Mục tiêu nghiên cứu Đề tài này có mục tiêu nghiên cứu như sau: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGUYỄN VĂN NGÃI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 11 năm 2013
Tác giả
Lê Trần Hoài Vy
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình
Chương 1 Tổng quan đề tài 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Bố cục của luận văn 6
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 8
2.1 Giải thích khái niệm quan trọng 8
2.2 Tổng quan cơ sở lý thuyết 8
2.3 Các nghiên cứu trước đây 12
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 16
2.5 Các giả thiết của mô hình nghiên cứu đề xuất 16
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Thiết kế nghiên cứu 20
3.2 Xây dựng thang đo và bảng hỏi điều tra 21
3.3 Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu 26
3.4 Thông tin về mẫu 28
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 28
Chương 4 Phân tích dữ liệu 32
4.1 Mô tả mẫu khảo sát 32
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha 33
Trang 54.6 Kiểm định giả thuyết 45
4.7 Đánh giá sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính 46
4 8 Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính 49
4.9 Mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc 52
4.10 Hàm ý chính sách 52
Chương 5 Kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 58 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6Bảng 3.1 Thang đo Chuẩn chủ quan 21
Bảng 3.2 Thang đo Thái độ 22
Bảng 3.3 Thang đo Kiểm soát hành vi nhận thức 22
Bảng 3.4 Thang đo Thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng 23
Bảng 3.5 Thang đo Độ tin cậy của thông tin 24
Bảng 3.6 Thang đo Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc 25
Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 32
Bảng 4.2 Kết quả hệ số Cronbach Alpha 33
Bảng 4.3 Ma trận xoay nhân tố 37
Bảng 4.4 Kết quả hệ số Cronbach Alpha của thang đo hiệu chỉnh 38
Bảng 4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc 39
Bảng 4.6 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 41
Bảng 4.7 Đánh giá độ phù hợp của mô hình theo R2 và Durbin – Watson 42
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Anova 43
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy 43
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định các giả thuyết 47
Bảng 4.11 Giá trị trung bình giữa các biến quan sát Thái độ và kiểm soát hạn chế tiêu
dùng 53
Bảng 4.12 Giá trị trung bình giữa các biến quan sát Chuẩn chủ quan 54
Bảng 4.13 Giá trị trung bình giữa các biến quan sát Truyền miệng và độ tin cậy thông
tin 55
Trang 7Hình 2.2 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định (I Azjen, 1991) 10
Hình 2.3 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định vay của hộ kinh doanh cá thể 12
Hình 2.4 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định chia sẽ tri thức của bác sĩ trong bệnh viện 13
Hình 2.5 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích động cơ của người tiêu dùng cá 14
Hình 2.6 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định sử dụng thực phẩm an toàn của dân cư 15
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả 17
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 20
Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 40
Hình 4.2 Đồ thị phân tán của phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa 47
Hình 4.3 Đồ thị tần số của phần dư chuẩn hóa 48
Hình 4.3 Đồ thị tần số P – P Plot 48
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng gia tăng đã
và đang được đề cập đến như một mối nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Nhiều cảnh báo về tình trạng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của các phương tiện thông tin đại chúng đã cho thấy, chúng ta đang sống trong một môi trường đầy những mối nguy: ăn bún, phở thì sợ formol; ăn miến, chả lụa, bánh giò thì
sợ Borax; ăn cá thì sợ ướp Urê, ăn thịt thì sợ ướp Nitrat/Nitrit; ăn nghêu sò thì sợ độc
tố liệt thần kinh, giảm trí nhớ; ăn chè và nước giải khát thì sợ đường hóa học; ăn thịt
bò thì sợ bệnh bò điên; ăn thịt gà thịt vịt thì sợ bệnh cúm gia cầm H5N1 và đặc biệt
là ăn rau quả lại sợ ngộ độc bởi kim loại nặng, Nitrat, vi sinh và thuốc trừ sâu
An toàn thực phẩm ngày càng trở thành vấn đề tâm điểm quan tâm không những của xã hội mà còn của từng người tiêu dùng trên thị trường Nó ảnh hưởng đến trực tiếp sức khỏe con người cũng như thể chất của toàn xã hội Vấn đề này ngày càng trở nên được tất cả mọi người tiêu dùng quan tâm và ý thức về an toàn thực phẩm cũng được nâng cao
Khi kinh tế hộ gia đình cải thiện, chất lượng cuộc sống ngày càng được mọi người chú trọng hơn đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm Thực phẩm đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình nuôi dưỡng và tái tạo năng lượng cho con người sau quá trình làm việc
Thực phẩm mà con người cần sử dụng để tái tạo năng lượng trong ngày gồm nhiều chủng loại khác nhau từ rau củ quả, thịt cá, trứng sữa, ngũ cốc Mỗi thành phần trong thực phẩm đều đóng vai trò quan trọng khác trong quá trình tái tạo năng lượng, tạo động lực cho con người trong công việc và cuộc sống
Do đó, trái cây cũng đóng một vai trò khá quan trọng trong khẩu phần ăn của chúng ta Trái cây rất giàu dinh dưỡng, cung cấp chất xơ và nhiều vitamin có lợi cho sức khỏe Trái cây giúp cải thiện khẩu vị, tạo cảm giác sảng khoái khi sử dụng Chính những thành phần dinh dưỡng có lợi trong trái cây hỗ trợ con người giảm thiểu các
Trang 9rủi ro mắc bệnh mãn tính, như là tai biến động mạch não, cao huyết áp, tiểu đường và
vài loại ung thư
Với các yếu tố trên, vai trò của trái cây trong từng bữa ăn của giai đình ngày
càng đóng vai trò quan trọng Thu nhập của người dân ngày càng tăng lên, chất lượng
cuộc sống được cải thiện hơn, người tiêu dùng càng quan tâm hơn đến chất lượng
bữa ăn cũng nhưng sử dụng trái cây trong khẩu phần ăn của mình
Bên cạnh đó, với nhiều thuận lợi về khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có rất nhiều loại
trái cây đa dạng, có chất lượng tốt phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Các
vùng có thế mạnh trồng trái cây xuất khẩu chủ yếu tập trung tại khu vực phía Nam
Các loại trái cây xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay là dứa đóng hộp, bưởi,
xoài, thanh long1…
Các thị trường nhập khẩu trái cây chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ, Châu Âu,
Nga, Đài Loan, Trung Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á
Việt Nam được đánh giá là một trong những vựa trái cây lớn ở Đông Nam Á,
nhiều loại trái cây Việt Nam đã được xuất khẩu đến nhiều nước ngoài Tuy nhiên,
hiện nay chúng ta lại đang nhập ồ ạt trái cây ngoại, trong đó có cả những chủng loại
mà chúng ta có lợi thế xuất khẩu với sản lượng lớn như dưa hấu, xoài
Không chỉ có mặt ở thành thị, trái cây ngoại, nhất là trái cây Trung Quốc, đã
thâm nhập về các chợ nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long Ngay cả ở đồng bằng
sông Cửu Long – vựa trái cây của cả nước – cũng bị các loại xoài Thái; nho, táo Mỹ;
cam, quýt Trung Quốc xâm chiếm thị trường Theo số liệu của Hội Khoa học Kinh tế
Việt Nam, trong khoảng trên 500 tấn trái cây hằng ngày vận chuyển về các chợ ở
thành phố Hồ Chí Minh, thì có tới 300 tấn là trái cây nhập khẩu Điều đáng nói, nhiều
loại trái cây ngoại đang lấn lướt trên thị trường hiện nay rất phổ biến ở các nhà vườn
Việt Nam như xoài, măng cụt, cam, quýt2…
Dựa trên thống kê tổng giá trị rau quả nhập khẩu của nước ta giai đoạn
2010 – 2013, rau quả nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm trên 50% tổng giá trị rau quả
nhập khẩu của nước ta Không chỉ xuất hiện ở các thành thị, trái cây Trung Quốc đã
thâm nhập về các chợ nông thôn, tỉnh lẻ
Trang 10Bảng1.1 Tổng giá trị rau quả nhập khẩu của nước ta giai đoạn 2010 – 2013
Hiện nay, các mặt hàng củ, quả nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là khoai tây
và các loại trái cây Hàng nhập chính ngạch thường đi qua cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn, một lượng nhỏ qua Lào Cai, Quảng Ninh, còn lại qua các đường tiểu ngạch nên rất khó kiểm soát chất lượng Nhìn cảm quan bên ngoài thì rau, củ, quả Trung Quốc bắt mắt hơn hàng Việt Nam bởi màu sắc đẹp, hình dáng bên ngoài no tròn, căng mộng và có giá rẻ hơn hàng Việt Nam cùng loại 4
Trang 11Do đó, việc kiểm soát các mặt hàng trái cây có ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng vẫn là chuyện khó Điểm đặc biệt ở đây là, các mặt hàng trái cây nếu có hóa chất gây hại thì không phản ứng liền mà có thể xâm nhập từ từ vào cơ thể người
và có tác động tới sức khỏe sau một thời gian dài sử dụng Hiện việc trái cây Trung Quốc có sử dụng hóa chất trà trộn vào thị trường nước ta vẫn chưa được kiểm soát Trái cây là mặt hàng được kinh doanh, bày bán phổ biến nhưng thường không có hóa đơn, giấy tờ gì nên càng khó quản lý Việc sử dụng hóa chất vượt ngưỡng hay nhập khẩu từ nguồn đáng tin cậy hay không thì tùy thuộc vào nhận thức và lương tâm của người sản xuất, người kinh doanh
Theo Cục Trưởng Cục Bảo vệ Thực vật cho biết từ ngày 10 tháng 8 đến ngày 10 tháng 9 năm 2012, các đơn vị chuyên môn của Cục Bảo vệ Thực vật đã lấy mẫu xét nghiệm tại các cửa khẩu và phát hiện có 4 mẫu trái cây nhập khẩu của Trung Quốc vi phạm về Vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam, cụ thể như sau: 1 mẫu Mận tươi nhập khẩu qua cửa khẩu Lạng Sơn chứa dư lượng carbendazim, 2 mẫu Nho tươi nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai có dư lượng difenoconazole và 1 mẫu Lựu chứa Tubeconazole và Carbendazim Điều “đáng sợ” ở đây là mức dư lượng được phát hiện vượt ngưỡng tối đa cho phép theo qui định của Việt Nam từ 1.5 – 5 lần Trước
đó, trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2012, Cục Bảo vệ Thực vật cũng đã lấy 104 mẫu rau, củ quả nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước khác phân tích và phát hiện ba mẫu Nho và Khoai Tây nhập khẩu của Trung Quốc có dư lượng Difenoconazole và Chlorpyrifos ethyl vượt 3 – 5 lần tiêu chuẩn An toàn vệ sinh thực phẩm của Việt Nam cho phép5
Các hoạt chất đã được phát hiện trong các mẫu kể trên thường được sử dụng trong việc trừ nấm và bệnh cho cây trồng… Các chất này khi tích tụ trong cơ thể con người qua đường ăn uống đạt đến một ngưỡng nhất định, chúng sẽ khiến các chứng bệnh về tim, gan, thận, thần kinh …bộc phát
Các thông tin về các loại rau củ quả Trung Quốc có chứa chất độc hại cao gấp nhiều lần ngưỡng cho phép theo qui định An toàn vệ sinh thực phẩm đã tác động
Trang 12mạnh đến tâm lý người tiêu dùng hiện nay trên cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này có mục tiêu nghiên cứu như sau:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Đo lường mức độ ảnh hưởng các yếu tố đến ý định xu hướng hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Đánh giá sự khác nhau về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, học vấn đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Từ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng, đưa ra các hàm ý chính sách để các nhà kinh doanh, nhà phân phối mặt hàng trái cây có phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường trái cây
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Trái cây đóng vai trò ngày càng tăng về mặt tỷ lệ so với các nguồn thực phẩm khác trong bữa ăn của gia đình Nhu cầu về trái cây ngày càng tăng
về mặt số lượng cũng như chất lượng trong điều kiện chất lượng sống đang có xu hướng phát triển hiện nay Vì vậy, thị trường trái cây nói chung là khá lớn, độ bao phủ khá rộng từ thôn quê đến thành thị Tuy nhiên, các hoạt động của thị trường trái cây thể hiện rõ nét chủ yếu ở các thành thị và khu vực đông tập trung dân cư là chính
Do đó, nghiên cứu này khảo sát thị trường trái cây tại thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu: Người tiêu dùng có thể là người mua trái cây nhưng không sử dụng trái cây hoặc người không mua trái cây nhưng sử dụng trái cây Do nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng
Trang 13trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng, đối tượng nghiên cứu là người sử dụng trái cây trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã trình bày như trên, đề tài sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh?
Câu hỏi 2: Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
Câu hỏi 3: Có sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, học vấn đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không?
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính thông qua phương pháp phỏng vấn với nhóm người tiêu dùng để hiệu chỉnh các thuật ngữ trong thang đo
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi với người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Các dữ liệu được thu thập, mã hóa và thực hiện các thông kê dựa trên phần mềm SPSS Kiểm định thang đo sử dụng hệ số tin cậy Cronbach Anpha, phương pháp
phân tích nhân tố khám phá
1.6 Bố cục của luận văn
Ngoài danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 5 chương chính:
Trang 14 Chương 1 giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi và câu hỏi nghiên cứu
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, tham khảo nghiên cứu trước và mô hình đề xuất
Chương 3 khái quát phương pháp nghiên cứu
Chương 4 mô tả dữ liệu khảo sát, đưa ra những kết quả thu được từ phân tích dữ liệu và kiểm định giải thuyết; gợi ý chính sách
Chương 5 là phần kết luận của đề tài
Tóm lại, Chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phương pháp
Trang 15Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày các khái niệm quan trọng, tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu Trong đó, biến phụ thuộc là ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc và các yếu tố về lý thuyết có ảnh hưởng đến ý định này
2.1 Giải thích khái niệm quan trọng
Ý định: Theo Ajzen, I (1991, tr 181), ý định được xem như là “bao gồm các yếu
tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân bỏ ra để thực hiện hành vi”
Ý định hạn chế tiêu dùng là xu hướng giảm tiêu dùng có kế hoạch và nhận thức
của người tiêu dùng nhằm kìm hãm mua sắm một sản phẩm
2.2 Tổng quan cơ sở lý thuyết
Hiện nay có nhiều lý thuyết nghiên cứu về hành vi tiêu dùng Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là ý định sử dụng, đề tài trình bày hai học thuyết quan trọng đối với
ý định và hành vi mỗi cá nhân và đã được kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu Đó là thuyết hành động hợp lý và thuyết hành vi hoạch định
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action)
Thuyết hành động hợp lý được Fishbein và Ajzen phát triển năm 1967, mô hình thuyết hành động hợp lý được áp dụng trong các nghiên cứu thái độ và hành vi; mô hình này cho thấy được ý định hành vi là yếu tố cần thiết để xác định được hành vi của con người
Theo Ajzen (1975), ý định hành vi được xem là khía cạnh đặc biệt của niềm tin, chủ thể của ý định hành vi luôn là con người và thể hiện đặc trưng bằng hành động của con người Cường độ của ý định được xác định bởi khả năng chủ quan có thể xảy
ra khi con người thực hiện hành vi Nói cách khác, ý định được đo lường bởi quá trình mà tại đó chủ thể khả năng xảy ra mối liên hệ giữa họ và hành động sắp xảy ra
Ý định bao gồm bốn nhân tố khác nhau: hành vi, đối tượng mục tiêu, tình huống
mà hành vi sẽ được xảy ra và thời điểm diễn ra hành vi Theo Fishbein (1975), ý định
Trang 16hành vi được xác định bởi hai yếu tố khác nhau: cá nhân hay còn gọi là yếu tố thái độ
và xã hội hay còn gọi là yếu tố chuẩn chủ quan
Cũng theo Fishbein (1967), ý định của con người nhằm thực hiện hành vi được xác định bởi thái độ dẫn đến hành vi (An) và chuẩn chủ quan (SN) Lý thuyết cũng cho rằng các yếu tố ngoại vi có thể ảnh hưởng gián tiếp đến ý định thông qua hai yếu
tố chính trên
Hình 2.1 Mô hình Thuyết hành động hợp lý
Nguồn: Fishbein (1967)
Cơ sở giả định của Thuyết hành động hợp lý là con người hành động có lý trí và
họ sẽ xem xét những ảnh hưởng đến hành vi của họ trước khi họ thực hiện hành vi nào đó Thuyết hành động hợp lý đã cung cấp một nền tảng lý thuyết rất hữu ích trong việc tìm hiểu thái độ đối với hành động trong tiến trình chấp nhận của người tiêu dùng, theo đó đã cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành
Thái độ (A)
Ý định hành vi (I)
Hành vi (B)
Trang 17Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), lý thuyết này giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định (động cơ) để thực hiện hành vi đó Các ý định được giả sử bao gồm các nhân tố, động cơ ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991)
Thuyết hành vi hoạch định phát biểu rằng ý định dẫn đến hành vi của con người được dự báo bởi: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và cảm nhận về kiểm soát hành vi Các ý định đó cùng với nhận thức về kiểm soát hành vi giải thích cho các hành vi khác nhau đáng kể trong thực tế
Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi được cho là có liên quan chủ yếu với tập hợp các niềm tin về hành vi, chuẩn mực và sự kiểm soát đến hành vi mà theo Ajzen & Fishbein (2005) tập hợp này lại bị tác động bởi nhiều yếu tố nhân khẩu – xã hội học như là xã hội, văn hoá, cá tính và các nhân tố ngoại cảnh
Hình 2.2 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định (I Azjen, 1991)
Hành vi (B)
Kiểm soát hành
vi (PBC)
Trang 18Trong đó:
Thái độ dẫn đến hành vi (A): Thái độ dẫn đến hành vi là mức độ mà biểu
hiện của hành vi đó được chính bản thân cá nhân đánh giá là tích cực hoặc tiêu cực Dựa trên mô hình kỳ vọng – giá trị, thái độ dẫn đến hành vi được định nghĩa là toàn
bộ niềm tin có thể dẫn đến hành vi liên hệ hành vi đó với những hậu quả và các thuộc tính khác nhau
Chuẩn chủ quan (SN): Chuẩn chủ quan là sức ép xã hội về mặt nhận thức
để tiến hành hoặc không tiến hành hành vi nào đó Tương tự như mô hình kỳ vọng – giá trị về thái độ dẫn đến hành vi, giả định rằng Chuẩn chủ quan được định nghĩa là toàn bộ những niềm tin được chuẩn hóa liên quan đến mong đợi về những ám chỉ quan trọng
Nhận thức về kiểm soát hành vi (PBC): Nhận thức về kiểm soát hành vi
nói đến nhận thức của con người về khả năng của họ để thực hiện một hành vi đã qui rằng Nhận thức về kiểm soát hành vi được định nghĩa là toàn bộ niềm tin về sự kiểm soát, ví dụ như, những niềm tin về sự hiện diện của các yếu tố xúc tiến hoặc cản trở
sự thực hiện hành vi
Ý định (I): Ý định là sự biểu thị về sự sẵn sàng của mỗi người khi thực
hiện một hành vi đã qui định, và nó được xem như là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành
vi Ý định dựa trên các ước lượng bao gồm Thái độ dẫn đến hành vi, Chuẩn chủ quan
và Nhận thức kiểm soát hành vi và các trọng số được gán cho mỗi ước lượng này tùy vào tầm quan trọng của chúng
Hành vi (B): Hành vi là sự phản ứng hiển nhiên có thể nhận thấy được
thực hiện trong tình huống đã qui định cùng với mục tiêu đã qui định trước đó Những quan sát hành vi đơn lẻ có thể được tổng hợp nhiều lần trong các phạm vi để tạo ra một phép đo tiêu biểu về hành vi mang tính bao quát
Theo Thuyết hành vi hoạch định, Hành vi là một hàm bao gồm các ý định thích hợp và Nhận thức kiểm soát hành vi Về mặt khái niệm, Nhận thức về kiểm soát hành
vi được dùng để làm giảm bớt ảnh hưởng của Ý định lên Hành vi, do đó, một ý định được tán thành chỉ dẫn đến Hành vi chỉ khi mà Nhận thức về kiểm soát hành vi đủ
Trang 19mạnh Thực tế, các ý định và Nhận thức về kiểm soát hành vi đều được cho rằng là những yếu tố chính dẫn đến hành vi khi mà chúng không có sự tác động qua lại Với yếu tố bổ sung kiểm soát hành vi nhận thức, mô hình Thuyết hành vi hoạch định được xem như tối ưu hơn đối với mô hình Thuyết hành động hợp lý trong việc
dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu
Tóm lại, nếu thái độ đối với hành vi là tốt (cá nhân nhìn nhận hành vi đó là tốt),
và xã hội cũng nhìn nhận hành vi đó là đúng đắn; bản thân cá nhân có sự kiểm soát cao đối với hành vi (hay nói một cách khác là cá nhân chắc chắn có những điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi) thì cá nhân đó càng có động cơ mạnh mẽ để thực hiện hành vi Hơn nữa, nếu một cá nhân thấy rằng khả năng kiểm soát hành vi thực tế của mình cao thì họ sẽ có khuynh hướng thực hiện các ý định của mình ngay khi có cơ hội
2.3 Các nghiên cứu trước đây
Hình 2.3 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định vay của
hộ kinh doanh cá thể
Nguồn: Phạm Hồng Mạnh và Đồng Trung Chánh (2013)
Sự thuận tiện
Thái độ hoặc sở thích
Ý định vay vốn
Điều kiện
Trách nhiệm
Trang 20Hình 2.4 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định chia sẽ
tri thức của bác sĩ trong bệnh viện
Nguồn: Trần Thị Lam Phương và Phạm Ngọc Thúy (2011)
Nghiên cứu của Hồ Huy Tựu (2007) về “Vận dụng lý thuyết hành vi
hoạch định (TPB) để giải thích động cơ của người tiêu dùng cá tại thành phố Nha Trang” Mục đích của nghiên cứu này là vận dụng lý thuyết hành vi hoạch định để giải thích ý định tiêu dùng cá với tư cách là biến động cơ, dưới sự tác động của thái
độ, sự kỳ vọng gia đình, kiểm soát hành vi cảm nhận, cảm xúc lẫn lộn về việc ăn cá, kiến thức và thói quen tiêu dùng cá
Kết quả thể hiện mô hình phù hợp tốt với dữ liệu và ủng hộ về mặt thực nghiệm các quan hệ giả thuyết do tác giả đề xuất Ngoại trừ tác động của thói quen không có
ý nghĩa thống kê, cả năm yếu tố còn lại đều có có ý nghĩa, trong đó nhân tố cảm xúc
Tự tin vào tri
Đồng nghiệp Lãnh đạo
Ý định chia sẽ tri thức
Trang 21lẫn lộn có ảnh hưởng âm, các yếu tố khác đều có ảnh hưởng dương đến ý định hành
vi Ngoài ra, các thang đo lường các khái niệm sử dụng bước đầu đã thể hiện độ tin cậy và độ giá trị hội tụ cũng như độ giá trị phân biệt
Hình 2.5 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích động cơ của
người tiêu dùng cá
Nguồn: Hồ Huy Tựu (2007)
Nghiên cứu của Phạm Quốc Tùng, Nguyền Hữu Lan Thủy và Trần
Ngọc Lý (2012) về đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thực phẩm an
toàn của dân cư thành phố Hồ Chí Minh” Mục đích của nghiên cứu này xác định và
đo lường các yếu tố tác động đến ý định sử dụng thực phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm của cư dân thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết hoạch định hành vi Kết quả nghiên cứu thể hiện sự tồn tại quan hệ thuận chiều dương giữa thái độ, chuẩn chủ
Ảnh hưởng
xã hội
Thái độ đối với hành vi
Ý định hành vi Kiểm soát
hành vi
Cảm xúc lẫn lộn
Thói quen
Trang 22quan, sự nhận thức kiểm soát hành vi đối với ý định sử dụng thực phẩm an toàn vệ sinh, ngoài trừ tác động của thói quen không có ý nghĩa thống kê Trong đó, yếu tố thái độ có sự ảnh hưởng lớn nhất đối với ý định sử dụng thực phẩm an toàn vệ sinh
Hình 2.6 Mô hình Thuyết hành vi hoạch định về việc giải thích ý định sử
dụng thực phẩm an toàn của dân cư
Nguồn: Phạm Quốc Tùng, Nguyền Hữu Lan Thủy và Trần Ngọc Lý (2012)
Nghiên cứu của Berg, C (2002) về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn
chế độ ăn uống tập trung vào chất béo và chất xơ của học sinh Thụy Điển, chỉ ra rằng thái độ, niềm tin và kiến thức; chuẩn xã hội; kiểm soát tiêu dùng là các yếu tố ảnh hưởng lựa chọn chế độ ăn uống tập trung vào chất béo và chất xơ của học sinh
Nghiên cứu của Cook, A.J., Kerr, G.N & Moore, K (2002) về thái độ
và dự định tiêu dùng thực phẩm biến đổi gien Kết quả nghiên cứu cho rằng các yếu
tố bản sắc, thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi có ý nghĩa đối với ý định tiêu dùng
Nghiên cứu của Lobb, A.E., Mazzocchi, M and Traill, W.B (2007) về
mô hình hóa nhận thức rủi ro và sự tin tưởng về thông tin thực phẩm an toàn với
Trang 23thuyết hành vi hoạch định tại Anh Quá trình mô hình hóa dựa vào thuyết hành vi hoạch định của Ajzen và bao gồm sự tin tưởng và nhận thức rủi ro là yếu tố giải thích
Nghiên cứu của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) về các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng thực phẩm có nguồn gốc từ sữa tại Trung Quốc Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết hành vi hoạch định
Theo đó, ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng thực phẩm có nguồn gốc từ sữa bao gồm chuẩn chủ quan, thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi, nghiên cứu bổ sung các yếu tố về sự quan tâm và độ tin cậy của thông tin không tốt liên quan đến sữa khi quyết định hành vi hạn chế tiêu dùng thực phẩm có nguồn gốc
từ sữa
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ các nghiên cứu trình bày trên, tác giả nhận thấy mô hình của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) về thông tin cảnh báo của sữa và thực phẩm có nguồn gốc từ sữa ở thị trường Trung Quốc có sự tương đồng với đề tài nghiên cứu của tác giả ở thị trường Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng về “làn sóng” thông tin về trái cây Trung Quốc
Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như hình 2.7
2.5 Các giả thiết của mô hình nghiên cứu đề xuất
Cơ sở để đưa ra các giải thuyết này là dựa trên kết quả nghiên cứu của Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010) về ý định hạn chế tiêu dùng thực phẩm có nguồn gốc từ sữa tại Trung Quốc
Trang 24Trên cơ sở 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc với 20 biến quan sát và mô hình đề xuất như hình 2.7, có 5 giả thuyết tương ứng được đưa ra như sau
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả
Giả thuyết H 1 : Chuẩn chủ quan tác động đồng biến đến ý định hạn chế tiêu
dùng trái cây Trung Quốc
Thái độ Chuẩn chủ quan
Ý định Kiểm soát
hành vi
Thông tin
Độ tin cậy
Yếu tố nhân khẩu học
Trang 25Giả thuyết H 2 : Thái độ tiêu cực tác động đồng biến đến ý định hạn chế tiêu
dùng trái cây Trung Quốc
Giả thuyết H 3 : Kiểm soát hành vi nhận thức tác động đồng biến đến ý định hạn
chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Giả thuyết H 4 : Thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng tác động đồng
biến đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Thái độ
Tiêu dùng không tốt
Tiêu dùng không an toàn
Tiêu dùng không khuyến khích
H 2 +
Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Kiểm soát hành vi nhận thức
Tin là không tiêu dùng
Tin là có thể giảm sở thích
Tin là có hành giảm cơ hội tiêu dùng
Tin là luôn cảnh giác không tiêu
dùng
H 3 +
Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Trang 26Giả thuyết H 5 : Độ tin cậy của thông tin tác động đồng biến đến ý định hạn chế
tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Giả thuyết H6: Các yếu tố về nhân khẩu học tạo nên sự khác biệt đối với ý định
hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Tóm lại, Chương 2 đã tổng hợp các nghiên cứu trước cho thấy ý định là yếu tố quan trọng dẫn đến hành vi của mỗi cá nhân Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình chủ đạo là Thuyết hành vi hoạch định, đồng thời kết hợp với các yếu tố khác phù hợp Mô hình nghiên cứu đề xuất 5 biến độc lập, đó là Chuẩn chủ quan, Thái độ, Kiểm soát hành vi nhận thức, Quan tâm thông tin và Độ tin cậy thông tin Biến phụ thuộc đề xuất của mô hình nghiên cứu là Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc Các giả thuyết đề xuất đều quan hệ đồng biến với ý định hạn chế
tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Các yếu tố về nhân khẩu học
H 6 +
Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Độ tin cậy thông tin
Trang 27Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo và bảng hỏi điều tra khảo sát, thu thập dữ liệu, số lượng mẫu; khái quát về phân tích nhân tố và các bước phân tích dữ liệu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu cho đề tài được trình bày ở hình 3.1
`
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Bảng hỏi khảo sát sơ bộ
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Nghiên cứu sơ bộ
Điều tra sơ bộ
Điều chỉnh bảng câu hỏi sơ bộ
Khảo sát điều tra
Kiểm định thang đo (Cronbach Alpha)
Phân tích nhân tố (EFA)
Kiểm định mô hình
Kiến nghị & hàm ý giải pháp
Bảng hỏi khảo sát chính thức
Phân tích độ tin cậy
Phân tích hồi quy bội
Trang 283.2 Xây dựng thang đo và bảng hỏi điều tra
3.2.1 Xây dựng thang đo từng nhân tố trong mô hình đề xuất
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đã được đề xuất ở hình 2.7, nghiên cứu tiến hành xây dựng thang đo cho từng nhân tố ảnh hưởng
3.2.1.1 Chuẩn chủ quan
Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) đo lường chuẩn chủ quan của mỗi cá nhân đối với ý định hạn chế tiêu dùng thực phẩm có nguồn gốc từ sữa thông qua quan điểm của gia đình, thầy cô và bạn bè Bằng phương pháp hiệu chỉnh thang đo chuẩn chủ quan xây dựng bởi Hung – Yi Lu và cộng sự (2010), thang đo đề xuất này được điều chỉnh
và trình bày ở bảng 3.1
Như vậy, thang đo Chuẩn chủ quan (ký hiệu là SN) được đo lường bằng ba biến quan sát, ký hiệu từ SN1 đến SN3 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang
đo Liker bảy mức độ từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.1 Thang đo Chuẩn chủ quan
SN1 Gia đình nghĩ tôi
không nên tiêu dùng trái
cây Trung Quốc
My parents think I should not consume food containing dairy products
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
SN2 Thầy cô nghĩ tôi
không nên tiêu dùng trái
cây Trung Quốc
My teachers think I should not consume food containing dairy products
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.1.2 Thái độ
Tiến hành hiệu chỉnh thang đo thái độ của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010), thang
đo thái độ hướng đến tiêu dùng trái cây Trung Quốc được đo lường như trình bày ở bảng 3.2
Trang 29Như vậy, thang đo Thái độ (ký hiệu là A) được đo lường bằng ba biến quan sát, ký hiệu từ A1 đến A3 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang đo Liker bảy mức
độ từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.2 Thang đo Thái độ
A1
Tiêu dùng trái cây
Trung Quốc nói chung
không tốt
Overall, consuming food containing dairy products is bad
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
A2 Tiêu dùng trái cây
Trung Quốc nói chung
không an toàn
Overall, consuming food containing dairy products is risky
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
A3 Tiêu dùng trái cây
Trung Quốc nói chung
không được khuyến khích
Overall, consuming food containing dairy products is not encouraged
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.1.3 Kiểm soát hành vi nhận thức
Từ thang đo gốc của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) về kiểm soát hành vi nhận thức, bốn phát biểu sau đây được dùng để đo lường kiểm soát hành vi nhận thức liên quan đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc.Thang đo đề xuất này được điều chỉnh và trình bày ở bảng 3.3
Như vậy, thang đo Kiểm soát hành vi nhận thức (ký hiệu là PBC) được đo lường bằng bốn biến quan sát, ký hiệu từ PBC1 đến PBC4 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang đo Liker bảy mức độ từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.3 Thang đo Kiểm soát hành vi nhận thức
PBC1
Tôi tin tôi có thể
không tiêu dùng trái cây
Trung Quốc từ Trung
Quốc
I believe I can avoid consuming food containing melamine adulterated milk powder
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Trang 30Hung – Yi Lu
và cộng sự (2010)
PBC3
Tôi tin tôi sẽ luôn cảnh
giác rằng không tiêu dùng
trái cây Trung Quốc
I believe that I can take action to reduce the chances
containing melamine adulterated milk powder
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
PBC4
Tôi tin tôi có thể có
hành động giảm cơ hội
tiêu dùng trái cây Trung
Quốc
I believe that I will be on the alert not to consume melamine adulterated milk powder made food
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.1.4 Thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng
Để thu thập dữ liệu về sự quan tâm thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng, câu phát biểu sau đây được hiệu chỉnh từ thang đo về sự quan tâm thông tin của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010)
Thông tin được lan truyền qua truyền miệng cũng là một trong những phương pháp truyền tin quan trọng trong xã hội giao tiếp ngày nay Tốc độ lan truyền của thông tin qua truyền miệng rất nhanh và ít tốn kém chi phí Vì vậy, tác giả đề xuất yếu
tố này vào thang đo Thông tin
Như vậy, thang đo Thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng (ký hiệu là AN) được đo lường bằng năm biến quan sát, ký hiệu từ AN1 đến AN5 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang đo Liker bảy mức độ từ “hoàn toàn không đồng ý” đến
“hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.4 Thang đo Thông tin trái cây Trung Quốc kém chất lượng
AN1
Tôi quan tâm thông tin
trái cây Trung Quốc kém
chất lượng trên truyền
Trang 31AN2
Tôi quan tâm thông tin
trái cây Trung Quốc kém
chất lượng trên báo chí
I pay attention to milk scandal news in the newspaper
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
AN3 Tôi quan tâm thông tin
trái cây Trung Quốc kém
chất lượng trên phát thanh
I pay attention to milk scandal news on the radio
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
AN4 Tôi quan tâm thông tin
trái cây Trung Quốc kém
chất lượng trên internet
I pay attention to milk scandal news on the internet
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
AN5
Tôi quan tâm thông tin
trái cây Trung Quốc kém
chất lượng bằng truyền
miệng
Đề xuất của tác giả
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
3.2.1.5 Độ tin cậy của thông tin
Từ thang đo gốc của Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) về độ tin cậy của thông tin, hiệu chỉnh phù hợp mô hình nghiên cứu
Với tốc độ lan truyền của thông tin qua truyền miệng nhanh và hầu như không tốn chi phí, độ tin cậy của thông tin quan truyền miệng rất đáng quan tâm Vì vậy, tác giả
đề xuất yếu tố này vào thang đo Độ tin cậy thông tin
Thang đo đề xuất này được điều chỉnh và trình bày ở bảng 3.5 Như vậy, thang đo
Độ tin cậy của thông tin (ký hiệu là C) được đo lường bằng năm biến quan sát, ký hiệu
từ C1 đến C5 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang đo Liker bảy mức độ
từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.5 Thang đo Độ tin cậy của thông tin
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Trang 32lượng trên báo chí đáng
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
3.2.1.6 Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
Hung – Yi Lu và cộng sự (2010) đo lường ý định hạn chế bằng nhiều câu nhận định nhằm khẳng định tính nhất quán và độ tin cậy của biến phụ thuộc này Ngoài các yếu tố ảnh hưởng của bản thân đến gia đình, mối quan hệ xã hội khác như thầy cô, bạn
bè cũng cần được chú trọng Vì vậy, tác giả đề xuất tác động đến mối quan hệ này vào thang đo Ý định hạn chế Sau khi hiệu chỉnh và bổ sung, thang đo đề xuất này được trình bày ở bảng 3.6
Như vậy, thang đo Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc (ký hiệu là I) được đo lường bằng bốn biến quan sát, ký hiệu từ I1 đến I4 Các biến quan sát này được đo lường bằng thang đo Liker bảy mức độ từ “hoàn toàn không đồng ý” đến
“hoàn toàn đồng ý”
Bảng 3.6 Thang đo Ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc
I1
Từ đây về sau, tôi sẽ hạn
chế tiêu dùng trái cây Trung
Quốc
I intend to avoid consuming food containing dairy products
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
Trang 33I2
Từ đây về sau, tôi sẽ đề
nghị gia đình hạn chế tiêu
dùng trái cây Trung Quốc
I will suggest that my family members not consume food containing dairy products
Hung – Yi
Lu và cộng sự (2010)
I3
Từ đây về sau, tôi sẽ đề
nghị thầy cô hạn chế tiêu
dùng trái cây Trung Quốc
Đề xuất của tác giả
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
Các thang đo được xây dựng và phát triển từ cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Các thang đo này được sử dụng trong các nghiên cứu được công bố trước đó Vì vậy, trước khi hình thành thang đo chính thức cho mục tiêu nghiên cứu, các cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện nhằm khẳng định các đối tượng được phỏng vấn hiểu
rõ được nội dung các khái niệm và ý nghĩa của từ ngữ Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu là thang đo Likert với 7 mức độ phổ biến như sau: Hoàn toàn không đồng ý; Không đồng ý; Hơi không đồng ý; Không ý kiến; Hơi đồng ý; Đồng ý; Hoàn toàn đồng ý Việc sử dụng thang đo này trong nghiên cứu kinh tế xã hội vì các vấn đề trong kinh tế xã hội đều mang tính đa khía cạnh
3.2.2 Bảng hỏi điều tra
Bảng hỏi điều tra được thực hiện qua 2 bước Đầu tiên, dựa trên cơ sở lý thuyết và nhu cầu cần nghiên cứu, bảng hỏi sơ bộ được hình thành Trong quá trình khảo sát sơ bộ, tác giả có tổng hợp và đúc kết những ý kiến đóng góp của những người được khảo sát
về lời lẽ, độ rõ ràng và bố cục của bảng câu hỏi Bảng hỏi sơ bộ và toàn bộ ý kiến đóng góp được trình bày ở phụ lục 1 và 2
Trên cơ sở điều chỉnh bảng hỏi sơ bộ, bảng hỏi chính thức được hình thành và trình bày ở phụ lục 3
3.3 Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu
Tổng thể nghiên cứu: Tổng thể nghiên cứu là người tiêu dùng trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh với phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất
Trang 34Kích thước mẫu: Kích cỡ mẫu bao nhiêu phụ thuộc vào kỳ vọng về độ tin cậy và
phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp ước lượng được sử dụng, số tham số cần ước lượng và quy luật phân phối của các lựa chọn (trả lời) của đáp viên Cụ thể, theo Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) cho biết kích cỡ mẫu phải tối thiểu gấp 5 lần
số biến quan sát Trong nghiên cứu về ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có tổng số 20 biến quan sát,
do vậy kích cỡ mẫu cần thiết là 20* 5 = 100 mẫu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính Mô hình nghiên cứu có 5 biến nghiên cứu độc lập Theo Tabachnick và Fidell (1996) cho biết kích cỡ mẫu được tính bằng công thức 50 + 8 * số biến độc lập Trong nghiên cứu về ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, có tổng số 5 biến độc lập nên kích cỡ mẫu là 50 + 8 * 5 = 90 mẫu Tuy nhiên, nghiên cứu này cần phân tích khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc theo các đặc điểm cá nhân (biến định tính) vì thế cần đảm bảo cỡ mẫu đủ lớn Do vậy tác giả sẽ lựa chọn kích cỡ mẫu gấp 2-3 lần kích cỡ mẫu tối thiểu xác định theo số biến quan sát trên đây Như vậy, kích cỡ mẫu sử
dụng trong nghiên cứu là 300 mẫu
Cách lấy mẫu: Việc khảo sát được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn người
tiêu dùng bằng bảng câu hỏi chi tiết Bảng câu hỏi được gửi đến người được khảo sát dưới hai hình thức là phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu khảo sát giấy hay thông qua đường dẫn trên mạng internet
Đối với cách thức thứ nhất, tác giả trực tiếp phỏng vấn và giải thích thắc mắc cho người được khảo sát, người được khảo sát điền vào phiếu, sau 30 phút tác giả thu lại Tuy nhiên, cách này mang tính ràng buộc không cao vì nếu người được khảo sát không trả lời một câu hỏi nào đó thì phiếu đó coi như không hợp lệ
Đối với cách thức thứ hai, mang tính thuận tiện cao hơn vì người được khảo sát không bị giới hạn về thời gian khảo sát và công cụ trên internet ràng buộc là tất cả các câu hỏi đều phải được trả lời thì kết quả khảo sát mới được chấp nhận
Trang 35Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp phát bảng câu hỏi trực tiếp và gửi qua email Việc phát bảng câu hỏi trực tiếp được thực hiện tại một số công ty (dành cho đối tượng nhân viên văn phòng), nhà văn hóa thanh niên và một số trường đại học như Bách Khoa, Kinh tế, Sư phạm Kỹ thuật
Đồng thời, bảng câu hỏi được thiết kế trên trang web Google docs tại địa chỉ
https://docs.google.com/forms/d/1iEAllaxVi5MsO9g3rnYv_RLBeKPF0_Xa5CffVvTFUv0/viewform và được đính kèm trong email gửi cho từng đối tượng khảo sát
3.4 Thông tin về mẫu
Có 100 mẫu khảo sát và 200 email được gửi đi Trong quá trình khảo sát, một số khảo sát có kết quả được trả lời giống nhau từ đầu đến cuối, hoặc bỏ trống nhiều câu hỏi Tất cả các mẫu khảo sát trên đều bị loại bỏ trước khi đưa vào SPSS Trong 300 mẫu được gửi đi, có 225 phiếu hợp lệ, chiếm tỷ lệ 75% Toàn bộ mẫu hợp lệ sẽ được xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 để tiến hành các bước phân tích tương quan, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu
3.5.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Công cụ phân tích đầu tiên mà tác giả muốn sử dụng là hệ số Cronbach’s Alpha để loại bỏ các biến có độ tin cậy của thang đo thấp vì những biến này có thể tạo ra các yếu
tố giả (Thọ & Trang, 2009) Các tiêu chí thống kê được sử dụng trong phân tích này bao gồm: Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0.3 và giá trị Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0.6 (Nunally & Burnstein, 1994) Cụ thể: Cronbach’s Alpha > 0.8 thì độ tin cậy của thang đo là tốt, từ 0.7 đến 0.8 thì độ tin cậy của thang đo
sử dụng được, từ 0.6 đến 0.7 là có thể sử dụng được trong các nghiên cứu mới
Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định sử dụng tiêu chuẩn Cronbach’s Alpha bằng hoặc cao hơn 0.7 và các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại bỏ
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích nhân tố khám phá sẽ trả lời câu hỏi liệu các biến quan sát dùng để xem xét sự tác động của các yếu tố thành phần đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung
Trang 36Quốc có độ kết dính cao không và chúng có thể rút gọn lại thành một số yếu tố ít hơn
để xem xét hay không Các tham số thống kê trong phân tích EFA như sau:
Đánh giá chỉ số Kaiser – Mayer – Olkim (KMO) để xem xét sự thích hợp của
phân tích nhân tố khám phá Nếu KMO nằm trong khoảng từ 0.5 đến 1 thì phân tích
nhân tố khám phá sẽ phù hợp (Nam, 2009)
Kiểm định Bartlett xem xét giả thuyết H0: Độ tương quan giữa các biến số
quan sát bằng 0 Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (sig <0.05) thì các biến có
tương quan với nhau trong tổng thể (Ngọc, 2008)
Các hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ tiếp tục bị
loại để đảm bảo sự hội tụ giữa các biến (Geibing & Anderson, 1988) Phương pháp
trích hệ số sử dụng là Principal Components và điểm dừng khi trích các yếu tố có
eigenvalue lớn hơn 1, tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%
Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định sử dụng tiêu chuẩn sau để thực hiện
phân tích nhân tố khám phá:
KMO nằm trong khoảng từ 0.5 đến 1
Kiểm định Barlett có ý nghĩa thống kê (sig <0.05)
Giữ lại các biến có hệ số tải nhân tố (factor loading) > 0.5 và điểm dừng khi
trích các yếu tố có eigenvalue lớn hơn 1, tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%
3.5.3 Phân tích hệ số tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính
Phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng để kiểm định mối tương quan tuyến tính
giữa các biến trong mô hình: giữa các biến độc lập với nhau và giữa biến phụ thuộc và
biến độc lập
Tác giả xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau để đảm bảo đa
công tuyến không xảy ra đảm bảo mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng được Trọng & Ngọc (2005) cho biết đa cộng tuyến có thể được kiểm định thông qua hệ số
phóng đại phương sai (VIF) và VIF >10 thì sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến
Sau khi phân tích tương quan giữa các biến sử dụng, tác giả sẽ thực hiện các kỹ
thuật hồi quy dựa trên ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) với điều kiện là phân
phối chuẩn được đảm bảo Kết quả của hồi quy tuyến tính là tác giả có thể kiểm định
Trang 37được các giả thuyết đã nêu ra trong Chương 2 Bên cạnh đó, hệ số góc thu được trong phương trình hồi quy tuyến tính sẽ đại diện cho mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc Trong trường hợp các biến sử dụng cùng một thang đo định danh có giá trị từ 1 đến 7, thì hệ số góc càng lớn thì biến độc lập càng có ảnh hưởng mạnh đến biến phụ thuộc hơn so với các biến độc lập khác
Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định sử dụng tiêu chuẩn sau trong phân tích
hệ số tương quan và hồi quy tuyến tính:
Hệ số R2 hiệu chỉnh, do R2 hiệu chỉnh có khuynh hướng là một ước lượng lạc quan của thước đo sự phù hợp của mô hình đối với dữ liệu trong trường hợp có hơn 1 biến giải thích trong mô hình
Kiểm định F để xem xét mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính tổng thể
Đánh giá mức độ tác động (mạnh/yếu) giữa các biến độc lập đến biến phụ thuộc thông qua hệ số Beta
Cuối cùng, nhằm đánh giá độ tin cậy của phương trình hồi quy được xây dựng cuối cùng là phù hợp, một loạt các dò tìm vi phạm của giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính được thực hiện Các giả định được kiểm định bao gồm giả định về liên
hệ tuyến tính giữa các biến độc lập, tính độc lập của phần dư và hiện tượng đa cộng tuyến
3.5.4 Phân tích sự khác biệt về xu hướng sử dụng theo thuộc tính người sử dụng bằng T – Test và ANOVA
Sau khi có kết quả phân tích hồi quy tuyến tính, tác giả sẽ tiến hành phân tích sự khác biệt về ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo các thông tin về thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, bao gồm: nhóm tuổi, giới tính, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp Mục đích của phân tích này nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho những nhà kinh doanh, nhà phân phối có chiến lược hiệu quả hơn đối với ngành hàng này
Tóm lại, chương 3 đã trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Theo đó, bảng
câu hỏi sơ bộ được xây dựng từ cơ sở lý thuyết và được điều chỉnh thông qua khảo sát sơ
Trang 38bộ Việc khảo sát chính thức được thực hiện bằng phương pháp phát bảng câu hỏi trực tiếp và gửi qua email Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS theo quy trình, bắt đầu từ phân tích độ tin cậy và phân tích nhân tố để rút ra các nhân tố phù hợp cho phân tích hồi quy
Sau khi thực hiện các kiểm định các giả thuyết mô hình cấu trúc và độ phù hợp của mô hình tổng thể, kết quả phân tích hồi quy sẽ trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của
đề tài “Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định hạn chế tiêu dùng trái cây Trung Quốc của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này như thế nào và có sự khác biệt về yếu tố nhân khẩu học hay không?”
Trang 39Chương 4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Từ kết quả của dữ liệu được thu thập như thiết kế ở Chương 3, Chương 4 sẽ lần lượt thực hiện các phân tích, gồm có phân tích tương quan, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích mô hình hồi quy và cuối cùng là kiểm định các giả thuyết của
mô hình nghiên cứu đã được trình bày ở hình 2.7
4.1 Mô tả mẫu khảo sát
Phân tích thống kê mô tả và tần suất về đặc trưng của đối tượng khảo sát được trình bày như trong bảng 4.1
Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu
Trang 404.2 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha
Bảng 4.2 Kết quả hệ số Cronbach Alpha Biến
quan sát
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến tổng
Cronbach Alpha nếu loại biến
Chuẩn chủ quan: Cronbach Alpha = 0.943