhận lời đề nghị và được xếp hạng Thêm một chứng cứ xuất phát từ Daley-Harris (2006), có đến 3.133 tổ chức tài chính vi mô và các chương trình tín dụng vi mô Tuy nhiên, trong số này chỉ có 907 tổ chức phục vụ 2500 khách hàng hoặc nhiều hơn Hơn nữa, Daley-Harris cho thấy chỉ có 9 tổ chức tài chính vi mô có hơn 1 triệu khách hàng

Báo cáo đánh giá làm cơ sở dữ liệu cho bài luận văn này là từ năm 2009 đến năm

2012, với phần lớn dữ liệu là từ hai năm qua của 29 tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Hơn nữa, mẫu của bài nghiên cứu là hoàn toàn đại diện của tổ chức tài chính

vi mô tại Việt Nam do có một số tổ chức chưa đủ điều kiện để đánh giá xếp hạng

Dữ liệu của bài luận văn được thu thập từ những thống kê công bố của Microfinance Information Exchange, Inc (viết tắt là MIX) là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động như một nhà cung cấp thông tin trong lĩnh vực tài chính vi mô Tổ chức này được thành lập bởi Tập đoàn Tư vấn Hỗ trợ người nghèo (CGAP) và được tài trợ bởi Quỹ Bill và Melinda Gates Foundation, CGAP, Quỹ Citi, Deutsche Bank Foundation, IFAD, và Omidyar Network Tổ chức MIX có trụ sở tại Washington

DC, và có văn phòng khu vực ở Peru, Ma-rốc, và Ấn Độ Tính đến thời điểm hiện tại, đây là tổ chức công bố thông tin một cách đầy đủ và chính xác nhất về số liệu của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Cụ thể việc thu thập các số liệu như sau: trong năm 2009 và năm 2010, tác giả thu thập được bộ số liệu của 15 tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Đến năm 2011, thu thập được bộ dữ liệu của 16 tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Bộ số liệu đầy đủ

Trang 39

nhất là ở năm 2012, tác giả thu thập được 29 tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Bài luận văn này, xem xét thêm một số biến phụ thuộc khác trong năm 2012 như: tỷ suất sinh lợi danh mục (PORYIELD) và chi phí hoạt động (OPECOSTS) để đo lường hiệu quả tài chính; số lượng khách hàng tín dụng (NUMCUSTOMERS) đo lường chiều rộng của hiệu quả xã hội

Đối với các biến thông tin khác như phân quyền giám đốc điều hành/thành viên hội đồng quản trị, giám đốc điều hành là nữ, kiểm toán viên hội đồng quản trị được tác giả thu thập bằng cách gọi điện trực tiếp phỏng vấn hay gởi bằng email điện tử đến những người đứng đầu các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Chúng ta chưa có một thống kê nào được công bố, cũng như không thể thu thập được biến thành phần của hội đồng quản trị do những người đứng đầu các tổ chức tài chính vi mô muốn bảo mật thông tin này Chính vì vậy, bài luận văn này đã đưa thêm biến quy mô của tổ chức tài chính vi mô được đo bằng số lượng toàn bộ nhân viên của từng tổ chức tài chính vi mô vào xem xét Do đó, cần thiết có những nghiên cứu trong tương lai để xét đến thành phần hội đồng quản trị trong các tổ chức tài chính vi mô

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài luận văn chạy dữ liệu trên phần mềm Eview 6 Cách tiến hành, chạy một hồi quy bé nhất ba bước (3SLS) (Greene, 2003) trên các dữ liệu Một lợi thế của phương pháp hồi quy bé nhất ba bước là phương pháp này không phụ thuộc vào giả định của hình thức phân phối

Mô hình sử dụng trong bài luận văn:

i ki

k i

i

Trang 40

Phương pháp bình phương bé nhất ba giai đoạn - 3SLS -là sự mở rộng của 2SLS và dùng để ứơc lượng các phương trình của một hệ phương trình Phương pháp này

gồm ba giai đoạn sau:

Giai đoạn 1 Ứơc lượng các phương trình rút gọn

Giai đoạn 2 Ước lượng các phương trình cấu trúc bằng cách thay các biến nội

sinh ở vế phải của các phương trình bằng các ước lượng thu được ở giai đoạn 1

Giai đoạn 3 Gồm các công việc sau:

 Tính các phần dư e1t, e2t, emt thu được ở giai đoạn 2 tương ứng với các phương trình cấu trúc

 Tính ma trận hiệp phương sai của các sai số ngẫu nhiên đối với từng phương trình

của hệ

 Biến đổi các biến số theo phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát Các ước lượng nhận được theo phương pháp 3SLS là các ước lượng chệch nhưng vững Phương pháp 3SLS hiệu quả hơn so với 2SLS

Ngày đăng: 08/08/2015, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Hình 1 Sơ đồ cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng (Trang 17)
Hình 2: Các chỉ số thống kê về các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Hình 2 Các chỉ số thống kê về các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại (Trang 21)
Bảng 1: Bảng miêu tả các biến phụ thuộc - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 1 Bảng miêu tả các biến phụ thuộc (Trang 28)
Bảng 2: Bảng miêu tả các biến độc lập và các tác động trên lý thuyết của chúng  đối với hiệu quả tài chính (FinP) và tiếp cận cộng đồng (Outreach) - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 2 Bảng miêu tả các biến độc lập và các tác động trên lý thuyết của chúng đối với hiệu quả tài chính (FinP) và tiếp cận cộng đồng (Outreach) (Trang 29)
Bảng 3: Bảng thống kê mô tả các biến trong đặc điểm hội đồng quản trị - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 3 Bảng thống kê mô tả các biến trong đặc điểm hội đồng quản trị (Trang 41)
Bảng 4: Bảng thống kê mô tả các biến phụ thuộc được sử dụng trong phân tích - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 4 Bảng thống kê mô tả các biến phụ thuộc được sử dụng trong phân tích (Trang 43)
Bảng 5: Bảng thống kê miêu tả của các biến còn lại trong mô hình - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 5 Bảng thống kê miêu tả của các biến còn lại trong mô hình (Trang 44)
Bảng 6: Bảng hồi quy ROA qua bốn năm và tỷ suất sinh lợi danh mục, chi phí - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 6 Bảng hồi quy ROA qua bốn năm và tỷ suất sinh lợi danh mục, chi phí (Trang 48)
Bảng 7: Bảng hồi quy mức vay trung bình qua bốn năm và số lượng khách - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 7 Bảng hồi quy mức vay trung bình qua bốn năm và số lượng khách (Trang 52)
Bảng 8: Bảng hệ số tương quan giữa một số biến độc lập trong mô hình - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 8 Bảng hệ số tương quan giữa một số biến độc lập trong mô hình (Trang 55)
Bảng 9: Bảng hồi quy sau khi loại bỏ lần lượt phương pháp cho vay và số nhân - HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ.PDF
Bảng 9 Bảng hồi quy sau khi loại bỏ lần lượt phương pháp cho vay và số nhân (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w