Tính cấp thiết của đề tài : Hiện nay, số liệu lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam thường có sự sai lệch, ảnh h
Trang 1-*** -
PHAN TIẾN QUÂN
SAI LỆCH LỢI NHUẬN SAU THUẾ TRÊN BCTC TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2-*** -
PHAN TIẾN QUÂN
SAI LỆCH LỢI NHUẬN SAU THUẾ TRÊN BCTC TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3khác
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 3
1.1 Công ty niêm yết và việc công bố thông tin kế toán 3
1.1.1 Công ty niêm yết 3
1.1.2 Công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết 4
1.2 Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính 6
1.2.1 Định nghĩa về kiểm toán 6
1.2.2 Phân loại kiểm toán 7
1.2.3 Kiểm toán báo cáo tài chính 8
1.2.4 Vai trò của kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính 8
1.3 Sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán 9
1.3.1 Lợi nhuận và lợi nhuận sau thuế 9
1.3.2 Sai sót và gian lận 10
1.3.3 Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm 13
1.3.4 Hành vi quản trị lợi nhuận 14
1.3.5 Nghiên cứu về sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán thường gặp 17
Trang 5NAM 19
2.1 Phân tích tổng quan sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế các công ty niêm yết 2010-2012 19
2.1.1 Về số lượng, mức độ các công ty có sai lệch 20
2.1.2 Sai lệch theo ngành nghề 23
2.1.3 Sai lệch theo công ty kiểm toán 26
2.1.4 Sai lệch theo quy mô công ty niêm yết 29
2.1.5 Xác định các sai lệch phổ biến 31
2.2 Phân tích các sai lệch phổ biến ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán 33
2.2.1 Sai lệch ghi nhận doanh thu 33
2.2.2 Sai lệch ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái 36
2.2.3 Sai lệch ghi nhận chi phí đi vay 38
2.2.4 Sai lệch ghi nhận các khoản dự phòng 38
2.2.5 Sai lệch thuế thu nhập doanh nghiệp 41
2.2.6 Sai lệch khi hợp nhất 44
2.2.7 Sai lệch khác 46
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ GIẢM SAI LỆCH LỢI NHUẬN SAU THUẾ TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN 50
3.1 Cơ sở để đưa ra các kiến nghị 50
3.2 Kiến nghị đối với doanh nghiệp niêm yết 51
Trang 63.5 Kiến nghị đối với Hội nghề nghiệp 58
3.6 Kiến nghị đối với người sử dụng báo cáo tài chính 59
Kết luận Chương 3 60
KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 2.2: Danh sách các công ty có sai lệch vượt 10% 3 năm
Bảng 2.3: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước theo giá 1994 Bảng 2.4: Bảng kê nhóm ngành
Bảng 2.5: Thống kê số lượng các công ty niêm yết theo ngành
Bảng 2.6: Tổng hợp sai lệch công ty theo ngành
Bảng 2.7: Bảng kê các công ty niêm yết theo công ty kiểm toán Bảng 2.8: Tổng hợp sai lệch công ty niêm yết theo công ty kiểm toán Bảng 2.9: Tổng hợp sai lệch theo từng công ty kiểm toán
Bảng 2.10: Bảng kê số lượng công ty niêm yết theo quy mô
Bảng 2.11: Bảng kê sai lệch các công ty theo quy mô
Bảng 2.12: Tổng hợp số lượng công ty khảo sát
Bảng 2.13: Bảng kê các sai lệch phổ biến
Trang 8Phụ lục 2.4: Danh sách các công ty VN30 công bố tháng 01/2013
Phụ lục 2.5: Danh sách các công ty khảo sát giải trình chênh lệch sau kiểm toán năm
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Hiện nay, số liệu lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam thường có sự sai lệch, ảnh hưởng tới việc
ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính
Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán các công ty niêm yết ở Việt Nam là thực sự cần thiết, sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin cho người sử dụng báo cáo tài chính trong việc ra quyết định Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề này để làm luận văn cao học chuyên ngành kế toán
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây :
Vấn đề sai lệch thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính đã được đề cập ở một số nghiên cứu về sai sót, gian lận trên báo cáo tài chính các công ty niêm yết ở Việt Nam Các đề tài này đã xem xét, tổng kết các nghiên cứu về sai sót, gian lận trên thế giới và tiến hành phân tích thực trạng, nguyên nhân của các sai sót, gian lận ở Việt Nam Từ
đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao việc ngăn ngừa, phát hiện sai sót, gian lận trên báo cáo tài chính, góp phần hạn chế sai lệch thông tin cung cấp cho người sử dụng
Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích chi tiết về sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán Trong khi đó, đây là chỉ tiêu được nhiều người quan tâm, sử dụng cho việc ra quyết định
3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán, xác định các sai lệch phổ biến, tác giả cố gắng tìm hiểu nguyên nhân sai lệch và đưa ra các đề xuất, kiến nghị để làm giảm mức độ sai lệch và nâng cao chất lượng thông tin báo cáo tài chính
3.2 Câu hỏi nghiên cứu :
Mức độ sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế các công ty niêm yết hiện nay như thế nào, nhiều hay ít? Có sự khác biệt giữa mức độ sai lệch giữa các công ty có quy mô, ngành
Trang 10nghề khác nhau không? Có sự khác biệt giữa mức độ sai lệch giữa các công ty được kiểm toán bởi Big4 và công ty kiểm toán khác không? Hiện nay, các sai lệch nào là phổ biến?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên Báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh từ năm 2010 tới 2012
5 Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng Qua việc phân tích, tổng hợp thực trạng sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán để trả lời một số câu hỏi nghiên cứu, thực hiện mục tiêu nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Nghiên cứu này xuất phát và giải quyết một trong các vấn đề phát sinh của việc công
bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Qua việc phân tích, đánh giá sai lệch lợi nhuận sau thuế các công ty niêm yết sẽ cho ta cái nhìn chi tiết hơn về thực trạng sai lệch hiện nay và đưa ra các kiến nghị để hạn chế sai lệch Từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công tác lập báo cáo tài chính, hoạt động kiểm toán và cung cấp thông tin hữu ích hơn cho người sử dụng báo cáo tài chính
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và 7 phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 - Cơ sở lý luận: tìm hiểu các khái niệm, các lý thuyết làm nền cho đề tài nghiên cứu
- Chương 2 - Thực trạng, nguyên nhân sai lệch: thu thập và phân tích chi tiết số liệu sai lệch, tìm hiểu các sai lệch phổ biến
- Chương 3- Các đề xuất, kiến nghị: tìm hiểu và đưa ra các kiến nghị để hạn chế sai lệch
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
1.1 Công ty niêm yết và việc công bố thông tin kế toán
1.1.1 Công ty niêm yết
Công ty niêm yết là những công ty cổ phần được Sở giao dịch chứng khoán cho phép niêm yết cổ phiếu của mình cho mục đích giao dịch trên Sở khi đáp ứng được một số
điều kiện quy định
Hiện tại, ở Việt Nam, các điều kiện niêm yết được quy định trong Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán Nghị định này thay thế cho Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 Trong đó, các điều kiện niêm yết được yêu cầu khắt khe hơn để bảo đảm chất lượng các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Nhìn chung các điều kiện niêm yết bao gồm:
• Yêu cầu về mức vốn điều lệ
• Yêu cầu về thời gian hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, hiệu quả hoạt động kinh doanh, về khả năng thanh toán nợ của công ty
• Công khai các khoản nợ của các tổ chức, thành viên quan trọng của công ty như Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn,
• Quy định về số lượng cổ đông nhỏ và tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết tối thiếu của cổ đông nhỏ
• Quy định về thời gian cam kết nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức, cá nhân quan trọng của công ty
• Có hồ sơ đăng ký niêm yết hợp lệ
Các quy định này có sự phân biệt giữa các công ty niêm yết ở Sỏ giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) Theo đó, các công ty niêm yết ở HOSE phải đáp ứng các yêu cầu cao hơn so với các
Trang 12công ty niêm yết ở HNX về mức vốn điều lệ, thời gian, hiệu quả hoạt động, số lượng
cổ đông nhỏ,
1.1.2 Công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết
Kế toán và thông tin kế toán
Theo Luật kế toán (2003) : ”Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao
động.”
Theo đó, ta có thể hiểu, Thông tin kế toán là thông tin về kinh tế, tài chính do kế toán
thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp cho các đối tượng sử dụng Nghiệp vụ kinh tế, tài chính là những hoạt động phát sinh cụ thể làm tăng, giảm tài sản, nguồn hình thành tài sản của đơn vị kế toán
Căn cứ vào thông tin kế toán cung cấp mà kế toán được chia thành kế toán tài chính và
kế toán quản trị
”Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.” (Luật kế toán, 2003)
”Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” (Luật kế toán, 2003)
Như vậy, thông tin kế toán được đề cập ở đây chủ yếu là thông tin do kế toán tài chính cung cấp qua báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
Ý nghĩa của việc công bố thông tin kế toán
Trên thế giới và ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, các công ty niêm yết có nghĩa vụ phải công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Việc công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết có vai trò quan trọng do:
• Việc cung cấp thông tin kế toán là để xác định được doanh nghiệp có đủ điều kiện niêm yết hay không? Điều này để nâng cao chất lượng các công ty được giao dịch
và được thu hút vốn từ các nhà đầu tư Các công ty không còn đủ điều kiện sẽ không được tiếp tục niêm yết
Trang 13• Căn cứ vào thông tin kế toán được cung cấp, các nhà đầu tư sẽ ra quyết định mua, bán chứng khoán Như vậy, thông tin kế toán là một trong các yếu tố hình thành nên cung cầu hàng hóa trên thị trường chứng khoán (Phạm Đức Tân, 2009)
• Căn cứ vào thông tin kế toán được các công ty niêm yết cung cấp, các cơ quan quản lý, các tổ chức có thể đánh giá được thực trạng, tình hình kinh tế chung, thực trạng của các ngành Từ đó có thể ra quyết định điều hành kinh tế phù hợp (Phạm Đức Tân, 2009)
Quy định hiện tại về việc công bố thông tin của công ty niêm yết
Hiện tại việc công bố thông tin của công ty niêm yết ở Việt Nam được thực hiện theo thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ tài chính - Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Thông tư này thay thế cho Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, đã bổ sung thêm một số nội dung quan trọng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán được cung cấp của doanh nghiệp niêm yết, cụ thể như:
• Công ty niêm yết phải công bố thông tin về giải trình đối với ý kiến ngoại trừ/lưu ý trên báo cáo kiểm toán
• Công ty niêm yết phải công bố giải trình số liệu tài chính do công ty công bố khác với số liệu tài chính tại Báo cáo tài chính được kiểm toán
Cũng theo thông tư số 52/2012/TT-BTC, việc công bố thông tin được chia thành 3 nhóm theo thời điểm công bố:
• Công bố thông tin định kỳ: các thông tin được công bố chủ yếu là báo cáo tài chính hàng quý, báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính kiểm toán năm và các công văn giải trình biến động lợi nhuận sau thuế, ý kiến kiểm toán
• Công bố thông tin bất thường: các thông tin về tổn thất tài sản có giá trị lớn (từ 10%), tăng giảm vốn điều lệ,vốn góp, vấn đề mua bán tài sản có giá trị lớn (từ 15%), biến động giá chứng khoán niêm yết, giải trình khác biệt số liệu sau kiểm toán
Trang 14• Công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán khi có các sự kiện nghiêm trọng ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Như vậy, có thể thấy, đối với báo cáo tài chính hàng năm của công ty phải được kiểm toán trước khi công bố ra bên ngoài Điều này cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động kiểm toán trong việc công bố thông tin kế toán
1.2 Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Định nghĩa về kiểm toán
Một trong các định nghĩa về kiểm toán được chấp nhận rộng rãi là:
”Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được
kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập” (Auditing: An integrated approach, A.A Arens &
J.K.Locbbecke, Prentice Hall, 1997)
• Báo cáo kiểm toán: là văn bản trình bày ý kiến chính thức của kiểm toán về sự phù hợp giữa thông tin được kiểm tra và chuẩn mực đã được thiết lập Cụ thể đối với kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán viên đưa ra ý kiến về sự trung thực, hợp lý của báo cáo chính được kiểm toán
• Kiểm toán viên phải có đủ năng lực và độc lập: năng lực kiểm toán viên là trình
độ nghiệp vụ được hình thành qua đào tạo và tích lũy kinh nghiệm Sự độc lập
Trang 15với đơn vị kiểm toán là yêu cầu cần thiết để có được sự khách quan của kiểm toán viên và niềm tin của người sử dụng kết quả kiểm toán
1.2.2 Phân loại kiểm toán
Người sử dụng thông tin thường có các yêu cầu khác nhau đối với các thông tin được kiểm tra Để đáp ứng với yêu cầu trên, các loại hình kiểm toán với các mục đích khác nhau đã hình thành và có các chủ thể kiểm toán khác nhau (Sách Kiểm toán - Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2012) Đây là hai tiêu thức chủ yếu để phân loại kiểm toán:
Phân loại theo chủ thể kiểm toán:
• Kiểm toán nội bộ: là hoạt động kiểm toán do nhân viên trong nội bộ đơn vị thực hiện Họ có thể thực hiện được cả 3 loại kiểm toán: hoạt động, tuân thủ và báo cáo tài chính nhưng chủ yếu là kiểm toán hoạt động
• Kiểm toán của nhà nước: hoạt động kiểm toán do các công chức của nhà nước tiến hành, chủ yếu là kiểm toán tuân thủ
• Kiểm toán độc lập: loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các
tổ chức kiểm toán độc lập, chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính
Phân loại theo mục đích kiểm toán:
• Kiểm toán hoạt động: là việc kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính hiệu quả đối với hoạt động của tổ chức để đề xuất những biện pháp cải tiến Đối tượng kiểm toán hoạt động thì đa dạng cho nên không thể đưa ra một chuẩn mực chung để đánh giá mà tuy đối tượng cụ thể
• Kiểm toán tuân thủ: là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy định nào đó, ví dụ như các văn bản pháp luật, hợp đồng kinh tế, các quy định của đơn vị, Điển hình là cuộc kiểm tra của cơ quan thuế đối với doanh nghiệp, cuộc kiểm tra của kiểm toán nhà nước đối với các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
• Kiểm toán báo cáo tài chính: là cuộc kiểm tra để đưa ra ý kiến nhận xét về sự trình bày trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính một đơn vị với thước đo là các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để phục vụ nhiều đối tượng như cơ quan thuế, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng,
Trang 161.2.3 Kiểm toán báo cáo tài chính
Khái niệm:
Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập
Mục tiêu:
• Đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sỏ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu không?
• Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính: gồm 3 giai đoạn chính là:
• Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán: kiểm toán viên tiếp cận khách hàng va thu thập các thông tin để ký hợp đồng, lập kế hoạch và chương trình kiểm toán
• Giai đoạn kế tiếp là thực hiện kế hoạch và chương trình kiểm toán để thu thập các bằng chứng làm cơ sỏ cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên
• Giai đoạn hoàn thành kiểm toán là tổng hợp và rà soát lại các bằng chứng đã thu thập để kiểm toán viên hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán
1.2.4 Vai trò của kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính
• Nâng cao hiệu quản hoạt động của đơn vị nói riêng và nền kinh tế nói chung:
Hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ sẽ giúp phát hiện ra các yếu kém, sai sót của từng đơn vị, tổ chức, đồng thời đánh giá được kết quả thực hiện Từ đó người quản lý các cấp có thể đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị, tổ chức
Ngoài việc cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán danh tiếng cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn kế toán, tài chính, thuế cho các đơn vị góp phần giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Trang 17Khi hiệu quả hoạt động của các đơn vị, tổ chức được nâng cao sẽ thúc đầy phát triển
và ổn định nền kinh tế nói chung
• Gia tăng độ tin cậy của thông tin kế toán cho người sử dụng:
Trong hoạt động kinh tế hiện nay, khi thị trường chứng khoán không ngừng phát triển
và là kênh thu hút vốn mạnh mẽ, thì vai trò của kiểm toán báo cáo tài chính càng nổi bật
Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải cung cấp các thông tin kế toán theo quy định cho nhà đầu tư, các cổ đông và các đối tượng khác Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, thông tin kế toán các công ty cung cấp thường
có nhiều sai lệch và ảnh hưởng tới việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng
Để giảm thiểu rủi ro sai lệch về thông tin kế toán trên báo cáo tài chính, cách thức hiệu quả nhất là bắt buộc các báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các kiểm toán viên độc lập và họ có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính
Do đó báo cáo tài chính sau khi kiểm toán sẽ cung cấp các thông tin đáng tin cậy hơn cho người sử dụng để ra các quyết định
1.3 Sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán
Trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp khi được công bố, chỉ tiêu quan trọng và được nhiều người sử dụng quan tâm nhất là chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế Nó phản ánh hiệu quả hoạt động của đơn vị, là cơ sở để phân chia thành quả, là cơ sở để quyết định hoạt động đầu tư Đây cũng là thông tin dễ bị sai sót và bị bóp méo do nhiều nguyên nhân và dẫn đến sai lệch lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước và sau kiểm toán, ảnh hưởng đến chất lượng của việc công bố thông tin kế toán
1.3.1 Lợi nhuận và lợi nhuận sau thuế
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung:
”Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí.”
Trang 18Trong đó,
”Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”
”Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ
sở hữu.”
Như vậy, lợi nhuận đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, là lợi ích kinh tế nhận được hoặc mất đi khi thực hiện hoạt động kinh doanh của đơn vị
Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận sau khi trừ đi chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp và là cơ sở để phân chia kết quả kinh doanh cho chủ sở hữu, nhà đầu tư Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế cần được phản ánh một cách trung thực, hợp lý khi được công bố cho người sử dụng Tuy nhiên, trên thực tế thường có sự sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế công bố trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết Điều này có thể do các nguyên nhân sau:
• Báo cáo tài chính trước kiểm toán có sai sót, gian lận
• Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến thời điểm kiểm toán
• Doanh nghiệp thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
1.3.2 Sai sót và gian lận
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 240) thì:
Sai sót là “những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, như:
• Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai
• Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
• Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý”
Trang 19Phân loại sai sót: theo mức độ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp, thì
sai sót được chia làm 3 loại:
• Các sai sót chỉ ảnh hưởng đến các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
• Các sai sót chỉ ảnh hưởng đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
• Các sai sót ảnh hưởng đến cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Các sai sót thường gặp trên báo cáo tài chính:
• Quên ghi nhận các khoản được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa chi trả trong kỳ này
• Một khoản mục đã được ghi nhận là tài sản và một phần giá trị của tài sản đã thành chi phí nhưng chi phí chưa được ghi nhận
• Một khoản chi đã tính hết vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp nhưng một phần của khoản chi phí phải được ghi nhận là tài sản mà tài sản chưa được ghi nhận
• Quên không ghi nhận lợi tức hay tiền lãi tích lũy sẽ thu
• Một khoản mục đã được ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện và một phần giá trị này đã thực hiện nhưng chưa ghi nhận doanh thu
• Một khoản mục đã ghi nhận là doanh thu nhưng chỉ một phần đã thực hiện được, phần doanh thu chưa thực hiện chưa ghi nhận
Cũng theo VSA 240:
Gian lận là “những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay
nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên, hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau:
• Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính
• Sửa đổi tài liệu, chứng từ kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính
Trang 20• Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính
Nguyên nhân thực hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân thực hiện hành vi gian lận trên báo cáo tài chính Ở Việt Nam, theo nghiên cứu mới đây của Nguyễn Phúc Cảnh (2013) thì một số nguyên nhân chính của doanh nghiệp thực hiện gian lận số liệu trên báo cáo tài chính của Việt Nam là:
• Do áp lực từ bên trong và bên ngoài về lợi nhuận kỳ vọng gây ra
• Để giảm thuế phải nộp
• Tác động đến giá cổ phiếu
• Áp lực tạo doanh thu ổn định
Trong đó nguyên nhân đứng đầu là do muốn đạt được lợi nhuận kỳ vọng Do chỉ tiêu lợi nhuận là tổng hợp của các khoản mục khác nên để đạt được lợi nhuận kỳ vọng thì các doanh nghiệp tác động tới các khoản mục liên quan chính là các khoản doanh thu, chi phí
Trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng quy định các kiểm toán viên, công ty kiểm toán có trách nhiệm giúp phát hiện và ngăn ngừa các sai sót, gian lận của đơn vị được kiểm toán Qua đó, khi phát hiện được các sai sót, gian lận trọng yếu trên báo cáo tài chính của đơn vị, các KTV sẽ yêu cầu đơn vị thực hiện điều chỉnh và lập lại báo cáo tài chính dẫn đến phát sinh sai lệch sau kiểm toán
Tuy nhiên, không phải sai sót, gian lận trọng yếu nào cũng dẫn tới sai lệch sau kiểm toán, nếu các công ty không thực hiện theo yêu cầu điều chỉnh của kiểm toán viên thì kiểm toán viên sẽ không được đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trên báo cáo kiểm
Trang 21toán hoặc có thể rút khỏi hợp đồng kiểm toán Như vậy, các báo cáo kiểm toán không được chấp nhận toàn phần cũng có thể tiềm ẩn sai lệch
1.3.3 Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm
Theo chuẩn mực kế toán số 23 thì:
”Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm là những sự kiện có ảnh
hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến báo cáo tài chính đã phát sinh trong khoảng thời gian
từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành báo cáo tài chính”
Các sự kiện phát sinh này được phân loại thành các sự kiện cần điều chỉnh và các sự kiện không cần điều chỉnh
Trong đó, các sự kiện phát sinh cần điều chỉnh theo quy định của chuẩn mực là:
”(a) Kết luận của Toà án sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm, xác nhận doanh nghiệp có những nghĩa vụ hiện tại vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm, đòi hỏi doanh nghiệp điều chỉnh khoản dự phòng đã được ghi nhận từ trước; ghi nhận những khoản dự phòng mới hoặc ghi nhận những khoản nợ phải thu, nợ phải trả mới
(b) Thông tin nhận được sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cung cấp bằng chứng về một tài sản bị tổn thất trong kỳ kế toán năm, hoặc giá trị của khoản tổn thất được ghi nhận từ trước đối với tài sản này cần phải điều chỉnh
(c) Việc xác nhận sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm về giá gốc của tài sản đã mua hoặc số tiền thu được từ việc bán tài sản trong kỳ kế toán năm
(d) Việc phát hiện những gian lận và sai sót chỉ ra rằng báo cáo tài chính không được chính xác.”
Ở đây ta xem xét các sự kiện phát sinh từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến khi phát hành báo cáo kiểm toán Có một khoảng thời gian từ khi công bố báo cáo tài chính chưa kiểm toán đến thời điểm công bố báo cáo kiểm toán và các sự kiện phát sinh trong thời gian này có thể cần điều chỉnh Trong quá trình kiểm toán, doanh nghiệp, kiểm toán viên sẽ xem xét lại các sự kiện phát sinh này, nếu cần kiểm toán viên sẽ điều chỉnh và lập lại báo cáo tài chính mới dẫn đến phát sinh sai lệch sau kiểm toán
Trang 221.3.4 Hành vi quản trị lợi nhuận
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về vấn đề này của Đường Nguyễn Hưng (2013), Huỳnh Thị Vân (2012), Nguyễn Thị Minh Trang (2011) Qua các nghiên cứu đó, cho ta thấy được một số nội dung về hành vi quản trị lợi nhuận như sau:
Khái niệm
Quản trị lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công
ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán (Huỳnh Thị Vân, 2012)
Bản chất của quản trị lợi nhuận: là việc vận dụng các chính sách và thực hiện các
ước tính kế toán và quyết định thời điểm thực hiện các nghiệp vụ một cách có mục đích dẫn đến việc phản ánh không trung thực tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Đường Nguyễn Hưng, 2013)
Cơ sỏ của hành vi quản trị lợi nhuận: là kế toán theo cơ sỏ dồn tích Kế toán theo cơ
sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán 01)
Do doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận khi chưa thu hay chi tiền nên việc ghi nhận có thể chịu ảnh hưởng của quyết định chủ quan của nhà quản lý Hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện trên việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận (Đường Nguyễn Hưng, 2013)
Mục đích hành vi quản trị lợi nhuận:
• Các doanh nghiệp niêm yết cần có kết quả kinh doanh khả quan để thu hút vốn từ các nhà đầu tư, vay ngân hàng
• Các doanh nghiệp điều chỉnh để tăng giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng trong kỳ, đặc biệt khi có sự thay đổi thuế suất, ưu đãi thuế
• Nhà quản lý cần đạt được kết quả kinh doanh theo kế hoạch để giữ được vị trí, bảo đảm được thu nhập từ tiền lương, thưởng,
Trang 23Một số chính sách kế toán được vận dụng trong quản trị lợi nhuận
• Chính sách ghi nhận doanh thu: qua việc lựa chọn thời điểm, mức độ ghi nhận doanh thu để điều chỉnh lợi nhuận
• Chính sách kế toán hàng tồn kho: lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho (xuất kho), thay đổi mức dự phòng để điều chỉnh lợi nhuận
• Chính sách lập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: lập
dự phòng ít hoặc nhiều hơn mức cần thiết để điều chỉnh lợi nhuận
• Chính sách kế toán tài sản cố định: lựa chọn thời điểm ghi nhận, phân loại tài sản, phương pháp khấu hao, ước tính thời gian sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận
Theo kết luận nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012), phần lớn các công ty niêm yết năm đầu ở Việt Nam đều có hành vi điều chỉnh lợi nhuận Như vậy, điều gì sẽ đảm bảo các công ty này không thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các năm tiếp theo, đặc biệt là khi tình hình kinh doanh khó khăn Trong đề tài tác giả cũng cố gắng phân tích liệu các công ty có sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán lớn có hành vi điều chỉnh lợi nhuận không hay là do gian lận và sai sót?
Hành vi quản trị lợi nhuận và gian lận báo cáo tài chính
Theo nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận và gian lận báo cáo tài chính của Awidat Marai và Vladan Pavlovic (2013), để phân biệt hai hành vi trên chủ yếu qua hai yếu tố sau:
• Sự phù hợp với chuẩn mực kế toán và luật pháp: quản trị lợi nhuận là hành vi phù hợp với chuẩn mực kế toán trong khi đó gian lận thì ngược lại
• Mục đích của nhà quản trị: hành vi thực hiện gian lận thể hiện rõ ý định lừa gạt, trong khi quản trị lợi nhuận thě cňn tůy thuộc mục đích của nhà quản trị
Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi quản trị lợi nhuận sẽ chuyển thành gian lận
kế toán Việc để phân biệt hai hành vi trên một cách rõ ràng hoặc khi nào hành vi quản trị lợi nhuận sẽ vượt qua giới hạn trở thành gian lận là một trong các vấn đề đang được nghiên cứu Tuy nhiên, việc này không dễ dàng do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất do quản trị lợi nhuận và gian lận kế toán có chung các yếu tố:
Trang 24• Chúng có chung một mục tiêu: lừa gạt hoặc làm lệch hướng người sử dụng thông tin
• Cả hai đều là những hành động có tính toán của nhà quản lý để thực hiện lợi ích riêng
• Cả hai đều có khả năng gây ra sự mất mát hoặc phá hoại về vật chất cho những cổ đông sử dụng thông tin sai lệch
Thứ hai, hành vi quản trị lợi nhuận qua các biến kế toán dồn tích thường dẫn tới gian
lận tài chính Khi các công ty thổi phồng lợi nhuận báo cáo qua biến kế toán dồn tích, các biến này sẽ gây ảnh hưởng ngược lại trong thời gian tới Thu nhập các năm trước gia tăng qua các biến kế toán dồn tích có thể khiến các công ty không còn khả năng để thực hiện quản trị lợi nhuận trong các năm sau Do đó khi xử lý việc đảo ngược làm giảm lợi nhuận, nhà quản lý có thể phải tiến hành các hành vi gian lận để đạt được mục tiêu mà đã được thực hiện trước đó bằng quản trị lợi nhuận
Nguyên nhân thứ ba là cả hai được dẫn dắt bởi cùng một động cơ Các nghiên cứu
trước đó đã chỉ ra rằng các biến kế toán dồn tích của lợi nhuận và dòng tiền được xử
lý để đạt được hoặc vượt nhẹ các dự đoán phân tích, các kế hoạch đề ra Hơn nữa các công ty tiến hành quản trị lợi nhuận để tối đa hóa thù lao thỏa thuận của người quản lý hoặc tránh các điều khoản nợ khi vay Các nghiên cứu trước đó cũng xác minh các động cơ quản trị lợi nhuận cũng giống gian lận như liên quan tới sự mong đợi của thị trường, điều khoản vay nợ và thù lao quản lý
Nguyên nhân thứ tư cho rằng, nhiều chính sách kế toán, khi đưa vào áp dụng, đã
không có giới hạn rõ ràng để thấy được chính sách này là đã được áp dụng sai Ví dụ, ước tính chi phí, có thể vi phạm luật nếu số ước tính là quá lớn nhưng là hợp pháp nếu
số này hợp lý và theo tinh thần của chuẩn mực Các công ty có thể thực hiện hành vi gian lận khi không có sự phân biệt rõ ràng giữa quản trị lợi nhuận và gian lận lợi nhuận trong các số liệu tính toán trong chính sách kế toán Qua đó, đã cho thấy các hạn chế của chuẩn mực kế toán có thể dẫn đến sai lệch kết quả tài chính
Trang 251.3.5 Nghiên cứu về sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán thường gặp
Hiện tại, ở Việt Nam đã có nhiều bài báo viết về vấn đề sai lệch sau kiểm toán của các công ty niêm yết Tuy nhiên, các bài báo này chủ yếu chỉ đề cập đến một số công ty có sai lệch bất thường Bài viết của Bùi Hoàng Hải (2012) đã đưa ra cái nhìn tổng quan khi nêu ra được các sai sót thường gặp khi lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn
vị niêm yết, đại chúng Thông qua bài viết trên, ta có thể thấy được các sai lệch thường gặp có ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế là:
• Việc trích lập các khoản dự phòng: doanh nghiệp không trích lập hoặc trích lập không đầy đủ các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính
• Hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái: doanh nghiệp không áp dụng Chuẩn mực kế toán số 10 về chênh lệch tỷ giá hối đoái, hoặc áp dụng không đúng các quy định của Thông tư 201/2009/TT-BTC
• Ghi nhận doanh thu giá vốn không phù hợp: do doanh nghiệp áp dụng sai chuẩn mực kế toán khi ghi nhận doanh thu, giá vốn
• Chi phí khấu hao: doanh nghiệp thay đổi phương pháp khấu hao, tỷ lệ khấu hao không phù hợp, không có cơ sở hợp lý
• Chi phí lãi vay: không ghi nhận đủ chí phí lãi vay phải trả, xác định số lãi vay vốn hóa không đúng
• Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: không ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại, trình bày khoản thuế thuế thu nhập doanh nghiệp bị truy thu các năm trước vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
• Lập báo cáo hợp nhất: doanh nghiệp không loại trừ lợi nhuận phát sinh từ các giao dịch nội bộ, các vấn đề về xác định lợi thế thương mại
Tuy nhiên, bài viết của Bùi Hoàng Hải (2012) chưa nêu ra cách khảo sát, nghiên cứu
để tổng hợp ra các sai lệch trên Do đó tác giả sẽ thực hiện khảo sát để nhận diện và kiểm tra lại các sai lệch trên Đây cũng là nội dung mà tác giả muốn tìm hiểu qua việc phân tích chi tiết các sai lệch phổ biến của doanh nghiệp niêm yết đã dẫn tới sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán
Trang 26Kết luận Chương 1
Qua phân tích chúng ta thấy được vai trò quan trọng của kế toán và kiểm toán trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với thị trường chứng khoán Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà thông tin kế toán được cung cấp còn nhiều sai lệch Do đó, hoạt động kiểm toán qua việc kiểm tra thông tin kế toán đã giúp gia tăng độ tin cậy của thông tin được cung cấp của công ty niêm yết, giúp các nhà đầu tư trong việc ra quyết định kinh tế
Trong các thông tin kế toán được cung cấp, thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết Tuy nhiên, đây cũng là chỉ tiêu có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên có thể chưa phản ánh trung thực tình hình hoạt động của đơn vị và có nhiều sai lệch trước
và sau kiểm toán
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên nhưng chủ yếu là do sai sót, gian lận và hành vi quản trị lợi nhuận Tuy nhiên, việc phân loại và xác định được các nguyên nhân trên thực tế không hề dễ dàng, phụ thuộc rất nhiều yếu tố và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ SAI LỆCH LỢI NHUẬN SAU THUẾ TRƯỚC
VÀ SAU KIỂM TOÁN CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
2.1 Phân tích tổng quan sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế các công ty niêm yết 2010-2012
Để phân tích tổng quan mức độ sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết, tác giả đã thu thập số liệu trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) từ 2010 tới 2012
Từ số liệu thu thập, tác giả tính toán số sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán, tỷ lệ sai lệch so với lợi nhuận trước kiểm toán và xem xét mức độ sai lệch lợi nhuận sau thuế của các công ty theo ngành nghề, theo quy mô và theo công ty kiểm toán
Qua việc phân tích số liệu tổng quát, tác giả cũng chọn các công ty có mức sai lệch lớn để khảo sát chi tiết các sai lệch thường xảy ra và phân tích các nguyên nhân dẫn đến sai lệch này
Cụ thể, cách tính các chỉ tiêu như sau:
• Lợi nhuận sau thuế trước kiểm toán: lấy từ báo cáo tài chính công bố trước kiểm toán, hoặc là lũy kế lợi nhuận trên báo cáo quý 4
• Lợi nhuận sau thuế kiểm toán: lấy từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán
• Số sai lệch lợi nhuận: lợi nhuận sau kiểm toán trừ đi lợi nhuận trước kiểm toán
• Tỷ lệ sai lệch lợi nhuận: số sai lệch lợi nhuận chia cho lợi nhuận trước kiểm toán
Số liệu tính toán chi tiết được trình bày ở Phụ lục 2.1 đến Phụ lục 2.3
Trang 282.1.1 Về số lượng, mức độ các công ty có sai lệch
Từ kết quả tính toán chi tiết ở Phụ lục, ta có bảng số liệu tổng hợp sai lệch sau kiểm toán:
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu sai lệch năm 2010-2012
Trang 29Các thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán có quy định các doanh nghiệp phải giải trình khi có biến động lợi nhuận sau thuế từ 10% trở lên so với kỳ năm trước
Do đó, ở đây ta cũng xem xét các công ty có độ sai lệch lợi nhuận sau thuế trên 10% là sai lệch trọng yếu Thực tế số lượng các công ty này cũng không hề nhỏ, trung bình 3 năm là khoảng 22%, phản ánh chất lượng thông tin kế toán được công bố
Đặc biệt năm 2011 tỷ lệ sai lệch trên 10% tăng đột biến lên tới 30% Thực tế này chủ yếu do nền kinh tế 2011 có nhiều khó khăn hơn so với năm 2010 trong các năm qua nên doanh nghiệp thường cố gắng điều chỉnh lợi nhuận
Tỷ lệ sai lệch giảm xuống trong năm 2012, do Thông tư 52/2012/TT-BTC mới ra đời
đã có những quy định khắt khe hơn về công bố thông tin và cũng quy định việc các công ty phải giải trình chênh lệch sau kiểm toán
Số liệu cũng cho thấy, tỷ lệ các công ty có sai lệch giảm lợi nhuận sau kiểm toán
thường lớn hơn so với các công ty có lợi nhuận tăng sau kiểm toán
Các công ty có sai lệch bất thường
Qua số liệu phân tích, mức sai lệch của nhiều công ty vượt xa mức 10%, chuyển từ lãi thành lỗ và ngược lại Một số công ty có mức sai lệch lợi nhuận sau thuế năm nào cũng trên 10% Các công ty này thực sự cần chú ý tới chất lượng báo cáo trước kiểm toán
Nếu nhà đầu tư căn cứ vào lợi nhuận sau thuế chưa kiểm toán của các đơn vị này để ra quyết định đầu tư thì mức độ rủi ro thực sự rất cao khi lãi chuyển thành lỗ Tuy nhiên nếu chờ lợi nhuận sau kiểm toán được công bố thì nhiều khi lại mất đi cơ hội đầu tư khi lỗ chuyển thành lãi Do đó nhà đầu tư cần thận trọng đối với thông tin kế toán được cung cấp từ các công ty này
Trang 30Một số công ty có độ sai lệch luôn vượt 10% trong 3 năm từ 2010-2012
Bảng 2.2: Danh sách các công ty có sai lệch vượt 10% 3 năm
2 CMX
Công ty Cổ phần Chế biến Thủy sản
và XNK Cà Mau 81.12% 42.15% 58.09% 60.45%
3 CYC
Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih 95.49% 159.78% 59.36% 104.88%
Gỗ Trường Thành 30.56% 73.49% 125.30% 76.45%
8 VMD
Công ty Cổ phần Y Dược phẩm VIMEDIMEX 13.79% 15.23% 23.10% 17.37%
9 VNH
Công ty Cổ phần Thủy Hải sản Việt Nhật 72.14% 289.84% 38.49% 133.49%
10 VPH
Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng 31.83% 55.01% 55.01% 47.28%
Trang 312.1.2 Sai lệch theo ngành nghề
Các ngành nghề khác nhau thì sẽ có những đặc thù kinh doanh khác biệt nên sai lệch sau kiểm toán cũng sẽ có sự khác biệt Việc tìm hiểu sai lệch theo ngành nghề sẽ giúp người sử dụng thông tin có thêm cái nhìn tổng quan về các công ty hoạt động trong ngành nghề đó
Trong thời kỳ kinh kế khó khăn, các ngành nghề có khó khăn càng nhiều thì các doanh nghiệp trong ngành càng cố gắng điều chỉnh lợi nhuận bằng nhiều cách Do đó, khả năng sai lệch sau kiểm toán của các công ty trong ngành này càng lớn
Thực tế giai đoạn 2010 – 2012, nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, trong đó ngành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều nhất Do đó áp lực để đạt được lợi nhuận kỳ vọng của các ngành này rất lớn, có khả năng doanh nghiệp phải thực hiện hành vi gian lận hoặc quản trị lợi nhuận Điều này dẫn đến khả năng sai lệch lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán của ngành này sẽ là cao nhất
Bảng 2.3:Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước theo giá 1994
Ngành Năm 2010
(%)
Năm 2011 (%)
Năm 2012 (%)
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 2.78 4.01 2.72
(Ngu ồn: Tổng cục thống kê 2010-2012)
Để xem xét kết quả thực tế, tác giả tiến hành tính toán, phân tích sai lệch các công ty
đã được phân ngành theo Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
HOSE tiến hành phân loại cho một công ty niêm yết vào một ngành trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC 2007 ban hành theo Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày
10 tháng 4 năm 2007) dựa trên hoạt động kinh doanh chính của công ty đó Doanh thu
là tiêu chí được HOSE xem xét để quyết định hoạt động kinh doanh chính của công ty niêm yết Theo đó, hoạt động kinh doanh nào mang lại doanh thu lớn nhất trong tổng
Trang 32doanh thu của công ty niêm yết sẽ được xem là hoạt động kinh doanh chính của công
ty đó
Căn cứ vào chi tiết phân ngành của HOSE, tác giả nhóm thành các ngành chính sau:
Bảng 2.4: Bảng kê nhóm ngành
Stt Phân ngành theo HOSE Nhóm ngành
Dịch vụ
động cơ khác
SX Công Nghiệp
điều hòa không khí
13
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
SX Nông Lâm Nghiệp
Xây Dựng
Thống kê Số lượng các công ty niêm yết theo ngành được trình bày ở bảng sau:
Trang 33Bảng 2.5: Thống kê số lượng các công ty niêm yết theo ngành
Nhóm Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
bình
Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
SX nông lâm nghiệp 7 2.62% 7 2.36% 7 2.24% 2.41%
SX công nghiệp 119 44.57% 128 43.10% 135 43.27% 43.65% Xây Dựng 58 21.72% 66 22.22% 67 21.47% 21.81% Dịch Vụ 83 31.09% 96 32.32% 103 33.01% 32.14%
Cộng 267 100.00% 297 100.00% 312 100.00% 100.00%
(Ngu ồn: tổng hợp từ Phụ lục 2.1-2.3)
Như vậy, ta thấy số lượng các công ty niêm yết thuộc ngành sản xuất công nghiệp là lớn nhất và nhỏ nhất là các doanh nghiệp nông lâm ngư nghiệp
Kết quả tổng hợp sai lệch các công ty theo nhóm ngành được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.6: Tổng hợp sai lệch công ty theo ngành Nhóm Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
SX nông lâm nghiệp 0 0.00% 0 0.00% 0 0.00% 0.00%
SX công nghiệp 24 20.17% 37 28.91% 32 23.70% 24.26%
Xây Dựng 8 13.79% 30 45.45% 17 25.37% 28.21%
Dịch vụ 9 10.84% 20 20.83% 18 17.48% 16.38% Cộng 41 15.36% 87 29.29% 67 21.47% 22.04%
(Ngu ồn: tổng hợp từ Phụ lục 2.1-2.3)
Như vậy, tỷ lệ các công ty có sai lệch trong từng ngành đều khá cao, gần 80% Kết quả này phù hợp với phân tích tổng quan về việc sai lệch sau kiểm toán là phổ biến
Trang 34Ngành sản xuất công nghiệp và xây dựng là có mức độ sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán lớn nhất Mức độ sai lệch nhỏ nhất là ngành sản xuất nông lâm nghiệp Điều này phù hợp với giả thiết đưa ra ở trên
2.1.3 Sai lệch theo công ty kiểm toán
Hiện tại các công ty kiểm toán ở Việt Nam có thể được chia thành 2 nhóm chính:
• Các công ty kiểm toán lớn thương hiệu quốc tế - Big4 bao gồm 4 công ty là PriceWaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (Deloitte), Ernst and Young (E&Y) và KPMG Đây là các công ty có chất lượng kiểm toán rất tốt, tuy nhiên mức phí kiểm toán thường cao
• Các công ty kiểm toán trong nước còn lại với chất lượng không đồng đều, mức phí thấp hơn nhiều so với nhóm Big4
Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến vai trò tích cực của hoạt ðộng kiểm toán trong phòng chống gian lận báo cáo tài chính và làm giảm hành vi quản trị lợi nhuận, đặc biệt là các công ty kiểm toán lớn như Big4
Do đó, tác giả đưa ra giả thiết, các công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big4 sẽ có ít sai lệch sau kiểm toán hơn các công ty còn lại
Để trả lời câu hỏi trên, tác giả phân chia các công ty thành hai nhóm: nhóm công ty được kiểm toán bởi Big4 và nhóm các công ty được kiểm toán bởi các công ty khác Kết quả khảo sát cho thấy:
Về Số lượng, tỷ lệ các công ty niêm yết được phân loại theo công ty kiểm toán trên HOSE được thống kê ở bảng sau:
Bảng 2.7: Bảng kê các công ty niêm yết theo công ty kiểm toán
Trang 35(Ngu ồn: tổng hợp từ Phụ lục 2.1-2.3)
Qua đó, ta thấy tỷ lệ các công ty được kiểm toán bởi Big4 chiếm tỷ lệ không nhỏ (gần 30%) và đang tăng dần qua các năm Điều này là do chất lượng kiểm toán, danh tiếng các công ty này trên toàn cầu và thực tế là các công ty này cũng đang hạ mức phí kiểm toán để thu hút khách hàng trong các năm qua
Kết quả tổng hợp sai lệch công ty niêm yết phân loại theo công ty kiểm toán được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.8: Tổng hợp sai lệch công ty niêm yết theo công ty kiểm toán
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
bình 3 năm
Số lượng
Trang 36Tuy nhiên, đối với mức sai lệch trên 10% thì tỷ lệ các công ty được kiểm toán của Big4 (trung bình 17%) thấp hơn so với các công ty kiểm toán khác (trung bình 24%) Như vậy các công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big4 thường có tỷ lệ sai lệch trọng yếu nhỏ hơn so với các công ty niêm yết được kiểm toán bởi các công ty khác Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các công ty kiểm toán lớn trong việc hạn chế sai lệch sau kiểm toán
Qua phân tích số liệu, tác giả cũng tập hợp được số liệu chi tiết tỷ lệ các công ty niêm yết cho từng công ty kiểm toán Trong đó, tỷ trọng các công ty niêm yết được kiểm toán bởi Deloitte là cao nhất và tỷ lệ các công ty có sai lệch trên 10% cao nhất là của KPMG
Bảng 2.9: Tổng hợp sai lệch theo từng công ty kiểm toán
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
bình
3 năm
Số lượng
Trang 372.1.4 Sai lệch theo quy mô công ty niêm yết
Câu hỏi đặt ra là các công ty quy mô lớn và quy mô nhỏ hơn thì công ty nào sẽ có sai lệch sau kiểm toán nhiều hơn Đặc biệt là sự sai lệch của các công ty có quy mô lớn
do mức độ ảnh hưởng của các công ty này trên thị trường chứng khoán Để xem xét vấn đề này, tác giả đi tìm hiểu các nghiên cứu về sai sót, gian lận và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty theo quy mô
Thứ nhất là sai sót và gian lận theo quy mô công ty Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy các công ty có quy mô lớn có tỷ lệ sai sót và gian lận nhỏ hơn các công ty có quy
mô khác Do một số nguyên nhân sau:
• Các công ty có quy mô lớn thường có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt nên hành vi gian lận khó thực hiện hơn so với các công ty quy mô nhỏ
• Chi phí để thực hiện gian lận ở các công ty có quy mô lớn cũng cao hơn công ty quy mô nhỏ
• Hành vi thực hiện gian lận dễ bị phát hiện hơn do hệ thống kiểm soát nội bộ và do các công ty kiểm toán độc lập thường là các công ty Big4
Thứ hai là nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận theo quy mô, theo một số nghiên cứu trên thế giới, các công ty quy mô lớn sẽ bị hạn chế thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận do:
• Các công ty này có hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu hơn nên hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ khó thực hiện hơn
• Các công ty lớn thường được kiểm toán bởi Big4 nên khó thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
• Các công ty lớn sợ hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng lâu đời của mình
Như vậy thì mức độ sai sót, gian lận hoặc điều chỉnh lợi nhuận của các công ty có quy
mô lớn thường ít hơn các công ty có quy mô nhỏ hơn Do đó, tác giả đưa ra giả thiết, các công ty có quy mô lớn sẽ có ít sai lệch hơn các công ty còn lại
Để kiểm tra lại giả thiết trên, tác giả đã tiến hành phân tích độ sai lệch của các công ty trên HOSE theo quy mô công ty
Trang 38Thực tế là chưa có quy định nào để phân loại cụ thể các công ty niêm yết theo quy mô trên Sở giao dịch chứng khoán ở Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra chỉ số VN30 dựa trên các công ty có quy mô lớn Nhóm các công ty thuộc VN30 đại diện cho các công ty trên HOSE có vốn hóa thị trường và tính thanh khoản cao nhất, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa và 60% giá trị giao dịch tổng thị trường Do đó, tác giả chia các công ty thành hai nhóm:nhóm các công ty thuộc VN30- các công ty có quy mô lớn và nhóm các công ty còn lại để xem xét các chỉ tiêu thống kê về sai lệch giữa 2 nhóm công ty trên
Các công ty được lựa chọn vào danh sách này được xem xét định kỳ 6 tháng một lần vào tháng 7 và tháng giêng Do danh sách này chỉ được đưa ra từ năm 2012 nên tác giả chọn danh sách các công ty VN30 được công bố vào tháng 1/2013 để xem xét cho các năm từ 2010-2012
Số lượng các công ty như sau:
Bảng 2.10: Bảng kê số lượng công ty niêm yết theo quy mô
Công ty
niêm yết
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
bình 3 năm
Số lượng
Kết quả tổng hợp sai lệch được trình bày ở bảng sau:
Trang 39Bảng 2.11: Bảng kê sai lệch các công ty theo quy mô
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Trung
bình
3 năm
Số lượng
Tuy nhiên các công ty thuộc nhóm VN30 – các công ty có quy mô lớn có tỷ lệ các công ty có mức sai lệch trên 10% nhỏ hơn đáng kể so với các công ty khác (11.23% so với 23.36%) Như vậy, có thể thấy các công ty có quy mô lớn thường có tỷ lệ sai lệch trọng yếu nhỏ hơn so với các công ty còn lại
2.1.5 Xác định các sai lệch phổ biến
Phần này sẽ tập trung phân tích các sai lệch kế toán thường ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán Các sai lệch này đã được nêu ra ở chương 1 Ở đây, tác giả khảo sát và kiểm tra lại các sai lệch trên qua nguồn dữ liệu là các công văn giải trình chênh lệch sau kiểm toán của các công ty niêm yết trên HOSE có sai lệch trên 10%
Trang 40Số lượng các công ty được khảo sát sai lệch theo công văn giải trình được thống kê ở bảng sau:
Bảng 2.12: Tổng hợp số lượng công ty khảo sát Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Cộng
(Ngu ồn: Tổng hợp từ Phụ lục 2.5-2.7 và công văn giải trình các công ty niêm yết)
Tỷ lệ khảo sát không cao trong 2 năm 2010 và 2011 do các doanh nghiệp không chủ động công bố Đặc biệt năm 2011, do tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp có sai lệch tăng lên đột biến nhưng thực tế không có quy định yêu cầu đơn vị phải chủ động công bố giải trình sai lệch theo yêu cầu từ cơ quan quản lý
Khi Thông tư số 52 được ban hành và áp dụng trong 2012, thì các doanh nghiệp phải công bố giải trình số liệu công bố khác với số liệu kiểm toán nên tỷ lệ thu thập được công văn giải trình năm 2012 cao hơn nhiều so với 2010 và 2011
Sau đây là bảng thống kê các sai lệch thường xảy ra sau khi khảo sát công văn giải trình các năm:
Bảng 2.13: Bảng kê các sai lệch phổ biến Sai lệch 2010 2011 2012 Trung bình
Ghi nhận doanh thu 8.33% 14.29% 7.02% 9.88%
Lập dự phòng giảm giá HTK 8.33% 4.76% 7.02% 6.70% Lập dự phòng đầu tư tài chính 25.00% 14.29% 14.04% 17.77% Lập dự phòng phải thu khó đòi 8.33% 14.29% 22.81% 15.14% Thuế thu nhập doanh nghiệp 4.17% 14.29% 8.77% 9.07%