1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005

61 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005 Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 2005

Trang 1

(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ KHOÁ 2001-2006)

Người hướng dẫn : TS NGUYÊN THANH BÌNH

Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và kinh tế Dược

Trường ĐH Dược Hà Nội

Thời gian thực hiện: Từ tháng 3/2006- tháng 6/2006

HÀ NỘI, THÁNG 5/2006

Trang 2

Ths Nguyễn Tuấn Anh- người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp

đỡ em rất nhiều đ ể em hoàn thành luận văn này

PGS.TS Nguyễn Thị Thái Hằng và các thầy cô giáo trong bộ môn quản lý và kinh tế dược đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn

Ths Đinh Thị Thanh Thuỷ- thanh tra s ở Y tế Hà Nội, Ths Nguyễn Minh Hoài- thanh tra Bộ Y tế đã giúp đỡ em trong quá trình làm luận vàn

Em cũng xỉn bày tỏ lòng biết ơn tới ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ và những người thân trong gia đình đã động viên khích lệ em trong quá trình học tập

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2006

Sinh viên Đoàn Thị Thuỷ

Trang 3

M ục lục

Đặt vấn đề 1

Phần 1: Tổng quan 3

1.1 Giá thuốc và quản lý giá thuốc trên thế giới 3

1.2 Giá thuốc và quản lý giá thuốc ở Việt Nam 10

1.3 Một số đề tài liên quan đến nội dung nghiên cứu 19

Phần 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

Phần 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 23

3.1 Kết quả nghiên cứu 23

3.1.1 Một số văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 23

3.1.2 Đánh giá kết quả của một số giải pháp quản lý giá thuốc đã được triển khai 33

a/ Giai đoạn 2000-2002 33

b/ Giai đoạn năm 2003 33

c/ Giai đoạn năm 2004 36

d/ Giai đoạn năm 2005 41

e/ Giai đoạn đầu năm 2006 45

3.2 Bàn luận 46

3.2.1 Tình hình quản lý giá thuốc của nước ta hiện nay 46

3.2.2 Tác động của các văn bản quản lý giá thuốc tới thị trường thuốc 49

Phần 4: Kết luận và đề xuất ý kiến 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Đề xuất ý kiến 53

Tài liệu tham khảo

Trang 4

Bộ Y tế

Bộ Tài chínhCục quản lý Dược Việt Nam Chỉ số giá tiêu dùng

Dược phẩm Y tếDược phẩm trung ương 2- kinh doanh- xuất nhập khẩuSản xuất

Nguyên liệuThành phẩmCông ty xuất nhập khẩuNhập khẩu song songTiền thuốc bình quân đầu người

Số đăng ký

Uỷ ban nhân dânDược phẩm nước ngoàiChăm sóc sức khoẻ

Trang 5

D anh m ục các bảng

Bảng 1.1: Số lượng kê toa trung bình và giá thuốc (USD) 4

Bảng 1.2 : So sánh giá thuốc giữa các nước 5

Bảng 1.3 : So sánh giá thuốc nhập và giá bán tại thị trường Việt Nam 11

Bảng 1.4: Số hoạt chất ‘mới” dự kiến đưa vào sản xuất từ năm 2001-2005 của Tổng Công ty Dược Việt Nam .12

Bảng 1.5 : So sánh giá thuốc sản xuất trong nước và thuốc ngoại nhập tại Hà Nội (tháng 3-2002) 13

Bảng 1.6: Tình hình tăng giá của 3 công ty trên 17

Bảng 1.7 : Kết quả điều chỉnh giá thuốc của công ty ZPV 18

Bảng 3.8 : Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 28

Bảng 3.9: Diễn biến thị trường thuốc đầu năm 2003 34

Bảng 3.10: so sánh giá nhập và giá bán của công ty nước ngoài 39

Bảng 3.11: Diễn biến thị trường thuốc nhập khẩu năm 2005 41

Bảng 3.12: Diễn biến thị trường thuốc 6 tháng cuối năm 2005 41

D anh m ục các hình Hình 1.1: Biểu đồ tiền thuốc bình quân đầu người (USD) theo các năm 11

Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống cung ứng thuốc tại Việt Nam 15

Hình 3.3: Biểu đồ danh mục các văn bản quản lý giá thuốc theo các năm 33

Trang 6

ra nếu không sử dụng đúng thuốc cần thiết.

Những đặc thù trên đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn chú trọng kiểm soát mặt hàng này về mọi mặt trong đó có vấn đề giá thuốc Hiện nay vấn đề kiểm soát giá trên thị trường thuốc vẫn là vấn đề bức xúc của các nhà quản lý, bởi giá thuốc càng ngày càng tăng cao mà đỉnh điểm là giai đoạn tháng 3 và tháng 10/2003 Trước những cơn “sốt” giá thuốc gây xôn xao dư luận, nhiều báo chí phản ánh vấn đề này, nhiều cơ quan và bộ ngành đã vào cuộc Các giải pháp từ phía Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Cục quản lý Dược, nhằm bình ổn giá thuốc được ban hành và một số giải pháp đã được triển khai Đầu năm 2006 giá thuốc lại bắt đầu tăng cao, nhiều công ty chưa được sự đồng ý của Cục quản lý Dược đã tự ý tăng giá thuốc Giá thuốc một lần nữa trở thành vấn đề thời sự trên các báo, tạp chí Phải chăng các giải pháp ban hành chỉ có hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định Đã có một số đề tài nghiên cứu nghiên cứu sự biến động giá thuốc trên thị trường, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu

sự tác động của các giải pháp quản lý giá thuốc đến thị trường thuốc Nhằm tìm hiểu tác động của một số giải pháp quản lý giá thuốc đã được ban hành và triển khai tói giá thuốc trên thị trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005

Trang 7

2/Đánh giá kết quả của một sô giải pháp đã được triển khai

Với 2 mục tiêu:

n Tìm hiểu một số giải pháp quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2005

Trang 8

2000-PHẦN 1: TổNG QUAN1.1 Gỉá thuốc và quản lý gỉá thuốc trên thế giới

Có một thực trạng đã và đang không chỉ là nỗi lo của các nước đang phát triển mà ngay cả những nước giàu có như Mỹ, Nhật, Canada, Đức đó là chi phí chăm sóc y tế trong đó có việc mua thuốc điều trị đang tăng nhanh hàng năm, mất công bằng về hưởng thụ các dịch vụ CSSK và thuốc ngày càng rõ rệt giữa các quốc gia, khu vực và ngay giữa các tầng lớp dân cư trong từng quốc gia Trong khi đó toàn cầu hoá thương mại đang tạo thuận lợi cho các công ty dược phẩm hàng đầu thế giới làm chủ một thị trường thuốc toàn cầu với những sản phẩm mới ngày càng đắt tiền, vượt quá khả năng chi trả của nhân dân và ngân sách của các nước đang phát triển Nền công nghiệp dược phẩm non yếu sản xuất các thuốc thiết yếu và thuốc generic giá rẻ của một số nước đang phát triển chống chọi để tồn tại trước các công ty dược phẩm đa quốc gia hùng mạnh trong khi hàng rào thuế quan và chính sách bảo hộ quốc gia ngày càng được tháo bỏ [15], [20]

Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa khi cho rằng dược phẩm là một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận cao Một số quốc gia thậm chí đã coi dược phẩm là ngành mũi nhọn, là ưu tiên hàng đầu trong số các ngành công nghiệp (Autralia, Trung Quốc, ) [15]

Các nhà sản xuất lý giải là họ phải đầu tư rất nhiều cho nghiên cứu và phát triển Để có một thuốc ra đòi phải mất khoảng 10 năm thử nghiệm và xin phép

và tốn khoảng 500-880 triệu USD, và trong số hàng ngàn các chất được nghiên cứu thử nghiệm thì chỉ có một vài hoạt chất qua được 3 giai đoạn thử nghiệm để

đi vào sản xuất v.v Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ sinh học, công nghệ gene cùng với sự hỗ trợ của máy tính chọn lọc cao hơn, nhanh chóng hơn, ít phải “mò mẫm “ hơn Do đó chi phí cho nghiên cứu có xu hướng giảm đi Giá thuốc theo logic đó, đáng lẽ cũng phải giảm dần nhưng ngược lại với sự mong đợi của người dân và các chính phủ, giá bán càng ngày càng cao Một thuốc mới ra đời thường có giá cao hơn rất nhiều so với các

Trang 9

thuốc cùng nhóm trị liệu Một thuốc do các hãng nắm quyền sở hữu công nghiệp bán có giá đắt hơn vài lần so với các thuốc generic khác có hiệu quả gần tương đương [15]

Bảng 1.1: Số lượng kê toa trung bình và giá thuốc (USD)[15]

trung bình

1 toa

Giá nhà sản xuất generic

Giá bán lẻ generic

Giá bán lẻ chính hãng phát minhAcyclovir/Zovirax

Ghi chú: Giá và số viên thuốc dựa theo “đơn thuốc bán lẻ trung bình “ của

Scott-Levin, Mylan document, WSJ research

Qua bảng trên thấy rõ được sự chênh lệch “kinh khủng “ giữa giá sản xuất

Trang 10

và giá bán và cũng phần nào hình dung được lợi nhuận đem lại cho các hãng dược phẩm.

Giá thuốc được các công ty lớn định mức rất khác nhau tuỳ theo từng nước Bảng 1.2: So sánh giá thuốc giữa các nước

(Giá được chuyển đổi sang Rupees Ân Độ)

Geigy

“mức thị trường chấp nhận được “ này, cũng là giá “tâm lý “và phụ thuộc rất nhiều vào “hình ảnh công ty ’’quảng cáo” và tác động của nhiều yếu tố xúc tiến bán hàng khác [15]

Trên thế giới, việc quản lý giá thuốc ở các quốc gia cũng có nhiều hình thức khác nhau Để đảm bảo lợi ích của người bệnh và đảm bảo các yêu cầu xã hội, chính phủ các nước đã thực thi những chính sách quản lý thích hợp nhằm

ổn định giá thuốc trên thị trường Tại rất nhiều quốc gia, giá thuốc được xác

* định thông qua quá trình đàm phán Việc so sánh giá thuốc giữa quốc gia này

Trang 11

với quốc gia khác là một khâu trong quá trình xác định giá thuốc Ví dụ như ở Canada, giá của bất kỳ thuốc mới nào cũng không được phép cao hơn giá của thuốc đó ở Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ và Anh Khi một công ty đưa ra giá cao hơn thì giá đó phải được đưa ra công luận lấy ý kiến để điều chỉnh giá Các thuốc lưu hành ở Đan Mạch, mức giá không được cao hơn giá

trung bình của các thuốc đó ở Châu Âu Tại Arập Xêut, giá thuốc được xác định

dựa trên giá tham khảo của 10 nước Phần lớn các quốc gia cũng giới hạn giá thuốc ở mức giá như quốc gia sản xuất ra sản phẩm đó [17]

Với các nước công nghiệp phát triển, việc quản lý giá thuốc và các chính sách như kê đơn, sử dụng thuốc bằng tên gốc đã được khuyến khích và thực hiện, đặc biệt là những nước trong khối Liên minh Châu Âu Việc quản lý giá thuốc đã được thực thi khá chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển, và mang lại khá nhiều thành công bằng cách áp dụng các chính sách qui định về giá thuốc Tại những quốc gia này hiện đang áp dụng bốn chính sách về quản lý giá thuốc [17]:

a/ Chính sách kiểm soát giá dược phẩm được áp dụng phổ biến ở các nước như: Pháp, Italy, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Trong đó quy định về giá thuốc ở Italy là một mô hình tiêu biểu cho dạng chính sách này Tại điều luật số 537/93

về chính sách giá thuốc của Italy đã quy định các tiêu chí được sử dụng để điều chỉnh và định giá các loại tân dược Chẳng hạn, giá thuốc lưu hành trên thị

trường không được vượt quá giá trung bình thuốc đó ở châu Âu Các nhà làm

luật đã nghiên cứu sự đa dạng trong hệ thống giá cả, thống nhất áp dụng hệ

thống dựa trên các phương tiện thông tin về giá thuốc ở châu Âu là cơ sở cho

việc định gía thuốc trong nước [7] Tuy nhiên tuỳ vào đặc điểm riêng của từngnước mà áp dụng mô hình này một cách linh hoạt Như Pháp và Ý tuy cùng áp dụng chính sách kiểm soát giá dược phẩm nhưng cách tiến hành khác nhau:

- Với hệ thống quản lý giá thuốc ở Pháp [17]: Giá thuốc được xét duyệt thông qua việc xác định giá của tất cả các sản phẩm đã được đăng ký đưa vào lưu hành Ngoài ra tất cả các hãng còn phải thực hiện một thủ tục bắt buộc, đó

là việc trình bày sản phẩm cuả mình trước một Hội đồng đánh giá, Hội đồng

Trang 12

này bao gồm các nhà chuyên môn giỏi về thuốc và có đạo đức nghề nghiệp tốt Hội đồng sẽ đánh giá khách quan quyết định thuốc này có phải là mới hay không, nếu thực sự là mới sẽ được đưa vào danh mục thuốc và sẽ được bù giá khi đưa vào thị trường.

Nếu thuốc được đưa vào danh mục, nhà sản xuất phải làm đề nghị qua hai giai đoạn giám định độc lập của Hội đồng giá Hội đồng này sẽ xác định ngoài phần cứng của giá sẽ xác định phần trăm bù chi phí của quốc gia Sau đó việc xác định giá còn phụ thuộc vào mục đích trị liệu của thuốc và mục đích của bác

sỹ sử dụng thuốc đó trong điều trị

Hội đồng giá sẽ đề đạt giá được thông qua của thuốc đã xét duyệt cho Bộ y

tế, Bộ tài chính và Bộ công nghiệp Đề nghị giá đó có thể được nhà sản xuất chấp nhận hoặc không chấp nhận Nếu nhà sản xuất chấp nhận, giá đó sẽ được

Bộ y tế công bố chính thức và được niêm yết tại tất cả các nơi cần thiết Nếu nhà sản xuất không đồng ý với quyết định giá của Hội đồng giá, việc thẩm định lại được tiến hành từ đầu như các mặt hàng mới

- Với hệ thống quản lý giá thuốc ở Italy [17]: Giá thuốc được đưa ra dựa

trên mức giá trung bình của Châu Âu với yêu cầu giá sản xuất không được vượt quá giá trung bình đã được kiểm định hay giá tương tự được đưa ra ở 4 quốc gia Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Anh Giá trung bình này là có cơ sở khi có giá trị ở ít nhất 2 trong 4 nước trên, nhưng ít nhất một nước phải là Pháp hoặc Tây Ban Nha Sự so sánh này dựa trên giá của một đơn vị đóng gói Bất kỳ môt sự thay đổi giá nào làm thay đổi giá trung bình phải trải qua giai đoạn 6 năm mới được công nhận Những giá thấp hơn giá trung bình đều phải được xem xét lại vì giá thấp hơn có thể ngăn cản việc nhập khẩu

Với các thuốc mới được đăng ký thì giá được quyết định thông qua thoả thuận giữa các công ty phân phối và các nhà quản lý, dưạ vào các tiêu chí sau :

- Tỷ số lợi nhuận

- Giá sản phẩm ở các nước khác.

- Giá dự kiến (bao gồm giá đăng ký bản quyền)

* - Số lượng bệnh nhân sử dụng thuốc

Trang 13

- Các nhân tố tài chính,

b/ Chính sách giá tham khảo đang được áp dụng phổ biển trong ngành sản xuất

và kinh doanh dược phẩm ở Đức và Hà Lan Tại các quốc gia này chính phủ đã đưa ra những qui đinh làm cơ sở cho việc xây dựng và định giá cho các nhà sản xuất và kinh doanh Việc thực hiện các cuộc trao đổi mua bán dược phẩm trên thị trường dựa trên giá tham khảo của thị trường quốc tế [7] Để hiểu rõ hơn về chính sách này chúng ta tìm hiểu về hệ thống quản lý giá của Cộng hoà liên bang Đức:

Cùng một chế phẩm trong nước hay mua bản quyền của nước ngoài, thuốc mang tên gốc hay tên biệt dược khác nhau dù tác dụng trị liệu như nhau nhưng được bán ở hiệu thuốc với dải giá rất khác nhau Quỹ đảm bảo sức khoẻ sẽ thanh toán toàn bộ với dải giá đó Nhưng ở một số nước, quỹ đảm bảo sức khoẻ chỉ thanh toán cho những đơn thuốc không mất tiền và bảo hiểm y tế với chế phẩm rẻ nhất Bằng phương thức này những hiệu thuốc nào càng bán đắt càng giảm khả năng thu được lợi nhuận từ ngân sách quốc gia thanh toán cho các đơn thuốc không phải trả tiền Đó là một sự cạnh tranh về quyền lợi giữa các hiệu thuốc Chính vì thế quỹ đảm bảo sức khoẻ quan tâm không chỉ tới phạm vi giá mà còn lượng giá khác nhau để thanh toán phù hợp với giá thành trung bình

Để tiêu chuẩn giá trung bình và giá đó trở thành chức năng của hiệu quả trị liệu cần phải:

- Ghi chép toàn bộ đơn thuốc

- Phân nhóm thuốc theo các nhóm cùng tác dụng với quan điểm thay thế

- Thể chế hoá giới hạn tối đa để bù giá

Nếu chỉ lựa chọn mức giá thấp nhất sẽ không thực tế và không thoả mãn nhu cầu điều trị của người bệnh Đối với bất kỳ một thuốc nào cần được thu thập và xử lý hoàn chỉnh các thông tin về liều lượng, dạng thuốc, phân liều bao gói khác nhau, mức giá, mức độ khối lượng sử dụng Từ đó đưa ra khái niệm về mức tiêu thụ cao nhất cho phép định mức tối đa bù giá Đó là khả năng tại sao trên 80% thuốc được bù giá Bởi vì định hình giới hạn bù giá phụ thuộc rất lớn vào mức độ tiêu thụ thuốc Vì vậy để không mất vị trí của mình trên thị trường

Trang 14

thuốc, các hãng sản xuất và các hãng kinh doanh phải tiến tới giảm giá thuốc

Hệ thống này còn được áp dụng ở Đan Mạch, Na Uy và một số nước khác ở

Châu Âu

c/ Chính sách giá thuốc thông qua việc kiểm soát lợi nhuận đang được áp dụng

thực hiện ở Vương quốc Anh Trong chính sách này, chính phủ đã quy định tỷ

lệ chênh lệch giữa giá xuất xưởng, giá nhập khẩu (CIF), giá bán buôn và giá bán lẻ của thuốc [7] Những nguyên tắc cơ bản là:

- Tự do cạnh tranh và chỉ khống chế giới hạn lãi của dược phẩm

- Đối với các thuốc mang tên gốc có hệ thống khống chế tối đa thông qua một bảng giá cố định Bảng giá này được ấn định hàng tháng bởi Bộ y tế và Hiệp hội dược sỹ bán lẻ thuốc

Lương của các dược sỹ bán thuốc mang tên gốc cũng khác nhau nhiều Bộ

y tế sẽ chi trả một phần lương cho chủ hiệu thuốc đối với những hiệu thuốc có bán thuốc mang tên gốc và bán những thuốc mà bệnh nhân không phải trả tiền thuốc Phần lương được Bộ y tế trả phụ thuộc vào vị trí của hiệu thuốc

Người mua thuốc phải trả lệ phí cho mỗi đơn thuốc không phải trả tiền với mục đích đóng góp một phần nhỏ cho chi phí phục vụ Qua thống kê người ta

thấy rằng ở Anh có tới 40% bệnh nhân được hưởng mua thuốc không phải trả

tiền, đó là thuốc cho người nuôi con nhỏ, trẻ em, thất nghiệp và hưu trí

Các nhà sản xuất thuốc tên gốc được Chính phủ bù giá và có xem xét đến vị trí của nhà sản xuất và khối lượng sản phẩm mà nhà sản xuất đưa vào thị trường, sản phẩm tên gốc được chia làm 3 thứ hạng:

- Thuốc có nhiều cạnh tranh (nhiều nhà sản xuất cùng một thuốc tên gốc) Nhà nước sẽ bù giá theo giá trị trung bình của các nhà sản xuất đưa ra

- Thuốc có ít cạnh tranh (khoảng 2-3 nhà sản xuất) được định giá theo giá trung bình của hãng và giá nhập

- Thuốc duy nhất của một nhà sản xuất thì chấp nhận giá nhà sản xuất đưara

Trang 15

Hệ thống quản lý giá thuốc của Anh có nền tảng cơ bản và ý tưởng hệ thống quản lý giá của Đức nhưng được tính đến tình huống cạnh tranh và một

số yếu tố của các nhà sản xuất và của xã hội [17]

Ngoài ra ở Anh còn có hệ thống thông tin ngược về giá trị kê đơn của các bác sĩ Cứ 3 tháng một lần, thông tin này sẽ được tập hợp từ các hiệu thuốc, có trả tiền công thu nhập, sau đó sẽ gửi tói các bác sỹ và địa phương nơi bác sỹ làm việc Các thông tin này được các bác sỹ quan tâm để so sánh giữa các bác

sỹ trong khu vực và cả nước, đó là các thông tin giá trị kinh tế về trị liệu để các bác sỹ thảo luận Mặt khác, Bộ y tế cũng sử dụng thông tin này để đánh giá trình độ của bác sỹ, của từng vùng Trong trường hợp cần thiết các nhà dược lý, dược lâm sàng sẽ phân tích các thông tin đó và có thể có đóng góp hoặc “nói chuyện nghiêm túc “với các bác sỹ thường kê đơn quá cao so với “giới hạn kiểu mẫu“ của quốc gia hoặc vùng Trong một số trường hợp khác sẽ là chuẩn mực trong tương lai [17]

d/ Chính sách tự do về giá cả đang được áp dụng ở Mỹ Tại quốc gia này, chính phủ không hoàn toàn kiểm soát giá cả cũng như lợi nhuận trong kinh doanh sản xuất thuốc, nhưng với việc kiểm tra giám sát hệ thống sổ sách, hoá đơn và tài chính công khai tạo ra một mặt bằng giá thuốc ổn định Mặt khác, hệ thống chăm sóc sức khoẻ của Mỹ đã được cải tổ với nhiều sự lựa chọn mang tính chiến lược để hạn chế các chi phí trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe[7]

Đối với các nước đang phát triển, vấn đề quản lý giá thuốc dường như chưa được chính phủ các nước này quan tâm đúng mức Giá thuốc trên thị trường bị thay đổi một cách tuỳ tiện không có sự kiêm soát của nhà nước [7].1.2 Giá thuốc và quản lý giá thuốc ở Việt Nam

Thị trường dược phẩm là một thị trường đặc biệt trong đó việc tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào lượng thông tin tiếp nhận Giải Nobel kinh tế năm 2001 dành cho các giáo sư George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz đã kết luận rằng các đối tác tham gia trao đổi trên thị trường không bao giờ nắm được 100% thông tin về giá trị trao đổi Luôn luôn xảy ra hiện tượng đối tác này

Trang 16

chiếm ưu thế thông tin hơn so với đối tác kia, dẫn đến nhận thức sai lệch về giá trị của đối tượng trao đổi Điều đó tạo nên sự bất bình đẳng trên thị trường tự

do, làm cho người này bị thiệt trong khi người khác được lợi Ở thị trường dược phẩm Viêt Nam, điều này thể hiện rất rõ, người bệnh đã và đang bị thua thiệt do lượng thông tin không đầy đủ, thậm chí chưa chính xác [14] Qua bảng so sánh giá thuốc nhập và giá bán tại thị trường Việt Nam chúng ta sẽ thấy rõ điều này Bảng 1.3: So sánh giá thuốc nhập và giá bán tại thị trường Việt Nam [10]Tên thuốc/ hàm lượng Giá mua tại

Châu Âu +thuế NK(đ)

Giá bán của công ty nước ngoài tại VN(đ)

Chênh lệch %

Augmentin lg hộp 12 viên 112.312/hộp 181.084/hộp 61,2

Augmentin 625g hộp 12 viên 78.093/hộp 120.280/hộp 54,0

Tegerol 200 mg hộp 50 viên 51.744/hộp 118- 190/hộp 128,41Adalat 30mg hộp 50 viên 4.146/hộp 7.900/hộp 90,5

Rõ ràng là có sự chênh lệch rất lớn giữa giá bán và giá nhập, người dân Việt Nam đang phải mua thuốc với giá rất cao, đang là mục tiêu “bị tác động khai thác và “bóc lột” của các nhà cung cấp thuốc

Nhu cầu thuốc của nước ta ngày càng tăng lên, thể hiện qua tiền thuốc bình quân đầu (TTBQĐN) người tăng lên hàng năm

9.8 8.3

Trang 17

Trong khi đó sức sản xuất thuốc nội mới chỉ cung cấp được 30-40% tổng giá trị nhu cầu thuốc của xã hội (bao gồm cả thuốc đông dược và tân dược, nếu tính riêng thuốc tân dược thì thị phần trên thị trường Việt Nam còn thấp hơn nhiều) Có thể nói thuốc Việt Nam đã và đang thua ngay trên sân nhà, chưa thê cạnh tranh với thuốc ngoại nhập Thị trường thuốc Việt Nam (khoảng 640 triệu USD) đang bị các công ty dược phẩm nước ngoài làm chủ, chiếm 60-70% thị phần [11].

Thuốc do ngành công nghiệp dược Việt Nam sản xuất chủ yếu là các loại thuốc generic vói các hoạt chất đã hết bản quyền sở hữu trí tuệ từ lâu Theo số liệu của Tổng công ty dược Việt Nam, giá trị sản lượng của 10 dược chất (chủ yếu là kháng sinh thông thường, thuốc hạ nhiệt và vitamin) đã chiếm trên 50% doanh thu sản xuất của Tổng công ty trong 2001và 26% năm 2003 Trong danh mục 10 sản phẩm có doanh số lớn hàng đầu của Tổng công ty dược Việt Nam các năm từ 2001-2003 không có bất cứ một sản phẩm nào chứa các hoạt chất sẽ hết bản quyền trong các năm 2002-2003 [19] Ngay các sản phẩm được coi là

“sản phẩm mới” của các công ty thành viên của Tổng công ty dược Việt Nam

dự kiến đưa ra thị trường hàng năm cũng không cập nhật được với danh mục các hoạt chất hết quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn tương ứng

Bảng 1.4: Số hoạt chất ‘mói” dự kiến đưa vào sản xuất từ năm 2001-2005

của Tổng Công ty Dược Việt Nam [18]

Năm Số hoạt chất “mới “ dự

kiến đưa vào sản xuất

Trang 18

Trong 5 năm qua chỉ có 3 hoạt chất trong khoảng 50 hoạt chất hết quyền

sở hữu trí tuệ giai đoạn 2002-2006 được các nhà sản xuất của Tổng Công ty Dược Việt Nam sản xuất dưới dang generic, chiếm tỷ lệ 1,5% trong tổng số 195 hoạt chất “mới” có kế hoạch đưa vào thị trường của công ty [18]

Theo IMS thị trường dược phẩm các nước khối ASEAN có một đặc điểm chung là thuốc generic chiếm thị phần bình quân khoảng 40% trong đó nước thấp nhất là 9% (Singapore) và cao nhất là 70% (Việt Nam) [19] Điều này nói lên vấn đề là ngưòi dân Việt Nam ưu tiên lựa chọn generic mỗi khi cần sử dụng thuốc Thị trường thuốc generic là một thị trường tiềm năng của Việt Nam nhưng dường như các doanh nghiệp Dược Việt Nam không tận dụng được lợi thế này Theo số liệu của IMS năm 2003 thị trường thuốc generic ở Việt Nam là

350 triệu USD, lớn hơn 1,5 lần lượng thuốc trong nước năm 2003 (220 triệu USD) Như vậy có nghĩa là bên cạnh việc phải nhập nguyên liệu, Việt Nam còn phải nhập khẩu trên 100 triệu USD thuốc generic từ các công ty nước ngoài,trong đó chủ yếu là từ một số ít các nước Châu Âu và từ các nước Châu Á như

Ấn Độ, Hàn Quốc và các nước trong khu vực [19] Mà thuốc đã qua nhập khẩu thì giá đội lên thấy rõ

Bảng 1.5: So sánh giá thuốc sản xuất trong nước và thuốc ngoại nhập tại

Hà Nội (tháng 3-2002) [6]

Tên thuốc/hàm lượng Nước sản xuất Giá (đồng) So sánh định

gốcAmpicilin 500 mg Việt Nam 5.000/vỉ lOv 100

Trang 19

Mô hình bệnh tật tại Việt Nam ngày càng phức tạp đan xen giữa mô hình bệnh tật của cả các nước đang phát triển và các nước phát triển Nếu trước kia nhu cầu cao là các thuốc kháng sinh, giảm đau, hạ sốt, kháng viêm thì nay nhu cầu các thuốc chuyên khoa đặc trị đang có xu hướng tăng lên Những loại thuốc này đa số là nhập khẩu, nước ta chỉ sản xuất được một số ít và chỉ có những công ty nào đầu tư lớn vào trang thiết bị máy móc mới có khả năng để sản xuất,

vì vậy mà những thuốc này không hề rẻ chút nào Nếu để ý đến các mặt hàng bị

“sốt “ cao nhất trong giai đoạn vừa qua thì chúng ta sẽ nhận thấy hầu hết trong

số đó là các thuốc chuyên khoa, biệt dược cần có chỉ định của bác sỹ như Augmentin, Semprex, Ardia, Sandostatin, Aprovel, Không chỉ riêng các thuốc

kê toa, giá bán sỉ của phần lớn các thuốc kể cả nội và ngoại thường xuyên đặt ở mức cao [21]

Các công ty dược phẩm thường dành lợi ích lớn cho các đơn vị bảo hiểm và điều trị nhằm đưa hàng vào phác đồ điều trị và danh mục thuốc điều trị Giá thuốc càng cao thì phần lợi ích này càng hấp dẫn Nhưng theo thời gian, lợi ích này trở nên ít hấp dẫn hơn đối vói các nhà điều trị, thì các nhà kinh doanh lại tìm cách đẩy mạnh các hoạt động marketing Các bác sỹ vốn được xem là thận trọng, ít bị ảnh hưởng của quảng cáo, khuyến mãi, nên các công ty kia lại phải tăng thêm chi phí để thuyết phục họ [13]

Tình trạng lòng vòng của thuốc từ khâu sản xuất, nhập khẩu đến người tiêu dùng đã được Bộ Y tế và báo chí đề cập đến nhiều Kết quả là làm giá thuốc tăng lên Ví dụ: Thuốc nhập khẩu về qua các công ty Xuất nhập khẩu (XNK) dược phẩm với chênh lệch giá thường là 5-10% so với giá nhập khẩu chưa kể phí uỷ thác đối với công ty không có chức năng XNK dược phẩm dao động từ 0,8 -1,2% (theo giá CIF) Giá bán lẻ ngoài thị trường tự do tại các nhà thuốc phải cộng thêm bình quân từ 10-15% so với giá bán buôn Giá thuốc sau khi qua các công đoạn của quá trình phân phối từ lúc nhập khẩu đến lúc vào bệnh viện đã tăng bình quân khoảng 20-25% so với giá nhập khẩu ban đầu Đó

là chưa kể vấn đề tiêu cực khá phổ biến hiện nay như hoa hồng cho ngưởi kê toa

Trang 20

Giá thuốc đội lên do hệ thống phân phối thuốc ‘lòng vòng “ đó đã đổ lên đầu người tiêu dùng [5]

Nhà s x nước L Nhà phân 1 ( CTXNK 1 sx trong

ngoài (SXNL,TP) 1 phối quốc tế 1 trong nước I I nước

Các công ty phân phối trong nước

Bệnh viện 1 Các hiệu Đại lý

thuốc Ị*

Người sử dụng

Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống cung ứng thuốc tại Việt Nam [10]

Tình trạng cục bộ địa phương là rất phổ biến Ví dụ: Công ty dược phẩm tỉnh cung ứng đến hệ thống khám chữa bệnh trong địa bàn tỉnh, mức chênh lệch theo quy định từng địa phương lại do Sở Tài chính vật giá tỉnh xây dựng và

quyết định trên cơ sở hoá đơn mua thuốc hợp pháp Ví dụ tại Ninh Bình, chênh lệch cho phép là 15%; tại Thanh Hoá là 11,5%; tai Bắc Ninh là 9%, tại Hoà

Bình là 10-15% Trong bối cảnh thuốc nhập khẩu trên thị trường nước ta đi từ khoảng 1000 nhà sản xuất lớn nhỏ và do 250 Công ty nước ngoài có đăng ký

kinh doanh thuốc ở Việt Nam nhập khẩu qua 60 doanh nghiệp trong nước làm

đầu mối XNK để cho 540 Công ty trong nước phân phối thì tình trạng cục bộ này gây nên những phức tạp và bất cập trong việc quản lý chung toàn hệ thống[5]

Các bác sĩ kê nhiều loại thuốc ngoại đắt tiền do trình dược viên giới thiệu, bán thuốc cho bệnh nhân theo những thuốc mà họ có chứ không phải xuất phát từ yêu cầu bệnh tật Các trình dược viên đang coi các bệnh viện là thị trường mà họ phải đeo bám để thuốc của hãng mà họ đang làm phải chiếm lĩnh

Trang 21

thị trường Những chiến dịch khuyến mãi được tung ra nhằm vào các thầy thuốc

kê đơn và đã có sự mặc cả tỷ lệ hưởng phần trăm hoa hồng giữa các trình dược viên hãng thuốc với bác sĩ Giá thuốc cao vì phải phải gánh thêm những chi phí tiếp thị không nhỏ Trong khi bệnh nhân chỉ cần dùng những loại thuốc vitamin

do các doanh nghiệp dược trong nước sản xuất đảm bảo chất lượng mà lại rẻ tiền thì các thầy thuốc lại kê những Laroscobin (biệt dược của vitamin nhóm C), Becozyme (biệt dược của vitamin nhóm B) hay những viên nang mềm có giá hàng nghìn đồng một viên; trong khi khoa dược đang có Amoxycillin metronidazol thì thầy thuốc lại kê phải dùng Helicocin (biệt dược phối hợp của

2 loại thuốc đó) [16]

Từ lâu Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới giá thuốc Trong cơ chế kề hoạch hoá tập trung, giá cả được Nhà nước quản lý chặt chẽ Ngay từ những năm 1960-1963 Nhà nước đã qui định cách tính giá thành, mức lãi, giá bán nguyên liệu và thuốc thành phẩm Mỗi thuốc đều có một giá thống nhất trong toàn quốc Đơn vị buôn bán, phân phối thì được hưởng chiết khấu có nghĩa là chi phí lưu thông được trừ lùi vào giá do công ty chủ quản giao hàng [13]

Do chuyển sang kinh tế thị trường, cuối năm 1987 Nhà nước cho áp dụng chính sách 2 giá: giá cung cấp và giá bán lẻ kinh doanh Giá bán lẻ kinh doanh cao gấp 8-10 lần giá cung cấp [13]

Với sự phát triển của cơ chế thị trường, số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh và ngày càng ít phụ thuộc vào việc cấp vốn của Nhà nước Theo nguyên tắc “thuận mua, vừa bán “các doanh nghiệp dược đã sản xuất và nhập khẩu ngày càng nhiều thuốc và bán với giá đảm bảo kinh doanh không bị lỗ Từ thực tiễn này Nhà nước thực chất đã để mất quyền kiểm soát và điều hành giá thuốc Nhà nước chỉ khu trú lại quản lý giá một số thuốc và dịch vụ chi từ nguồn ngân sách Nhà nước [6]

Công tác quản lý dược từ năm 1993 dần dần được củng cố, việc đăng ký thuốc và đăng ký các công ty nước ngoài kinh doanh thuốc tại Việt Nam, việc quy hoạch lại các công ty xuất nhập khẩu thuốc, phát triển sản xuất nội địa , đã góp phần ổn định trật tự thị trường thuốc Giá thuốc cũng ổn định hơn

Trang 22

Nhờ có cạnh tranh, nhiều công ty mất sự độc quyền nâng giá thuốc theo ý muốn

mà phải tuân thủ quy luật điều tiết của thị trường [13] Tuy vậy với vấn đề giá thuốc như hiện nay thì phải thú nhận rằng lâu nay cơ quan Quản lý Nhà nước đã sao lãng việc quản lý giá thuốc và không kịp thời xây dựng chính sách giá thuốc Cho đến nghị định số 170/2003/NĐ-CP ban hành ngày 23/12/2003 cũng chỉ mới quy định một số loại thuốc phòng chữa bệnh do Nhà nước định giá[17]

Có thể nói rằng vấn đề quản lý giá thuốc trên thị trường Việt Nam đã được đề cập tới nhưng chưa thật đúng mức Các quy định liên quan và thực trạng của việc triển khai vẫn chưa thể hiện được tác động rõ nét đến sự phát triển của ngành công nghiệp đặc biệt này; đồng thời cũng chưa ngăn chặn tốt các tiêu cực xã hội đang có xu hướng ngày càng khó kiểm soát do tính phức tạp ngày càng tăng của các vấn đề ‘cung”, ”cầu” trên thị trường dược phẩm [21], dẫn đến giá thuốc trên thị trường bị thay đổi một cách tuỳ tiện không có sự kiểm soát của Nhà nước

Qua cuộc khảo sát của Bộ Y tế (25/3-6/4/03) cho thấy các công ty nước ngoài tham gia phân phối tại Việt Nam (cụ thể: Zuellig Pharma, Diethelm, Mega products) đã liên tục tăng giá với những chủng loại quan trọng và mang tính quyết định [10]

Bảng 1.6: Tình hình tăng giá của 3 công ty trên [10]

Công ty Số mặt hàng tăng Tỷ lệ (%)/tổng số với

mặt hàng cung cấp

Trị giá tăng bình quânZuellig Pharma 423 (từ T10/01-T3/03) 69% 5,2%

Mega products 43 (từ T12/02-T3/03) 100% 3%

Điển hình trong số này là công ty Zuellig Pharma Việt Nam với thế mạnh về tài chính cùng với sự dày dặn trên thương trường đã thao túng thị trường Theo kết quả thanh tra của Bộ Y tế cho thấy từ 15/10/01 tới T10/03 công tỹ đã lìềh\tục

tăng giá ở nhiều mặt hàng và với tỷ lệ rất cao ^ị Ị,ịc l

Trang 23

Bảng 1.7 Kết quả điều chỉnh giá thuốc của công ty ZPV T10/03[17]

+ Quản lý chặt chẽ, toàn diện: hầu hết nhân dân có bảo hiểm y tế Thuốc được mua theo đơn là chủ yếu Tiền thuốc mua được bồi hoàn Giá thuốc cố định do Nhà nước quy định và kiểm soát Cơ sở sản xuất phải trình Nhà nước các tài liệu về giá thành sản phẩm Nhà nước quy đinh thặng số (từ 20-30%); cộng vào giá thành, thành giá bán buôn Đối với thuốc nhập khẩu thì là giá CIF + chi phí nhập +thặng số 20% Giá bán lẻ ở các nhà thuốc =giá bán buôn + thặng số bán lẻ (25-30%) [12]

+ Quản lý theo kiểu hỗn hợp, vừa có nhân tố kiểm soát của Nhà nước, vừa có nhân tố của thị trường tự do: Nhà nước chỉ quản phần thuốc do Nhà nước chi tiền, còn lại để thị trường tự điều tiết Đối vói khâu bán buôn quy định thặng

số hoặc quy định giá bán lẻ rồi trừ triết khấu cho Nhà thuốc [12]

Trang 24

+ Thị trường tự do có sự giám sát của Nhà nước Thị trường tự do chiếm phần lớn Nhà nước chỉ tập trung sự chú ý đối với cung cấp thuốc cho bệnh viện, quy định thặng số bán buôn và bán lẻ và kiểm soát viêc thực hiện Với thị trường tự do chỉ khuyên cáo công bố giá trần Khi nhà sản xuất hay hiệu thuốc niêm yết giá nào thì không được bán cao hơn giá niêm yết [12].

Trong thời gian vừa qua một loạt các biện pháp được ban hành nhằm bình ổn giá thuốc trên thị trường nhưng Nhà nước vẫn chưa định rõ theo mô hình nào

Và mới đây ngày 17/2/2006, Bộ trưởng Bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến đã ký Quyết định số 10/2006/QD-BYT về việc giao nhiệm vụ quản lý giá thuốc và thành lập phòng quản lý giá thuốc thuộc Cục quản lý Dược Việt Nam Như vậy

là giờ đây đã biết được khi giá thuốc tăng thì bộ nào chịu trách nhiệm

1.3 Một số đề tài liên quan đến nội dung nghiên cứu

Đã có một số đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá thuốc trong

đó có chính sách quản lý giá thuốc của Nhà nước

- Đề tài: ’’Khảo sát sự biến động giá thuốc sản xuất trong nước trên thị trường Hà Nội từ năm 2001 đến nay“ của Đào Thị Thanh Giang, tiến hành nghiên cứu trên các giá bán lẻ của một số dược phẩm sản xuất trong nước và đi đến kết luận: ”Nhà nước chưa có một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ về quản lý giá thuốc, chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về quản lý giá thuốc nên giá thuốc trên thị trường còn do doanh nghiệp tự quy định Các quy định về thanh kiểm tra việc thực hiện và các chế tài xử phạt vi phạm chưa chặt chẽ.” [9]

- Đề tài: “Khảo sát và phân tích tình hình biến động giá thuốc trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000-2003” của Nguyễn Thu Hằng, tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng: chỉ số giá DPYT, giá bán lẻ của một số thuốc và tác giả đi đến kết luận: một trong những nguyên nhân chủ quan làm tăng giá thuốc là tình trạng yếu kém trong cơ chế quản lý của Nhà nước [10]

- Đề tài: “Khảo sát sự biến động về giá của một số thuốc nhập ngoại trên thị trường Hà Nội“ của Vũ Thị Kim Dung, tiến hành nghiên cứu giá bán lẻ của

v một số nhóm thuốc và kết luận: ”Hệ thống quản lý giá thuốc của Nhà nước còn

Trang 25

chưa đồng bộ, các chế tài xử lý vi phạm về giá thuốc trong quá trình cung ứng

nhập khẩu thuốc còn chưa đủ mạnh” là một trong những nguyên nhân chính

làm tăng giá thuốc [8]

- Đề tài: “Phân tích tình hình biến động giá của một số loại thuốc trên địa bàn Hà Nội“ của Đinh Thị Thanh Thuỷ, tiến hành nghiên cứu giá bán lẻ của

một số nhóm thuốc trên thị trường và kết luận: ”Hệ thống các văn bản pháp quy

về quản lý giá thuốc chưa hoàn chỉnh và đồng bộ” là một trong những nguyên

nhân chủ quan làm giá thuốc tăng [17]

Các đề tài trên tác giả chỉ dừng lại ở sự phân tích các nguyên nhân làm

thuốc tăng giá, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Một trong nhữmg nguyên nhân chủ quan đó là sự bất cập của một số văn bản

pháp quy quản lý giá thuốc Hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý giá

thuốc chưa hoàn chỉnh và đồng bộ Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đánh giá hiệu

quả của các giải pháp quản lý giá thuốc đến việc bình ổn giá thuốc trên thị

trường Việt Nam, vì vậy mà đề tài chúng tôi tiến hành đi sâu vào vấn đề trên,

với đối tượng nghiên cứu là các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc

Trang 26

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các văn bản có liên quan đến công tác quản lý giá thuốc do Chính phủ, Bộ

Y tế, Bộ Tài chính, Liên bộ: Bộ Y tế-Bộ Tài chính, Cục quản lý Dược ban hành trong thời gian từ năm 2000-2005

2.1 Phương pháp nghiên cứu

- Hệ thống hoá các văn bản liên quan đến công tác quản lý giá thuốc do Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Liên bộ: Bộ Y tế-Bộ Tài chính, Cục quản lý Dược ban hành trong thời gian từ năm 2000-2005

- Phân loại các văn bản theo thời gian ban hành

- Hồi cứu các báo cáo thanh tra:

+ Một số kết quả bước đầu về thanh tra giá thuốc trong chuyên đề thanh tra y tế quyển 8/2003

+ Kết quả thanh tra thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT về cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện năm 2004 trong chuyên đề thanh tra y tế quyển 12/2005 + Báo cáo kết quả thanh tra việc thực hiện các quy định về kinh doanh, cung ứng, sử dụng và quản lý giá thuốc trong báo cáo thanh tra số: 200/BC-TTr

- Hồi cứu diễn biến tình hình giá thuốc cuối năm 2003 qua báo cáo của Bộ Y tế trình Chính phủ

- Hồi cứu diễn biến tình hình giá thuốc đầu năm 2004 trong kế hoạch triển khai thực hiện một số giải pháp cấp bách nhằm bình ổn giá thuốc chữa bệnh cho nhân dân (ban hành kèm theo Quyết định số 1353/QĐ-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

- Hồi cứu diễn biến tình hình giá thuốc cuối năm 2004 qua đánh giá của Cục quản lý Dược trong văn bản số 1435/QLD-GN ngày 2/3/2005

- Hồi cứu diễn biến tình hình giá thuốc năm 2005 từ văn bản số 1051/QLD- PCD ngày 15/2/2006

Trang 27

- Hồi cứu diễn biến tình hình giá thuốc đầu năm 2006 từ tạp chí thị trường giá

Trang 28

KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN

3.1 Kết quả nghiên cứu

3.1.1 Một số văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Bảng 3.8)

Nhận xét: Từ năm 2000- 2002 cổng tác quản lý giá thuốc dường như chưa được các cơ quan chức năng chũ ý đến nên hầu như không có giải pháp quản lý giá thuốc nào được ban hành Mặc dù pháp lệnh giá số 40/2002/PL- UBTVQH10 ban hành ngày 26/4/2002 nhưng vẫn chưa đưa thuốc vào danh mục do Nhà nước bình ổn giá Từ năm 2003 đến 2005 công tác quản lý giá thuốc đã được chú trọng, có 5 Nghị định, 8 thông tư, 2 chỉ thị, 9 Quyết định, 9 công văn, 2 văn bản liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành, từ phía Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Liên bộ: Bộ Y tế- Bộ Tài chính, Cục quản lý Dược (Hình 3.3)

Năm 2003 thị trường thuốc có biến động mạnh, đầu năm 2003 trên thị trường nội địa hiện tượng tăng giá thuốc trở thành một điểm nóng trong đời sống xã hội Mở đầu là tăng giá thuốc tân dược, sau đó là thuốc đông dược đồng loạt tăng giá Trước diễn biến thị trường thuốc phức tạp và để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (tại thông báo số 41/TB-CPCP ngày 28-3- 2003) giao cho Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính ban hành TT liên tịch hướng dẫn việc quản lý giá thuốc, cũng như xây dựng nghị định về quản lý giá thuốc, ngày 25/7/2003 Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã phối hợp ban hành TTLT số 08/2003/TTLT/BYT-BTC hướng dẫn việc kê khai và niêm yết giá thuốc phòng

và chữa bệnh cho người Sau khi xem xét nghiên cứu ý kiến của các doanh nghiệp và trao đổi thống nhất với Bộ Tài chính tại công văn số 9429/TC-QLD ngày 10/9/2003 về việc hướng dẫn triển khai thông tư 08/2003/1TLT/BYT- BTC, Bộ Y tế đã có công văn số 9080/YT-QLD ngày 22/9/2003 gửi tới sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc về việc giải thích hướng dẫn triển khai TT

PHẦN 3

Trang 29

08/2003/f i'LT/BYT-BTC Viêc niêm yết giá là một việc làm thường xuyên của các nhà bán lẻ, nhưng là vấn đề mới và cũng khó đối với các cơ sở sản xuất nên

Bộ Y tế đã có công văn số 9251/YT-QLD chính thức tạm dừng niêm yết giá thuốc, chuyển tới ngày 1/1/2004 mới thi hành niêm yết giá thuốc còn các khoản khác trong thông tư 08 và công văn 9080/YT-QLD vẫn tiếp tục thực hiện, vì vậy ngày 2/10/2003 Bộ trưởng BYT đã ra chỉ thị số 03/2003/CT-BYT

về việc thực hiện thông tư liên tịch số 08/2003/ITLT/BYT-BTC

Pháp lênh giá 40/2002/PL-UBTVQH10N được uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành mói qui định chung một số điều, vì vậy để hiểu rõ pháp lệnh và theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Nghị định của Chính phủ số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh giá được ban hành Để Nghị định 170/2003/NĐ-CP của Chính phủ được triển khai có hiệu quả ngày 9/3/2004 Bộ Tài chính đã ban hành thông tư

số 15/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 170/2003/NĐ-CP

Trước tình hình giá thuốc tăng bất hợp lý trong năm 2003 và đầu năm

2004 văn phòng Chính phủ có công văn số 75/TB-VPCP ngày 9/4/2004 truyền đạt ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với các Bộ: Y tế,

kế hoạch và đầu tư, tài chính bàn về “giải pháp bình ổn giá thuốc chữa bệnh” Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Y tế thực hiện ngay một số biện pháp cấp bách để bình ổn giá thuốc Và theo đề nghị của Cục trưởng Cục quản lý Dược Việt Nam và Vụ trưởng Vụ Điều trị -Bộ Y tế, ngày 16/4/2004 Bộ trưởng Bộ Y

tế đã ra quyết định số 1353/QĐ-BYT về việc phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện “Một số giải pháp cấp bách nhằm bình ổn giá thuốc chữa bệnh cung ứng cho nhân dân”

Trong kế hoạch triển khai thực hiện một số giải pháp cấp bách nhằm bình ổn giá thuốc chữa bệnh cho nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 1353/QĐ- BYT, Bộ Y tế đã phân tích những nguyên nhân của việc tăng giá thuốc và đưa

ra các giải pháp cụ thể để khắc phục Theo kế hoạch này, Bộ Y tế phối hợp cùng với các Bộ, ngành liên quan ban hành một loạt các văn bản: ngày

f 16/4/2004 ban hành chỉ thị 05/2004/CT-BYT chấn chỉnh công tác cung ứng sử

Trang 30

dụng thuốc trong bệnh viện; ngày 12/5/2004 ban hành Nghị định 120/2004/NĐ-CP về quản lý giá thuốc phòng và chữa bệnh cho người; ngày 28/5/2004 ban hành Quyết định số 1960/2004/QĐ-BYT quy định về nhập khẩu song song thuốc phòng, chữa bệnh cho người; ngày 28/5/2004 ban hành thông

tư 06/2004/TT-BYT hướng dẫn sản xuất gia công thuốc; ngày 31/5/2004 ban hành thông tư 07/2004/TT-BYT hướng dẫn việc xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và

mỹ phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người đến hết năm 2005; ngày 6/4/2005 ban hành Nghị định 45/2005/NĐ-CP qui định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế; ngày 16/5/2005 ban hành Quyết định 110/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoach “dự trữ lưu thông thuốc quốc gia phục vụ công tác phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân; ngày 1/7/2005 ban hành Quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ban hành danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần V; ngày 14/7/2005 ban hành Quyết định số 48/2005/QĐ-BTC về việc sửa đối thuế suất nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng thuốc trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi; ngày 27/7/2005 ban hành TT 20/2005/TTLT/BYT- BTC về việc hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập; ngày 30/8/2005 ban hành Quyết định số 3156/QĐ-BYT về việc ban hành “Danh mục thuốc dự trữ lưu thông” và Quyết định 3151/QĐ-BYT về việc ban hành Quy chế quản lý thuốc dự trữ lưu thông

Trong quá trình triển khai, một số doanh nghiệp đã thực hiện chưa đúng những quy định của Quyết định số 1906/2004/QĐ-BYT và công văn số 4868/QLD-GN nên ngày 6/7/2004 Cục quản lý Dược đã gửi công văn số 6035/QLD-GN gửi tối sở Y tế các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương; tổng Công ty Dược Việt Nam; Giám đốc các doanh nghiệp có chức năng xuất, nhập khẩu thuốc trực tiếp để nhấn mạnh một số điểm cần lưu ý trong Quyết định số 1906/2004/QĐ-B YT

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ số 30/2004/CT-TTg về các biện pháp kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường trong thời gian trước mắt Ngày 20/12/2004 Cục quản lý Dược đã ban hành công văn sốll/QLD-VP gửi

Ngày đăng: 07/08/2015, 21:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:  Số lượng kê toa trung bình và giá thuốc (USD)[15] - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 1.1 Số lượng kê toa trung bình và giá thuốc (USD)[15] (Trang 9)
Bảng 1.5:  So sánh giá thuốc sản xuất trong nước và thuốc ngoại nhập tại - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 1.5 So sánh giá thuốc sản xuất trong nước và thuốc ngoại nhập tại (Trang 18)
Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống cung ứng thuốc tại Việt Nam [10] - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống cung ứng thuốc tại Việt Nam [10] (Trang 20)
Bảng 1.7. Kết quả điều chỉnh giá thuốc của công ty ZPV T10/03[17] - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 1.7. Kết quả điều chỉnh giá thuốc của công ty ZPV T10/03[17] (Trang 23)
Bảng 3.8: Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.8 Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Trang 33)
Bảng 3.8: Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.8 Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Trang 34)
Bảng 3.8: Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.8 Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Trang 35)
Bảng 3.8:  Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.8 Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Trang 36)
Bảng 3.8:  Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.8 Danh mục các văn bản liên quan đến quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000-2005 (Trang 37)
Hình 3.3: Biểu đồ danh mục các văn bản quản lý giá thuốc theo các năm - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Hình 3.3 Biểu đồ danh mục các văn bản quản lý giá thuốc theo các năm (Trang 38)
Bảng 3.9: Diễn biến thị trường thuốc đầu năm 2003 - Khảo sát một số giải pháp liên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000   2005
Bảng 3.9 Diễn biến thị trường thuốc đầu năm 2003 (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w