Bảng 1.1 Tỷ lệ khấu trừ của tài sản bảo đảm Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu hoạt động chủ yếu của Agribank KV TP.HCM Bảng 2.2 Huy động vốn của Agribank khu vực TP.HCM Bảng 2.3 Dư nợ của Agriban
Trang 1MAI YẾN NHI
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2MAI YẾN NHI
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI
NHNo&PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN ANH TUẤN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 31 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
2 Các số liệu trong Đề tài là trung thực, được thu thập từ Ngân hàng
Người viết đề tài
Mai Yến Nhi
Trang 4Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NHTM 1
1.1 Nợ xấu tại các NHTM 1
1.1.1 Khái niệm nợ xấu và chất lượng tín dụng 1
1.1.1.1 Khái niệm nợ xấu 1
1.1.1.2 Chất lượng tín dụng 2
1.1.2 Trích lập dự phòng cụ thể 3
1.1.3 Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu 6
1.1.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn 6
1.1.3.2 Nguyên nhân từ phía các NHTM 6
1.1.3.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh 7
1.1.4 Dấu hiệu nhận biết nợ xấu 8
1.1.5 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động KD của NHTM và nền KTXH 10
1.1.5.1 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động KD của NHTM 10
1.1.5.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đến nền kinh tế xã hội 12
1.1.6 Hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHTM 13
1.1.6.1 Hạn chế nợ xấu 13
1.1.6.2 Xử lý nợ xấu 14
1.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 18
1.2.1 Hàn Quốc 18
1.2.2 Trung Quốc 21
Trang 5NHNo&PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 26
2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank KV TP.HCM 26
2.2 Thực trạng nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 27
2.2.1 Hoạt động huy động vốn 27
2.2.2 Hoạt động cấp tín dụng 30
2.2.3 Tình hình nợ xấu 34
2.3 Hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 39
2.3.1 Hạn chế nợ xấu 39
2.3.2 Xử lý nợ xấu 44
2.4 Nguyên nhân việc hạn chế và xử lý nợ xấu chưa hiệu quả 49
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 49
2.4.1.1 Môi trường kinh tế không ổn định 49
2.4.1.2 Môi trường pháp lý chưa thuận lợi 52
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 52
2.4.2.1 Nguyên nhân từ phía người đi vay 52
2.4.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NH No&PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 59
3.1 Định hướng hoạt động và quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam 59
3.2 Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM 60
3.2.1 Nhóm giải pháp hạn chế 60
3.2.1.1 Giải pháp về tín dụng 60
3.2.1.2 Giải pháp về nguồn nhân lực 71
3.2.1.3 Giải pháp về kiểm tra kiểm soát nội bộ 74
3.2.1.4 Giải pháp về hệ thống thông tin 75
Trang 63.2.2.2 Đánh giá lại các khoản vay và cơ cấu lại 78
3.2.2.3 Xử lý bằng cách giảm lãi 79
3.2.2.4 Xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro 79
3.2.2.5 Xử lý tài sản đảm bảo 79
3.2.2.6 Xử lý thông qua thị trường mua bán nợ 80
3.3 Một số kiến nghị với Chính phủ và NHNN 80
3.3.1 Một số kiến nghị với Chính phủ 80
3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 82
3.3.3 Kiến nghị với NHNo&PTNT Việt Nam 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN CHUNG 86
Tài liệu tham khảo
Trang 7ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
(NHNo&PTNT) APRACA Hiệp hội Tín dụng Nông thôn khu vực Thái Bình Dương
Trang 8Bảng 1.1 Tỷ lệ khấu trừ của tài sản bảo đảm
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu hoạt động chủ yếu của Agribank KV TP.HCM Bảng 2.2 Huy động vốn của Agribank khu vực TP.HCM
Bảng 2.3 Dư nợ của Agribank khu vực TP.HCM
Bảng 2.4 Dư nợ của Agribank khu vực TP.HCM theo thời gian
Bảng 2.5 Nợ xấu của Agribank khu vực TP.HCM
Bảng 2.6 Cơ cấu nợ xấu theo thời gian của Agribank khu vực TP.HCM Bảng 2.7 Cơ cấu nợ xấu theo loại tiền tệ của Agribank khu vực TP.HCM Bảng 2.8 Nợ xấu của Agribank khu vực TP.HCM theo loại hình khách hàng Bảng 2.9 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu: phân loại nợ, trích lập dự phòng
và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro (XLRR) năm 2011 của Agribank
Trang 9Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn tiền gửi bằng VND của Agribank KV TP.HCM Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng dư nợ Agribank KV TP.HCM so với các NHTM trên địa bàn
Biểu đồ 2.3 Dư nợ Agribank KV TP.HCM theo thời gian
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ nợ xấu theo loại tiền tệ của Agribank KV TP.HCM
Trang 10nhập sâu và rộng theo lộ trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Điều này đặt ra nhiều yêu cầu, thách thức lớn đối với các ngành, lĩnh vực trong nước, đặc biệt là lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng Các ngân hàng phải không ngừng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng quản trị để hoạt động an toàn, hiệu quả
và nâng cao sức cạnh tranh
Mặc dù đang từng bước thay đổi cơ cấu thu nhập theo hướng tăng dần tỷ trọng thu dịch vụ, tuy nhiên hiện nay, doanh thu tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh thu của các NHTM Do vậy, các NHTM cần phải có một chiến lược quản trị rủi ro tín dụng tốt để bảo toàn vốn và sinh lợi Một trong những nội dung quan trọng nhất của quản trị rủi ro tín dụng là kiểm soát, phòng ngừa và hạn chế nợ xấu, bởi một khi nợ xấu phát sinh không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, mà còn ảnh hưởng đến cả nền kinh tế
Trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay, nợ xấu ngày càng gia tăng, hoạt động của
hệ thống ngân hàng thương mại ngày càng khó khăn Vấn đề trọng tâm đặt ra là làm sao xử lý hiệu quả nợ xấu của hệ thống ngân hàng, bởi xử lý tốt nợ xấu không chỉ cứu các ngân hàng mà còn cứu các doanh nghiệp, cứu nền kinh tế, giúp khơi thông dòng vốn tín dụng, phục hồi sản xuất kinh doanh Do đó, việc tìm các giải pháp phù hợp, hiệu quả để xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa hoạt động của hệ thống ngân hàng là vấn đề cấp thiết đang được Chính phủ nói chung và ngân hàng nói riêng rất quan tâm
Cùng chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, dòng vốn chạy vào bất động sản đóng băng, nên tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh theo đó ngày càng gia tăng Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như thu nhập của người lao động Đó là
lí do tôi chọn đề tài: ”Hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn
Trang 11Đề tài nghiên cứu lý thuyết cơ bản về nợ xấu tại ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng về nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM, trên cơ sở đó xây dựng giải pháp nhằm hạn chế và xử lý hiệu quả nợ xấu của NHNo&PTNT trên địa bàn
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng No&PTNT trên địa bàn TP.HCM trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2012
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài giải quyết vấn đề bằng phương pháp định tính, trên cơ sở phân tích tổng hợp, thống kê, mô tả, so sánh và đối chiếu nhằm đánh giá đúng thực trạng, cũng như xây dựng giải pháp cho vấn đề hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM
ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Nội dung tập trung về việc hạn chế và xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả cho nền kinh
tế nói chung, cho NHTM nói riêng Kết hợp đánh giá thực trạng tín dụng và nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM, đề ra một số giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu nhằm thực hiện mục tiêu tối thiểu rủi ro, tối đa lợi nhuận của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, danh mục viết tắt, bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo
và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTM
Chương 2: Thực trạng hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM
Chương 3: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NHTM 1.1 Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm nợ xấu và chất lượng tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm nợ xấu:
Nợ xấu (Bad debt – Non performing Loan) là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định là không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thu lỗ hoặc phá sản… Nợ xấu được coi là chi phí khác trực tiếp làm giảm dòng thu nhập của doanh nghiệp cho vay
Tín dụng là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng còn được xem như một nghiệp vụ quản trị rủi ro để sinh lợi trong kinh doanh ngân hàng Và khi một khoản vay không thể thu hồi hay có nguy cơ không thể thu hồi nợ gốc và lãi thì người ta gọi đây là một khoản nợ xấu
Theo IMF, “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” (A non-performing loan is any loan in which: interest and principal payments are more than 90 days overdue; or more than 90 days’ worth of interest has been refinanced, capitalized, or delayed by agreement; or payments are less than 90 days overdue but are no longer anticipated.)
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa theo chuẩn mực
kế toán quốc tế (International Accounting Standards – IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới
Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (International Financial Reporting Standards – IFRS) và IAS 39 được Ủy ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời
và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 Về cơ
Trang 13bản, IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả
nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng) Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn
Tại Việt Nam, nợ xấu là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu Bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ không được Chính Phủ xử lý rủi ro Nợ xấu có các đặc trưng:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này
- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 do Thống đốc NHNN ban hành, nợ xấu được định nghĩa như sau: ”Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
1.1.1.2 Chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một khái niệm không thông dụng, bởi tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảo lãnh, phát hành L/C, chiết khấu, bao thanh toán,… Thông thường, trong phạm trù đơn giản, chất lượng tín dụng được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một TCTD (hay còn gọi là Chất lượng cho vay)
Ở Việt Nam, NHNN Việt Nam đưa chất lượng tín dụng vào làm một chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các TCTD năm 2006 Chất lượng tín dụng được NHNN Việt Nam căn cứ vào:
Trang 141 Nợ xấu/ Tổng dư nợ (gọi là tỉ lệ nợ xấu);
1.1.2 Trích lập dự phòng cụ thể:
* Dự phòng rủi ro:
“Dự phòng rủi ro” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung
“Dự phòng cụ thể” là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ theo từng nhóm nợ nêu trên để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra
“Dự phòng chung” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm Hiện tại thì các TCTD thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN
“Sử dụng dự phòng cụ thể” là việc TCTD sử dụng dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ
* Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể:
- Nhóm 1: 0%
- Nhóm 2: 5%
- Nhóm 3: 20%
Trang 15A: Số dư nợ gốc của khoản nợ
C: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm
Trường hợp tài sản bảo đảm không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên hoặc không phát mại được, giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm đó (C) phải coi là bằng không (0)
- Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (C) được xác định trên cơ sở tích số giữa tỷ lệ khấu trừ với:
+ Giá trị thị trường của vàng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
+ Mệnh giá của trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc và các loại giấy tờ
có giá, trừ trái phiếu của các TCTD, doanh nghiệp;
Trang 16+ Giá trị trên thị trường chứng khoán của chứng khoán do doanh nghiệp và TCTD khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
+ Giá trị của tài sản bảo đảm là chứng khoán do doanh nghiệp và TCTD khác phát hành chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán, động sản, bất động sản và các tài sản bảo đảm khác ghi trong biên bản định giá gần nhất được TCTD và khách hàng thống nhất (nếu có) hoặc hợp đồng bảo đảm;
+ Giá trị còn lại của tài sản cho thuê tài chính tính theo hợp đồng cho thuê tài chính tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
+ Giá trị của tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay tương ứng số tiền giải ngân theo hợp đồng tín dụng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể
- Tỷ lệ khấu trừ để xác định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (C) do TCTD tự xác định trên cơ sở giá trị có thể thu hồi từ việc phát mại tài sản bảo đảm sau khi trừ
đi các chi phí phát mại tài sản bảo đảm dự kiến tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể, nhưng không được vượt quá tỷ lệ khấu trừ tối đa quy định sau đây:
Bảng 1.1: Tỷ lệ khấu trừ của tài sản bảo đảm
tối đa (%)
Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá bằng Đồng
Việt Nam do TCTD phát hành
100%
Tín phiếu Kho bạc, vàng, số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm,
giấy tờ có giá bằng ngoại tệ do tổ chức tín dụng phát hành
95%
Trái phiếu Chính phủ:
- Có thời hạn còn lại từ 1 năm trở xuống
- Có thời hạn còn lại từ 1 năm đến 5 năm
- Có thời hạn còn lại trên 5 năm
95% 85% 80%
Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do các tổ chức 70%
Trang 17tín dụng khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
và Trung tâm giao dịch chứng khoán
Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do doanh
nghiệp phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và
Trung tâm giao dịch chứng khoán
65%
Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do các tổ chức
tín dụng khác phát hành chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán
50%
1.1.3 Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu:
Một khoản cho vay sẽ trở thành nợ xấu khi bên cho vay không thể thu hồi đúng hạn, hay có nguy cơ không thể thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn Do vậy, nguyên nhân phát sinh nợ xấu có thể là do bởi khả năng trả nợ và/hoặc ý chí trả nợ của người vay; hoặc do bên cho vay đã không thực hiện đúng từ đầu; hoặc do các nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế
1.1.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Hầu hết các khoản nợ xấu được gây ra bởi quyết định đi vay của khách hàng Đôi khi khách hàng vay tìm mọi cách chứng minh đầy đủ điều kiện và năng lực vay vốn của mình mà không cần suy nghĩ về tương lai và những khoản họ phải trả phù hợp với thu nhập của họ Và như vậy, văn hóa tín dụng ở đây là khách hàng muốn được vay các khoản vay lớn mà không phải vì quyết định tài chính khôn ngoan mà đôi khi họ hành động theo xu hướng, theo người khác Điều đó có thể dễ dàng dẫn đến các khoản vay nợ xấu
1.1.3.2 Nguyên nhân từ phía các NHTM
- Hệ thống quản trị ngân hàng: Ngân hàng đóng vai trò như là một nguyên nhân quan trọng của các khoản nợ xấu Một ngân hàng được quản trị tốt và được điều hành một cách hiệu quả sẽ phải xây dựng được chính sách tín dụng phù hợp với mục tiêu của mình (điều chỉnh được mức cho vay và các điều kiện cho vay) trong
Trang 18điều kiện thị trường hiện tại để giảm các nguy cơ phát sinh nợ xấu Các ngân hàng cũng cần được chọn lọc khách hàng vay mà họ chấp nhận Một ngân hàng kém trong các lĩnh vực này chắc chắn sẽ có nhiều khoản cho vay trở thành nợ xấu
- Thông tin bất cân xứng hay rủi ro đạo đức (moral risk): rủi ro nảy sinh khi bên có
ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và
tự nhiên hình thành động cơ theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó
có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…, nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định Nói cách khác, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng đã để “lọt” những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của họ trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao
1.1.3.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
- Sự thay đổi đột ngột của thị trường: Bất kỳ sự thay đổi đột ngột của thị trường có thể ảnh hưởng đến thị trường cho vay bằng cách tác động đến số tiền đi vay cũng như số tiền có thể trả nợ của khách hàng Nếu thị trường đột ngột thay đổi và giá cả gia tăng do sự thiếu hụt (cung giảm) hoặc nhu cầu lớn hơn (cầu tăng), khách hàng vay sẽ có ít tiền hơn để trả hết khoản vay của họ, có thể dẫn đến phát sinh nợ xấu lớn hơn
- Sự thay đổi của ngành BĐS: Ngành công nghiệp BĐS và cá khoản vay mua nhà là một trong những mặt hàng chủ lực của tín dụng ngân hàng và chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau Nếu giá trong thị trường BĐS giảm thấp, giá nhà bán thấp hơn và thấp hơn, thì số tiền mà ngân hàng thu lại được như sự bù đắp từ việc thu giữ và bán các tài sản đối với các khoản vay quá hạn sẽ ít hơn Điều này dẫn đến nhiều khoản cho vay trở thành nợ xấu, ngân hàng cho vay sẽ bị tổn thất thay vì thu được lợi nhuận từ các khoản cho vay này
Trang 191.1.4 Dấu hiệu nhận biết nợ xấu
Tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống và cơ bản nhất trong các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nhưng tín dụng cũng lại là nghiệp vụ chứa nhiều rủi ro và gây ra thiệt hại lớn nhất đối với các ngân hàng mà trong đó nợ xấu đã trở thành một vấn đề rất lớn thuộc về rủi ro tín dụng ngân hàng
Để hạn chế tới mức tối đa khả năng xảy ra nợ xấu, biện pháp được coi là quan trọng nhất và mang tính thiết yếu là thực hiện theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ việc
sử dụng vốn vay Trong thực tế, có nhiều biểu hiện của khoản cho vay sẽ gặp khó khăn Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy không có một mô hình nhất định nào về các biến cố thường xuyên xảy ra để có thể công bố là một khoản vay sẽ khó được hoàn trả Mặc dù vậy, trong hoạt động tín dụng, các NHTM có thể căn cứ vào một số dấu hiệu sau đây để nắm bắt được sự khó khăn về tài chính của người đi vay:
- Thu nhập của người vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên
- Gia tăng bất thường hàng hóa tồn kho, khoản nợ thương mại, khoản nợ phải thu: trong hoạt động kinh doanh sản xuất, có sự gia tăng bất thường của hàng tồn kho hay các khoản bán chịu chưa thu được tiền, điều này nói lên hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ chậm và phải cho nợ nhiều Tình trạng này thường xuất hiện khi hàng hóa của doanh nghiệp bị giảm sút về chất lượng hoặc không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng gây ứ đọng hàng hóa làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Số vòng quay vốn tín dụng thực tế nhỏ hơn so với phương án kinh doanh ban đầu, dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn trong kinh doanh của người vay và vốn của Ngân hàng bị chiếm dụng
- Gia tăng các tài sản cố định qua việc sáp nhập hoặc mua lại của doanh nghiệp khác
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn có chiều hướng không lành mạnh, có thể do ngành nghề kinh doanh của họ đang gặp rủi ro hoặc doanh nghiệp bị các cơ quan báo chí đưa tin không tốt về tình hình tài chính, tình hình hoạt động…khiến cho giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường giảm quá
Trang 20nhanh, mất uy tín với thị trường, bạn hàng, các nhà tài trợ Hay một biểu hiện nữa là quan hệ giao dịch với các đối tác của doanh nghiệp không được thuận lợi, các đối tác tự ý hủy bỏ hợp đồng kinh doanh với doanh nghiệp…đẩy doanh nghiệp tới chỗ khó khăn về tài chính
- Trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp có sự thay đổi, tạo ra không khí không yên tâm, tin tưởng đối với các đối tác kinh doanh và những người tài trợ
- Trì hoãn nộp các BCTC: bằng việc phân tích BCTC, cán bộ tín dụng có thể tìm ra những dấu hiệu cơ bản của tình hình kinh doanh kém hiệu quả của doanh nghiệp
Do vậy, các doanh nghiệp thường cố gắng tìm cách trì hoãn nộp các BCTC
- Quan hệ với ngân hàng giảm: khách hàng có thái độ trì hoãn, lưỡng lự khi đưa cán
bộ tín dụng xuống thăm cơ sở sản xuất kinh doanh, có biểu hiện thiếu thiện chí trong mối quan hệ tin cậy, hợp tác đối với Ngân hàng
- Số dư trên tài khoản tiền gửi của người vay tại Ngân hàng giảm sút, hiện tượng rút séc quá số dư hoặc séc thanh toán bị trả lại
- Hoãn trả lãi vay ngân hàng chậm hơn thỏa thuận đã quy định: người vay xin hoãn
nợ hoặc xin khất nợ Hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá kỳ hạn hoặc không đầy đủ như cam kết trong hợp đồng tín dụng Điều này nói lên khả năng thanh toán giảm hoặc có sự chây ỳ của doanh nghiệp đối với việc thanh toán cho các ngân hàng
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
- Thiên tai địch họa xảy ra ở mức độ nghiêm trọng: hoạt động sản xuất kinh doanh
bị ảnh hưởng do các yếu tố khách quan như bão lụt, hỏa hoạn, hạn hán… Đây cũng
là một dấu hiệu cho thấy khách hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đòi hỏi có thời gian để phục hồi, thậm chí không phục hồi được nếu không có sự giúp đỡ của Nhà nước
Các dấu hiệu trên đây là biểu hiện của những khó khăn về mặt tài chính từ phía người đi vay, sự xuất hiện của chúng báo hiệu khả năng khách hàng khó hoàn trả vốn vay cho ngân hàng Vì vậy, dấu hiệu này chính là cơ sở để ngân hàng tìm biện
Trang 21pháp điều chỉnh và ngăn ngừa kịp thời trước khả năng phát sinh nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
1.1.5 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM và nền kinh tế
1.1.5.1 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Giảm khả năng thanh toán:
Nợ xấu là kết quả tất yếu của một hoạt động tín dụng không lành mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, trực tiếp gây nên rủi ro về ứ đọng vốn và có thể làm mất vốn kinh doanh và mất khả năng thanh toán của NHTM NHTM hoạt động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay”, vốn cho vay chủ yếu dựa trên nguồn vốn ngân hàng huy động và lãi suất cho vay phải lớn hơn lãi suất huy động thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới đảm bảo an toàn và có hiệu quả Các khoản nợ xấu một mặt làm kéo dài thời hạn các khoản tín dụng, mặt khác có khả năng dẫn đến làm mất vốn của các NHTM làm cho các NHTM rơi vào tình thế không đảm bảo khả năng hoàn trả vốn cho người gửi tiền Tình trạng mất khả năng thanh toán tạm thời có thể làm giảm uy tín của ngân hàng một cách nghiêm trọng, đánh mất lòng tin của người gửi tiền đối với ngân hàng Những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản Các khoản nợ xấu luôn chứa đựng khả năng không thu hồi được vốn (một phần hoặc toàn bộ) và đặt NHTM trước tình trạng mất vốn
- Giảm hiệu quả sử dụng vốn:
Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này Việc tồn đọng này làm cho ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác mà có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng Nói cách khác, nợ xấu phát sinh đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Bên cạnh đó, mặc dù nhiều ngân hàng của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn
tự có tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) trên 8% nhưng trên bình diện chung, tỷ lệ CAR này cũng rất khác nhau giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng Quan trọng hơn, tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như hạch toán đúng dự
Trang 22phòng cho các khoản nợ xấu Lý do là chất lượng tài sản suy giảm làm cho chi phí
dự phòng gia tăng, làm ăn mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn tự có
- Giảm lợi nhuận:
Thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ nguồn huy động phải trả chi phí huy động vốn Do vậy, khoản vay không thu được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng làm giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn Kết quả là làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm
Đối với bản thân NHTM, các khoản nợ xấu làm cho ngân hàng không thu hồi được vốn và lãi đúng thời hạn đặt ra trong hợp đồng Nợ xấu làm chậm tốc độ chu chuyển vốn của ngân hàng thương mại dẫn đến làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng
- Giảm uy tín của ngân hàng:
Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác nên khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp, có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, dẫn đến việc làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng
- Nguy cơ phá sản:
Đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của nợ xấu đối với hoạt động ngân hàng Nếu
nợ xấu ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới hàng loạt các ảnh hưởng xấu như đã kể trên và cuối cùng là sự phá sản của ngân hàng
Nợ xấu gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng Những tổn thất thường gặp là mất mát khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản…làm giảm uy tín của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng Một ngân hàng làm ăn thua lỗ liên tục, một ngân hàng thường xuyên không đủ khả năng thanh toán có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của khách hàng, và phá sản là con đường tất yếu
Trang 231.1.5.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đến nền kinh tế - xã hội:
Nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của một ngân hàng Tuy nhiên, ảnh hưởng của nợ xấu không chỉ dừng lại trong phạm vi ngân hàng Sở dĩ người ta phải quan tâm nhiều đến vấn đề nợ xấu của ngân hàng bởi nó có ảnh hưởng sâu rộng tới các doanh nghiệp và cả nền kinh tế
Trên giác độ vĩ mô, nợ xấu thực sự làm giảm tính tích cực của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế NHTM thông qua việc cấp tín dụng cho khách hàng của mình
đã thực hiện đầu tư cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, tạo thêm những sản phẩm mới cho xã hội, tạo công ăn việc làm, đồng thời tăng thu nhập và tích lũy cho nền kinh tế quốc dân Hiện tượng nợ xấu xảy ra chứng tỏ người vay vốn đã không thực hiện hiệu quả đầu tư như đã dự kiến khi nhận vốn tín dụng từ NHTM
Ở mức độ trầm trọng, nợ xấu không chỉ làm cho một NHTM bị mất vốn, mất khả năng thanh toán, đi đến phá sản ngân hàng, mà còn kéo theo sự chao đảo của một loạt các NHTM khác trong hệ thống các ngân hàng Vì khi ngân hàng bị thua lỗ và
bị phá sản, sẽ ảnh hưởng đến hàng nghìn người gửi tiền vào ngân hàng, hàng nghìn doanh nghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn, dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng làm cho nền kinh tế bị suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, gây rối loạn quá trình lưu thông tiền tệ trong nước, giảm giá đồng nội tệ Và hơn nữa, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng trong nước, trong khu vực Vì vậy, sự phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của hàng loạt các ngân hàng khác và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế
Ngoài ra, tác hại của nợ xấu không chỉ đổ lên một quốc gia mà còn kéo theo sự lung lay của một loạt nền kinh tế của các nước có liên quan, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền tài chính thế giới Ngân hàng là kênh chủ yếu thực hiện huy động và cho vay phát triển kinh tế Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh tế mang tính dây truyền
Tỷ lệ nợ xấu cao nếu không kịp thời có biện pháp xử lý sẽ gây thua lỗ cho ngân hàng Hoạt động huy động vốn cho vay, đầu tư do vậy bị thu hẹp, ảnh hưởng tiêu
Trang 24cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời trực tiếp làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và khủng hoảng kinh tế xã hội
1.1.6 Hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTM
1.1.6.1 Hạn chế nợ xấu:
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chiến lược quản lý tín dụng nhằm hạn chế nợ xấu phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình trong từng thời kỳ, và phải linh hoạt có thể điều chỉnh tùy theo diễn biến thị trường tín dụng Như chúng ta
đã biết, nợ xấu là không thể tránh được đối với mỗi ngân hàng, ngân hàng nào cũng phải chấp nhận tồn tại các khoản nợ xấu, vì thế cần phải xác định giới hạn cần thiết của nợ xấu hay cụ thể hơn là xác định mức độ và tỉ lệ của nợ xấu thích hợp Nếu ngân hàng duy trì tỉ lệ nợ xấu quá cao hoặc không hợp lý thì nguy cơ gặp rủi ro của ngân hàng cao, ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Các biện pháp nhằm hạn chế nợ xấu:
- Đa dạng hóa danh mục tín dụng nhằm giảm bớt rủi ro, tránh “để trứng vào cùng một giỏ” Tránh tình trạng tín dụng chỉ tập trung vào một nhóm khách hàng hay một lĩnh vực nào đó Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng còn phải phù hợp với cơ cấu nguồn vốn huy động được
- Xây dựng và thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng:
Bản thân hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, vì vậy các ngân hàng cần phải xây dựng một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu xét duyệt, thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu giám sát trước và sau cho vay… Khi các ngân hàng tiến hành hoạt động tín dụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình tín dụng đó Việc xây dựng, thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện
và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Đối với mỗi khoản tín dụng, không chỉ kiểm tra trước khi giải ngân mà công việc kiểm tra giám sát tín dụng sau giải ngân cũng quan trọng không kém Việc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức, nhằm đảm bảo rằng khách hàng vay không làm những
Trang 25việc rủi ro từ nguồn vay này Ngân hàng sẽ giám sát tình hình sử dụng vốn vay sau giải ngân bằng cách kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng định
kỳ Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NHTM nào
- Xây dựng và thực thi quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Một khía cạnh khác cũng rất quan trọng của hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Thông qua công tác này có thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng Bên cạnh đó, hoạt động kiểm soát nội bộ còn góp phần phát hiện ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ tín dụng gây ra Hoạt động kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng, trên cơ sở đó, bộ phận kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng
tư vấn cho các bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng
1.1.6.2 Xử lý nợ xấu:
Nợ xấu luôn tồn tại song song với ngân hàng Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xử lý các khoản nợ xấu sau khi đã phát sinh Dưới đây là một số biện pháp xử lý nợ xấu:
- Yêu cầu tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và cơ cấu lại:
Đối với các khoản nợ xấu của khách hàng là doanh nghiệp, sau khi phân tích thực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu đánh giá khách hàng có khả năng phát triển để thanh toán nợ xấu cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp cấu trúc lại hay tái cơ cấu doanh nghiệp
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình thực hiện tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chính kém nhưng có khả năng hục hồi Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp được thực hiện giữa các bên có liên quan: nhà đầu tư, nhà kinh doanh, ngân hàng cho vay nợ với các mục đích cao nhất là hồi sinh, tăng giá trị cho doanh nghiệp
Trang 26Nói chung, đề xuất xử lý theo giải pháp cấu trúc lại chỉ được áp dụng cho các khoản
nợ thuộc nhóm 3 và nhóm 4 và đối tượng khách hàng được tiếp tục duy trì quan hệ Khi đã có quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với đối tượng khách hàng này, khoản
nợ có thể được quản lý thông qua việc giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực hiện các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ, và sửa chữa sai sót Đặc biệt, trong trường hợp không trả được nợ lần đầu, ngân hàng cần có hành động cương quyết để thuyết phục khách hàng trong việc thực thi các biện pháp cứng rắn để củng cố vị trí của khách hàng Ngân hàng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát tiến trình xử lý nợ Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể thực hiện các phương pháp:
+ Điều chỉnh kỳ hạn nợ
+ Gia hạn nợ
+ Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả
- Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu:
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu được áp dụng rộng rãi trên thế giới là chứng khoán hóa các khoản nợ Chứng khóan hóa là chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp Ngân hàng có thể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản nợ xấu của mình nhưng cần có sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ
Đối mặt với áp lực rủi ro tín dụng và yêu cầu tăng vốn chủ sở hữu, công cụ quản lý rủi ro chứng khoán hóa các khoản cho vay đã giúp ngân hàng hạn chế một cách hiệu quả rủi ro tín dụng NHTM bắt đầu bằng cách khoanh khoản nợ xấu có thế chấp và chuyển nó ra khỏi nội bảng, hạch toán ngoại bảng để bán cho người đầu tư chứng khoán thông qua trung gian là người được ủy thác Người được ủy thác thường là tổ chức được bảo đảm không bị phá sản và hoạt động chuyên nghiệp về phát hành chứng khoán Đầu tư thông qua hoạt động chứng khoán hóa giúp ngân hàng đa dạng hóa, giảm rủi ro, giảm các chi phí đối với việc giám sát các khoản vay
Trang 27Công nghệ chứng khoán hóa hấp dẫn nhiều ngân hàng, bởi vì thông qua đó mà ngân hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanh khoản tài sản, cung cấp một phương tiện tài trợ mới, giảm được các chi phí có tính chất thuế cũng như tăng thu nhập từ thuế
- Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh:
Đối với các khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có khả năng phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ…NHTM chủ động xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: tự bán công khai trên thị trường; bán qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; bán cho công ty mua bán nợ của Nhà nước Trong trường hợp khoản vay không được thanh toán đầy đủ thì ngân hàng được xử lý tài sản đảm bảo theo nguyên tắc và cơ chế theo luật định
Đối với các khoản cho vay có sự bảo đảm của bên thứ ba: ngân hàng yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo lãnh tương tự như các tài sản thế chấp cầm cố của bên vay
Thực hiện quyền truy đòi cho vay gián tiếp: nếu đến hạn mà người thanh toán không thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng truy đòi người đi vay, người bảo lãnh Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại tài sản bảo đảm hoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thời gian, khả năng thu hồi đầy đủ nợ thường không cao, song ngân hàng vẫn buộc phải thực hiện
để thu hồi vốn Cho đến nay, đây là một trong số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt các khoản nợ do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
- Bán các khoản nợ:
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với các khoản nợ không có tài sản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một TCTD hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán với
Trang 28giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh, và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hóa cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo
là không có lợi cho ngân hàng Cho nên, yêu cầu phá sản doanh nghiệp là biện pháp cuối cùng để ngân hàng thu hồi nợ
Trên thực tế, việc phải sử dụng đến biện pháp này thường không đem lại hiệu quả cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục rắc rối, khách hàng thường là không còn khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo có tranh chấp về pháp lý hoặc không đủ giá trị
bù đắp cho khoản vay, việc xử lý tài sản hoặc thu hồi nợ thông qua cơ quan thi hành
án thường mất nhiều thời gian, tốn kém về chi phí và thời gian…
- NHTM dùng dự phòng rủi ro để xử lý:
Theo thông lệ quốc tế, muốn xóa nợ khuê đọng phải có nguồn tiền nhất định Ở Việt Nam, tiền dùng để xử lý nợ là từ quỹ dự phòng rủi ro của ngân hàng hoặc từ ngân sách nhà nước
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vay vốn, bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bị giải thể, phá sản hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện được các nghĩa vụ nợ do bất khả kháng và những khoản nợ thuộc nhóm 5
Trang 29Do tính chủ động cao, nên biện pháp này thường được các ngân hàng vận dụng tối
đa nhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng Thực hiện các biện pháp này là ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục Gánh nặng nợ xấu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều giải pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được Vì vậy ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu hồi nợ có tính triệt để hơn
- Sự trợ giúp của Chính phủ:
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, các ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ ngân sách nhà nước Thực chất, các khoản vay theo chính sách có thể coi như khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ Do vậy, khi ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ đứng ra giải quyết cho ngân hàng Chính phủ có thể sử dụng ngân sách mua toàn bộ số nợ của NHTM để xử lý dần trong một năm nhằm giải thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng nợ xấu, giúp ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh Biện pháp này có hạn chế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng, không thể áp dụng thường xuyên vì vốn ngân sách có hạn, việc xử lý một khối lượng lớn
nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực khác gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế
1.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.1 Hàn Quốc:
Nguyên nhân:
Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia này Tính đến cuối tháng 3/1998, tổng nợ xấu của các tổ chức tài chính của Hàn Quốc là 118 nghìn tỷ Won (18% tổng dư nợ), chiếm 27% GDP
Trang 30Quá trình xử lý:
Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành xử lý nợ xấu bằng hai cách: (1) Buộc các tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị các khoản nợ xấu bằng việc yêu cầu các khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp; (2) Để Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation- KAMCO) mua lại một nửa các khoản nợ xấu
Để thực hiện quá trình xử lý nợ xấu, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng tiêu chuẩn phân loại nợ quốc tế để đánh giá thực trạng nợ xấu của các tổ chức tài chính Theo
đó, các tiêu chuẩn phân loại nợ ngày càng được thắt chặt không chỉ dựa trên thời gian mà còn dựa trên khả năng tài chính của khách hàng vay vốn trong tương lai đối với việc hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng
Để giải quyết khoản nợ xấu tương đương 27% GDP đi kèm với tái cấu trúc hệ thống tài chính đang suy yếu, Chính phủ Hàn Quốc đã huy động tới 157 nghìn tỷ Won để bơm vốn thêm vào cho các tổ chức tài chính, mua các khoản nợ xấu từ các
tổ chức tài chính, và để trả cho người gửi tiền của các tổ chức tài chính bị vỡ nợ… Phần lớn số tiền trên được huy động thông qua phát hành trái phiếu của Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) và KAMCO được Chính phủ bảo lãnh Khoản tiền huy động này được thu hồi tới 56% thông qua việc bán lại cổ phần của các ngân hàng đã được bơm vốn, giá trị thu hồi được từ xử lý các khoản nợ xấu và bán các tài sản thế chấp Số tiền không thu hồi được được chuyển thành khoản nợ của Chính phủ thông qua việc chuyển các trái phiếu thành trái phiếu Chính phủ, tăng phí bảo hiểm tiền gửi…
KAMCO là cơ quan chuyên giải quyết nợ xấu thông qua Đạo luật quản lý hiệu quả
nợ xấu của các tổ chức tài chính và sự thành lập Cơ quan quản lý tài sản Hàn Quốc (The KAMCO Act) Chủ sở hữu của KAMCO là Bộ Tài chính và Kinh tế, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc và các tổ chức tài chính khác, được quản lý bởi ban điều hành là các đại diện đến từ các chủ sở hữu cộng thêm đại diện từ Ủy ban Giám sát Tài chính, Công ty Bảo hiểm Tiền gửi, Hiệp hội các ngân hàng và ba chuyên gia độc lập, hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban Giám sát tài chính
Trang 31KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ, các khoản nợ có thể giúp các tổ chức tài chính khôi phục lại hoạt động và hình ảnh trước công chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ Quy trình đánh giá các khoản vay được tiến hành kỹ lưỡng nhằm bảo đảm các khoản nợ mua về vừa hỗ trợ được các TCTC vừa bảo đảm được hiệu quả hoạt động của Công ty Các khoản nợ do KAMCO mua lại được chia thành 6 nhóm: Nợ thông thường có bảo đảm (chiếm 17,9% tổng tiền), nợ thông thường không có bảo đảm (5,8%), nợ đặc biệt có bảo đảm (32,2%), nợ đặc biệt không có bảo đảm (10,6%), nợ của tập đoàn Daewoo (32%) và nợ được gia hạn lại (1,5%) với mức giá so với giá trị khoản vay tương ứng
là 67%, 11,4%, 47,4%, 29%, 35,9% và 23,1% Khoản nợ xấu được định giá dựa trên khả năng thu hồi nợ, tài sản bảo đảm và phương pháp định giá được thay đổi tùy theo từng thời kỳ Đa phần các khoản tiền được sử dụng để mua nợ từ các ngân hàng (chiếm 62,1%), công ty ủy thác đầu tư (21,1%) và công ty bảo hiểm (4,5%) Tổng cộng, KAMCO đã bỏ ra 39,7 nghìn tỷ Won, chiếm tới 36% giá trị các khoản vay, để mua các khoản nợ xấu trong vòng 5 năm từ năm 1997 đến 2002
Sau khi mua lại, KAMCO nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh Luật Chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩy việc bán các khoản nợ cho các công ty
có chức năng chứng khoán hóa các khoản nợ xấu và bán lại cho các nhà đầu tư Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào xử
lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được bảo đảm bằng các khoản nợ xấu cũng như mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá Chính sự thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đầu tư vào các chứng khoán cũng như các khoản nợ xấu này Bên cạnh đó, KAMCO cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất, giãn nợ… Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của
Trang 32khoản nợ xấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty… Trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2002, KAMCO
đã thu hồi được 30,3 nghìn tỷ Won, tương ứng với tỷ lệ thu hồi là 46,8% trên giá trị khoản nợ
1.2.2 Trung Quốc
Nguyên nhân:
Nguyên nhân gây ra nợ xấu của Trung Quốc là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi hoạt động của các NHTM Nhà nước lớn chỉ như những cơ quan hành chính Nhà nước, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ Những khoản vay này cũng không qua quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ nên rủi ro tín dụng là điều không tránh khỏi Vì thế, quá trình xử lý nợ xấu ở Trung Quốc gắn trực tiếp với các biện pháp cải cách được thực hiện bởi Chính phủ nhằm chuyển đổi nền kinh tế Trung Quốc từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường cũng như quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà nước và hệ thống tài chính
Quá trình xử lý nợ xấu: có thể chia thành ba giai đoạn chính
Giai đoạn thứ nhất, giữa những năm 1990 diễn ra quá trình tái cấu trúc tài chính nhằm chuyển đổi hệ thống ngân hàng
Trang 33Giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ năm 1999 đến năm 2003, đánh dấu bằng sự thành lập của bốn công ty quản lý tài sản được Chính phủ tài trợ (Asset Management Corporation- AMC), mỗi công ty tương ứng với một trong số bốn NHTM Nhà nước lớn (chiếm tới 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng), nhằm giải quyết những khoản nợ xấu của bốn ngân hàng này chiếm 19% GDP của Trung Quốc năm 1999 Các khoản nợ xấu được chuyển giao tại mức giá trị sổ sách trực tiếp từ bốn ngân hàng thương mại cho bốn AMC tương ứng và trách nhiệm của bốn AMC này là phải xử lý hết các khoản nợ xấu này trong vòng 10 năm
Giai đoạn thứ ba, Trung Quốc tập trung vào tái cấu trúc các NHTM Nhà nước bằng cách mời gọi sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có chọn lọc và niêm yết ra công chúng nhằm tăng tính minh bạch và nâng cao năng lực quản trị của bốn NHTM Nhà nước lớn này
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu thông qua các AMC của Trung Quốc
Một số chức năng điều tiết các AMC chồng chéo nhau gây khó khăn trong việc quản lý và giám sát
Nguồn tiền để thực hiện mua lại khoản nợ xấu của AMC: 40% từ vay của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, 60% còn lại được tài trợ bằng trái phiếu của AMC phát hành cho bốn NHTM Nhà nước
Những biện pháp để xử lý nợ xấu của các AMC là: thanh lý tài sản, bán tài sản trực tiếp cho các nhà đầu tư và chứng khoán hóa những khoản nợ xấu
Kết quả:
Tỷ lệ thu hồi nợ xấu thấp do chất lượng tài sản thấp, quy định mua lại nợ xấu theo giá trị sổ sách, và tính thiếu minh bạch tại các AMC Đến cuối năm 2004, tỷ lệ thu hồi của bốn AMC chưa đến 40% giá trị nợ xấu được chuyển giao từ năm 1999 Tỷ
lệ thu hồi tiền mặt tại các AMC tính đến tháng 12/2004 đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với mức 49% của Thái Lan và mức 20-30% ước tính của Nhật Bản
Ngoài ra, việc thiếu minh bạch trong hoạt động của các AMC cũng là nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ thu hồi thấp Các AMC được miễn kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán độc lập Tham nhũng và kiểm soát nội bộ yếu kém đã khiến các nhà đầu tư nản lòng
Trang 34trước việc thông đồng, giao dịch mua bán nội bộ có thể diễn ra trong quá trình mua bán tài sản
Sau quá trình xử lý nợ xấu, chất lượng tài sản tại 4 NHTM Nhà nước được cải thiện đáng kể và đã tiến hành niêm yết ra công chúng sau khi được tái cơ cấu vốn Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này không hề biến mất khỏi hệ thống tài chính Trung Quốc, chúng chỉ được chuyển giao từ một tổ chức này sang một tổ chức khác, những nguy cơ tiềm ẩn gây ra cho hệ thống tài chính Trung Quốc không có nghĩa là được giảm bớt
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Việc thành lập cơ quan chuyên biệt quản lý nợ xấu trực thuộc Ngân hàng Nhà nước
Như kinh nghiệm của các quốc gia, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho NHNN quản lý) là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên, cơ quan này sẽ xử lý một phần nợ xấu của các NHTM Cụ thể, cơ quan này nên tập trung vào xử lý nợ xấu của các tập đoàn, DNNN tại các NHTM Việc
xử lý có thể thực hiện theo một trong những phương thức sau:
(1) Xóa nợ thông qua việc thay thế bằng các trái phiếu do Chính phủ phát hành (2) Hoán đổi các khoản nợ của tập đoàn kinh tế và DNNN với các NHTM cho vay (gồm cả các NHTM Cổ phần và NHTM có vốn Nhà nước chi phối) thành vốn
cổ phần
- Việc xử lý nợ xấu thông qua các cơ quan quản lý tài sản của các NHTM
Theo tính toán, đến nay các NHTM đã trích lập dự phòng tín dụng 70.000 tỷ, trong
đó 84% nợ xấu có tài sản đảm bảo với giá trị tài sản đảm bảo tương đương 130% giá trị các khoản nợ và đa phần là bảo đảm bằng bất động sản Như vậy, các NHTM hoàn toàn có thể chủ động xử lý các khoản nợ xấu của mình (với điều kiện là có tài sản bảo đảm) Vấn đề là phải xây dựng cơ chế hợp lý Cơ chế phải đảm bảo được 5 nguyên tắc: (1) Hỗ trợ các NHTM thu hồi được vốn đã đầu tư vào nợ xấu nhanh chóng nhưng không gây ra tổn thất quá lớn cho các NHTM; (2) Việc thu hồi nợ xấu không làm trầm trọng thêm tình hình thị trường bất động sản; (3) Giảm thiểu tối đa
Trang 35thiệt hại của các nhà đầu tư; (4) Giảm thiểu tối đa chi phí của Chính phủ; (5) Tách biệt hoạt động xử lý nợ xấu và hoạt động kinh doanh của NHTM Căn cứ theo kinh nghiệm của 3 quốc gia được nghiên cứ trên, nên thực hiện cơ chế như sau:
Thứ nhất, các NHTM bắt buộc phải sử dụng dự phòng để xử lý những khoản vay đối với các doanh nghiệp tư nhân mà không có tài sản bảo đảm hoặc có tài sản bảo đảm nhưng sụt giảm nghiêm trọng giá trị hoặc tranh chấp pháp lý quá phức tạp Thứ hai, tất cả các NHTM có nợ xấu bắt buộc phải thành lập công ty quản lý nợ (AMC) để tách hoạt động xử lý nợ xấu khỏi hoạt động kinh doanh của NHTM Thứ ba, các NHTM sẽ nhóm toàn bộ các khoản nợ xấu này lại và bán cho các AMC trực thuộc NHTM Các AMC của NHTM sẽ căn cứ theo mức độ rủi ro của các khoản nợ, giá trị thực của tài sản bảo đảm để phát hành ra các loại trái phiếu (đây là một dạng của phương thức chứng khoán hóa các khoản vay có bảo đảm) Chẳng hạn, AMC có thể chia trái phiếu thành 3 hạng ứng với 3 nhóm nợ là nhóm 3, 4 và 5 Mỗi loại này sẽ có mức lãi suất khác nhau nhưng tối thiểu phải cao hơn lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn Số tiền thu hồi này sẽ được chuyển cho NHTM để phục vụ việc cho vay các hoạt động kinh doanh, sản xuất
Thứ tư, Chính phủ nên thực hiện bảo lãnh với các trái phiếu trên đồng thời thành lập
cơ quan quản lý bất động sản trực thuộc Chính phủ để quản lý các bất động sản trong trường hợp Chính phủ phải thực hiện chi trả bảo lãnh cho các trái phiếu Chỉ với sự bảo lãnh của Chính phủ thì các nhà đầu tư trong nước và quốc tế mới thấy được sự hấp dẫn từ các loại trái phiếu trên
Thứ năm, Chính phủ nên giao nhiệm vụ rõ ràng cho NHNN trong việc ban hành quy chế về hoạt động AMC cũng như hoạt động chứng khoán hóa Đồng thời xác định rõ trách nhiệm của NHNN trong việc giám sát hoạt động trên, tránh tối đa các NHTM sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa trên để làm gia tăng rủi ro hệ thống (giống trường hợp của Mỹ giai đoạn 2007-2009)
Việc xử lý nợ xấu của Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia, tuy nhiên, việc vận dụng các kinh nghiệm trên phải tính đến điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là (1) Kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định; (2) Hoạt động cho vay
Trang 36phần lớn dựa trên tài sản bảo đảm là bất động sản trong khi thị trường bất động sản chỉ có thể phục hồi trong trung hạn; (3) Xử lý nợ xấu không được gây tổn thất quá lớn cho Chính phủ và bản thân các NHTM Việc áp dụng các kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc sẽ đảm bảo xử lý nợ xấu phù hợp với 3 yêu cầu đặc thù của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới thì việc các NHTM phải xây dựng cho riêng mình chiến lược kinh doanh thích hợp để hoạt động hiệu quả là hết sức cần thiết Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các NHTM không ngừng phát triển công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại để khẳng định vị thế, tăng dần tỷ trọng thu dịch vụ trong tổng thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, dịch vụ tín dụng vẫn là nguồn thu nhập chính của các NHTM Một khi chất lượng tín dụng giảm, nợ xấu gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của ngân hàng Do đó, trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến tín dụng, rủi ro tín dụng, nợ xấu, nguyên nhân cũng như cách thức để hạn chế và xử lý nợ xấu của các NHTM, kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia
Từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, nợ xấu của NHNo&PTNT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI
NHNo&PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank KV TP.HCM
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động chủ yếu của Agribank KV TP.HCM
Nguồn: Tổng hợp báo cáo KQHDKD của các chi nhánh Agribank KV TP.HCM
Hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của các chi nhánh Agribank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng giảm qua các năm Hầu hết các món cho vay lớn của Agribank khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đều tập trung vào các dự án bất động sản lớn trên địa bàn Khi thị trường bất động sản đóng băng, cộng với suy thoái kinh tế, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, dẫn đến nợ xấu của các chi nhánh tăng cao Một số chi nhánh có nợ xấu rất lớn, chiếm hơn 50% tổng dư nợ
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng của các chi nhánh Agribank trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đều tăng qua các năm, trong đó các chi nhánh chú trọng tăng thu dịch vụ Nhưng do chi phí dự phòng cho các khoản nợ xấu quá lớn, làm cho lợi nhuận sau thuế của các chi nhánh giảm mạnh Tình hình này ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới hoạt động của các chi nhánh nói riêng, Agribank nói chung
Trang 38Các chi nhánh Agribank trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phải nỗ lực tập trung
thu hồi nợ, xử lý nợ xấu, giảm thiểu nợ xấu phát sinh, hỗ trợ đối với các dự án tốt để
giúp các doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh là vấn đề đang được quan tâm
trong tình hình hiện nay
2.2 Thực trạng nợ xấu tại NHNo&PTNT trên địa bàn TP.HCM
Nguồn: Báo cáo nguồn vốn huy động của Agribank KV Miền Nam
Năm 2009, nguồn vốn huy động trên địa bàn TP.HCM đạt 98.983 tỷ đồng
Đến 31/12/2010, tổng nguồn vốn toàn hệ thống đạt 474.941 tỷ đồng, tăng 40.610 tỷ
đồng (tăng 9,4%) so với đầu năm Nếu nguồn vốn loại trừ nguồn vay tái cấp vốn
NHNN 17.013 tỷ thì tốc độ tăng trưởng là 7,41% so với đầu năm Trong đó nguồn
huy động nội tệ đạt 422.383 tỷ, tăng 44.716 tỷ (tăng 11,8%) so với đầu năm, nguồn
vốn huy động ngoại tệ (quy VND) đạt 52.558 tỷ, giảm 4.106 tỷ (giảm 7,2%) so với
đầu năm
Khu vực TP Hồ Chí Minh, nguồn vốn huy động cuối năm 2010 đạt 102.393 tỷ
đồng, tăng 3.410 tỷ (tăng 3.4%) so với đầu năm Tỷ trọng nguồn vốn huy động của
khu vực TP Hồ Chí Minh chiếm 21.6% tổng nguồn vốn, thấp hơn mức 25,9% của
khu vực TP Hà Nội Cơ cấu nguồn vốn huy động từ dân cư tăng khoảng 25,5% so
với đầu năm, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn huy động từ khách hàng;
nguồn vốn kho bạc Nhà nước và nguồn vốn huy động từ các TCKT tăng nhẹ, nguồn
vốn huy động từ các TCKT chiếm khoảng 30% và nguồn vốn kho bạc Nhà nước
chiếm khoảng 7% nguồn tiền gửi khách hàng
Trang 39Cơ cấu nguồn vốn theo thời gian chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, tăng gần 40% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng khoảng 50% nguồn tiền gửi khách hàng; tiền gửi có kỳ hạn trên 12 đến 24 tháng tăng do người dân phòng ngừa rủi ro lãi suất, trong khi tiền gửi có kỳ hạn trên 24 tháng giảm do sự không ổn định của dòng tiền và nhu cầu tiêu dùng trong dân cư Nguồn vốn vay NHNN cũng tăng mạnh do đáp ứng nhu cầu thanh khoản, trong khi nguồn tiền gửi, tiền vay TCTD khác giảm Năm 2011, tổng vốn huy động (cả ngoại tệ quy đổi VND) toàn hệ thống đạt
505.792 tỷ đồng, tăng 30.851 tỷ (tăng 6,5%) so với cuối năm 2010 Trong đó, vốn huy động VND đạt 458.277 tỷ đồng, tăng 35.894 tỷ đồng (tăng 8,5%), chiếm tỷ trọng 90,6%/vốn huy động; vốn huy động ngoại tệ (quy VND) đạt 47.515 tỷ đồng, giảm 5.043 tỷ (giảm 9,6%), chiếm tỷ trọng 9,4%/vốn huy động
Khu vực TP Hồ Chí Minh tổng nguồn vốn huy động đạt 89.638 tỷ đồng, giảm 12.755 tỷ (giảm 12,46%) so với đầu năm Trong đó, hầu hết các loại nguồn vốn đều giảm so với đầu năm, chủ yếu do giảm tiền gửi Bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước
và tiền gửi tổ chức kinh tế Tiền gửi của Agribank khu vực TP.HCM chiếm 13,34% tiền gửi của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Một số chi nhánh có nguồn vốn giảm mạnh như: TP.HCM (-6.558 tỷ đồng), Mạc Thị Bưởi (-2.757 tỷ đồng), CN 6 (-1.119
tỷ đồng), Đông Sài Gòn (-1.090 tỷ đồng), Gia Định (-1.080 tỷ đồng), Phú Mỹ Hưng (-1.053 tỷ đồng),…
Năm 2012, nguồn vốn huy động trên địa bàn TP.HCM đạt 72.047 tỷ đồng, giảm 17.591 tỷ (-19,62%) so với đầu năm, chiếm 8% tiền gửi của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Nguồn tiền gửi bằng VND đạt 68.348 tỷ đồng, chiếm 94,78% nguồn tiền gửi; nguồn tiền gửi bằng ngoại tệ, vàng đạt 3.699 tỷ đồng, tương ứng 5,13%.Tỷ trọng nguồn tiền gửi của Agribank so với các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giảm, chỉ chiếm 7,69% tổng nguồn tiền gửi khu vực
Trang 40Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn tiền gửi bằng VND của Agribank KV TP.HCM
ĐVT: Tỷ lệ %
Nguồn: Báo cáo nguồn vốn huy động Agribank KV miền Nam
Cơ cấu nguồn tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng rất cao, trong khi tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân chiếm tỷ lệ không đáng kể Năm 2009, tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ lệ là 81,71%, tăng lên 83,5% trong năm 2010 và 86,23% trong năm 2011 Năm 2012 tỷ lệ này là 85,82% (58.656 tỷ đồng); đến tháng 06-2013 là 88,35% (65.072 tỷ đồng); trong đó nguồn tiền gửi có kỳ hạn < 6 tháng là chủ yếu, 61% năm
2012, và 51% trong sáu tháng đầu năm 2013 Tiếp đến là tiền gửi có kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng, chiếm từ 24,72% năm 2012 lên 34,61% tháng 06-2013 Nguồn tiền gửi có kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng tăng, trong khi tiền gửi có kỳ hạn <6 tháng giảm chủ yếu là do lãi suất tiền gửi thời gian qua biến động mạnh, người gửi tiền hướng đến kỳ hạn dài để hưởng lãi suất cao và giảm rủi ro lãi suất, chủ yếu là kỳ hạn dài, lãnh lãi hàng kỳ (tháng/quý) Tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân là không đáng kể,
tỷ trọng rất nhỏ, nhưng tỷ trọng cũng giảm liên tục qua các năm Tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức trung bình chiếm khoảng 15% tổng nguồn tiền gửi nội tệ
Đối với nguồn tiền gửi bằng ngoại tệ và vàng, tiền gửi có kỳ hạn vẫn chiếm ưu thế, 2.533 tỷ đồng (68,49%) năm 2012 và 2.528 tỷ đồng (76,93%) trong sáu tháng đầu