Hiện nay, với tình hình kinh tế khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán suy giảm, hàng tồn kho của các doanh nghiệp lớn … Hoạt động kinh doanh của các NHTM đa
Trang 1NGUYỄN HOÀNG UYÊN
QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh sách các bảng biểu v
Lời mở đầu vi
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu 1
1.1.1.Khái niệm 1
1.1.2.Phân loại nợ xấu 3
1.1.3.Tác động của nợ xấu 6
1.1.3.1 Đối với Ngân hàng 6
1.1.3.2 Đối với nền kinh tế 7
1.2 Quản lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại 8
1.2.1.Khái niệm 8
1.2.2.Sự cần thiết quản lý nợ xấu tại các NHTM 8
1.2.3.Nội dung quản lý nợ xấu 9
1.2.3.1 Phòng ngừa, hạn chế nợ xấu phát sinh 9
1.2.3.2 Xử lý nợ xấu 12
1.2.4.Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ xấu 17
1.2.4.1 Nhân tố khách quan: 17
1.2.4.2 Nhân tố chủ quan 19
1.2.5.Chỉ tiêu đánh giá việc quản lý nợ xấu 20
1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại một số nước trên thế giới 22
1.3.1.Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại một số nước 22
1.3.1.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Mỹ 22
1.3.1.2 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Ireland 24
1.3.1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Hàn Quốc 26
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠINGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 31
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 31
Trang 32.1.1.Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 31
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.1.2 Mục tiêu phát triển 31
2.1.2.Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩuViệt Nam 32
2.1.2.1 Tình hình nguồn vốn 32
2.1.2.2 Tình hình sử dụng vốn 33
2.1.2.3 Các hoạt động khác 35
2.1.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 37
2.2 Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 39
2.2.1.Thực trạng nợ xấu 39
2.2.1.1 Nợ xấu phân theo nhóm nợ 39
2.2.1.2 Nợ xấu phân theo ngành nghề kinh doanh 40
2.2.1.3 Nợ xấu phân theo đối tượng vay vốn 40
2.2.1.4 Nợ xấu phân theo thời hạn vay vốn 41
2.2.2 Quản lý nợ xấu đang được áp dụng tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩuViệt Nam 42
2.2.2.1 Quy trình quản lý nợ xấu 41
2.2.2.1 Các biện pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh 41
2.2.2.2 Các biện pháp xử lý nợ xấu 47
2.3 Đánh giá quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 50
2.3.1.Kết quả đạt được 50
2.3.1.1 Kết quả phòng ngừa nợ xấu 50
2.3.1.2 Kết quả xử lý nợ xấu 52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 54 2.3.2.1 Hạn chế 54
2.3.2.2 Nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 61
3.1 Định hướng đối với vấn đề quản lý nợ xấu đến năm 2020 61
3.1.1 Định hướng phát triển chung 61
3.1.2 Định hướng đối với hoạt động quản lý nợ xấu 62
3.2 Giải pháp quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 62
3.2.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp 63
Trang 43.2.2 Hoàn thiện Hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng nội bộ 64
3.2.3 Tăng cường kiểm tra, giám sát đảm bảo tính tuân thủ 65
3.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm xử lý nợ 65
3.2.5 Nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản ( Eximbank AMC) 66
3.2.6 Giám sát xử lý nợ xấu một cách có hiệu quả thông qua hoạt động phân tích, phân loại nợ xấu theo định kỳ 67
3.3 Kiến nghị 67
3.3.1.Kiến nghị đối với Chính phủ 68
3.3.2.Kiến nghị đối với NHNN 71
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VIẾT TẮT
AMC : Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
DATC : Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DPRR : Dự phòng rủi ro
Eximbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng trung ương
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
A Danh mục các Bảng
Bảng 2.1: Nợ xấu phân theo nhóm nợ năm 2010-2012 39
Bảng 2.2: Nợ xấu phân theo ngành nghề kinh doanh năm 2010-2012 40
Bảng 2.3: Nợ xấu phân theo đối tượng vay vốn năm 2010-2012 41
Bảng 2.4: Nợ xấu phân theo thời hạn vay vốn năm 2010-2012 41
Bảng 2.5: Tình hình trích lập Dự phòng rủi ro năm 2010-2012 53
Bảng 2.6: Tỷ lệ xóa nợ ròng/dư nợ xấu qua các năm năm 2011-2012 53
Bảng 2.7: Kết quả thu hồi nợ xấu năm 2011-2012 54
B Danh mục các Biểu đồ Biểu đồ 2.1: Huy động vốn của TCKT và dân cư năm 2011-2012 33
Biểu đồ 2.2: Dư nợ của cá nhân và doanh nghiệp năm 2011-2012 34
Biểu đồ 2.3: Tổng tài sản năm 2011-2012 37
Biểu đồ 2.4 : Lợi nhuận trước thuế năm 2011-2012 37
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu qua các năm 2010 – 2012 51
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 7Ngành Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, là chiếc cầu nối điều hòa lưu chuyển những nguồn vốn của một quốc gia Người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia thông qua sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở nước đó Do đó khi ngành Ngân hàng bị khủng hoảng sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng về mọi mặt đối với quốc gia đó Thực tế những cuộc khủng hoảng ở các quốc gia trên giới trong thời gian qua đã chứng minh điều đó Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi và sử dụng
để đem lại hiệu quả bằng nghiệp vụ tín dụng Nghiệp vụ tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại thu nhập lớn nhất nhưng cũng mang lại rủi ro cao nhất cho Ngân hàng Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, một số NHTM đã coi chính sách mở rộng tín dụng là một giải pháp để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần Đi kèm với phát triển tín dụng là rủi ro tín dụng và nguy cơ nợ xấu tăng cao nếu các Ngân hàng không quản lý được nợ xấu và
có các giải pháp hạn chế nợ xấu phát sinh
Hiện nay, với tình hình kinh tế khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán suy giảm, hàng tồn kho của các doanh nghiệp lớn … Hoạt động kinh doanh của các NHTM đang phải đối mặt với tình hình nợ xấu tăng cao, lợi nhuận suy giảm, chất lượng các khoản vay giảm sút, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Việc kiểm soát nợ xấu luôn cần được nhìn nhận và thực hiện một cách nghiêm túc để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng đối với mỗi ngân hàng
Quản lý nợ xấu đang là vấn đề mà các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam nói riêng quan tâm nhất hiện nay Do
đó, người viết đã chọn đề tài nghiên cứu: QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
2 Mục tiêu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu những lý luận cơ bản về nợ xấu và quản lý nợ xấu Trong đó nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan đến biện pháp quản lý nợ xấu tại các
Trang 8Ngân hàng thương mại, và kinh nghiệm quản lý nợ xấu của các NHTM tại một số nước
- Phân tích thực trạng nợ xấu và các biện pháp quản lý nợ xấu đang được
áp dụng tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
- Xây dựng một số giải pháp quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nợ xấu, biện pháp nhằm phòng ngừa nợ xấu phát sinh và xử lý nợ xấu đã phát sinh
- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam trong thời gian từ năm 2010 - 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh…
5 Cấu trúc nội dung nghiên cứu
Đề tài bao gồm những nội dung chính sau
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nợ xấu và quản lý nợ xấu của Ngân hàng
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu
1.1.1 Khái niệm
Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Những khoản nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ
- Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
* Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả nợ, hoặc khoản
nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản
nợ
Trang 10- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn
nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận
- Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ
- Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày
và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Khái niệm này vừa mang tính định tính vừa mang tính định lượng và được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới
Theo định nghĩa tại Việt Nam
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thì Nợ xấu được định nghĩa như sau:
Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu theo định nghĩa tại Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố:
(i) đã quá hạn trên 90 ngày (yếu tố định lượng ) và
Trang 11(ii) đánh giá của tổ chức tín dụng về khả năng trả nợ của khách hàng
(yếu tố định tính)
1.1.2 Phân loại nợ xấu
Theo các nước trên thế giới
Theo định nghĩa của IAS, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố chính: (i) Quá hạn trên 90 ngày,
(ii) Khả năng trả được nợ của khách hàng
Về cơ bản, đa số các nước cũng xác định nợ xấu dựa trên 2 yếu tố này
Tuy nhiên, tiêu chí phân loại nợ là không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia trên thế giới Theo cuộc khảo sát thực tiễn tại các nước đại diện trong nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản Basel thì ở một số quốc gia có thêm các tiêu chuẩn khác như:
- Tại Mexico, các ngân hàng còn dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản thế chấp
- Hệ thống phân loại của Mỹ dựa trên một số tiêu chí như: kinh nghiệm thanh toán, môi trường khách nợ hoạt động
- Tại một số quốc gia như Anh và Hà Lan không có yêu cầu cụ thể cho việc phân loại nợ vì thế các ngân hàng tự xây dựng quy tắc cho mình
Tại Việt Nam
Kế thừa các Quy định của Quyết định 493 và Quyết định 18, Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 21/01/2013, quy định việc phân loại nợ theo 2 phương pháp định lượng và định tính, theo đó Nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng
Trang 12- Căn cứ theo thời hạn nợ quá hạn (phương pháp định lượng)
a Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
- Nợ gia hạn nợ lần đầu
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
- Nợ đang thu hồi theo kết luận của thanh tra
- Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: ( Trường hợp đặc biệt)
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng
cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ
lệ giới hạn theo quy định của pháp luật
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật
Trang 13+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
b Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
- Khoản nợ thuộc trường hợp đặc biệt quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể
từ ngày có quyết định thu hồi
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
c Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
- Khoản nợ thuộc trường hợp đặc biệt quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi
Trang 14- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công
bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản
- Căn cứ theo khả năng trả nợ của khách hàng (phương pháp định tính)
a Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất
b Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao
c Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
1.1.3 Tác động của nợ xấu
1.1.3.1 Đối với Ngân hàng
Nợ xấu ảnh hưởng hầu hết tới các hoạt động của NHTM, làm giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng thậm chí nó còn ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng
Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM Lợi nhuận là chỉ tiêu
cuối cùng của Ngân hàng, lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của Ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu thu từ lãi cho vay Nợ xấu hạn chế khả năng
mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của NHTM Khi nợ xấu tăng cao, thu nhập của ngân hàng giảm, thậm chí không còn lợi nhuận do không thu hồi được nợ, lại phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu
và các chi phí khác liên quan
Trang 15Thứ hai, nợ xấu sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng Nếu tỷ lệ nợ xấu cao, nó
sẽ tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng kể cả là khách hàng cá thể, doanh nghiệp hay các Ngân hàng đối tác; thậm chí uy tín của Ngân hàng trên thế giới sẽ bị giảm sút nghiêm trọng Trong lĩnh vực Ngân hàng uy tín tuyệt đối quan trọng, nó quyết định sự sống còn, tồn tại và phát triển một Ngân hàng
Thứ ba, nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay
Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay Trong khi
đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản của ngân hàng và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng
Thứ tư, nợ xấu làm cản trở quá trình hội nhập của các NHTM Nợ xấu tác
động trực tiếp tới khả năng tài chính của NHTM khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng, là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển
1.1.3.2 Đối với nền kinh tế
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế Vì thế nợ xấu của NHTM ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: Ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế Theo đó, nợ xấu làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Khả năng khai thác và đáp ứng vốn, khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh Mặt khác, nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh bị đình trệ
Trên giác độ vĩ mô, nợ xấu làm giảm tính tích cực của tín dụng đối với nền kinh tế, cản trở NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng, cung cấp vốn
Trang 16cho nền kinh tế Việc điều tiết vĩ mô kinh tế thông qua các NHTM cũng trở nên kém hiệu quả
1.1.3.3 Đối với khách hàng
Nợ xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, làm chậm sự luân chuyển dòng tiền của khách hàng Ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của khách hàng Khi một khách hàng đã có lịch sử nợ xấu thì sẽ khó tiếp cận nguồn vốn vay của Ngân hàng hơn các Công ty có lịc sử trả nợ tốt
1.2 Quản lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả
và phát triển bền vững
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nợ xấu tại các NHTM
Như đã phân tích ở trên, việc một ngân hàng có số dư nợ xấu lớn sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tới hoạt động của Ngân hàng mà còn tới cả nền kinh
tế Do đó các NHTM quản lý nợ xấu tốt sẽ giúp đem lại các hiệu quả:
- Hoạt động của các NHTM được thông suốt hơn: các khoản nợ được thanh toán đúng thời hạn sẽ giúp nguồn vốn của ngân hàng cân bằng, vòng quay vốn tín dụng ổn định và Ngân hàng kinh doanh hiệu quả hơn
- Lợi nhuận của các NHTM ổn định hơn: Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp đồng nghĩa với việc tỷ lệ trích dự phòng thấp, chi phí cho việc xử lý nợ giảm, góp phần làm tăng lợi nhuận
- Các NHTM sẽ có quá trình chu chuyển vốn nhanh hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó lợi nhuận tăng
- Nâng cao uy tín của các NHTM: thông tin về tỷ lệ nợ xấu của NHTM thường được báo chí đăng tin và lan truyền trong dân chúng, một Ngân hàng quản
Trang 17lý nợ xấu tốt sẽ đem lại tâm lý an tâm cho người gửi tiền, cũng như người đi vay Các nhà đầu tư, các đối tác nước ngoài sẽ tiếp cận nhiều hơn với Ngân hàng có công tác quản lý nợ xấu tốt
1.2.3 Nội dung quản lý nợ xấu
Nội dung của quản lý nợ xấu bao gồm phòng ngừa, hạn chế nợ xấu phát sinh
và xử lý nợ xấu đã phát sinh
1.2.3.1 Phòng ngừa, hạn chế nợ xấu phát sinh
- Xây dựng chiến lược hoạt động hợp lý
Chiến lược hoạt động của ngân hàng một mặt phải đảm bảo khả năng sinh lời, mang lại thu nhập cho ngân hàng, mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản Ngân hàng xây dựng và triển khai các sản phẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như sự phát triển của nền kinh tế Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng, hoạt động mang lại hơn 70% thu nhập cho ngân hàng, ngân hàng phải xác định mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu Tuy nhiên, việc tính toán mức bù rủi ro đối với mỗi khách hàng không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác, khi xảy
ra những biến động nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng, mức thâm hụt lớn hơn mức bù rủi ro ngân hàng đưa ra, lúc đó ngân hàng phải chịu thua lỗ Vì vậy,
để tối thiểu hóa rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng các ngân hàng nên tập trung vào việc đa dạng hóa danh mục cho vay, không nên tập trung cho vay trong một hoặc một vài ngành nghề, lĩnh vực nhất định, hoặc chỉ tập trung cho vay đối với những khách hàng lớn mà bỏ qua những khách hàng tiềm năng khác Đồng thời, cơ cấu cho vay cũng phải được xây dựng một cách phù hợp, phù hợp với nguồn vốn huy động được
Ngân hàng phải xác định và tận dụng lợi thế của mình trong việc xác định chiến lược hoạt động ngắn hạn và cả trung dài hạn đồng thời hạn chế những mặt
Trang 18còn hạn chế trong nội tại ngân hàng Tập trung hoạt động vào những điểm mạnh, khai thác thị trường dựa trên những ưu điểm của mình để không ngừng mở rộng mạng lưới phân phối, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ Như vậy thì chiến lược mới phát huy hiệu quả, đem lại nguồn thu cho ngân hàng, uy tín ngân hàng được nhiều cá nhân, tổ chức biết đến
Ngân hàng cũng có thể triển khai các hoạt động bằng cách kết hợp với các ngân hàng, các định chế tài chính khác để cùng nhau khai thác khách hàng, khai thác ngành và vùng kinh tế, khai thác thị trường dựa trên những lợi thế sẵn có của mỗi bên
Chiến lược hoạt động có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng Nó xuyên suốt trong toàn hệ thống, là cương lĩnh hoạt động của tất cả cán bộ, công nhân viên, là kim chỉ nan dẫn đường cho từng bước đi của ngân hàng Chính
vì vậy, chiến lược hoạt động phải xây dựng một cách hợp lý, khoa học và thực tế
- Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, kiểm tra giám sát hoạt động tín
dụng
Ngân hàng không chỉ tiến hành hoạt động thẩm định đối với dự án vay, khách hàng vay trước khi cho vay, trong cho vay mà còn sau khi cho vay, mỗi giai đoạn đều có tầm quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng Chỉ một sai sót nhỏ trong mỗi khâu, ví dụ như trong khâu thẩm định, hay lập hồ sơ sẽ có thể đưa ra những quyết định sai lầm dẫn đến rủi ro lớn đối với ngân hàng Chính vì vậy, việc xây dựng và thực hiện đúng quy trình cho vay sẽ giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro đồng thời sẽ dễ dàng kiểm soát được nếu có rủi ro xảy ra, bởi các khâu được thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo đúng quy trình, khi đó việc phát hiện và
xử lý các sai phạm, xử lý nợ xấu phát sinh sẽ đơn giản hơn
Để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, các Ngân hàng có thể thành lập
bộ phận tái thẩm định tín dụng Bộ phận này sẽ có thành viên chuyên trách thẩm định khách hàng theo từng ngành nghề kinh doanh, nhờ vậy có khả năng loại bỏ được những khách hàng có nhiều rủi ro tiềm ẩn
Trang 19Sau khi cho vay Ngân hàng cần theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động của dự án, tình hình tài chính của khách hàng để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về khả năng thu hồi vốn, cả gốc và lãi từ dự án Hiện nay việc kiểm tra định kỳ các khoản tín dụng được thực hiện 3 tháng/lần đối với hoản vay ngắn hạn, 6 tháng/lần đối với khoản vay trung dài hạn Ngoài ra tuỳ vào tính chất khoản vay, đối tượng vay hoặc có dấu hiệu bất thường các Ngân hàng có thể tiến hành kiểm tra đột xuất
Ngân hàng cần xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra giám sát một cách thận trọng và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra
Kiểm tra và giám sát thường xuyên những khoản vay lớn, vì nếu xảy ra rủi ro
từ những khoản vay này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện ra những dấu hiệu không lành mạnh có khả năng dẫn đến rủi ro liên quan tới khoản vay
Trong trường hợp nền kinh tế có dấu hiệu hoặc các ngành có tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của ngân hàng có dấu hiệu suy giảm thì ngân hàng phải tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng
Bên cạnh đó một vấn đề quan trọng trong kiểm soát tín dụng là công tác thanh kiểm tra, giám sát nội bộ Việc thực hiện kiểm soát nội bộ giúp sớm phát hiện
và ngăn ngừa các sai sót trong quá trình thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng, phát hiện và xử lý các trường hợp rủi ro đạo đức do cán bộ tín dụng gây ra, chẳng hạn việc cán bộ tín dụng và khách hàng thông đồng với nhau để thực hiện những hành
vi trái quy định…Công việc kiểm tra giám sát này được thực hiện độc lập bởi phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách khách quan nhất về hoạt động tín dụng
- Triển khai công cụ kiểm soát rủi ro
Trang 20Ngân hàng phải tiến hành phân loại khách hàng, chấm điểm tín dụng với từng đối tượng khách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng Đa phần các Ngân hàng đều có tiêu chí xếp loại và phân loại nợ theo nhóm khách hàng
để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng Nợ của khách hàng nhóm AAA được coi
có rủi ro thấp nhất, còn nợ khách hàng nhóm D được coi là có khả năng mất vốn cao nhất
Ngân hàng cũng có thể kiểm soát tín dụng bằng giới hạn tín dụng, giải ngân kèm chứng từ … để hạn chế tổn thất trong cho vay Triển khai các công cụ kiểm soát mới đồng thời làm chi phí hoạt động của Ngân hàng tăng lên, nhưng sẽ làm giảm tổn thất mà các rủi ro mang lại Các tổn thất này lớn hơn chi phí hoạt động của các công cụ này thì sẽ mang lại lợi nhuận, hiệu quả cho chính Ngân hàng
1.2.3.2 Xử lý nợ xấu
Công tác quản lý nợ xấu không chỉ dừng lại ở việc hạn chế nợ xấu, mà còn phải có các biện pháp xử lý nợ xấu đã phát sinh
- Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và cơ cấu lại nợ
Đối với các khoản nợ xấu của khách hàng là doanh nghiệp, sau khi phân tích thực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu đánh giá khách hàng có khả năng phát triển để thanh toán nợ xấu cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp cấu trúc lại hay tái cơ cấu doanh nghiệp
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình thực hiện tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chính kém nhưng có khả năng phục hồi Việc tái cơ cấu doanh nghiệp được thực hiện giữa các bên có liên quan: nhà đầu tư, nhà kinh doanh, Ngân hàng cho vay với mục đích cao nhất là hồi sinh, tăng giá trị cho doanh nghiệp
Nói chung, đề xuất xử lý nợ xấu theo giải pháp cấu trúc lại chỉ được áp dụng cho các khoản nợ thuộc nhóm 3 và nhóm 4 và đối với các khách hàng được quyết định tiếp tục duy trì quan hệ Khi đã có quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với đối
Trang 21tượng khách hàng này, khoản nợ có thể được quản lý thông qua việc giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực hiện các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ và sửa chữa sai sót Đặc biệt, trong trường hợp không trả được nợ lần đầu, Ngân hàng cần có hành động kiên quyết để thuyết phục khách hàng trong việc thực hiện các biện pháp cứng rắn để củng cố vị thế của khách hàng Ngân hàng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát quá trình xử lý nợ Trên cơ sở
đó, Ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:
Gia hạn nợ: là việc Ngân hàng chấp thuận kéo dài thêm một khỏang thời
gian trả nợ gốc và (hoặc) lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thỏa thuận trước
đó trong Hợp đồng tín dụng Đây là phương án tránh áp lực trả nợ cho khách hàng
để hỗ trợ khách hàng tiếp tục kinh doanh Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản nợ trước Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao
Giảm, miễn một phần hoặc toàn bộ nợ lãi vay phải trả: Giải pháp này có thể
được xem xét áp dụng tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng Ngân hàng Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của Ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay
- Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới là chứng khoán hóa các khoản nợ Một cách đơn giản, chứng khoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ rồi chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra giao dịch trên thị trường tài chính Chứng khoán hóa các khoản nợ là chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của Ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp Ngân
Trang 22hàng có thể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản nợ xấu của mình nhưng cần có sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ
Công nghệ chứng khoán hóa hấp dẫn nhiều Ngân hàng, bởi vì thông qua đó
mà Ngân hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanh khoản của tài sản, cung cấp một phương tiện tài trợ mới, giảm được các chi phí có tính chất thuế cũng như tăng thu nhập từ thuế
Chứng khoán hóa các khoản nợ giúp bổ sung, làm đa dạng hóa hàng hóa giao dịch trên sàn, giúp mở rộng quy mô thị trường Chứng khoán hóa mở ra thêm một kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp, mở cơ hội tiếp cận thị trường vốn và làm giảm chi phí tài trợ lẫn tối ưu hóa việc sử dụng vốn Chứng khoán hóa tạo ra một nguồn tài trợ vốn dài hạn và có hiệu quả thông qua việc có thể được phát hành với
kỳ hạn dài hơn các loại tài sản liên kết so với các khoản nợ của Ngân hàng hoặc các loại tín phiếu Ngoài ra, chứng khoán hóa còn là phương thức giúp làm tăng thu nhập của các tổ chức phát hành và là công cụ đa dạng hóa rủi ro tốt nhất
Bên cạnh những tích cực mà chứng khoán hóa mang lại, còn có những rủi ro
đi kèm, đó là: Công bố thông tin không bảo vệ được, những hạn chế của định mức tín nhiệm, các tài sản không giống như mong đợi, dữ liệu giao dịch không sẵn có, nhược điểm của chế độ báo cáo sản phẩm phái sinh và sản phẩm thu nhập cố định, tính thanh khoản yếu của công cụ nợ
- Xử lý tài sản đảm bảo, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có khả năng phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay như bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền với đất , động sản hoặc các tài sản khác theo các hình thức: Bên bảo đảm trực tiếp bán tài sản cho người mua, NHTM trực tiếp bán tài sản cho người mua, hoặc bán thông qua tổ chức đấu giá
Trang 23NHTM nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm Trong trường hợp này, việc quyết định nhận tài sản để sử dụng thay thế thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện theo thủ tục mua tài sản của NHTM
NHTM nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ: người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, Công ty bảo hiểm trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ, hoặc từ bên thứ ba có nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm Trong trường hợp này, vẫn phải thoả thuận và có cam kết bằng văn bản của bên bảo đảm về quyền truy đòi lại bên bảo đảm nếu không thu hoặc thu không
đủ từ bên thứ ba vì bất kỳ lý do nào
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại tài sản đảm bảo hoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thời gian, song Ngân hàng vẫn buộc phải thực hiện để thu hồi vốn Cho đến nay, đây là một trong số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất cho các Ngân hàng, đặc biệt các khoản nợ do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo Ngân hàng…
- Bán các khoản nợ
Biện pháp này được Ngân hàng sử dụng đối với khoản nợ không có tài sản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân khác có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình Khi bán các khoản nợ xấu, Ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa ra các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các Ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC - Asset Management Company) Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo
AMC ra đời trước tiên nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân hàng, làm lành mạnh và minh bạch hóa tình hình tài chính, đảm bảo kinh doanh an toàn và bền vững của Ngân hàng Công ty có đầy đủ chức năng của một
Trang 24công ty xử lý nợ, bao gồm: tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản bảo đảm nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất; Hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình các cơ quan có thẩm quyền cho phép Ngân hàng xóa nợ cho khách hàng; Chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng thương mại theo giá thị trường; Cơ cấu lại nợ tồn đọng; Xử lý các tài sản bảo đảm nợ vay; Mua bán, xử
lý nợ tồn đọng của các đơn vị khác theo quy định của pháp luật,… Bên cạnh đáp ứng nhu cầu về xử lý nợ xấu của chính Ngân hàng, AMC sẽ sử dụng các kỹ năng chuyên sâu của mình để phục vụ nhu cầu xử lý nợ và tài sản tồn đọng của các doanh nghiệp khác, giúp nguồn vốn trong nền kinh tế lưu chuyển thông thoáng hơn, thay đổi diện mạo mới về cách thức giải quyết nợ thuộc toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế
- Sử dụng biện pháp khởi kiện tại tòa
Khi ngân hàng đã sử dụng các biện pháp để hối thúc khách hàng trả nợ nhưng vẫn không thu hồi được nợ ngân hàng sẽ tiến hành kiện khách hàng ra tòa, ngân hàng sẽ nhờ pháp luật can thiệp nhằm buộc khách hàng trả nợ, trường hợp khách hàng không trả được nợ có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tòa án sẽ can thiệp nhằm buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản bảo đảm tiền vay hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp thì ngân hàng có thể làm đơn xin tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản theo quy định trong luật doanh nghiệp Sau khi Tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản theo quy định, các khoản nợ chưa tới hạn được coi là tới hạn và các chủ nợ không được tính lãi đối với thời gian chưa tới hạn Việc ngưng tính lãi không có lợi cho ngân hàng Trên thực tế thì biện pháp này không mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng vì thủ tục khá rườm rà phức tạp
- Dùng dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý
Quỹ dự phòng rủi ro được trích lập từ nguồn lợi nhuận của các NHTM nhằm
để bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh NHTM phải phân loại các
Trang 25khoản nợ xấu xem loại nào thì được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro Dự phòng rủi
ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vay vốn, bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bị phá sản, giải thể hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện được các nghĩa vụ nợ thuộc nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn
Do tính chủ động cao nên biện pháp này được các Ngân hàng vận dụng tối
đa nhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng Thực chất của biện pháp này là Ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều biện pháp này làm giảm thu nhập của Ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được Vì vậy, Ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu hồi nợ có tính triệt để hơn
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ xấu
1.2.4.1 Nhân tố khách quan:
- Môi trường kinh tế - xã hội
Với những nền kinh tế nhỏ, sản xuất công nghiệp còn lạc hậu, chủ yếu là thành phẩm đơn giản như dầu thô, may gia công, chế biến thực phẩm và nguyên liệu… thì rất dễ bị tổn thương khi nền kinh tế thế giới biến động mạnh
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới Việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm
Mối quan hệ song phương và đa phương giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới cũng tác động rất lớn tới hoạt động kinh doanh nói chung và của Ngân hàng nói riêng Một đất nước ổn định về chính trị, có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu Ngược lại, một đất nước bất ổn, biểu
Trang 26tình, đình công, khủng hoảng, bị cấm vận… thì nền kinh tế chắc chắn sẽ kiệt quệ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thành phần kinh tế và làm nợ xấu của Ngân hàng cũng gia tăng lên rất nhiều
- Môi trường tự nhiên
Đối với những nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi… thì rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, của môi trường
tự nhiên mà điển hình là Việt Nam Nếu như thời tiết thuận lợi, cây trồng đạt năng suất, vật nuôi không bị dịch bệnh, khỏe mạnh… thì khả năng thu hồi vốn từ người
đi vay là rất lớn Còn ngược lại, môi trường tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước không thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hạn hán thì dự
án sẽ thất bại, không thu hồi được vốn, nợ xấu phát sinh
- Môi trường pháp lý
Thứ nhất là hành lang pháp lý Hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi và đủ
mạnh thì sẽ góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hoạt động của doanh nghiệp và Ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh Còn ngược lại, hành lang pháp lý chưa phù hợp, còn nhiều bất cập sẽ tạo điều kiện cho những khuất tất trong hoạt động tín dụng
Thứ hai là hiệu quả hoạt động của cơ quan pháp luật địa phương trong việc
triển khai áp dụng các văn bản pháp luật của Quốc hội, chính phủ và NHNN vào
thực tế hoạt động Luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động
Ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Điều đó làm gia tăng dư nợ xấu, làm giảm doanh thu của Ngân hàng Nếu việc áp dụng các luật, văn bản dưới luật sẵn có vào hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng nhanh chóng, đúng thời điểm, nghiêm túc, không còn vướng mắc thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và Ngân hàng sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
Trang 27Việc xác lập quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện đặc biệt quan trọng đối với NHTM Việc ban hành quy trình tín dụng chi tiết, rõ ràng sẽ giúp cho nhân viên ngân hàng hiểu và triển khai nghiệp vụ có hiệu quả, hạn chế được những lỗi vi phạm Bên cạnh đó, với quy trình tín dụng chuẩn xác, việc
rà soát, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, thiếu sót sẽ được thực hiện dễ dàng hơn
Một quy trình tín dụng chặt chẽ, đảo bảo tính chính xác và đầy đủ sẽ giúp cho Ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng từ đó sẽ giảm đáng kể nợ xấu Ngược lại, một quy trình tín dụng lỏng lẻo, không khoa học
sẽ làm gia tăng nợ xấu
- Đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế nợ xấu Đội ngũ cán bộ tín dụng vừa có đạo đức, phẩm chất vừa có trình độ chuyên môn trong đánh giá, thẩm định, quản lý các khoản vay thì khả năng xảy ra
nợ xấu do yếu tố chủ quan là rất thấp Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì rất nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
- Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng
Sau khi giải ngân, ngân hàng cần thực hiện việc theo dõi khoản vay, nắm bắt tình hình của khách hàng nhằm phát hiện càng sớm càng tốt các khoản vay có vấn
đề hoặc tiềm ẩn rủi ro, làm cơ sở cho việc xác định nợ xấu được chuẩn xác Bên
Trang 28cạnh đó, hoạt động kiểm soát cũng góp phần phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do nhân viên ngân hàng gây ra Khi thiết lập được hệ thống kiểm tra, kiểm soát độc lập, vận hành có hiệu quả sẽ góp phần hỗ trợ rất tốt cho công tác quản lý hoạt động tín dụng nói chung và quản lý nợ xấu nói riêng
- Công nghệ tin học Ngân hàng
Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ tin học có ảnh hưởng rất lớn, chi phối mọi hoạt động của Ngân hàng Nền tảng công nghệ tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tiết kiệm được thời gian, nhân lực trong quản lý nói chung và theo dõi các khoản vay nói riêng Ứng dụng công nghệ tin học trong thực hiện các chỉ tiêu về nợ xấu giúp tăng cường công tác quản lý, cảnh báo và phát hiện kịp thời những khoản vay suy giảm chất lượng do vi phạm cam kết hoàn trả
- Mô hình tổ chức và quản trị điều hành
Mô hình tổ chức có tác động trực tiếp đến lập kế hoạch và triển khai xử lý nợ xấu Với mô hình tổ chức được phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, đặc biệt là bộ phận xử lý nợ sẽ giúp công tác triển khai xử lý nợ hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn
Quản trị điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng cũng là một nhân tố quyết định trong quản lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng Khi ban lãnh đạo có quan điểm rõ ràng và kiên quyết trong kiểm soát và xử lý nợ xấu thì công tác thực thi chỉ tiêu về nợ xấu sẽ đạt hiệu quả tốt hơn và thuận lợi hơn
Nhân tố chủ quan từ phía khách hàng vay
- Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
Trình độ sản xuất của khách hàng chưa cao, tính toán chọn phương án kinh doanh thiếu thông tin, thiếu chính xác dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, lợi nhuận thấp
có khi còn thua lỗ dẫn tới có thể không trả được nợ và gây nợ xấu cho ngân hàng
- Khả năng tự chủ tài chính thấp
Trang 29Khả năng tài chính của Doanh nghiệp còn non yếu nên chỉ một rủi ro nhỏ cũng làm mất khả năng thanh toán không trả nợ được Ngân hàng
- Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích
Một số khách hàng có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán lừa đảo ngân hàng, sử dụng vốn sai mục đích
- Tư cách đạo đức của người đi vay
Một số khách hàng chây ỳ, không chủ động trong việc trả nợ đến hạn, khiến cho các khoản vay chuyển thành nợ xấu
- Tài chính của nhiều doanh nghiệp không minh bạch gây ra khó khăn
trong việc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp
1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá quản lý nợ xấu
Do nội dung của quản lý nợ xấu gồm hạn chế nợ xấu và quản lý nợ xấu, nên
có 2 nhóm chỉ tiêu để đánh giá:
Đối với quá trình hạn chế nợ xấu: có thể đánh giá qua chỉ tiêu mức giảm tỷ
lệ nợ xấu/tổng dư nợ qua thời gian Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ xấu ở ngưỡng an toàn là dưới 3%
Đối với quá trình xử lý nợ xấu có thể đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ xoá nợ ròng/tổng nợ xấu: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thu nợ từ các khoản nợ đã xử lý rủi ro Chỉ tiêu này càng thấp, thể hiện khả năng thu hồi nợ xấu của Ngân hàng tốt Xoá nợ ròng = Nợ gốc đã xử lý rủi ro – Thu nợ đã xử lý rủi
ro
- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã thu hồi được: tỷ lệ này phản ánh trong tổng số
nợ xấu thu hồi có bao nhiêu nợ xấu đã thu hồi bằng các biện pháp xử lý nợ
Trang 30- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ dư nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ
bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh koanh của ngân hàng và ngược lại
Trong đó chỉ tiêu mức giảm tỷ lệ xoá nợ ròng/tổng nợ xấu là chỉ tiêu cơ bản nhất vì nó phản ánh khá toàn diện các nỗ lực trong việc xử lý nợ xấu
1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại một số nước trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại một số nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Mỹ
Với Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính Phố Wall năm 2008 bắt nguồn từ bong bóng bất động sản tan vỡ - tình cảnh khá tương đồng với Việt Nam hiện nay Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách Dư nợ trong mảng này nhảy từ 160 tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ vào năm 2007 Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó đòi
Để giải cứu những tổ chức tín dụng sắp "chết", Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định bơm 700 tỷ USD thông qua chương trình ứng cứu kinh tế-tài chính với tên gọi tắt TARP Điểm mấu chốt của chương trình là thông qua Đạo luật bình
ổn kinh tế khẩn cấp 2008 để cấp quyền cho Bộ Tài chính được mua lại nợ xấu từ các định chế cho vay
Các loại nợ bao gồm nợ thế chấp, nợ vay mua ô tô, nợ sinh viên và các loại
nợ khác Với việc mua lại nợ xấu của Bộ Tài chính, các nhà cho vay được nhận một lượng lớn tiền mặt, giúp tăng tính thanh khoản, phục hồi hoạt động cho vay và giúp dòng tiền luân chuyển trở lại trong nền kinh tế
Trang 31TARP bơm hàng trăm tỷ USD vào hệ thống ngân hàng thông qua việc mua
cổ phần, cổ phiếu và đầu tư chiến lược ở các ngân hàng; hỗ trợ ngành bất động sản
và ô tô, trong đó có việc mua cổ phần ưu đãi ở General Motors và Chrysler
Ngân sách của chương trình được huy động từ nhiều nguồn, bao gồm việc phát hành trái phiếu và hối phiếu chính phủ Bộ Tài chính cũng có kế hoạch in thêm tiền mặt, trong khi một số loại thuế đối với doanh nghiệp và cá nhân bị tăng lên
Để bù đắp việc tăng thuế, lãi suất được duy trì ở mức thấp cận zero nhằm tạo môi trường thân thiện kinh doanh Ngoài ra, chương trình còn nhắm tới việc cải thiện niềm tin tiêu dùng, từ đó giúp hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ nhanh hơn, doanh nghiệp xoay vòng đồng vốn nhanh hơn, trả nợ nhanh hơn
Bên cạnh đó, vào tháng 3/2009 với mục đích thu hút đầu tư 500-1.000 tỷ USD để mua tài sản có vấn đề từ các ngân hàng và khôi phục lại thị trường trong các khoản vay và chứng khoán tài sản tài chính, Quỹ công – tư cho việc mua lại tài sản (PPIP) được thành lập với vốn 75 – 100 tỷ USD từ TARP và các quỹ bổ sung từ các nhà đầu tư tư nhân
Ngoài chương trình TARP, Chính phủ Mỹ đã có những cuộc ứng cứu
“khủng” như:
- Vào tháng 4/2008, Chính phủ Mỹ đã ứng cứu Bear Stearns bằng việc cho JPMorgan Chase vay 29 tỷ USD để mua lại định chế này với giá chỉ 10USD/cổ phiếu
- Cuối mùa hè năm 2008, Chính phủ Mỹ quyết định chi tới 200 tỷ USD để ứng cứu 2 nhà khổng lồ cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac Qua đó, chính phủ nắm quyền kiểm soát 2 công ty này, đồng thời bảo đảm 100 tỷ USD tín dụng cho mỗi công ty
- Vào tháng 9/2008, Chính phủ Mỹ quyết định cho American International Group (AIG) vay 85 tỷ USD
Trang 32FED đã mua tổng cộng 47 tỷ USD nợ của Fannie Mae và Freddie Mac; Bộ Tài chính mua 14 tỷ USD cổ phiếu và 71 tỷ USD chứng khoán hỗ trợ bằng tài sản thế chấp của 2 công ty này; FED cũng gia tăng thời hạn các khoản cho vay đối với Fannie Mae và Freddie Mac
Theo ước tính đến đầu năm 2012, Bộ Tài chính Mỹ đã chi 414,3 tỷ USD trong Chương trình Giải cứu tài sản xấu của TARP và thu về được 331 tỷ USD từ
cổ tức, lãi suất, hoạt động chuyển nhượng và các khoản thu khác
5 năm sau khủng hoảng tài chính, kinh tế Mỹ đã có một số dấu hiệu lạc quan Tốc độ tăng trưởng năm 2012 là 2,8%, cao hơn thời kỳ tiền khủng hoảng năm 2006 (2,7%) Niềm tin doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong quý II/2013 đã được cải thiện Thị trường nhà đất ấm dần, chứng khoán cũng liên tiếp lập kỷ lục trong vài tháng gần đây trước các số liệu lạc quan của nền kinh tế Tỷ lệ thất nghiệp giảm đáng kể so với gần 10% cuối năm 2010
1.3.1.2 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Ireland
Khủng hoảng kinh tế Iraland năm 2008 bắt nguồn từ việc đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, tập trung vào bất động sản, tạo bong bóng tài sản trong giai đoạn từ 2000-2007 Đỉnh điểm là cuối năm 2006, giá nhà cao gấp 10-17 lần thu nhập trung bình của người dân (mức bình quân tại châu Âu là 7 lần) Thể chế về giám sát ngân hàng không chặt chẽ, cạnh tranh giành thị phần giữa các ngân hàng đã khiến các tiêu chuẩn cho vay ngày càng thấp; hộ gia đình có thể vay tiền với mức 3-4 lần thu nhập của họ trong vòng 30-40 năm Ngoài ra, mức lãi suất danh nghĩa là lãi suất thực giảm nhanh chóng sau khi đồng euro được đưa vào lưu thông tại Ireland đầu năm 2002 cũng góp phần làm giảm chi phí vay vốn và kích thích đầu tư, đặc biệt vào bất động sản
Khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, bong bóng bất động sản vỡ khiến giá trị bất động sản Ireland sụt giảm 47% trong giai đoạn từ tháng 9/2007 đến tháng 12/2011 Giá trị tài sản thế chấp giảm, ngân hàng không thu hồi được nợ, dẫn đến
hệ quả các ngân hàng lớn chịu thua lỗ, kéo toàn bộ nền kinh tế rơi vào khủng hoảng
Trang 33từ năm 2008 Nợ xấu từ khu vực ngân hàng tạo thành gánh nặng nợ nần của chính phủ, nợ tư chuyển hóa thành nợ công: năm 2009 tỷ lệ nợ xấu ngân hàng là 9% GDP; năm 2010 là 8,6% và năm 2011 là 9,2%
Chính phủ Ireland đã phải cần đến sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế Sau nhiều vòng đàm phán, ngày 28/11/2010, Ireland đã nhận được gói hỗ trợ tài chính của “bộ ba” (gồm Liên hiệp châu Âu –EU, Ngân hàng Trung ương châu Âu-ECB, Quỹ tiền tệ quốc tế -IMF) lên tới 85 tỉ euro, trong đó 35 tỉ euro được dành cho khu vực ngân hàng
Các tổ chức này đã đưa ra một kế hoạch tổng thể nhiều giai đoạn buộc Chính phủ Ireland phải thực hiện như một điều kiện để được cứu trợ; trong đó việc khơi thông dòng vốn tín dụng từ ngân hàng, đưa đồng vốn đang mắc kẹp trong thị trường bất động sản sang thị trường sản xuất, đầu tư và tiêu dùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bản thân Chính phủ Ireland cũng đã kịp thời đưa ra một số giải pháp then chốt, thực hiện một cách nhất quán và quyết liệt, và nhờ đó đã đưa được đất nước ra khỏi khủng hoảng
Thứ nhất là cải cách hệ thống chính trị để lấy lại và củng cố niềm tin của
người dân theo hướng cho phép người dân tiếp cận với thông tin nhiều hơn, đặc biệt
là thông tin về hoạt động và chi tiêu của Chính phủ; chú trọng nâng cao tính minh bạch và tăng cường lòng tin của công chúng
Thứ hai là đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan quốc hội để các cơ
quan này có thêm nhiều quyền lực và hoạt động tốt hơn Một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng là vai trò giám sát của quốc hội trong lĩnh vực tài chính tất yếu Quốc hội Ireland đã thành lập một ủy ban giám sát quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Ireland
Thứ ba là thành lập Cơ quan Quản lý tài sản quốc gia (National Asset
Managemant Agency – NAMA) với nhiệm vụ mua lại nợ xấu của các ngân hàng, tiếp quản và quản lý tài sản thế chấp (chủ yếu là bất động sản), xử lý, bán lại trong
Trang 34khung thời gian tối đa 10 năm Các ngân hàng yếu kém bị buộc phải sáp nhập, ban lãnh đạo của những ngân hàng này bị thay thế Trong giai đoạn đầu, NAMA đã mua hoặc chuyển nhượng tài sản nợ trị giá 71 tỷ bảng Anh từ 850 con nợ và hơn 11.000 khoản
nợ được thế chấp bằng 16.000 công trình bất động sản Để làm điều này, NAMA đã phát hành chứng khoán do chính phủ bảo lãnh cho 5 đơn vị thành viên của mình
Thứ năm là tiếp tục hoàn thiện và phát triển hệ thống giáo dục là cách tốt
nhất để phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế về lâu dài Nhà nước bao cấp và
hỗ trợ hoàn toàn về chi phí cho đến cấp đại học và đào tạo nhằm đáp ứng theo yêu cầu của thị trường, hướng đến thị trường
Đến nay, Chính phủ Ireland tuyên bố nước này đã đáp ứng tất cả cam kết theo yêu cầu cứu trợ của EU, ECB và IMF Mục tiêu thâm hụt ngân sách được Chính phủ Ireland tiếp tục thực hiện và cam kết sẽ giảm nợ xuống mức 7,5% GDP trong năm 2013 và tiến tới mục tiêu 3% vào năm 2015 Với kết quả này, Ireland trở thành quốc gia đầu tiên thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ từng làm điêu đứng nền kinh tế thịnh vượng này
1.3.1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu tại Hàn Quốc
Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997
đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia này
Tính đến cuối tháng 3/1998, tổng nợ xấu của các tổ chức tài chính (TCTC) của Hàn Quốc lên tới 118 nghìn tỷ Won (18% tổng dư nợ), chiếm tới 27% GDP Trong đó 68 nghìn tỷ Won ( chiếm 57.6% tổng nợ xấu) là các khoản nợ quá hạn trên 6 tháng và có nguy cơ vỡ nợ cao
Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định 85% tổng nợ xấu cần được xử lý ngay lập tức bằng 2 biện pháp:
Trang 351) Buộc các tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị các khoản nợ xấu bằng việc yêu cầu các khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp
2) 50% còn lại phải được bán cho Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc (KAMCO) Theo đó, KAMCO mua các khoản nợ xấu từ những ngân hàng với giá thị trường (36% mệnh giá NPLs) KAMCO sẽ thanh toán bằng trái phiếu do công ty phát hành được đảm bảo bởi Chính phủ nhằm giảm thiểu việc ghi bằng tiền mặt Bằng cách này, các khoản nợ xấu của những ngân hàng được thay thế bằng tài sản
an toàn, cụ thể là trái phiếu được đảm bảo bởi Chính phủ
Để thực hiện quá trình xử lý nợ xấu, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng tiêu chuẩn phân loại nợ quốc tế để đánh giá thực trạng nợ xấu của các TCTC Liên tiếp trong khoản thời gian từ tháng 3/1998 đến tháng 3/2000, tiêu chuẩn phân loại nợ được thắt chặt
Để giải quyết khoản nợ xấu đi kèm với tái cấu trúc hệ thống tài chính đang suy yếu, Chính phủ Hàn Quốc đã huy động tới 157 nghìn tỷ Won ( trong đó 104 nghìn tỷ Won được huy động thông qua phát hành trái phiếu của Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) và KAMCO được Chính phủ bảo lãnh)
Trong số này, 60 nghìn tỷ Won được sử dụng để bơm vốn thêm vào cho các TCTC, 39 nghìn tỷ Won được sử dụng để mua các khoản nợ xấu từ các TCTC, 26 nghìn tỷ Won để trả cho người gửi tiền của các TCTC bị vỡ nợ…
Khoản tiền huy động này được thu hồi tới 56% thông qua việc bán lại cổ phần của các ngân hàng đã được bơm vốn, giá trị thu hồi được từ xử lý các khoàn
nợ xấu và bán các tài sản thế chấp Số tiền không thu hồi được được chuyển thành khoản nợ của Chính phủ thông qua việc chuyển các trái phiếu thành trái phiếu Chính phủ, tăng phí bảo hiểm tiền gửi…
Trong quá trình xử lý nợ xấu, KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể
dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ, các khoản nợ có thể giúp các TCTC khôi phục lại hoạt động và hình ảnh trước công chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ Quy trình đánh giá các khoản vay được tiến hành kỹ lưỡng nhằm bảo đảm các khoản nợ
Trang 36mua về vừa hỗ trợ được các TCTC vừa bảo đảm được hiệu quả hoạt động của Công
ty Khoản nợ xấu được định giá dựa trên khả năng thu hồi nợ, tài sản bảo đảm và phương pháp định giá được thay đổi tùy theo từng thời kỳ Đa phần các khoản tiền được sử dụng để mua nợ từ các ngân hàng (chiếm 62,1%), công ty ủy thác đầu tư (21,1%) và công ty bảo hiểm (4,5%)
Sau khi mua lại, KAMCO nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản (Mortgage–backed securities, MBS) dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào xử lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được bảo đảm bằng các khoản nợ xấu cũng như mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá Chính sự thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đầu tư vào các chứng khoán cũng như các khoản nợ xấu này
Bên cạnh đó, KAMCO cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái
cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất, giãn nợ…
Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty…
Trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2002, KAMCO đã thu hồi được 30,3 nghìn tỷ Won, tương ứng với tỷ lệ thu hồi là 46,8% trên giá trị khoản nợ
Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17,7% vào năm 1998 xuống còn 14,9%, 10,4%, 5,6%, và 3,9% vào các năm 1999,
2000, 2001 và 2002 Hai mươi ngân hàng vượt qua được cơn khủng hoảng đã có lợi nhuận, cung cấp dịch vụ ngân hàng tốt hơn (kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm…), và mở rộng quy mô thông qua việc mở rộng và sáp nhập
Trang 37Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính góp phần ổn định nền kinh tế là do Chính phủ Hàn Quốc đã có những can thiệp nhanh chóng, kịp thời và toàn diện, triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu hợp lý khi đưa KAMCO vào hoạt động và phát triển thị trường thứ cấp cho các khoản nợ xấu, các chứng khoán được bảo đảm bằng nợ xấu được tiến hành giao dịch thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Đối với mỗi một quốc gia khi xử lý nợ xấu thì sự hỗ trợ của Chính phủ và các Ban ngành chức năng là điều kiện cần thiết hơn bao giờ hết Chính phủ đóng vai trò chỉ đạo và định hướng thống nhất cho các NHTM trong quá trình thực hiện xử lý
nợ xấu Chính phủ có thể ban hành các văn bản, quy định tạo ra hành lang pháp lý phù hợp cũng như hỗ trợ giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc nằm ngoài tầm kiểm soát, điều tiết xử lý của NHTM
Theo kinh nghiệm của 3 quốc gia được nghiên cứ trên, việc xử lý nợ xấu nên thực hiện cơ chế như sau:
(1) Các NHTM bắt buộc phải sử dụng dự phòng để xử lý những khoản vay đối với các doanh nghiệp tư nhân mà không có tài sản bảo đảm hoặc có tài sản bảo đảm nhưng sụt giảm nghiêm trọng giá trị hoặc tranh chấp pháp lý quá phức tạp
(2) Tất cả các NHTM có nợ xấu bắt buộc phải thành lập công ty quản lý nợ (AMC)
để tách hoạt động xử lý nợ xấu khỏi hoạt động kinh doanh của NHTM
(3) Các NHTM sẽ nhóm toàn bộ các khoản nợ xấu này lại và bán cho các AMC trực thuộc NHTM Các AMC của NHTM sẽ căn cứ theo mức độ rủi ro của các khoản
nợ, giá trị thực của tài sản bảo đảm để phát hành ra các loại trái phiếu (đây là một dạng của phương thức chứng khoán hóa các khoản vay có bảo đảm) Số tiền thu hồi này sẽ được chuyển cho NHTM để phục vụ việc cho vay các hoạt động kinh doanh, sản xuất
Trang 38(4) Chính phủ nên thực hiện bảo lãnh với các trái phiếu trên đồng thời thành lập cơ quan quản lý bất động sản trực thuộc Chính phủ để quản lý các bất động sản trong trường hợp Chính phủ phải thực hiện chi trả bảo lãnh cho các trái phiếu Chỉ với sự bảo lãnh của Chính phủ thì các nhà đầu tư trong nước và quốc tế mới thấy được sự hấp dẫn từ các loại trái phiếu trên
(5) Chính phủ nên giao nhiệm vụ rõ ràng cho NHNN trong việc ban hành quy chế
về hoạt động AMC và xác định rõ trách nhiệm của NHNN trong việc giám sát
Việc xử lý nợ xấu phải đi đôi với ngăn chặn nợ xấu tái diễn trong tương lai
Do đó các ngân hàng phải tự xem xét lại quy trình thẩm định tín dụng ngay từ đầu
Và không thể bỏ qua quy trình kiểm soát trong khi cho vay, kiểm tra thường xuyên sau khi cho vay Như vậy mới hạn chế được sự gia tăng nợ xấu trong toàn bộ hệ thống ngân hàng
Chính phủ phải kết hợp tái cấu trúc khu vực ngân hàng và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc thì khi khu vực ngân hàng khỏe mạnh sau khi đã được cơ cấu lại sẽ giúp cho việc cơ cấu khu vực doanh nghiệp dễ dàng hơn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề về nợ xấu và quản
lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Trọng tâm của chương là quan niệm và nội dung của quản lý nợ xấu
Luận văn cũng đã nêu bài học kinh nghiệm của các NHTM tại một số nước trên thế giới Những nội dung được đề cập trong Chương 1 sẽ là cơ sở để luận văn tiếp tục phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập tại Việt Nam vào ngày 24/05/1989 theo Quyết định số 140/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam
Sau 23 năm xây dựng và phát triển, Eximbank hiện là một trong những ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối NHTMCP tại Việt Nam với mức vốn điều lệ 12.335 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 13.317 tỷ đồng Với 207 chi nhánh và phòng giao dịch, mạng lưới của Eximbank đã phủ kín tại các vùng kinh tế trọng điểm của
cả nước, cung ứng vốn và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến với mọi người dân và doanh nghiệp
Không chỉ tỏa sáng tại thị trường trong nước, thương hiệu Eximbank cũng đang được củng cố trên thị trường quốc tế thông qua các giải thưởng danh giá mà các định chế tài chính quốc tế danh tiếng đã dành cho ngân hàng và cá nhân lãnh đạo Đến nay, Eximbank đã thiết lập quan hệ đại lý với 869 ngân hàng tại 84 qucô 1gia trên thế giới Đặc biệt trong tháng 4/2013, tạp chí Asian Banker – một tạp chí
uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã vinh danh Eximbank là “ Ngân hàng được quản lý tốt nhất Việt Nam năm 2013”
2.1.1.2 Mục tiêu phát triển
- Nỗ lực phấn đấu trở thành một trong ba ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam
Trang 40- Tiếp tục phát huy thế mạnh là một ngân hàng có nền tảng khách hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khắp cả nước, đồng thời đẩy mạnh phát triển hệ thống ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là phục vụ cho khách hàng cá nhân
- Đẩy mạnh áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động của ngân hàng
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩuViệt Nam:
2.1.2.1 Tình hình nguồn vốn:
Eximbank xác định công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu và xuyên suốt Do đó đã cố gắng tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn, từng bước giữ ổn định và tăng trưởng nguồn vốn
Trong năm 2010, đối mặt với sự cạnh tranh lãi suất huy động giữa các ngân hàng hết sức căng thẳng, giá vàng, ngoại tệ biến động mạnh… Eximbank một mặt tuân thủ chặt chẽ chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước, mặt khác theo sát diễn biến thị trường, kịp thời đưa ra những chính sách lãi suất huy động cạnh tranh, phù hợp với mặt bằng chung và đảm bảo quyền lợi khách hàng Và kết quả là tổng huy động vốn
từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt 70.705 tỷ đồng, tăng 50% so với năm 2009 và hoàn thành 106% kế hoạch
Đến năm 2011, tình hình huy động vốn gặp nhiều khó khăn do tác động từ các quy định của Ngân hàng nhà nước như quy định ngừng huy động vốn bằng vàng, qui định mức trần lãi suất huy động … Vì vậy để tăng nguồn vốn huy động, Eximbank đã đa dạng hóa sản phẩm huy động, tăng cường chính sách chăm sóc khách hàng, cải tiến chất lượng dịch vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp phục vụ khách hàng…nhờ vậy, huy động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt 72.777 tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2010 Ngoài ra Eximbank đã đẩy mạnh việc huy động vốn đối với các đối tác nước ngoài với chi phí thấp, cụ thể là nguồn vốn huy động
từ các ngân hàng nước ngoài tăng 176% so với năm 2010
Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần quy định giảm trần lãi suất huy động từ 14%/năm giảm còn 8%/năm Trong bối cảnh chính sách huy động vốn