1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

135 371 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy định hướng kinh doanh, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM nói chung và của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TPHCM nói riêng đã có phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS BÙI KIM YẾN

TP Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt trên địa bàn TPHCM” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Kim Yến Tôi xin cam đoan bản luận văn nay hoàn toàn là do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn được thu thập từ nguồn thực tế và các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ theo hướng dẫn trong phạm vi hiểu biết của tác giả

TP.HCM, ngày 10 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Hoàng Nhật Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục từ viết tắt vi

Danh mục các bảng biểu vii

Danh mục các biểu đồ, phụ lục viii

LỜI MỞ ĐẦU Cơ sở hình thành đề tài ix

Mục tiêu của đề tài x

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu x

Phương pháp nghiên cứu xi

Cấu trúc của luận văn xi

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHTM 1.1.1 Rủi ro tín dụng 1

1.1.1.1 Khái niệm 1

1.1.1.2 Phân loại 1

1.1.1.3 Đặc điểm 2

1.1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động của hệ thống NHTM 3

1.1.2 Nợ quá hạn và nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM 4

1.1.2.1 Khái niệm nợ quá hạn & nợ xấu trên thế giới 4

1.1.2.2 Trường hợp của Việt Nam 5

1.1.2.3 Điểm khác nhau trong phân loại nợ (quan điểm về nợ xấu) của Việt Nam và trên thế giới 6

1.1.2.4 Ảnh hưởng của nợ xấu đến ngân hàng thương mại & nền kinh tế của Việt Nam 8

1.1.2.5 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu tại các NHTM 10

Trang 5

1.2 Xử lý nợ xấu của NHTM 18

1.2.1 Khái niệm 18

1.2.2 Các biện pháp xử lý nợ xấu 18

1.2.3 Quy trình xử lý nợ xấu 21

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá công tác xử lý nợ xấu 21

1.2.5 Ý nghĩa công tác xử lý nợ xấu 21

1.2.5.1 Đối với NHTM 21

1.2.5.2 Đối với khách hàng 22

1.2.5.3 Đối với nền kinh tế 23

1.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 23

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 25

1.3.3 Kinh nghiệm của Hungary 26

1.3.4 Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xử lý nợ xấu 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Bảo Việt 31

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31

2.1.2 Những kết quả đạt được trong giai đoạn từ năm 2009-2012 31

2.2 Thực trạng nợ xấu và nguyên nhân nợ xấu của hệ thống Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại khu vực TPHCM 33

2.2.1 Thực trạng nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TPHCM 33

2.2.2 Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việttại

TPHCM 41

2.2.2.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn 41

Trang 6

2.2.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 44

2.3 Thực trạng xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TPHCM 47

2.4 Khảo sát thực tế các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý nợ xấu 54

2.5 Đánh giá công tác xử lý nợ xấu của hệ thống Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại khu vực TPHCM 55

2.5.1 Chính sách xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt 55

2.5.2 Khung pháp lý xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt 57

2.5.3 Quy trình xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt 57

2.5.4 Kết quả xử lý nợ xấu 59

2.5.5 Đánh giá công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt 63

2.6 Những hạn chế tồn tại trong công tác xử lý nợ xấu & nguyên nhân tồn tại 65

2.6.1 Những hạn chế tồn tại 65

2.6.2 Nguyên nhân tồn tại 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP - KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Bảo Việt đến năm 2020 72

3.1.1 Định hướng phát triển chung 72

3.1.2 Định hướng hoạt động kinh doanh 72

3.1.3 Định hướng trong công tác quản lý rủi ro tín dụng & xử lý nợ xấu 73

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt trên địa bàn TPHCM 74

3.3 Một số ý kiến đề xuất - kiến nghị 80

3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Bảo Việt Hội Sở Chính 80

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 87

3.3.3 Kiến nghị đối với Chính phủ, cơ quan, ban ngành liên quan 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

Trang 7

KẾT LUẬN CHUNG 101

Tài liệu tham khảo xii

Phụ lục 01 xv

Phụ lục 02 xix

Phụ lục 03 xxiii

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AMC : Công ty Quản lý & khai thác tài sản BaoVietBank : Ngân hàng TMCP Bảo Việt

BIS : Ngân hàng thanh toán quốc tế

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

Trang 9

Bảo Việt Bảng 2.2 : Tình hình dư nợ và nợ xấu của các Doanh nghiệp tại BaoVietBank

khu vực TPHCM Bảng 2.3 : Phân loại nợ quá hạn có TSĐB

Bảng 2.4 : Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế năm 2012

Bảng 2.5 : Xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TPHCM

Bảng 2.6 : Phân loại nợ quá hạn của BaoVietBank tại TPHCM

Bảng 2.7 : Dư nợ xấu được cơ cấu của BaoVietBank tại TPHCM

Bảng 2.8 : Dư nợ xử lý, phát mãi TSĐB

Bảng 2.9 : Xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro

Bảng 2.10 : Xử lý nợ xấu bằng trình miễn/giảm lãi

Bảng 2.11 : Kết quả thu hồi nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại

TPHCM (Năm 2009-2012) Bảng 2.12 : Đề xuất các giải pháp xử lý nợ quá hạn từ nhóm 2 đến nhóm 5

Trang 10

DANH MỤC HÌNH - BIỂU ĐỒ - PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 : Phân lọai rủi ro tín dụng Ngân hàng

Hình 1.2 : Nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua các năm

Hình 1.3 : Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu

Hình 3.1 : Trình tự xử lý nợ xấu tại NHTM thông qua AMC

Hình 3.2 : Kỳ vọng số tiền nợ xấu VAMC sẽ xử lý

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng và GDP giai đoạn 2005 đến 2012 Biểu đồ 2.1 : Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế năm 2012

Biểu đồ 2.2 : Cơ cấu nợ xấu của BaovietBank khu vực TPHCM

Biểu đồ 2.3 : Kết quả thu hồi nợ xấu của hệ thống Ngân hàng TMCP Bảo

Việt tại TPHCM (Năm 2009-2012)

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 01 : Bảng câu hỏi khảo sát

Phụ lục 02 : Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích

lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi

ro trong hoạt động của các TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Phụ lục 03 : Điều tra khảo sát và kết quả

Trang 11

Khi tín dụng thắt chặt để phục vụ cho mục tiêu kìm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, cộng với sự tụt dốc của kinh tế thế giới, thì chu trình vận động của dòng tiền trong nền kinh tế sẽ xảy ra những hệ lụy Sự dồn ứ của những khoản vay trước đây là điều dễ nhận thấy, áp lực trả nợ cộng lãi suất càng làm cho các khoản

nợ này phình to, nghĩa là nợ xấu cũng ngày càng gia tăng

Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang trải qua thời kỳ khó khăn và nhiều thách thức Một trong những vấn đề có tính trọng tâm hiện nay là làm thế nào để hạn chế, quản lý & xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là một đề tài mà các nhà quản trị ngân hàng đã và đang nghiên cứu nhằm hoàn thiện trong điều kiện mới Hiện nay, tính đến cuối 2012, theo các thông tin chính thống, nợ xấu ở mức 8,6-10%, tức là khoảng 10-11% GDP của Việt Nam Đây là con số chưa ở mức báo động nhưng tương đối đáng quan ngại Do đó, việc tìm ra được những nguyên nhân & các giải pháp phù hợp để xử lý lượng nợ xấu trên

là rất cần thiết nhằm lành mạnh hóa hoạt động của hệ thống NHTM, điều tiết các hoạt động tín dụng nhằm đảm bảo được nợ xấu ở mức trung bình ngành Đảm bảo

Trang 12

một tiền đề vững chắc cho sự phát triển đúng định hướng, có mục tiêu và an toàn, hiệu quả lâu dài

Vậy định hướng kinh doanh, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM nói chung và của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TPHCM nói riêng đã có phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ và định huớng của NHNN hay chưa ? Bên cạnh đó việc hạn chế và công tác xử lý nợ xấu của Ngân hàng có đáp ứng được mục tiêu cũng như kỳ vọng ban đầu đặt ra hay không ? các yếu tố nào là nguyên nhân và ảnh hưởng trực tiếp phát sinh nợ xấu của Ngân hàng ? Thời gian qua Ngân hàng Bảo Việt đã xử lý nợ xấu như thế nào, kết quả ra sao, những mặt đã đạt được

và những mặt còn tồn tại

Trước những đòi hỏi cấp thiết của mục tiêu giải quyết & hạn chế nợ xấu của

hệ thống ngân hàng trong tình hình hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về công tác xử lý nợ xấu của NHTM Trên cơ

sở đó luận văn tập trung phân tích thực trạng công tác xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại TP Hồ Chí Minh từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Công tác xử lý nợ xấu của Ngân hàng

TMCP Bảo Việttại TP Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu tìm các giải pháp hạn chế

và xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại khu vực TP Hồ Chí Minh Phạm

vi không gian: Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại khu vực TP Hồ Chí Minh Phạm vi thời gian: đề tài được tiến hành từ tháng 12/2012, dữ liệu nghiên cứu trong 03 năm

từ năm 2009 đến năm 2012

Trang 13

 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

Sử dụng kết hợp các phương pháp định tính (phân tích, thống kê, so sánh…)

và thống kê mô tả khảo sát các nhân viên ngân hàng Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị mang tính thực tiễn, khả thi

 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm ba chương chính :

• Chương 1: Tổng quan về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại

• Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt

trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

• Chương 3: Giải pháp - kiến nghị hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân

hàng TMCP Bảo Việt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHTM : 1.1.1 Rủi ro tín dụng :

1.1.1.1 Khái niệm :

Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Theo định nghĩa Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN

thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra với nợ của

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết

Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những tổn thất tài chính, tức giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn

1.1.1.2 Phân loại :

Hình 1.1 : Phân lọai rủi ro tín dụng Ngân hàng

- Rủi ro giao dịch : là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là

do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm ba loại rủi ro chính phát sinh như rủi ro lựa chọn, rủi

ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ

Trang 15

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan tới quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng thẩm định những phương án hiệu quả để quyết định đầu tư cho vay

+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ những tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị TSĐB

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh

là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia làm

02 lọai là rủi ro nội tại & rủi ro tập trung

+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

1.1.1.3 Đặc điểm :

Để có thể chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng một cách hiệu quả ta có thể dựa vào đặc điểm của rủi ro tín dụng cụ thể như sau :

- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp : trong hoạt động tín dụng ngân hàng chuyển

giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất hay hoạt động kinh doanh thất bại trong quá trình sử dụng vốn là nguyên nhân chính yếu gây nên rủi ro tín dụng ngân hàng Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên thường ngân hàng rơi vào thế bị động, ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khó khăn thất bại của khách hàng và do đó thường có những ứng phó chậm trễ

Trang 16

- Rủi ro tín dụng có tính đa dạng & phức tạp : biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp

của nguyên nhân, hình thức, kết quả của rủi ro tín dụng do đặc tính của họat động tài chính kinh doanh tiền tệ Vì vậy khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải xem xét và chú ý đến các đặc điểm, dấu hiệu rủi ro, nguyên nhân xuất phát, bản chất của rủi ro tín dụng mà có biện pháp xử lý và phòng ngừa thích hợp

- Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu và gắn liền với hoạt động kinh doanh NHTM :

hiện tượng thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng vì ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ Hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro tuy nhiên tùy mức độ tương ứng sẽ đạt được những mức lợi nhuận phù hợp

1.1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động của hệ thống NHTM :

 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của NHTM :

Khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng đồng thời ngân hàng phải trả lãi và vốn gốc cho khoản tiền huy động đến hạn Việc này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho Ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, lợi nhuận bị ảnh hưởngthậm chí trường hợp xấu hơn có thể dẫn đến phá sản

Các NHTM trong nước có liên quan với nhau và là chuỗi mắc xích trong hệ thống NHTM Việt Nam có liên quan đến các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân trong nền kinh tế Do đó nếu một ngân hàng hoạt động kinh doanh xấu thậm chí bị mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu NHNN và Chính phủ không can thiệp kịp thời thì tác động tâm lý mất khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị lan truyền

và khách hàng sẽ rút tiền hàng loạt tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình cũng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán tạm thời

 Rủi ro tín dụng suy giảm uy tín của NHTM :

Ngoài ra hậu quả của rủi ro tín dụng sẽ làm giảm uy tín của NHTM đặc biệt là trong giai đoạn phát triển và cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM hiện nay Hoạt động

Trang 17

ngân hàng luôn đặt chữ tín lên hàng đầu nhằm thu hút khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp và gửi tiền, hạn chế tối đa các thông tin xấu hoặc không tốt trên các phương tiện thông tin báo đài Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ lớn, hoặc nằm trong diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng sẽ

bị giảm sút nghiêm trọng Khi đó họ sẽ mất các khách hàng không còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đó nữa cũng như sẽ rút tiền gửi khỏi ngân hàng

 Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận kinh doanh của NHTM :

Theo quy định của NHNN, đối với các khoản nợ xấu các ngân hàng đều phải trích lập dự phòng, tỷ lệ trích dự phòng tùy mức độ nợ xấu và tài sản đảm bảo Vì vậy, tất cả các khoản nợ xấu và tài sản đảm bảo có độ rủi ro cao sẽ bị buộc phải trích

dự phòng rủi ro cao hơn Đồng thời số tiền trích dự phòng càng lớn thì càng ảnh hưởng tăng chi phí và giảm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng

 Ngoài ra rủi ro tín dụng còn dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng, vỡ nợ tín dụng

1.1.2 Nợ quá hạn và nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM :

1.1.2.1 Khái niệm nợ quá hạn & nợ xấu trên thế giới:

- Khi đánh giá về chất lượng tín dụng, chất lượng tài sản Có; lý thuyết về kinh doanh ngân hàng thường đưa ra các khái niệm về nợ quá hạn như: nợ xấu (bad debt), nợ quá hạn (non-performing loan), nợ có vấn đề (doubtful debt) Trong đó nợ xấu (bad debt) là các khoản nợ hầu như không có khả năng thanh toán và bắt buộc phải xử lý bằng bút toán xóa nợ (Write off)

- Theo định nghĩa chính thức của Quỹ Tiền tệ Quốc Tế IMF “Một khoản nợ

được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền lãi và tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; hoặc tại thời điểm ít nhất 90 ngày của khoản thanh toán lãi đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”

- Theo định nghĩa của Phòng Thống Kê - Liên Hợp Quốc “Về cơ bản một

khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả

Trang 18

theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng

có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên

90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới

1.1.2.2 Trường hợp của Việt Nam:

- Ở Việt Nam, do đặc điểm mang tính lịch sử, quá trình phát sinh các khoản nợ

quá hạn, nợ xấu gắn liền phần lớn với các khoản vay mang tính chỉ định của Chính Phủ; các khoản nợ cho vay DNNN Trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam theo cơ chế thị trường, việc xử lý các khoản nợ mang tính “tài trợ”, “thực hiện chính sách Nhà nước” như: cho vay thanh toán công nợ, cho vay bảo lãnh các DNNN, cho vay hỗ trợ lũ lụt, đánh bắt xa bờ…đã làm xuất hiện các khái niệm : nợ đọng, nợ khoanh, nợ chờ xử lý…Vì lẽ đó, trong quá trình đổi mới ngân hàng, nhiều khái niệm nợ xấu thể hiện trong một số tài liệu trước đây chưa có tính thống nhất cao Tuy nhiên theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của NHNN, các khái niệm về nợ quá hạn, nợ xấu có thể được hiểu như sau:

+ Nợ quá hạn: là khoản nợ mà “Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu KH

không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì TCTD chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn”theo Điều 13 của “ Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng” (ban

hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001

+ Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày

22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).”

Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời theo Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp

Trang 19

Như vậy nợ xấu cũng được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày

và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)

1.1.2.3 Điểm khác nhau trong phân loại nợ (quan điểm về nợ xấu) ở Việt Nam

và trên thế giới:

Có sự khác biệt rõ ràng giữa con số về quy mô nợ xấu của Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hoặc các ngân hàng thương mại Việt Nam công bố và với cũng con số đó nhưng là của các tổ chức nước ngoài công bố Sự khác biệt lớn này

là do việc phân loại nợ xấu ở Việt Nam của NHNN và/hoặc các ngân hàng thương mại dựa vào Tiêu chuẩn Kế toán Việt Nam (VAS) trong khi các tổ chức quốc tế sử dụng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS) để phân loại nợ xấu của hệ thống các ngân hàng Việt Nam

 Phân loại nợ xấu trên thế giới:

Trên thực tế không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào dùng để phân loại nợ xấu Tuy nhiên theo quan điểm quốc tế nợ xấu được phân loại như sau:

Bảng 1.1: Ngân hàng thế giới đã tiến hành phân loại Nợ theo bảng sau

Đạt tiêu chuẩn

- Không nghi ngờ về khả năng trả nợ

- Tài sản đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương

- Quá hạn dưới 90 ngày

Cần theo dõi

- Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ

- Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn

- Quá hạn dưới 90 ngày

Trang 20

hiện tại

- Có khả năng thất thoát

- Quá hạn từ 180 đến 360 ngày

Mất vốn

- Các khoản vay không thu hồi được

- Luôn có khả năng thu hồi lại một phần

- Quá hạn hơn 360 ngày

(Nguồn: The Bank Credit Analysis Handbook, author Jonathan Golin)

 Phân loại nợ xấu ở Việt Nam:

Hiện nay việc phân loại nợ của các NHTM Việt Nam chuẩn bị được thực hiện theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 01.06.2014 quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro

và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của các TCTD Điểm mới của thông tư này so với Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN là tất cả các

tổ chức tín dụng ngoài việc phải phân loại nợ theo 5 nhóm như cũ, còn phải kèm theo các tiêu chí chặt chẽ hơn Đặc biệt nhiều khoản cấp tín dụng dưới các hình thức như ủy thác đầu tư, cho vay hợp vốn, mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết phải trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro

 Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng:

Chi tiết theo Phụ lục 02

 Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính:

Chi tiết theo Phụ lục 02

Mặc dù cả 2 phương pháp định tính và định lượng đều đã được NHNN quy định rõ trong Thông tư 02 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, nhưng hiện tại chưa có nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng cả 2 phương pháp này Một lý do, để áp dụng được phương pháp định tính thì các ngân hàng thương mại phải xây dựng được hệ thống đánh giá tín nhiệm nội bộ vốn không dễ thực hiện Lý do khác là vì Thông tư 02 không có các hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng phương pháp định tính Nhưng lý do lớn nhất là do nếu áp

Trang 21

dụng cả 2 phương pháp này đồng thời thì tỷ lệ nợ xấu sẽ tăng vọt, là điều không mấy ngân hàng thương mại nào mong muốn

1.1.2.4 Ảnh hưởng của nợ xấu đến ngân hàng thương mại và nền kinh tế Việt Nam:

Xét dưới góc độ quản trị ngân hàng, ảnh hưởng của nợ xấu phản ánh ở các phương diện:

Thứ nhất: Nợ xấu phát sinh làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng khả năng thanh toán ngân hàng, cụ thể:

- Chi phí tăng cao ngoài dự kiến, thậm chí có thể dẫn đến thua lỗ, ngay cả khi khoản vay đó chưa được sắp xếp vào loại nợ khê đọng

- Lợi nhuận thu được nằm ngoài dự kiến, tức là khoản vay đó vẫn thu đủ gốc, chi phí không tăng, nhưng lãi thu được thấp hơn nhiều theo tính toán khi ký hợp đồng tín dụng

- Hoạt động chính của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi Trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả đầy

đủ và đúng hạn các khoản tiền gửi & huy động Sự mất cân đối trên đến một mức nào đó tất yếu sẽ dẫn tới ngân hàng mất khả năng thanh toán

Thứ hai: Việc giải quyết nợ xấu chậm sẽ dẫn đến tình trạng các bảng cân đối

kế toán của các ngân hàng vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thể cho vay và các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của đất nước trong những năm tiếp theo

Thứ ba: Nợ xấu phát sinh làm hạn chế khả năng phát triển các hoạt động kinh doanh, hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng như làm giảm uy tín của ngân

hàng trên thị trường tiền tệ trong mối quan hệ với các TCTD khác trong và ngoài nước Điều này thể hiện trên các mặt:

- Nợ xấu tác động trực tiếp làm giảm thu nhập và tích lũy của ngân hàng Kết quả

là khả năng tài chính bị suy yếu, làm ảnh hưởng đến quá trình mở rộng và phát triển

Trang 22

dịch vụ Đặc biệt là hạn chế đổi mới và ứng dụng công nghệ hiện đại trong kinh doanh do đó làm giảm khả năng cạnh tranh của chính ngân hàng Đây là tác động ảnh hưởng rất lớn đến các TCTD trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay

- Nếu tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu quá cao gấp 2-4 lần giới hạn an toàn của quốc tế, TCTD không thể thực hiện đúng các cam kết mở LC, uy tín của hệ thống NHTM trên thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế sẽ giảm sút nghiêm trọng

Thứ tư: Nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của Ngân hàng, làm tăng chi phí, thu hẹp hoạt động tín dụng

- Nguồn vốn để cho vay của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động từ dân cư, từ các

tổ chức kinh tế Chính vì đó, phát sinh nợ xấu, nợ quá hạn đồng nghĩa với việc một

số khoản vay không thu hồi được đúng hạn để có điều kiện thanh toán tiền gửi của khách hàng Từ đó, bắt đầu phát sinh sự không khớp nhau giữa quá trình huy động

và cho vay Một bộ phận vốn sẽ không được sử dụng hiệu quả trong khi đó ngân hàng vẫn phải tiếp tục trả lãi cho các khoản tiền gửi Tác động này ảnh hưởng bản chất và cơ bản nhất của nợ xấu đối với hoạt động ngân hàng và có tính lan tỏa cao, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng

Thứ năm: TCTD có tỷ lệ nợ xấu cao, thu nhập sẽ giảm sút kéo theo giảm phần nộp ngân sách, hạn chế tích lũy đầu tư để hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và đầu tư đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, chuyên viên ngân hàng Ngân hàng mất vốn phải khoanh nợ, giãn nợ thậm chí là xóa nợ Khi thực

hiện điều này ngoài một phần ngân sách cấp bù thì phần chủ yếu là do các ngân hàng sử dụng nguồn vốn từ trích lập dự phòng rủi ro, làm giảm thu nhập giảm lương Từ đó tiếp tục bị cuốn vào vòng lẩn quẩn: cán bộ nghỉ việc nhiều, thiếu cán

bộ có đủ năng lực (mà nguồn nhân lực chất lượng cao là rất quan trọng đối với hệ thống ngân hàng), kết quả kinh doanh không ổn định, hoạt động ngày càng trì trệ đi xuống

Thứ sáu: Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và

vô hình đối với xử lý nợ xấu càng lớn Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm cố

tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất

Trang 23

dần, nếu nợ xấu được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế Về mặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽ khó mà duy trì được mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư

Tóm lại: Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

kém hiệu quả, sẽ tác động dần và tích lũy ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, vì ngân hàng là trung gian luân chuyển vốn, mạch máu lưu thông chính của nền kinh

tế Ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh đình trệ

1.1.2.5 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu tại các NHTM :

Có nhiều nguyên nhân gây ra nợ xấu và của hệ thống NHTM Việt Nam, trong

đó có một số nguyên nhân mang tính lịch sử lâu dài Nợ xấu của hệ thống NHTM nước ta đã để tồn đọng quá lâu, nợ xấu cũ chưa được xử lý dứt điểm đã xuất hiện nợ xấu mới chồng chất và có thể chia ra làm 02 nhóm nguyên nhân lớn gây ra nợ xấu như sau :

 Nguyên nhân khách quan :

Hình 1.2: Nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua các năm

Nhóm các nguyên nhân khách quan bao gồm : Loại nguyên nhân bất khả kháng và những nguyên nhân do cơ chế chính sách của Nhà nước thay đổi Có thể

Trang 24

nêu một số nguyên nhân chính như sau :

-Những nguyên nhân bất khả kháng như : thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch

bệnh Đây là những nguyên nhân gây ra nợ xấu vượt ngoài tầm kiểm soát và mong

muốn của cả bản thân hệ thống NHTM và cả bản thân cá con nợ bao gồm : Các DNNN, DNTN và các cá nhân Đây là nhóm nguyên nhân gây ra rủi ro không thể tránh được, những mất mát do nguyên nhân này gây ra cần được sự chia sẽ của Nhà nước, xã hội và các khoản nợ xấu này thường được đưa vào diện khoanh nợ, xóa nợ

- Nhóm nguyên nhân bất khả kháng của các khách nợ như : biến động thị trường,

thay đổi lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và

khu vực, nợ công và biến động chính trị và những nguyên nhân do thay đổi cơ chế chính sách kinh tế vĩ mô gây ra…tạo sức ép và những gánh nặng nợ không đáng có cho các con nợ Trong hoạt động thực tiễn, các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh như : thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, biến động giá cả sản phẩm, cạnh tranh không lành mạnh…nhiều doanh nghiệp phải tiến hành sắp xếp lại, sáp nhập, giải thể, phá sản…doanh nghiệp nhưng không còn khả năng trả nợ, hoặc không còn đối tượng để thu hồi nợ Rủi ro, mất mát do những nguyên nhân này gây ra cũng nằm ngoài ý chí và sự cố gắng của các con nợ cũng như các NHTM

Bên cạnh đó, chủ trương chính sách còn thiếu tính ổn định đặt hệ thống

ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro chính sách, nhất là các chính sách về lãi

suất, tỷ giá, vàng…Một thực tế thay vì dựa trên phán đoán các tín hiệu từ diễn biến

thị trường, thì trên thị trường tài chính Việt Nam các TCTD chủ yếu nhìn vào động thái chính sách để đưa ra các quyết định kinh doanh Các chính sách về tài chính tiền

tệ càng thắt chặt thì xu thế này càng biểu hiện rõ nét hơn Những năm qua, thị trường tài chính Việt Nam đang có những dấu hiệu cạnh tranh quá mức, thiếu lành mạnh khó kiểm soát bằng các công cụ kinh tế nên việc điều hành bằng các công cụ hành chính là rất cần thiết Tuy nhiên sự hạn chế căn bản của việc điều hành bằng các công cụ hành chính rất dễ gây sốc cho nền kinh tế nên cần phải xác định đúng điểm dừng để nhanh chóng chuyển sang điều hành thị trường tài chính bằng các công cụ

Trang 25

kinh tế

Ngoài ra nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài

chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao Những tác

động tiêu cực này khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng nợ xấu của các TCTD Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả

nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp

-Trong những năm trước đây và thực tiễn tồn tại trong hoạt động tín dụng của một số

các NHTM các hoạt động cho vay theo chỉ đạo, chỉ định của Chính Phủ, cho vay

theo kế hoạch của Nhà nước đã gây rủi ro và tổn thất không nhỏ cho các NHTM

đặc biệt là các NHTM Quốc doanh (cho vay thu mua nông sản bình ổn giá, cho vay giải phóng mặt bằng, theo các dự án đã được duyệt…)

 Nguyên nhân chủ quan :

Bảng 1.2: Nợ xấu tại các NHTM

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo NHNN)

Có nhiều nguyên nhân chủ quan gây ra nợ xấu, bao gồm cả chủ quan của người cho vay (ngân hàng) lẫn chủ quan của người đi vay Trong đó, một số nguyên nhân trọng yếu có thể kể đến như sau :

Trang 26

 Thứ nhất, bản thân môi trường pháp lý hoạt động kinh doanh của các NHTM

vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ nên đã có nhiều rủi ro cộng với nguồn lực tài chính nhỏ bé hạn hẹp nên không có nguồn bù đắp cho những mất mát, thất thoát lớn

Cơ chế quản lý và điều hành kinh doanh của các NHTM đang từng bước chuyển đổi theo cơ chế thị trường Tuy nhiên quyền chủ động & tự chủ tài chính của các NHTM cũng còn bị hạn chế, chưa tách bạch giữa tín dụng ưu đãi theo chính sách của Chính phủ một cách rạch ròi với tín dụng thương mại hoàn toàn theo cơ chế thị trường Đưa đến tình trạng trong quản lý, hạch toán, phân định trách nhiệm không công khai minh bạch

Lĩnh vực hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro cao, để giúp giảm thiểu rủi ro, đòi hỏi phải có sự hậu thuẫn của hệ thống pháp luật Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đề cho sự hoạt động lành mạnh an toàn của hệ thống ngân hàng Nhưng dù những năm qua, các văn bản pháp lý về hoạt động ngân hàng đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện, nhưng nhìn một cách tổng thể, hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động tín dụng chưa đồng bộ : Một số quy định đã được ban hành nhưng chưa được triển khai (về xiết nợ, phát mại TSĐB, về thế chấp, cầm cố, các quy định liên quan đến quyền về đất đai…) Mặt khác, hiệu lực thực thi các văn bản luật nói chung, trong đó đặc biệt là các văn bản luật về hoạt động ngân hàng chưa cao, điều này đã và đang tiếp tục gây ra những rủi ro tiềm ẩn rất cao đối với lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

 Thứ hai, do năng lực quản trị rủi ro tại các ngân hàng còn yếu kém, kiểm soát nội

bộ, hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống còn nhiều bất cập :

Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của TCTD mang tính chất chủ quan Các ngân hàng chưa xây dựng được thước đo lượng hóa rủi ro nên chưa tính toán chính xác được yếu tố này dẫn đến quyết định cho vay, phân loại nợ chưa chính xác Bên cạnh đó, về phía các doanh nghiệp đối tượng giải ngân vốn quan trọng của các TCTD, theo nghiên cứu hiện có đến 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không ít doanh nghiệp có báo cáo tài chính không chính xác, trong khi phần lớn

Trang 27

các báo cáo tài chính này lại không được kiểm toán Ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn được kiểm toán thì sự chậm chễ trong việc công bố báo cáo cũng như chất lượng kiểm toán cũng gây không ít khó khăn cho ngân hàng

Bên cạnh đó, việc phân tích đánh giá thực trạng tín dụng chưa được thực hiện triệt để, chưa xuất phát từ mục tiêu an toàn, hiệu quả, nên đã đầu tư cho vay các dự

án, đơn vị hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, không đủ điều kiện cho vay

Hoạt động thanh tra ngân hàng còn theo kiểu xử lý vụ việc phát sinh một cách thụ động, ít có khả năng ngăn chặn và phỏng ngừa rủi ro vi phạm Các quy định an toàn hoạt động ngân hàng (phân loại tài sản có, vốn và mức độ đủ vốn, trích lập dự phòng rủi ro, gia hạn nợ…) còn nhiều bất cập và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Trong một thời gian dài xuất hiện tình trạng thao túng ngân hàng cho vay ‘‘sân sau’’…nhưng không được phát hiện và xử lý kịp thời, làm môi trường kinh doanh ngân hàng bị méo mó, biến dạng, xói mòn dần hình ảnh tích cực của hệ thống ngân hàng đối với người dân Bản chất của hoạt động ngân hàng dựa trên uy tín, thương hiệu, nhưng thương hiệu bị xói mòn sẽ khiến hệ thống ngân hàng hoạt động khó khăn

 Thứ ba, do hạn chế về trình độ & đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân

hàng và khách hàng kém dẫn đến tình trạng thông đồng rút ruột ngân hàng :

Trình độ và kinh nghiệm của một số cán bộ ngân hàng còn nhiều bất cập trong công tác phân tích các thông tin kinh tế xã hội, phân tích đánh giá dự án cho vay còn nhiều chủ quan, chậm phát hiện các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, dẫn đến những sai lầm trong các quyết định cho vay, đưa đến chất lượng tín dụng kéo dài, phát sinh

nợ xấu

Bên cạnh đó Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa trên sự tin cậy

và mức độ tín nhiệm thì đạo đức phải được đặt lên hàng đầu và ở khía cạnh nào đó còn mang tính bắt buộc Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ ngân hàng đã thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy đã có chi nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên do cấu kết với nhau rút ruột ngân hàng Tuy nhiên hiện chưa có tính toán trong tỷ lệ nợ xấu có bao nhiêu xuất

Trang 28

 Thứ năm, thực tế trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng các khách hàng

doanh nghiệp vay quá nhiều trong khi cơ chế quản lý doanh nghiệp còn yếu kém

và bất cập :

Thống kê cho thấy, hầu hết các Doanh nghiệp Việt Nam có tỷ lệ vốn tự có thấp (chỉ đáp ứng được khoảng 20-30% vốn hoạt động) và để mở rộng hoạt động kinh doanh thì hầu hết phụ thuộc vào vốn tín dụng (chiếm từ 70-80% vốn kinh doanh của Doanh nghiệp) Sự lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay như vậy sẽ dẫn đến các hậu quả : (i) Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp hầu như phải trông chờ vào

‘‘lòng tốt’’ của các NHTM, bởi nếu như các NHTM tăng lãi suất tín dụng thì ngay lập tức chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao và năng lực cạnh tranh bị suy giảm Đối với các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì đây là một sự lệ thuộc quá nguy hiểm, bởi khi chi phí vốn tăng cao sẽ làm đội giá thành sản xuất và nguy cơ mất khả năng cạnh tranh và mất thị trường là khó tránh khỏi (kể cả thị trường trong nước bị thôn tính bởi các Doanh nghiệp FDI) ; (ii) Các Doanh nghiệp có xu hướng kinh doanh mạo hiểm Đây là một xu hướng tất yếu trong điều kiện đòn bẩy nợ tăng cao Thực tế là những năm qua hầu hết các khách hàng Doanh nghiệp đều chưa chú ý đúng mức đến cải thiện và cơ cấu vốn đầu tư, chưa quan tâm đúng mức tới đầu tư nhằm cải thiện hạ tầng công nghệ (bởi hầu hết các NHTM vẫn tập trung vào tín dụng ngắn hạn nhằm tránh rủi ro kỳ hạn không mong đợi) Sự yếu kém về kỹ thuật công nghệ lại là

Trang 29

nguyên nhân khiến năng lực cạnh tranh thương trường của hầu hết các Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khá yếu, hệ quả tất yếu là hàng tồn kho tăng cao Khi Doanh nghiệp không bán được hàng, nợ xấu sẽ tăng cao

 Thứ sáu, trong thời gian qua việc thành lập quá mức cần thiết số lượng các

NHTM cổ phần và Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong khi bản thân các TCTD này

vốn điều lệ ít ỏi, năng lực tài chính yếu kém, thiếu rất nhiều điều kiện để cạnh tranh, đứng vững trong kinh doanh theo cơ chế thị trường (trong khi lợi thế thuộc về các Ngân hàng nước ngoài và các NHTM Nhà nước) cũng đã dẫn đến nhiều rủi ro, mất mát tiền vốn cho hệ thống NHTM

Cạnh tranh tín dụng ngân hàng trở nên quá nóng trong giai đoạn 2008-2012 Thực tế trong những năm qua luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM để giành giật thị phần, đặc biệt một số NHTM Cổ phần nhỏ, mới được thành lập một số năm gần đây, có xu hướng mở rộng thị phần tín dụng bằng mọi giá, bỏ qua quy trình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, tìm cách lẩn tránh hàng rào kiểm soát của Chính phủ Hoạt động tín dụng lại là hoạt động tiềm ẩn rủi ro rất cao, nhưng một số NHTM lại quá mạo hiểm trong khi năng lực và kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng còn yếu, tất yếu rủi ro sẽ gia tăng khó kiểm soát

 Nợ xấu là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng :

Trong thời gian qua cộng với cơn sốt cho vay bất động sản, chứng khoán ồ ạt trong thời kỳ 2006-2008 (các khoản vay thường có kỳ hạn dài khoảng 5 năm) Trong những năm trở lại đây mặc dù NHNN thường xuyên yếu cầu các NHTM phải hạn chế tăng trưởng tín dụng không quá cao, nhưng thực tế tăng trưởng vẫn trên 20%, năm 2007 tăng trưởng tín dụng tới 51,39% ; năm 2009 là 37,7%, năm 2010 là 29,8% cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng GDP trong khi tăng trưởng huy động vốn rất thấp Năng lực quản trị rủi ro còn yếu cùng với chính sách cho vay lỏng lẻo những năm trước đã để lại những hệ lụy trong đó có nợ xấu gia tăng

Trang 30

Biểu đồ 1.1 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng và GDP giai đoạn 2005 đến 2012

 Bên cạnh đó ‘‘tình trạng sở hữu chéo giữa các NHTM’’ :

Một nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố mới đây về sở hữu chéo giữa Ngân hàng với doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan

hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh

tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân hàng thương mại Hiện không ít tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng Tình trạng sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó làm tăng tỷ lệ xấu của các ngân hàng Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành "sân sau” của mình, họ

có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ

Trang 31

xấu tăng cao trong thời gian gần đây của các NHTM

1.2 Xử lý nợ xấu của NHTM:

1.2.1 Khái niệm :

- Xử lý nợ xấu là những hoạt động của ngân hàng được triển khai khi nợ xấu đã phát

sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra bằng các công cụ phổ biến như : đòi nợ, tái cơ cấu các khoản nợ, bán nợ ; phong tỏa tài sản của người vay, thanh lý tài sản thế chấp, gán nợ, xiết nợ, yêu cầu bồi thường từ những người có trách nhiệm liên đới ; sử dụng quỹ dự phòng tài chính hoặc xử lý từ dự phòng rủi ro tín dụng và các biện pháp tài trợ rủi ro tín dụng khác

1.2.2 Các biện pháp xử lý nợ xấu :

Việc xử lý nợ xấu của NHTM đã được khá nhiều các nước với các biện pháp khác nhau sử dụng Có thể tập trung lại ở 5 nhóm giải pháp sau :

+ Chính phủ góp vốn hoặc mua cổ phần để nắm giữ quyền quản lý :

- Phương pháp này đảm bảo việc giữ lại được các ngân hàng, đảm bảo ổn định hệ thống trước mắt cũng như giữ được niềm tin của dân chúng vào hệ thống Tuy nhiên, đây cũng là cách tạo ra gánh nặng tài khóa, tiền tệ rất lớn Trong điều kiện của VIệt Nam hiện nay, Ngân sách Nhà nước luôn trong tình trạng thâm hụt, nợ công ngày càng cao và nguồn thu ngân sách ngày càng trở nên khan hiếm thì vấn đề tìm nguồn tiền để giải quyết thực sự nan giải

- Đầu những năm 2000 Nhật Bản hứng chịu hàng nghìn tỷ Yên nợ xấu đến từ bong bóng Bất động sản Ban đầu, Nhật Bản bơm hàng nghìn tỷ Yên vào các Ngân hàng lớn hoặc lập các quỹ đầu tư có vốn góp của cả tư nhân để mua lại nợ xấu Tuy nhiên,

cả hai cách này đều vô hiệu và nợ xấu vẫn không được giải quyết Với Mỹ (năm 2008) để giải cứu các TCTD sắp chết, FED đã quyết định bơm 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của NHTM, giải quyết thanh khoản tạm thời cho những đơn vị yếu kém

và phần còn lại nhưng chiếm tỷ trọng lớn là mua cổ phiếu ưu đãi của các Ngân hàng

Về mặt bản chất chính là FED cho vay nhưng không nắm quyền kiểm soát các Ngân hàng Tuy nhiên đến hiện tại cách này vẫn chưa thể hiện hiệu quả rõ rệt

Trang 32

+ Đóng cửa các Ngân hàng :

- Việc đóng cửa các Ngân hàng mất khả năng thanh khoản sẽ làm trong sạch hệ thống ngân hàng một cách nhanh chóng Tuy nhiên đây cũng lại là cách gây áp lực lên vấn đề việc làm và các vấn đề xã hội khác Cách này cũng có thể tạo ra hiệu ứng

‘‘ too big to fall ’’ gây mất niềm tin vào hệ thống Ngân hàng, tạo ra ‘‘bank run’’ nếu không có cơ chế bảo hiểm tiền gửi tốt

- Chính phủ Indonesia đã từng đóng cửa 16 Ngân hàng trong tháng 11/1997 mà không đề cập gì đến lợi ích người gửi tiền, điều này đã làm cho cuốc khủng hỏang tài chính, tiền tệ ở các nước này càng trầm trọng hơn Nhưng cũng những cách này lại mang đến thành công cho Nhật Bản đầu những năm 2000 khi kết hợp với quốc hữu hóa các ngân hàng và loại bỏ các cổ đông

+ Sáp nhập các Ngân hàng :

- Đây là cách làm tăng quy mô vốn của ngân hàng mà vẫn giữ lại được các Ngân hàng Tuy nhiên đây cũng là cách lấy đi rất nhiều chi phí giao dịch Cách này cũng khá bị động bởi nó phụ thuộc nhiều vào sự thỏa thuận giữa các ngân hàng Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế tài chính đang suy thoái và gặp nhiều khó khăn thì vấn đề đặt ra là liệu có bao nhiêu ngân hàng đủ lớn và đủ tiềm lực lành mạnh để thâu tóm các ngân hàng ‘’có vấn đề’’ như trong nước giai đoạn vừa qua một số các Ngân hàng TMCP lớn sẵn sàng đứng ra thực hiện việc sáp nhập như BIDV, SHB…và các tập đoàn công ty lớn có tiềm năng như Tập Đoàn Thiên Thanh thực hiện thâu tóm TrustBank để thành lập ra Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam…

- Bên cạnh đó nếu các tổ chức, công ty tài chính trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu M&A của thị trường mình thì sẽ bị lệ thuộc vào các Ngân hàng, tập đoàn nước ngoài Điển hình thương vụ M&A lớn nhất trong lịch sử ngành tài chính ngân hàng thất bại là vụ Consortium Royal Bank – Scotland, ngân hàng Fortis – Bỉ và Banco Satander mua lại ABN Amro của Hà Lan Vụ M&A này bị coi là thất bại vì thiếu sự làm việc chuyên tâm của các bên, giá trị và sức mạnh tổng hợp của ABN Amro bị đánh giá quá cao, nhiều bên tham gia khác nhau tranh giành các phần khác nhau, đặc biệt có sự tham gia của Chính phủ Hà Lan Cuộc chiến sáp nhập đã diễn ra

Trang 33

hết sức căng thẳng trong thời gian dài

+ Thành lập Công ty mua bán nợ & quản lý tài sản AMC :

- Công ty AMC sẽ mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng giúp làm lành mạnh tài sản của ngân hàng nhanh chóng Việc thành lập công ty AMC sẽ tốn khá nhiều chi phí quản lý và thời gian Về cơ chế AMC do ai quản lý, nguồn vốn từ đâu cũng như các phương thức hoạt động là việc mà các quốc gia khi thành lập đều có những ý kiến trái chiều nhau Thông thường từ kinh nghiệm các nước thì đây là cách xử lý nợ xấu có tiến trình khá chậm Hàn Quốc và Thái Lan là 02 quốc gia đã khá thành công

sử dụng phương pháp này để vượt qua khủng hoảng năm 1998 Để giải quyết khoản

nợ xấu 118 ngàn tỷ won, bằng 18% tổng dư nợ (27%/GDP) trong đó 42% là nợ quá hạn 3-6 tháng, 58% là nợ quá hạn trên 6 tháng, Chính phủ Hàn Quốc đã cải tiến lại chức năng và nhiệm vụ của KAMCO – Công ty quản lý tài sản nợ thuộc Ngân hàng Phát Triển Hàn Quốc đã giúp nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Hàn Quốc giảm xuống còn 2,3% vào cuối năm 2002 KAMCO thậm chí còn thành công đến mức đã lôi kéo thêm được rất nhiều AMC thuộc sở hữu tư nhân cùng tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu

+ Thay đổi cơ cấu sở hữu Ngân hàng :

- Một đơn vị ngoài ngân hàng (các công ty, tổng công ty, tập đoàn…) sẽ tham gia một phần vốn vào ngân hàng đủ để sở hữu và làm thay đổi quản trị ngân hàng Phương pháp này có thể có rủi ro không giải quyết được tận gốc sự yếu kém nếu như người đại diện phần vốn thay đổi đó không có khả năng quản trị tốt Bên cạnh

đó nếu không khống chế một tỷ lệ nhất định thì có thể gây ra tình trạng sở hữu chéo

và những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động hệ thống ngân hàng

- Mặc dù cách này cũng khó thực hiện ở Việt Nam tuy nhiên thời gian qua cũng đã

có một số trường hợp các công ty đứng ra sở hữu các NH yếu kém làm thay đổi cách điều hành quản trị và phát sinh vấn đề nhóm khách hàng liên quan cũng như phục vụ các mục đích dự án riêng của các công ty sân sau…Trong thực tế cũng tương đối ít có đơn vị ngoài Nhà nước có thể mua được một phần vốn của ngân hàng Hơn nữa, trong một thị trường tài chính nói chung chưa thực sự phát triển thì

Trang 34

khả năng quản lý của các đơn vị ngoài ngành cũng sẽ gây ra những quan ngại

1.2.3 Quy trình xử lý nợ xấu :

Việc xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại về cơ bản gồm 03 bước như sau : Bước 1 : Cán bộ quản lý khách hàng có nhiệm vụ kiểm tra, nghiên cứu đề xuất danh mục các khoản vay có vấn đề đề nghị xử lý, các biện pháp xử lý phù hợp cho từng khoản nợ/khách hàng và trình lãnh đạo phòng

Bước 2 : Lãnh đạo phòng xem xét tờ trình của cán bộ tín dụng nếu đồng ý chấp thuận thì ký nếu không đồng ý thì nêu rõ quan điểm của mình trong tờ trình và ký để báo cáo Ban Giám Đốc chi nhánh và thông qua Tổ xử lý nợ của chi nhánh

Bước 3 : Tổ xử lý nợ của chi nhánh xem xét danh mục xử lý để trình Ban quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng quyết định phương pháp xử lý cụ thể cho từng khoản nợ/từng khách hàng

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá công tác xử lý nợ xấu :

Hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM căn cứ vào một số các tiêu chí sau để đánh giá hiệu quả của công tác xử lý nợ như :

- Mức giảm tỷ lệ nợ xấu

- Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng dư nợ xấu

- Tốc độ tăng trưởng nợ xấu

- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã thu hồi/tổng dư nợ xấu

- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã tái cấu trúc/tổng dư nợ

- Sự thay đổi trong cơ cấu các nhóm nợ trong nợ xấu

Trong đó tiêu chí mức giảm tỷ lệ nợ xấu là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả của việc xử lý nợ xấu tại ngân hàng

1.2.5 Ý nghĩa công tác xử lý nợ xấu:

1.2.5.1 Đối với NHTM :

Thứ nhất, các NHTM có thể làm đẹp bảng cân đối cũng như kết quả hoạt động

Trang 35

kinh doanh của mình

Bên cạnh đó việc xử lý được nợ xấu giúp cho các ngân hàng có thể hoạt động hiệu quả và lành mạnh hơn, nâng cao khả năng thanh khoản cũng như tạo dựng lại niềm tin đối với khách hàng Khi thu hồi được nợ xấu, đặc biệt là ở các ngân hàng có tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ cao điều này có ý nghĩa rất lớn : Nó cho phép ngân hàng ‘‘cắt’’ lỗ ; là quá trình xóa đi những khoản phải trừ khỏi vốn tự có do vậy làm cho hệ số an toàn vốn của ngân hàng tăng lên

Thứ hai, xử lý và thu hồi được nợ đọng tạo điều kiện cho các TCTD nâng cao hiệu

quả trong kinh doanh nhờ thu hồi được vốn Đây là nền tảng để các ngân hàng kinh doanh có lãi và từng bước có tích lũy để bổ sung vốn điều lệ hoặc có số dư trên các quỹ dự trữ Kết quả là tạo điều kiện để tăng vốn tự có, do đó cũng làm tăng hệ số an toàn vốn Việc này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân

hàng

Thứ ba, các NHTM có thể chủ động rà soát, đánh giá và thiết lập hệ thống quản

lý rủi ro mới để kiểm soát nợ xấu và từng bước giảm nợ xấu, nâng cao tính minh bạch của hệ thống, tiết kiệm chi phí và tái cấu trúc lại hệ thống nhằm tối ưu hóa lợi nhuận

Cuối cùng vấn đề quan trọng nhất là giúp các ngân hàng thay đổi là thay đổi thói quen trong kinh doanh từ thụ động sang chủ động, luôn luôn có cách nghĩ mới, cách làm mới tập trung vào năng suất hiệu quả thực hiện với khách hàng là nhân tố trung tâm trong hoạt động

Tóm lại : Với các ý nghĩa quan trọng như như nêu trên, yêu cầu xử lý và thu

hồi nợ tồn đọng một cách kiên quyết là rất cần thiết và cần có các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu đến mức thấp nhất nợ xấu, nợ tồn đọng phát sinh

1.2.5.2 Đối với khách hàng :

Khi nợ xấu tăng cao & nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, nền kinh tế rơi vào cảnh : kẻ có tiền cũng không cho vay được, không dám cho vay, người đi vay không thể vay được hoặc không biết vay để làm gì

Trang 36

Vì vậy việc xử lý được cục máu đông ‘‘nợ xấu’’ giúp Ngân hàng & khách hàng

có thể khơi thông nguồn vốn, người đi vay có kế hoạch sử dụng vốn vay của mình một cách có hiệu quả, và kịp thời điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho phù hợp trong từng thời kỳ

1.2.5.3 Đối với nền kinh tế :

Giảm áp lực đối với ngân sách khi không phải xử lý nợ xấu trong khi nguồn thu ngân sách ngày càng khó khăn, khan hiếm do sự đình trệ của nền kinh tế

Luồng vốn trong dân cư được luân chuyển một cách có hiệu quả từ nền kinh tế, dân cư vào ngân hàng, và từ ngân hàng đến tài trợ cho các hoạt động trong nền kinh

tế

Thúc đẩy quá trình luẩn chuyển vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc :

Những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia này

Chính phủ Hàn Quốc đã có những biện pháp quyết liệt nhằm thực thi xử lý nợ xấu bằng các biện pháp: (1) Buộc các TCTD phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị các khoản nợ xấu bằng việc yêu cầu các KH trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp ; (2) Để Công ty Quản Lý Tài Sản Hàn Quốc (KAMCO) mua lại một nửa các khoản nợ xấu

Trang 37

Hình 1.3 : Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu

KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu

nợ, các khoản nợ có thể giúp các TCTC khôi phục lại hoạt động và hình ảnh trước công chúng, và các khỏan cho vay đồng tài trợ

Sau khi mua lại, KAMCO sẽ nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh Luật chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩy việc bán các khoản nợ cho các công

ty có chức năng chứng khoán hóa các khoản nợ xấu và bán lại cho các nhà đầu tư Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào

xử lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được đảm bảo bằng các khoản nợ xấu cũng như mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá Chính sự thành công trong việc thu hút các NĐT nước ngoài đã khuyến khích các NĐT trong nước tham gia Bên cạnh đó KAMCO cũng tịch thu TSTC của các khoản nợ xấu có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi nợ thành VCSH nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất, giản nợ…

Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17,7% vào năm 1998 xuống còn 3,9% năm 2000 Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cấu trúc khu vực tài chính góp

Trang 38

phần ổn định nền kinh tế là do Chính phủ Hàn Quốc đã có những can thiệp nhanh chóng, kịp thời và toàn diện, triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu hợp lý khi đưa KAMCO vào hoạt động và phát triển thị trường thứ cấp cho các khoản nợ xấu, các chứng khoán được đảm bảo bằng nợ xấu được tiến hành giao dịch thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc :

Năm 2004, các AMCs tại Trung Quốc mới chỉ xử lý được 675 tỷ NDT nợ xấu (tương đương 39% các khoản nợ xấu mà họ đã mua lại), tỷ lệ thu hồi tiền mặt (cash recovery rate) của các AMCs chỉ khoảng 20,3% Thực trạng này do nhiều nguyên nhân (chất lượng tài sản thấp, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, rủi ro đạo đức giữa các SOEs và AMCs)

Tuy nhiên để xử lý nợ xấu, nợ khó đòi Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp như :

 Hoàn thiện các Bộ Luật, văn bản pháp quy về tiền tệ, Phát hành trái phiếu Chính phủ đặc biệt để bổ sung vốn cho NHTMNN

 Xử lý nợ của các NHTM thông qua việc cải cách quản lý nợ và phân loại nợ thành

5 cấp dựa trên mức độ rủi ro : loại nợ đạt tiêu chuẩn, loại nợ đáng chú ý, lọai nợ bình thường, loại nợ có nghi vấn và loại nợ dễ bị mất nhằm tạo điều kiện cho các

NH chủ động thi hành các biện pháp cần thiết

 Thành lập 4 công ty quản lý tài sản trực thuộc 4 NHTMNN để xư lý nợ khó đòi theo hướng chuyển nợ thành vốn cổ phần Vốn ban đầu của các công ty quản lý tài sản là do Bộ tài chính cấp Vốn hoạt động của 4 công ty này là 10 tỷ Nhân dân

tệ tương đương 1,21 tỷ USD Các công ty này có quyền phát hành trái phiếu được đảm bảo của Bộ tài chính ra công chúng, sau đó dùng vốn thu được để mua lại khoản nợ khó đòi của NH, trực tiếp chuyển các khoản nợ khó đòi này thành các khoản đầu tư vào DN hoặc thành cổ phần của DN, tổ chức lại DN thông qua việc chuyển nợ thành cổ phần ; thanh lý phá sản đối với đối với các khoản nợ khổng lồ không có khả năng thanh toán…Như vậy, thông qua việc chuyển nợ thành cổ phần, các DN thay vì trả lãi cho NH đã chuyển sang trả cổ tức cho các cổ đông

Trang 39

Bảng 1.3: Kinh nghiệm Chính phủ một số nước Châu Á thực hiện xử lý nợ xấu

của các NHTM (thông qua mua lại các khoản nợ xấu)

(Nguồn : Public asset management companies in East Asia)

1.3.3 Kinh nghiệm của Hungary :

Nợ xấu tại Hungary được chia làm hai nhóm: Các khoản nợ lớn và phức tạp được giao cho một cơ quan trực thuộc Chính phủ và Ngân hàng Phát triển Hungary (HDB) giải quyết Các khoản nợ còn lại do các ngân hàng tự giải quyết theo thỏa thuận với Bộ Tài chính

Quá trình xử lý nợ xấu 3 giai đoạn :

Quá trình xử lý nợ xấu tại Hungary bao gồm 3 quá trình nối tiếp nhau: (1) Làm sạch danh mục vốn đầu tư của các ngân hàng; (2) xóa nợ cho các DNNN quan trọng

và (3) tái cấp vốn cho các ngân hàng

Đầu tiên, Hungary thực hiện lành mạnh hóa danh mục vốn đầu tư của các ngân hàng Hungary cho phép các ngân hàng chuyển các khoản nợ xấu hoặc nợ cũ sang trái phiếu kỳ hạn 20 năm

Một cơ quan thu hồi nợ xấu được thành lập vào tháng 12/1992 (HDB), cơ quan này dùng trái phiếu chính phủ để đổi lấy các khoản nợ xấu được coi là các khoản nợ lớn và quan trọng Cơ quan này có quyền bán các khoản nợ xấu hoặc tham gia vào quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ

Chính phủ Hungary đã xóa nợ cho các DNNN mà Chính phủ coi là quan trọng Các khoản nợ xấu này được xóa trên bảng cân đối của ngân hàng; đổi lại ngân hàng

sẽ được nhận trái phiếu chính phủ kỳ hạn 20 năm Chi phí cho công tác xóa nợ này tương đương khoảng 1,6% GDP

Hungary quyết định sẽ tái cấp vốn cho các ngân hàng nhằm giúp các ngân

Trang 40

hàng đạt được tỷ lệ CAR 8%

Tái cấp vốn được thực hiện dưới hình thức Chính phủ dùng trái phiếu Chính phủ để mua các cổ phiếu mới phát hành của các ngân hàng nằm trong chương trình tái cấp vốn Kết quả là sở hữu Nhà nước trong ngân hàng tăng tạm thời

Sau đó, Hungary gia hạn cho các khoản vay phụ cho các ngân hàng nhằm không làm gia tăng sở hữu Nhà nước trong hệ thống ngân hàng

Tiếp theo, các ngân hàng phải tự giải quyết nợ xấu Hầu hết các ngân hàng đều được yêu cầu thành lập một bộ phận riêng để giải quyết nợ xấu (ngay trong chính ngân hàng hoặc một bộ phận độc lập) Việc này sẽ giúp tách bạch được hoạt động xử

lý nợ xấu với các hoạt động bình thường của ngân hàng và giúp phân loại được ngân hàng tốt và xấu cho quá trình tư nhân hóa

Bằng cách xử lý các khoản nợ xấu lớn thông qua một cơ quan chuyên biệt và HDB, các khoản nợ xấu còn lại do ngân hàng tự giải quyết; kết hợp cùng công tác giải quyết nợ xấu trực tiếp từ phía các DNNN và tái cấp vốn cho ngân hàng, Hungary đã thành công trong công tác xử lý nợ xấu Nợ xấu tại Hungary đã giảm từ gần 30% vào năm 1993 xuống khoảng 5% vào năm 1997 với chi phí xử lý nợ xấu của Hungary khoảng 13% GDP

Tóm lại, bằng cách kết hợp nhiều giải pháp, công tác xử lý nợ xấu của

Hungary tỏ ra khá hiệu quả Điều này có được là nhờ công tác xử lý nợ xấu của Hungary được điều chỉnh kịp thời khi các biện pháp giải quyết nợ xấu ban đầu tỏ ra không hiệu quả Hơn thế nữa, các biện pháp Hungary sử dụng đã xử lý được triệt để hơn gốc rễ phát sinh nợ xấu

1.3.4 Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xử lý nợ xấu :

 Thành lập công ty quản lý nợ xấu trực thuộc Ngân hàng Nhà nước:

Như kinh nghiệm của các quốc gia, việc thành lập công ty xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (ủy quyền cho NHNN thực hiện quản lý) là điều cần thiết Việt Nam với sự ra đời của Công ty Quản Lý Tài Sản các TCTD - VAMC

là mô hình học tập từ các nước trên thế giới, tuy nhiên, kah1c với quy định về chức

Ngày đăng: 08/08/2015, 00:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Phân lọai rủi ro tín dụng Ngân hàng - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Hình 1.1 Phân lọai rủi ro tín dụng Ngân hàng (Trang 14)
Bảng 1.1: Ngân hàng thế giới đã tiến hành phân loại Nợ theo bảng sau - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 1.1 Ngân hàng thế giới đã tiến hành phân loại Nợ theo bảng sau (Trang 19)
Hình 1.2: Nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua các năm - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Hình 1.2 Nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua các năm (Trang 23)
Bảng 1.2: Nợ xấu tại các NHTM - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 1.2 Nợ xấu tại các NHTM (Trang 25)
Hình 1.3 : Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Hình 1.3 Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu (Trang 37)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm của Ngân hàng TMCP Bảo - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm của Ngân hàng TMCP Bảo (Trang 45)
Bảng 2.2: Tình hình dư nợ và nợ xấu của các Doanh nghiệp tại BaoVietBank khu - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ và nợ xấu của các Doanh nghiệp tại BaoVietBank khu (Trang 46)
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế cuối năm 2012 - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.4 Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế cuối năm 2012 (Trang 49)
Bảng 2.6: Phân loại nợ quá hạn của BaoVietBank tại TPHCM - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.6 Phân loại nợ quá hạn của BaoVietBank tại TPHCM (Trang 51)
Bảng 2.8 : Dư nợ xử lý, phát mãi TSĐB - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.8 Dư nợ xử lý, phát mãi TSĐB (Trang 63)
Bảng 2.10: Xử lý nợ xấu bằng trình miễn/giảm lãi. - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.10 Xử lý nợ xấu bằng trình miễn/giảm lãi (Trang 65)
Bảng 2.11: Kết quả thu hồi nợ xấu của hệ thống Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2.11 Kết quả thu hồi nợ xấu của hệ thống Ngân hàng TMCP Bảo Việt tại (Trang 77)
Hình 3.2: Kỳ vọng số tiền nợ xấu VAMC sẽ xử lý. - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Hình 3.2 Kỳ vọng số tiền nợ xấu VAMC sẽ xử lý (Trang 103)
Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng các yếu tố chủ quan từ phía - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 1 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng các yếu tố chủ quan từ phía (Trang 128)
Bảng 2: Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng các yếu tố khách quan - XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Bảng 2 Kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng các yếu tố khách quan (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w