1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF

77 887 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH  ĐẶNG THỊ THU THẢO NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP...

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



ĐẶNG THỊ THU THẢO

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA

CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC

QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



ĐẶNG THỊ THU THẢO

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA

CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC

QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH

PHÒNG QLĐT SAU ĐẠI HỌC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TPHCM, ngày 30 tháng 09 năm 2013

Nhận xét của Người hướng dẫn khoa học

1 Họ và tên học viên: ĐẶNG THỊ THU THẢO - Khóa: 19

2 Mã ngành: 60340201

3 Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều sâu tài chính và

tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển ở Châu Á”

4 Họ tên Người hướng dẫn khoa học : PGS TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

5 Nhận xét: (Kết cấu luận văn, phương pháp nghiên cứu, những nội dung

(đóng góp) của đề tài nghiên cứu, thái độ làm việc của học viên)

6 Kết luận: ………

7 Đánh giá: ( điểm /10)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành đến

người hướng dẫn đề tài, cô PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa,

về những ý kiến đóng góp, những chỉ dẫn và hỗ trợ tận tình đối với việc hình thành, xây dựng và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin gửi lời cám ơn đến gia đình, đồng nghiệp

và rất nhiều bạn bè đã hết lòng ủng hộ, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013

Học viên

Đặng Thị Thu Thảo

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả với sự giúp đỡ của Cô hướng dẫn và những người mà tác giả đã cảm ơn Số liệu thống kê được lấy từ nguồn đáng tin cậy, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2013

Tác giả

Đặng Thị Thu Thảo

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

1 GIỚI THIỆU 2

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4

2.1 Các nghiên cứu tìm thấy ảnh hưởng tích cực của chiều sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế 4

2.2 Các nghiên cứu nghi ngờ ảnh hưởng của chiều sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế 10

2.3 Nhận xét 15

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Phương pháp nghiên cứu 15

3.2 Mẫu nghiên cứu 18

3.3 Mô hình nghiên cứu 19

3.4 Mô tả các biến 19

3.4.1 Biến phụ thuộc Yit 19

3.4.2 Biến độc lập 20

3.4.3 Mô hình cụ thể 24

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 Kết quả nghiên cứu giả thiết 1 27

4.2 Kết quả nghiên cứu giả thiết 2 31

4.3 Kết quả nghiên cứu giả thiết 3 33

5 KẾT LUẬN 37

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính 37

5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 38

5.3 Đề xuất 41

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DW: Durbin-Watson

FEM: Fixed Effects Model

GDP: Gross Domestic Product

IMF: International Monetary Fund

M1: cung tiền M1

M2: cung tiền mở rộng M2

OLS: Ordinary least square

REM: Random Effects Model

WB: World Bank

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Mô tả kỳ vọng dự kiến của mô hình 25

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến 26

Bảng 4.2: Kiểm định tương quan của giả thuyết 1 27

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy giả thuyết 1 28

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy giả thiết 1 bằng mô hình FEM (tác động quốc gia) 30

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy giả thuyết 2 32

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy giả thiết 2 bằng mô hình FEM (tác động quốc gia) 33

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy giả thuyết 3 34

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy giả thiết 3 bằng mô hình FEM (tác động quốc gia) 35

Bảng 4.9: Kết quả hiệu chỉnh phương sai thay đổi 37

Trang 9

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm tìm hiểu chiều sâu tài chính tại các quốc gia đang phát triển Châu Á thực sự có ảnh hưởng hay tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Để kiểm định các giả thiết liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng biến tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người trong mối quan hệ lần lượt với các biến tỷ lệ tiền mở rộng M2 trên GDP, tỷ lệ tiền M2 trừ tiền M1 trên GDP, tỷ lệ tín dụng nội địa phân bổ tới khu vực tư nhân Mẫu nghiên cứu gồm 30 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2011 với phương pháp phân tích hồi quy Pooled OLS, hồi quy hiệu ứng cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên thường được sử dụng trong các dữ liệu bảng

Kết quả quan sát cho thấy cả 3 biến đại diện cho chiều sâu tài chính đều có mối tương quan âm với tăng trưởng kinh tế với độ tin cậy chắc chắn Lý giải cho vấn đề này, tác giả đề xuất một số nhận xét cá nhân dựa trên tình hình phát triển tài chính và kinh tế của khu vực Châu Á trong những năm vừa qua

- -

Trang 10

1 GIỚI THIỆU

Phát triển tài chính là cần thiết cho tăng trưởng Sự phát triển các thể chế tài chính như ngân hàng, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là cần thiết để hỗ trợ đầu tư vốn cố định, tăng khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn lưu động, chi tiêu lương và đầu vào sản xuất, tạo cơ chế dàn trải rủi ro

và đảm bảo rằng nền kinh tế có đủ thanh khoản hoàn thành những giao dịch cần thiết Như chúng ta đã biết, những thể chế này tập hợp vốn từ người tiết kiệm và chuyển sang cho bên vay, qui trình này gọi là trung gian (tài chính)

Thị trường tài chính cung cấp cho nền kinh tế các dịch vụ thiết yếu trong đó gồm có quản lý rủi ro và thông tin, hoặc góp vốn và huy động các khoản tiết kiệm Rộng và hiệu quả hơn, ví dụ hệ thống tài chính sâu hơn phù hợp với việc cung cấp hiệu quả các dịch vụ tài chính này cho toàn bộ hoạt động cung cầu của nền kinh tế

Từ quan điểm lý thuyết này, mối quan hệ giữa tài chính và phát triển kinh tế đã được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Mặt khác, khu vực tài chính có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua kênh tích lũy và kênh tái phân phối Kênh tích lũy nhấn mạnh ảnh hưởng tích cực của tài chính đem lại trong việc tích lũy nguồn vốn con người và vật chất đến kinh tế Kênh tái phân phối tập trung vào việc gia tăng hiệu quả của quá trình phân phối nguồn lực được tạo ra bởi chiều sâu tài chính và do đó đẩy mạnh kinh tế Chiều sâu tài chính thường được dùng để đánh giá mức độ phát triển tài chính của một quốc gia, được đo lường bằng nhiều chỉ số như cung tiền mở rộng M3/GDP, tỷ lệ tài sản ngân hàng tư nhân so với tổng tài sản hệ thống ngân hàng, tỷ lệ tín dụng tư nhân/GDP, giá trị các loại tiền trong hệ thống ngân hàng (M3-M1)…

Tuy nhiên, bên cạnh khía cạnh ảnh hưởng tích cực được nêu trong lý thuyết kinh tế và các kiểm định thực nghiệm truyền thống, cũng có nhiều ý kiến nghi ngờ

về độ tin cậy và sự chắc chắn của mối quan hệ này Sự phát triển quá nhanh hoặc không ổn định của hệ thống tài chính có thể đem lại các rủi ro, nguy hiểm cho quá trình tăng trưởng Một quốc gia có chiều sâu tài chính lớn không phải luôn luôn là một quốc gia có hệ thống tài chính tốt Đặc biệt trong những năm gần đây, có nhiều

Trang 11

nghiên cứu đã chứng minh việc không tồn tại, hoặc thậm chí tìm thấy quan hệ nghịch biến giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế

Liên hệ đến khu vực Châu Á là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới trong những năm gần đây chứng kiến sự lớn mạnh nổi bật của nền kinh tế đang phát triển Sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới Theo quá trình mở cửa thị trường, tự do hóa tài chính hội nhập với nền tài chính thế giới, việc hình thành các thể chế, thị trường và nhu cầu giao dịch diễn ra hết sức sôi động đã góp phần đem lại hiệu quả đổi mới cũng như tăng trưởng kinh tế vượt bậc cho Châu Á Bên cạnh

đó, mặt trái của quá trình tăng trưởng nhanh, thậm chí là tăng trưởng nóng cũng đem lại những hậu quả rủi ro, điển hình là các cuộc khủng hoảng tài chính năm

1997 bắt nguồn từ Thái Lan, chịu ảnh hưởng nối tiếp của khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008 với diễn biến và hậu quả còn kéo dài cho đến thời điểm này Như vậy cần phải xem lại thực lực và sức chịu đựng của hệ thống tài chính có thể đem lại sự tăng trưởng kinh tế ổn định và kéo dài Đồng thời từ đó cũng đặt ra sự hoài nghi về mối quan hệ giữa phát triển tài chính – được thể hiện qua các chỉ số chiều sâu tài chính – với tăng trưởng kinh tế? Đó là lý do tác giả đã chọn vấn đề chiều sâu tài chính làm mục tiêu nghiên cứu của mình

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là phân tích ảnh hưởng của chiều sâu tài chính lên tăng trưởng kinh tế của 30 quốc gia đang phát triển tại Châu Á với dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến 2011

Luận văn tập trung giải quyết câu hỏi liệu chiều sâu tài chính có thực sự ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này hay không? Cấu trúc của nghiên cứu gồm 5 phần chính:

1 Giới thiệu

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

3 Phương pháp nghiên cứu

4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu

5 Kết luận của nghiên cứu

Trang 12

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Các nghiên cứu tìm thấy ảnh hưởng tích cực của chiều sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm vế mối liên hệ giữa tăng trưởng

và tài chính cho rằng nền kinh tế hiển nhiên được hưởng lợi nhiều từ hệ thống tài chính phát triển tốt Mặt khác, tự do hóa tài chính giúp xóa bỏ những kìm hãm và ràng buộc về mặt tài chính, hay nói cách khác tự do hóa tài chính là quá trình để cho các công cụ của chính sách tiền tệ được vận hành theo cơ chế thị trường Khái niệm chiều sâu tài chính được xây dựng như là một thước đo của tự do hóa tài chính và phát triển tài chính Đây là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình phát triển các trung gian tài chính, bao gồm cả quá trình tự do hóa khu vực ngân hàng và phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu năng động Tác giả sẽ giới thiệu một số nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua xem xét ảnh hưởng của chiều sâu tài chính lên tăng trưởng kinh tế

Trước hết, Barro (1991) đã xây dựng mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc

là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người, và một loạt biến giải thích đại diện cho nguồn vốn nhân lực, tỷ lệ sinh sản (tỷ lệ số trẻ em trên số phụ nữ), đầu tư, chi tiêu chính phủ, ổn định chính trị, thể chế nền kinh tế, sự bóp méo thị trường… Đây có thể được xem là khung phương pháp chuẩn, làm nền tảng cho rất nhiều nghiên cứu sau này về mối quan hệ giữa tăng trưởng và các yếu tố khác của nền kinh tế, trong đó có yếu tố phát triển tài chính

Tiếp theo, Levine và Renelt (1992) đã kế thừa và mở rộng mô hình của Barro

(1991) bằng cách đưa vào tập các biến giải thích đại diện cho sự phát triển của tài chính

Tập các biến cơ bản bao gồm: tỷ lệ đầu tư trên GDP, mức GDP thực bình quân đầu người ở thời điểm đầu tiên, tỷ lệ đến trường cấp 2 ở thời điểm đầu tiên, và mức

độ tăng trưởng dân số bình quân hàng năm Tập các biến bổ sung: Tỷ lệ bình quân của chi tiêu chính phủ trên GDP, tỷ lệ lạm phát bình quân, tỷ lệ tăng trưởng bình quân của tín dụng nội địa, độ lệch chuẩn của lạm phát, tỷ lệ giá trị xuất nhập khẩu

Trang 13

trên GDP, độ lệch chuẩn của tăng trưởng tín dụng nội địa, chỉ số đại diện cho các cuộc cách mạng và bạo loạn

Bằng cách nghiên cứu dữ liệu của 119 quốc gia từ năm 1960 đến năm 1989, kết luận của tác giả cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các biến phụ thuộc Ví dụ tăng trưởng kinh tế tương quan âm với mức GDP thực bình quân đầu người ở thời điểm đầu tiên, phù hợp với giả thuyết hội tụ cho rằng một quốc gia nghèo có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu Đó là mối tương quan dương với hàng loạt biến tỷ lệ đến trường cấp 2 ở thời điểm đầu tiên, tỷ lệ bình quân của chi tiêu chính phủ trên GDP, tỷ lệ tăng trưởng bình quân của tín dụng nội địa, tỷ lệ giá trị xuất nhập khẩu trên GDP …

Ngay sau đó, King và Levine (1993) cũng mở rộng mô hình dữ liệu chéo đã

được Barro (1991) xây dựng và sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia đã và đang phát triển từng được Levine và Renelt (1992) nghiên cứu để xem xét sự phát triển của khu vực tài chính có tương quan như thế nào với phát triển kinh tế

Các tác giả cũng sử dụng tập hợp các biến mà Shumpeter (1911) đã đề cập

Cụ thể các biến tài chính là LLY (tỷ lệ tiền M3 trên GDP), BANK (tỷ lệ tài sản nội địa tại ngân hàng tiền gửi trên tổng tài sản nội địa ở ngân hàng tiền gửi và ngân hàng trung ương, PRIVATE (tỷ lệ tín dụng tư nhân trên tổng tín dụng nội địa), PRIVY (tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP) đại diện cho mức độ phát triển tài chính Các biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế là GYP (tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người), GK (tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn thực bình quân đầu người), INV (tỷ lệ đầu tư nội địa trên GDP), EFF (mức độ cải thiện trong hiệu quả phân phối nguồn vốn)

Tác giả tìm thấy mối quan hê dương, có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao giữa mức độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP đầu người và mức độ phát triển tài chính bình quân thời kỳ 1960-1989 Mức độ phát triển tài chính càng cao thì càng tương quan dương với tỷ lệ cao hơn của tăng trưởng kinh tế, chỉ số tích lũy vốn con người và cải tiến hiệu suất kinh tế Ngoài ra, tác giả cũng xem xét mối quan

hệ giữa mức độ phát triển tài chính ở hiện tại và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tích lũy

Trang 14

nguồn vốn hiện vật và những cải tiến hiệu suất kinh tế dài hạn trong tương lai Từ

đó thấy rằng phát triển tài chính là một chỉ số tốt để dự đoán sự tăng trưởng kinh tế dài hạn trong vòng từ 10 đến 30 năm tiếp theo Do đó, tác giả cho rằng các dịch vụ tài chính kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách gia tăng tỷ lệ tích lũy vốn hiện vật

và bằng cách cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn vốn, mối quan hệ mạnh mẽ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không đơn giản chỉ phản ánh sự liên kết tích cực giữa các cú sốc cùng lúc tác động đồng thời tới tài chính và phát triển kinh

tế

Dựa trên kết quả thực nghiệm của bài nghiên cứu này, King và Levine đồng tình với kết luận của Schumpeter (1911) về tầm quan trọng của tài chính đối với phát triển kinh tế, các trung gian tài chính có thể tạo ra các cải tiến kỹ thuật và phát triển kinh tế do đó các chính sách thay đổi hiệu quả của trung gian tài chính sẽ giúp thúc đẩy và tạo ảnh hưởng đầu tiên lên tăng trưởng kinh tế

Bài nghiên cứu của Klein và Olivei (1999) cho kết quả nghiên cứu về tác

động rõ ràng của việc mở rộng tài khoản vốn lên chiều sâu tài chính, từ đó chiều sâu tài chính tiếp tục ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu chéo của gần 100 nước (gồm 21 nước công nghiệp và hơn 70 nước đang phát triển) thời

kỳ 1986-1995

Tác giả cũng sử dụng 3 trong số 4 biến chỉ số tài chính mà King và Levine (1993) đã sử dụng đó là LLY, PRIVY và BANK; biến đại diện cho tự do hóa tài khoản vốn là SHARE (tỷ lệ số năm thực hiện tự hóa tài khoản vốn trong giai đoạn 1986-1995 của mỗi quốc gia), biến đại diện cho tăng trưởng là GDP

Kết luận đầu tiên là những nước có mở cửa tài khoản vốn trong thời kỳ này đều có chiều sâu tài chính tăng trưởng lớn hơn những nước còn tiếp tục giới hạn tài khoản vốn và vì thế họ tăng tưởng tốt hơn Ngoài ra, chiều sâu của những thị trường tài chính này còn cho kết quả vượt ngoài dự kiến của tác giả về sự hội tụ tài chính,

đó là các nước ban đầu có chiều sâu tài chính thấp hơn trong một số trường hợp sau

đó đã tăng trưởng và bắt kịp với các nước có chiều sâu tài chính ban đầu cao hơn

Trang 15

Tuy nhiên tự do hóa tài chính không mang lại lợi ích như nhau cho tất cả các quốc gia Cụ thể những kết quả tương quan ở trên chỉ thể hiện rõ ở những nước đã phát triển trong mẫu kiểm định Tại những nước đang phát triển không hoặc rất hiếm quan sát được kết quả này Điều đó cho thấy ở những nước đang phát triển, các chính sách ban hành chỉ cho phép tự do tài khoản vốn khi các đã có đầy đủ các định chế cần thiết và những chính sách vi mô hiệu quả

Levine, Loayza, Beck (2000) tập trung để trả lời 2 câu hỏi (1) liệu các yếu tố

ngoại sinh của phát triển trung gian tài chính có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hay không và (2) liệu sự khác nhau giữa các quốc gia về hệ thống kế toán và luật pháp có giải thích được sự khác nhau trong mức độ phát triển tài chính hay không?

Sử dụng dữ liệu 71 quốc gia giai đoạn 1960-1995, Các tác giả sử dụng các biến LLY, BANK, PRIVY tương tự như King và Levine (1993), biến phụ thuộc là

tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người

Kết quả phân tích dữ liệu bảng và dữ liệu chéo đều cho ra kết quả như sau: yếu

tố ngoại sinh của sự phát triển các trung gian tài chính có tương quan cùng chiều với tăng trưởng kinh tế Các tác giả tiếp tục đồng ý với quan điểm đã từng nghiên cứu trước đây rằng mối quan hệ chặt chẽ giữa tài chính và tăng trưởng có được là trước hết thông qua toàn bộ nhân tố tăng trưởng năng suất, chứ không thông qua tiết kiệm và tích lũy nguồn vốn hiện vật

Về nghiên cứu cho riêng 1 quốc gia, các tác giả Hasan, Wachtel và Zhou

(2009) đã lấy dữ liệu 31 tỉnh ở đại lục Trung Quốc từ 1986-2002, sử dụng biến phụ

thuộc là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người của mỗi tỉnh, biến độc lập bao gồm một số biến như tỷ lệ các khoản nợ tại các ngân hàng trên GDP đại diện cho chiều sâu tài chính ngân hàng, tỷ lệ vốn cổ phần và trái phiếu doanh nghiệp trên GDP đại diện cho chiều sâu thị trường vốn, tỷ lệ đầu tư cố định khu vực tư nhân so với tổng đầu tư cố định, tỷ lệ luật sư trên 10.000 người…

Tác giả sử dụng dữ liệu bảng để nghiên cứu vai trò của các thể chế luật pháp, chiều sâu tài chính và đa chính trị đối với tăng trưởng kinh tế Kết quả cho thấy biến chiều sâu tài chính ngân hàng có tương quan âm với tăng trưởng kinh tế, ngược với

Trang 16

kỳ vọng ban đầu, trong khi đó biến chiều sâu tài chính thị trường vốn lại mang tương quan dương và có ý nghĩa Các hệ số chiều sâu ngân hàng có vẻ gây bối rối vì

từ trước đến nay biến này thường được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu dữ liệu chéo giữa các quốc gia để khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên trong tình huống này có thể giải thích được lý do tại sao việc cho vay của các ngân hàng lại không thể tác động tính cực lên tăng trưởng Đó là vì các khoản cho vay của ngân hàng Trung Quốc hầu hết trong thời kỳ này được cung cấp đa phần cho chính phủ và tới các công ty sở hữu nhà nước hoạt động không hiệu quả hơn là được cung cấp cho khu vực kinh tế tư nhân hiệu quả Mặt khác, chiều sâu thị trường tài chính vốn phản ánh hoạt động khu vực kinh tế tư nhân và vì vậy có thể phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng thực của Trung Quốc, và ảnh hưởng của nó lên tăng trưởng đã thể hiện rõ ràng trong kết quả nghiên cứu của tác giả

Ngoài ra còn một số nghiên cứu về các nền kinh tế mới nổi cũng cho thấy tài chính được xem như là yếu tố mang lại sự thành công cho phát triển kinh tế như ở Singapore (Murinde và Eng, 1995), Hàn Quốc (Choe và Moosa, 1999) hoặc Đài Loan (Chang và Caudill, 2005)

Về nghiên cứu cho một nhóm các quốc gia có đặc tính chung, có thể kể đến

như tác giả Gries, Kraft và Meierrieks (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều

sâu tài chính, độ mở cửa thương mại và phát triển kinh tế trên 16 nước Châu phi phía nam hạ Sahara (các nước SSA)

Các tác giả xây dựng một chỉ số DEPTH để đo lường chiều sâu tài chính được tổng hợp từ 3 chỉ số rời rạc là tỷ lệ tài sản ngân hàng thương mại so với tổng tài sản của hệ thống ngân hàng, nợ thanh khoản trên GDP, và tỷ lệ tín dụng cá nhân tại các ngân hàng tiền gửi trên GDP Kết quả cho thấy chỉ có mối quan hệ yếu giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế Có rất ít bằng chứng cho thấy tài chính thúc đẩy tăng trưởng Cụ thể, bằng chứng chỉ tìm thấy ở 3 nước Rwanda, Sierra Leone

và Nam Phi trong tổng số 16 nước nghiên cứu Đặc biệt, bằng chứng của giả thuyết tài chính dẫn đến tăng trưởng không mang tính chắc chắn Nghĩa là chiều sâu tài

Trang 17

chính và độ mở cửa thương mại chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng ở mức độ nhỏ Các tác giả cho rằng kết quả như vậy là phù hợp với thực trạng hệ thống tài chính yếu kém phát triển của khu vực này khi mà chỉ số chiều sâu tài chính rất thấp và thiếu vắng các thể chế quan trọng

Hơn nữa, nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề tự do hóa tài chính cần phải được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt khi mà các nỗ lực tự do hóa trong quá khứ nhìn chung đã thất bại trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước SSA Các tác giả không ủng hộ các chính sách phát triển ưu tiên cho tài chính và tự do hóa thương mại Thay vào đó, nên có một giải pháp chính sách toàn diện hướng tới các vấn đề nền tảng khác Các chính sách kinh tế đúng đắn phải làm sao ảnh hưởng lên khu vực tài chính vùng nhằm gia tăng chiều sâu tài chính và hiệu quả Thông qua những chính sách như vậy, khu vực tài chính mới có thể tương tác nhiều lên thị trường hàng hóa bằng việc gia tăng khả năng tích lũy và hiệu quả phân phối của các nước SSA Các chính sách phát triển kỳ vọng này có thể bao gồm làm ổn định hơn kinh tế vĩ mô, các chính sách vĩ mô phù hợp hoặc cải thiện chất lượng các thể chế, tất cả đều có thể tạo điều kiện cho phát triển tài chính Nhờ vào các chính sách như vậy, theo thời gian sự phát triển của tài chính mới có thể phù hợp hiệu quả hơn với thị trường hàng hóa, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế Có như vậy các nước SSA mới có thể đạt được lợi ích từ các thể chế tài chính hiệu quả trong tương lai

Nghiên cứu tại khu vực Châu Á, Sangjoon (2012) đã sử dụng dữ liệu của 27

quốc gia qua khoảng thời gian từ 1960-2009 bằng kỹ thuật ước lượng đồng liên kết

dữ liệu bảng để xem xét mối liên hệ dài hạn giữa GDP thực và phát triển tài chính Tác giả tìm thấy tác động 2 chiều đều mang ý nghĩa thống kê giữa biến GDP thực

và các chỉ số M2, tín dụng nội địa, chỉ số vốn hóa thị trường Nghĩa là, phát triển thị trường tài chính góp phần thúc đẩy nền kinh tế và ngược lại tăng trưởng sẽ khuyến

khích tài chính phát triển mạnh mẽ hơn Trước đó, nhóm tác giả Habibullah và

Eng (2006) cũng sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp mô men tổng quát GMM để

đánh giá 13 quốc gia đang phát triển của Châu Á trong giai đoạn 1990-1998 Kết

Trang 18

quả nghiên cứu đồng ý với quan điểm cho rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của lý thuyết tăng trưởng Schumpete (1911)

Nhìn chung, các kết quả thực nghiệm ở trên đã khẳng định mạnh mẽ về quy

mô xác định mang tính quốc gia đối với mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng, giải thích cho kết quả tăng trưởng kinh tế không thể thiếu yếu tố đóng góp của phát triển tài chính Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng tích cực của tài chính đối với tăng trưởng chỉ có thể đạt được khi cơ chế quản lý và chất lượng hệ thống tài chính đạt được một số điều kiện nhất định

2.2 Các nghiên cứu nghi ngờ ảnh hưởng của chiều sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế

Mặc dù mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng – tài chính đã được khẳng định, nhưng mức độ chính xác hay mối hoài nghi về kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm vẫn là một câu hỏi Các nhà kinh tế độc lập như Joan Robinson hay Friedman và Schwartz đã nhấn mạnh sự nghi ngờ về mối quan hệ này Joan Robinson cho rằng ở đâu có kinh doanh phát triển ở đó mới có tài chính (Robison, 1952), còn đối với Friedman và Schwartz (1963) thì tỷ lệ tiền mở rộng trên GDP danh nghĩa (đại diện cho chiều sâu tài chính) cũng là nghịch đảo của tốc độ lưu thông tiền mở rộng do đó một mối quan hệ thuận chiều giữa phát triển tài chính và GDP thực sẽ tương đương với xu hướng suy giảm tốc độ lưu thông tiền Lý thuyết khủng hoảng tài chính lại chỉ ra rằng ảnh hưởng không ổn định của tự do hóa tài chính khi nó có thể dẫn đến sự bùng nổ quá mức của tín dụng Cho vay quá nhiều

có thể xảy ra tình trạng nợ đọng của các nhà máy, trong đó bao gồm cả khả năng kiểm soát bị giới hạn của cơ quan quản lý, khả năng không thể phân biệt được các

dự án tốt trong thời kỳ đầu tư bùng nổ, và tồn tại cơ chế bảo vệ rõ ràng hoặc ngấm ngầm nhằm chống đỡ cho các sai sót của hệ thống ngân hàng

Tác giả Lucas (1988) xem xét hai quan điểm đối lập nhau về ảnh hưởng của

tài chính lên hoạt động kinh tế Một bên lý luận tăng trưởng thực nghiệm cho rằng tín dụng tư nhân trong nước và tiền gửi ngân hàng ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng Còn một bên lý thuyết khủng hoảng tiền tệ và ngân hàng thì cho rằng các

Trang 19

vấn đề về tiền tệ, ví dụ như tín dụng nội địa là chỉ số dự đoán cho khủng hoảng Bởi

vì khủng hoảng ngân hàng thường dẫn đến tình trạng suy thoái, một sự bùng nổ của tín dụng nội địa có thể khiến cho tăng trưởng đi xuống

Demetriades và Hussein (1996) kiểm định mối quan hệ (hai chiều) giữa phát

triển tài chính và GDP thực bằng kỹ thuật mô hình và kiểm định dữ liệu chuỗi thời gian Mẫu được chọn gồm 16 quốc gia từ dữ liệu IMF thỏa mãn các tiêu chí: chưa phải là quốc gia đã phát triển cao từ năm 1960, phải có ít nhất 27 quan sát qua các năm liên tiếp của mỗi biến và dân số phải vượt hơn 1 triệu người vào năm 1999 Tác giả sử dụng mô hình lý thuyết đồng liên kết và cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM – Error Correction Model) với 2 biến tài chính là tỷ lệ tiền gửi ngân hàng trên GDP danh nghĩa và tỷ lệ tín dụng tư nhân tên GDP danh nghĩa, biến tăng trưởng là GDP thực trên đầu người Tác giả cũng áp dụng phương pháp Engle và Granger 2 giai đoạn và phương pháp Johasen (1988) để kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ tuyến tính dài hạn ổn định giữa tăng trưởng kinh tế và tài chính

Kết quả kiểm định cung cấp rất ít bằng chứng về vai trò của tài chính trong quá trình phát triển kinh tế (tỷ lệ số lượng quốc gia trên tổng số 16 quốc gia quan sát được hiện tượng tài chính tác động lên kinh tế là rất thấp) Mặt khác, nghiên cứu cũng tìm ra bằng chứng cho thấy ở một vài quốc gia tăng trưởng kinh tế đã tác động

có tính hệ thống lên phát triển tài chính

Ngoài ra kết quả của kiểm định cũng cho thấy sự khác biệt rất nhiều giữa các quốc gia Điều này nhắc nhở cần phải thận trọng khi tập hợp trong phương trình dữ liệu bảng các quốc gia có kinh nghiệm khác nhau về phát triển tài chính, phản ánh đặc thù cơ chế khác nhau, chính sách khác nhau và quá trình thực thi khác nhau Bởi vì, các chính sách kinh tế đều mang tính đặc thù của mỗi quốc gia, và mức độ thành công của chúng còn phụ thuộc vào hiệu quả của hệ thống cơ chế vận hành chúng Do đó, sẽ không thể hoàn toàn nói rằng tài chính thúc đẩy kinh tế, cũng như không thể hoàn toàn cho rằng tài chính theo sau tăng trưởng

Nghiên cứu của Rousseau và Wachtel (2005) sử dụng dữ liệu bảng và dữ liệu

chéo của các chỉ số kinh tế vĩ mô và tài chính của 84 nước trong giai đoạn

Trang 20

1960-2003 Để phù hợp với nghiên cứu ban đầu của King và Levine (1993), các tác giả cũng sử dụng 3 chỉ số phát triển tài chính quen thuộc là: tỷ lệ tiền thanh khoản M3/GDP, (M3-M1)/GDP và tỷ lệ phân bổ tín dụng đến khu vực tư nhân Một mặt, bài nghiên cứu nhằm kiểm chứng lại lần nữa bằng dữ liệu bảng giữa các nước về mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng và chiều sâu tài chính Đồng thời tác giả cũng kiểm tra độ nhạy cảm của kết quả thay đổi theo thời gian và thay đổi giữa các quốc gia được chọn làm mẫu

Kết quả cho thấy, trong khoảng thời gian 1960-1989 đã tìm thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và các chỉ số chiều sâu tài chính (mặc dù không có mạnh như các nghiên cứu trước đây), ngược lại ở giai đoạn 15 năm tiếp theo, nghiên cứu không quan sát thấy được mối quan hệ này Tác giả giải thích bằng 2 lý do Đầu tiên, chiều sâu tài chính có vẻ gia tăng khi hấp thụ các cú sốc toàn cầu trong các thập kỷ 70 và 80 Vào các giai đoạn này, khủng hoảng dầu mỏ và lạm phát cao kéo dài đã thống trị ở nhiều quốc gia Chiều sâu tài chính lớn đi cùng với sự tăng trưởng

là do bởi những quốc gia này được hưởng lợi ích từ hệ thống, định chế tài chính vững vàng có khả năng chịu đựng tốt hơn đối với những cú sốc danh nghĩa quen thuộc Thứ hai, xu hướng mở rộng tự do hóa tài chính ở nhiều quốc gia trong thập

kỷ 80 có thể dẫn tới sự tăng trưởng nhanh chóng trên mức trung bình của chiều sâu tài chính Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia tăng trưởng tiền gửi và tín dụng diễn ra lại không đi cùng với sự phát triển cần thiết của thẩm định cho vay, kỹ thuật giám sát, các kỹ năng quy định và quản lý Vì thế, mối quan hệ quan sát được ở dữ liệu trong giai đoạn trước đó đã có xu hướng biến mất khi mà nỗ lực tự do hóa thị trường tài chính diễn ra tại những đất nước vốn không đủ năng lực về cơ sở hạ tầng luật pháp

và quy định để có thể khai thác thành công sự phát triển về tài chính

Ngoài ra, kỹ thuật hồi quy cuốn (rolling regression) đã được sử dụng để xem xét những quốc gia nào có mối quan hệ giữa tăng trưởng và tài chính mạnh hơn Đối với các nước nghèo hơn, mối quan hệ là dương nhưng không có ý nghĩa thống

kê, còn đối với các nước giàu hơn thì không thấy có quan hệ này Tuy nhiên, có một kết quả rõ ràng rằng chiều sâu tài chính giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các

Trang 21

nước có mức GDP thực bình quân đầu người từ khoảng 3.000 đến 12.000 USD Tóm lại, chiều sâu tài chính vẫn có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tuy nhiên mối quan hệ này khá mỏng manh

Với tập dữ liệu 75 quốc gia trong khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 1960

đến năm 2000, Loayza và Ranciere (2006) cũng nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ

tăng trưởng tín dụng tư nhân trên GDP đối với tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người trong ngắn hạn và dài hạn Tác giả tìm thấy mối quan hệ dương giữa tài chính và tăng trưởng trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn mối quan hệ này mang giá trị âm sâu với mức ý nghĩa cao Tại các quốc gia có hệ thống tài chính yếu

và mong manh được đặc trưng bởi sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng ngân hàng hoặc tài chính thường xuyên không ổn định sẽ có xu hướng hiện diện mối quan hệ tiêu cực trong ngắn hạn giữa tài chính và tăng trưởng

Rousseau và Wachtel (2007) mở rộng nguồn dữ liệu từ năm 1960-2004 của

84 quốc gia Tương tự như nghiên cứu mà tác giả đã thực hiện năm 2005, kết quả quan sát cho thấy có tồn tại mối quan hệ tích cực giữa tài chính và tăng trưởng trong giai đoạn các thập kỷ 60 đến thập kỷ 80, nhưng mối liên kết này đã gần như biến mất ở giai đoạn 15 năm tiếp sau đó Tác giả đưa ra một số lý giải liên quan Khi tác giả đưa thêm biến giả đại diện cho khủng hoảng vào mô hình, thì các hệ số của biến chiều sâu tài chính giảm đi gần về bằng 0, hoặc âm (mặc dù không có ý nghĩa thống kê) Tác giả cho rằng khủng khoảng tài chính có liên quan đến việc làm suy giảm ảnh hưởng của chiều sâu tài chính lên tăng trưởng kinh tế Độ sâu tài chính nếu cao quá mức hoặc mức tăng trưởng tín dụng quá nhanh có thể dẫn đến lạm phát và hệ thống ngân hàng suy yếu, từ đó lần lượt làm gia tăng khủng hoảng tài chính và ngăn cản tăng trưởng kinh tế Độ sâu tài chính quá mức cũng có thể là kết quả của tự do hóa tài chính mở rộng trong cuối thập niêm 80, đầu thập niên 90 tại những đất nước còn yếu cơ sở hạ tầng pháp lý để có thể khai thác thành công sự phát triển tài chính Tác giả cũng tìm thấy một kết quả rằng tự do hóa đóng một vai trò quan trọng trực tiếp trong việc làm giảm mức độ ảnh hưởng của tài chính Tương tự, cũng có bằng chứng cho thấy sự phát triển của thị trường chứng khoán trong những năm gần đây

Trang 22

đã thay thế cho tài chính nợ và dẫn tới hạn chế vai trò của chiều sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế

Khi xem xét dữ liệu của 152 quốc gia giai đoạn 1996-2005, các tác giả Hasan,

Koetter, Lensink và Meesters (2009) cũng không tìm thấy mối quan hệ ý nghĩa

giữa tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu đo lường chiều sâu tài chính cơ bản (tổng giá trị thị trường chứng khoán trên GDP hay tín dụng tư nhân trên GDP) Các tác giả cũng đề xuất một chỉ tiêu đo lường hiệu quả chi phí của các ngân hàng (được tính toán từ tập các chỉ số hoạt động của ngân hàng) để thay thế biến đại diện cho phát triển tài chính Mặc dù tác giả tìm thấy mối tương quan ý nghĩa giữa một hệ thống ngân hàng hiệu quả và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tác giả cũng nhấn mạnh chiều sâu thị trường tài chính chỉ thực sự có tác động đến tăng trưởng kinh tế khi chỉ số hiệu quả chi phí ngân hàng lớn hơn 70%, bởi vì chỉ khi đó phát triển tài chính mới thực sự là bền vững

Dabos và Gantman (2010) tập hợp dữ liệu bảng của 98 quốc gia giai đoạn từ

1961-2007 để đánh giá mối quan hệ giữa biến tỷ lệ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân Khi sử dụng phương pháp hồi quy mô men tổng quát GMM và các biến công cụ, hệ số của biến tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân mang dấu

âm hoặc dương nhưng đều không có ý nghĩa thống kê Nhằm xem xét ảnh hưởng của yếu tố thu nhập, tác giả tiếp tục tách riêng để nghiên cứu nhóm các quốc gia với mức thu nhập cao (quốc gia đã phát triển) và nhóm các quốc gia với mức thu nhập thấp (quốc gia đang phát triển) Tuy nhiên, kết quả ở 2 nhóm đối tượng này cũng xảy ra tương tự Như vậy mối liên kết tài chính – tăng trưởng không thể hiện rõ ràng như trong các cơ sở lý luận và kết luận của bài nghiên cứu cũng phù hợp với Rousseau và Wachtel (2007) Theo tác giả, mối quan hệ này có thể đã tồn tại đúng trong thời kỳ hậu chiến tranh, nhưng nó xuất hiện không còn lâu dài trong thế giới tài chính toàn cầu hiện nay Việc mở rộng các hoạt động tài chính ở cấp độ tài chính quốc tế có thể mang lại sự bất ổn kinh tế vĩ mô lớn hơn

Trang 23

2.3 Nhận xét

Dựa vào các kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả thấy rằng mối quan hệ giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế vẫn đang được tranh luận theo nhiều chiều hướng khác nhau, từ đó tác giả tiến hành phân tích thực nghiệm để đánh giá lại vấn đề đó đối với các nước đang phát triển châu Á

Theo trực quan và cách nhìn lý thuyết thì phát triển tài chính là cần thiết cho tăng trưởng Các quốc gia có chiều sâu tài chính lớn sẽ là điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy

và làm cho tăng trưởng nền kinh tế đi lên hay chính là sự tăng trưởng của GDP Rất nhiều các nghiên cứu từ lâu, trong đó nổi bật nhất là nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng của King và Levine (1993) đã chứng minh vấn đề này

Bên cạnh đó, xuất phát từ sự hoài nghi về một mối liên hệ chưa rõ ràng và chắc chắn, một số tác giả đã thực hiện cùng nghiên cứu và cho thấy kết quả tương phản đó là ở trong một số trường hợp chiều sâu tài chính có thể không hoặc rất ít tác động thuận chiều đến tăng trưởng GDP Tác giả tham khảo chủ yếu nghiên cứu của Rousseau và Wachtel (2005) trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên tác giả dùng phương pháp nghiên cứu phổ biến và cơ bản nhất là phương pháp Pooled OLS (pooled ordinary least square) để ước lượng và đánh giá tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Phương pháp này không kể đến các kích thước không gian và thời gian của dữ liệu kết hợp Hay nói cách khác tung

độ gốc và hệ số độ dốc không đổi theo thời gian và không gian, các số hạng sai số thể hiện những khác biệt theo thời gian và theo các cá nhân

Tuy nhiên, trong mô hình nghiên cứu có dữ liệu dạng bảng với sự kết hợp giữa biến thời gian (theo năm) và biến không gian (theo quốc gia) thì để kiểm chứng cũng như đánh giá lựa chọn mô hình đạt kết quả tốt nhất, tác giả bổ sung phân tích theo mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

Trang 24

Mô hình hiệu ứng cố định (fixed effects model- FEM): dựa trên quan điểm mỗi đối tượng được quan sát hoặc mỗi thời điểm quan sát đều có những đặc điểm riêng biệt, có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích vì thế mô hình này nhằm xem xét “đặc điểm cá nhân” của từng đối tượng theo không gian hoặc thời gian, bằng cách:

 Giả định rằng các hệ số độ dốc là hằng số đối với các đối tượng quan sát hoặc thời điểm quan sát

 Giả thiết rằng có sự tương quan giữa phần dư của mỗi đối tượng (có chứa các đặc điểm riêng) với các biến giải thích

 Để cho tung độ gốc β1i thay đổi theo từng đối tượng hoặc theo thời gian

Mô hình FEM: Yit = β1it + β2X2it + β3X3it + … + uit

Cách thức của mô hình này là sử dụng các biến giả để đại diện cho thời điểm hoặc các đối tượng nghiên cứu khác nhau Từ đó có thể kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt này ra khỏi các biến giải thích để chúng ta có thể ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến giải thích lên biến phụ thuộc

Tuy nhiên nhược điểm của FEM là có quá nhiều biến được tạo ra trong mô hình, do đó có khả năng làm giảm bậc tự do và làm tăng khả năng đa cộng tuyến của mô hình Để khắc phục vấn đề này, mô hình hồi quy theo hiệu ứng ngẫu nhiên được đề xuất Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (random effects model- REM) xem các đặc điểm riêng của mỗi đối tượng quan sát hoặc mỗi thời điểm quan sát là một biến giải thích mới Cụ thể, thay vì coi như tung độ gốc của mỗi đối tượng hoặc mỗi thời điểm là một hằng số thì xem đây như là một biến ngẫu nhiên (với giá trị trung bình

và sai số ngẫu nhiên của từng tung độ gốc so với giá trị trung bình này, β1i =β1 + ε1) Đặc điểm riêng (phần dư hay sai số ε) của các đối tượng được giả sử là ngẫu nhiên

và không tương quan đến các biến giải thích:

Mô hình REM: Yit = (β1 + ε1) + β2X2it + β3X3it + … + uit

Để chọn lựa mô hình phù hợp, tác giả sử dụng các phương pháp:

 Hệ số R2 càng cao càng thể hiện mức độ phù hợp tốt hơn của mô hình

Trang 25

 Kiểm định Durbin-Watson (DW) nhằm xác định có hay không hiện tượng

tự tương quan trong mô hình Xem xét giá trị d trong kiểm định DW:

 0<d<1: mô hình có hiện tượng tự tương quan dương

 1<d<3: không có hiện tượng tự tương quan

 3<d<4: mô hình có hiện tượng tự tương quan âm

 Kiểm định Hausman nhằm lựa chọn mô hình FEM hay REM phù hợp cho hồi quy dữ liệu mẫu Thực chất kiểm định Hausman xem xét có tồn tại mối tương quan giữa đặc điểm riêng (sai số ε) của các đối tượng quan sát với biến giải thích Giả thiết H0 của kiểm định là không có sự tương quan giữa thành phần sai số riêng biệt và biến giải thích, tương đương với việc sử dụng mô hình REM Trị thống kê kiểm định do Hausman xây dựng có một phân phối chuẩn Chi bình phương:

 Nếu p-value < α: bác bỏ giả thiết H0, có mối tương quan giữa thành phần sai số riêng biệt ε và biến độc lập, vì vậy chọn mô hình FEM

 Nếu p-value > α: chấp nhận giả thiết H0, không có mối tương quan giữa thành phần sai số riêng biệt ε và biến độc lập, vì vậy chọn REM

Sau khi lựa chọn được mô hình, nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi có thể xảy ra, tác giả tiếp tục thực hiện hiệu chỉnh phương sai thay đổi theo phương pháp White, hay còn gọi là ước lượng ma trận hiệp phương sai nhất quán – phương sai thay đổi (heteroscedasticity-consistent covariance matix estimators - HCCME), để kiểm tra xem phương sai thay đổi có gây ra vấn đề nghiêm trọng nào ảnh hưởng đến nhận định kết quả nghiên cứu hay không? Phương pháp White không làm hệ số của các biến thay đổi, nhưng sai số chuẩn và giá trị p-value của từng biến nay đã được hiệu chỉnh Trên cơ sở các ước lượng này, tác giả thêm một lần nữa kiểm chứng mức ý nghĩa thống kê của các biến, so sánh sau khi dùng White liệu các biến còn hoặc không còn ý nghĩa so với trước đó khi chưa dùng White để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi

Dữ liệu được xử lý và tính toán trên các chương trình tin học Microsoft Office

Excel và phần mềm thống kê Eviews

Trang 26

3.2 Mẫu nghiên cứu

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) xếp loại 28 quốc gia vào nhóm các nước Châu Á đang phát triển Trong khi đó, trên trang web chính thức của Ngân hàng Châu Á (ADB) thì xếp 46 trên 48 quốc gia thành viên (trừ Nhật Bản, Úc và New Zealand vào nhóm các nước đang phát triển.1

Căn cứ trên danh sách từ ngân hàng ADB, do giới hạn về nguồn dữ liệu, đặc biệt là các chỉ số kinh tế của các quốc gia đang phát triển chỉ mới được ghi nhận được trong những năm gần đây, do đó tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một mẫu dữ liệu bảng về các chỉ số kinh tế vĩ mô và tài chính của 30 quốc gia có nguồn dữ liệu đầu vào đầy đủ và rõ ràng nhất, bao gồm: Armenia, Azerbaijan, Bangladesh, Bhutan, Brunei Darussalam, Cambodia, China, Fiji, Hong Kong, India, Indonesia, Kazakhstan, Korea Rep., Kyrgyz Rep, Lao PDR, Malaysia, Mongolia, Myanmar, Nepal, Pakistan, Papua New Guinea, Philippines, Samoa, Singapore, Solomon Islands, Sri Lanka, Thailand, Tongo, Vanuatu, Vietnam

Tác giả lựa chọn giai đoạn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1994 đến

2011 vì đây là giai đoạn hầu hết các nền kinh tế đang phát triển của Châu Á mới bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển kinh tế và tài chính thực sự rõ ràng nhất Vào đầu thập kỷ 90, đa phần các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào mới dần mở cửa thị trường, thông qua các biện pháp cải cách kinh tế bằng cách giảm bớt quản lý chính phủ trên thương mại nước ngoài và đầu tư, tư nhân hóa các ngành công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và mở cửa một số lĩnh vực cho các nhà đầu tư

tư nhân và nước ngoài dần xuất hiện Các quốc gia vùng Trung Á như Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyz tách khỏi liên bang Xô viết, thành lập quốc gia tự trị độc lập về chính trị và kinh tế Từ đó cho đến nay, bức tranh kinh tế và tài chính tại khu vực Châu Á có những thay đổi vượt bậc và nhanh chóng hòa nhập cũng như chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các biến động kinh tế tài chính của thế giới

Dữ liệu nghiên cứu của mẫu chủ yếu được tác giả thu thập từ các nguồn sau:

1 Do vậy trong mẫu quan sát sẽ có các quốc gia thuộc nền kinh tế mới nổi như: Hàn Quốc, Singapore, HongKong

Trang 27

 Dữ liệu từ trang web của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

 Dữ liệu từ trang web của Ngân hàng thế giới (WB)

 Dữ liệu từ trang web của Ngân hàng phát triển Chân Á (ADB)

3.3 Mô hình nghiên cứu

Ứng dụng và tham khảo mô hình của các tác giả nghiên cứu trước đây, đặc biệt là các bài nghiên cứu kinh điển của King và Levine (1993), Klein và Olivei (1999), Roussea và Wachtel (2005), trong luận văn này tác giả dùng mô hình nghiên cứu như sau:

Trong đó:

 Yit: tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người;

 Fit: nhóm các biến đại diện cho chiều sâu tài chính;

 Xit: nhóm các biến giải thích khác được đưa thêm vào mô hình;

 Ký kiệu “i” thể hiện theo quốc gia, “t” thể hiện theo thời gian

3.4 Mô tả các biến

3.4.1 Biến phụ thuộc Y it

Theo lý thuyết và hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm thì tăng trưởng kinh tế trong mô hình này cũng được thể hiện bằng biến tỷ lệ tăng trưởng của tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product - GDP) thực bình quân đầu người với năm gốc được lựa chọn là năm 2000 GDP bình quân đầu người sẽ phản ánh đúng hơn tổng GDP của một quốc gia khi có xem xét đến yếu tố dân số

Tác giả sẽ quan sát xu hướng thay đổi của biến phụ thuộc Yit trong mối liên hệ với từng biến độc lập đại diện cho chiều sâu tài chính Hay nói cách khác, các biến chiều sâu tài chính không đưa vào mô hình cùng lúc mà sẽ lần lượt được thay vào

mô hình để tạo thành các cặp đối tượng quan sát giữa GDP và một biến chiều sâu tài chính Điều này cho phép phân tách ảnh hưởng riêng biệt của từng chỉ số chiều

Trang 28

sâu tài chính lên GDP, tránh được hiện tượng đa cộng tuyến có thể xảy ra giữa các biến độc lập

3.4.2 Biến độc lập

Tương tự các nghiên cứu trước đây, tác giả chia các biến độc lập chia làm 2 nhóm Fit là một trong 3 chỉ số chiều sau tài chính mà tác giả đang muốn xem xét ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như thế nào (do chỉ xem xét lần lượt mối quan

hệ từng biến chiều sâu tài chính với biến phụ thuộc) Các lý thuyết và nghiên cứu truyền thống thường sử dụng quy mô của lĩnh vực trung gian tài chính có liên quan đến hoạt động kinh tế để đo lường sự phát triển của tài chính hay “chiều sâu tài chính” (Goldsmith (1969), McKinnon (1973)) Họ cho rằng quy mô của các trung gian tài chính sẽ có mối quan hệ tích cực với việc cung cấp dịch vụ tài chính Do

đó, tác giả cũng sử dụng 3 chỉ số như trong nghiên cứu của Rousseau và Wachtel (2005) để đại diện cho chiều sâu tài chính Tuy nhiên do dữ liệu tiền mở rộng M3 của các quốc gia đang phát triển rất khó thu thập vì vậy tác giả thay thế bằng M2

Xit là tập nhóm các biến giải thích đại diện cho các yếu tố khác ngoài chiều sâu tài chính mà đã được chứng minh cũng có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (các biến Xit được đưa vào cùng lúc trong mô hình, trong tất cả các lần xem xét mối quan hệ giữa từng biến chiều sâu tài chính với biến phụ thuộc) Tập các biến giải thích khác được đưa vào nghiên cứu nhằm đảm bảo mô hình phản ánh được đầy đủ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP So với Rousseau và Wachtel (2005), tác giả cũng sử dụng biến chi tiêu chính phủ trên GDP Tuy nhiên tác giả thay thế tỷ lệ giá trị thương mại trên GDP bằng tỷ lệ xuất khẩu trên GDP do kỳ vọng xuất khẩu sẽ phản ánh tác động lên GDP rõ hơn tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu Tác giả không sử dụng biến GDP thực bình quân đầu người tại năm đầu tiên

và tỷ lệ đến trường trung học tại năm đầu tiên của giai đoạn nghiên cứu do khoảng thời gian nghiên cứu chỉ có 18 năm nên khả năng hội tụ GDP và giáo dục khó đạt được trong ngắn hạn2

Tác giả bổ sung thêm 2 biến tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng

2 Xem thêm Aghion, Howitt, Mayer-Foulkes (2005) về hội tụ tăng trưởng và giáo dục

Trang 29

trưởng dân số như trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về lý thuyết tăng trưởng và cũng đã được King và Levine (1993) sử dụng

3.4.2.1 M2 (the ratios to GDP of liquid liabilities): tỷ lệ nợ thanh khoản so với

GDP (= M2/GDP)

Do dữ liệu M3 của các quốc gia Châu Á đang phát triển không có đầy đủ vì vậy tác giả sử dụng thước đo M2 hẹp hơn Tuy nhiên M2 vẫn có thể được xem thước đo tiêu chuẩn của chiều sâu tài chính, đo lường được quy mô tổng thể của hoạt động trung gian tài chính, hoàn toàn phù hợp để có thể áp dụng cho các nước

có nền tài chính vẫn đang trong giai đoạn mới phát triển Tuy nhiên M2 trong nhiều trường hợp phản ánh chính sách tiền tệ hơn là thể hiện chính xác chiều sâu tài chính Chính phủ dùng M2 như một công cụ để kiểm soát lạm phát (tăng lượng tiền gửi vào ngân hàng), hoặc ngược lại nới lỏng định lượng, bơm tiền để hỗ trợ thanh khoản và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Ngoài ra M2 không đánh giá được chất lượng của các dịch vụ tài chính như quản lý rủi ro và xử lý thông tin

M2 là tiền mở rộng bao gồm tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn ngoại trừ tiền gửi của chính phủ, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn, tiền gửi ngoại tệ của khu vực dân cư ngoại trừ của chính phủ (Theo định nghĩa của IMF và WB)

3.4.2.2 QUASI (M2 less M1 to GDP): tỷ lệ của tiền M2 trừ đi tiền M1 so với GDP

(= (M2-M1)/GDP)

Tương tự như Rousseau và Wachtel (2005), tác giả sử dụng M2 trừ cho M1 nhằm loại bỏ các tài sản giao dịch thuần túy, cơ bản (tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn), chỉ giữ lại các tài sản tài chính “cao cấp” hơn nằm trong hệ thống trung gian tài chính3 Như vậy QUASI chỉ bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn, tiền gửi ngoại tệ của khu vực dân cư ngoại trừ của chính phủ Việc loại bỏ tiền mặt trong M2, đưa QUASI vào mô hình nhằm phản ánh đúng hơn dòng vốn thực sự đang nằm

3

Ngân hàng Châu Á và IMF định nghĩa tiền (M2-M1) là “quasi money” (“Quasi money refers to time, savings, and foreign currency deposits of resident sectors other than the central government”, trích dẫn nguồn từ trang web: http://data.worldbank.org/indicator/FM.LBL.QMNY.CN )

Trang 30

trong hệ thống trung gian tài chính, có khả năng sẵn sàng cho vay trong nước hoặc tài trợ các dự án đầu tư mới, hay nói cách khác thể hiện chính xác hơn chiều sâu phát triển của nền tài chính Qua quy mô của biến QUASI có thể thấy được một quốc gia có hệ thống trung gian tài chính phát triển mạnh hay không, tỷ lệ giao dịch qua ngân hàng hay giao dịch bằng tiền mặt cao, khả năng tích lũy và phân phối vốn, quy mô dòng vốn trong dài hạn Tuy nhiên, cũng giống M2, QUASI nhiều khi thể hiện kết quả của việc thực thi chính sách tiền tệ hơn là phản ảnh chiều sâu tài chính, hoặc là tỷ lệ QUASI tăng cao một phần do lượng tiền kiều hối chuyển từ nước ngoài về sau thời gian mở cửa kinh tế (ví dụ như ở Việt Nam)…

3.4.2.3 PRIVATE (credit allocated to the private sector): tỷ lệ tín dụng nội địa khu

vực tư nhân so với GDP (= tỷ lệ các khoản cho vay cung cấp đến khu vực

tư nhân phi tài chính so với tổng tín dụng nội địa)

Chỉ số này đo lường phạm vi tín dụng được chuyển đến khu vực tư nhân, không tính đến tín dụng cho các công ty nhà nước hoặc chính phủ Một hệ thống tài chính chỉ đơn giản cấp vốn tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước hay chính phủ

có thể không làm tốt công tác đánh giá quản lý, lựa chọn dự án đầu tư, phân tán rủi

ro và cung cấp dịch vụ tài chính như các hệ thống tài chính phân phối tín dụng đến khu vực cá nhân Khi PRIVATE càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng tư nhân càng tăng trưởng, tỷ lệ khu vực tư được tiếp cận nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất hay tiêu dùng gia tăng Tuy nhiên nhược điểm của PRIVATE là có thể phản ánh toàn bộ quy mô của khu vực tư nhân và mức độ đi vay của khu vực tư nhân nên vì thế không thể hiện chính xác mức độ của các dịch vụ tài chính Hơn nữa, mức tín dụng cao cho khu vực tư nhân có thể đơn giản phản ánh bong bóng tài sản và sự lỏng lẻo trong cơ chế cho vay không đầy đủ Tuy vậy, việc đưa chỉ số này vào để xem xét sẽ củng cố thêm thông tin về sự phát triển tài chính trong nghiên cứu của tác giả

3.4.2.4 EXPORT (the ratio of export to GDP) – tỷ lệ giá trị xuất khẩu trên GDP (=

tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trên GDP)

Mặc dù cán cân thương mại (xuất khẩu ròng) mới được tính vào giá trị của GDP, tuy nhiên bởi vì tổng giá trị xuất khẩu thể hiện quy mô mở rộng tiêu dùng và

Trang 31

sản xuất của nền kinh tế do đó có thể được xem như là một yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Khi tỷ lệ này tăng cao, tác giả cho rằng GDP bình quân đầu người cũng sẽ gia tăng

3.4.2.5 GOV (the ratio of govermental final consumption to GDP) – tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP (= tổng giá trị chi tiêu cuối cùng của chính phủ trên GDP)

Chi tiêu cuối cùng của chính phủ bao gồm tổng chi tiêu cho khu vực hộ gia đình và chi tiêu chung cho chính phủ (chi lương, quốc phòng, an ninh ) Chi tiêu chính phủ quá mức và không hợp lý dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước, gia tăng

nợ công buộc chính phủ phải tăng thuế trả lãi nợ vay, làm méo mó nền kinh tế, gây

ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội hoặc tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài, khả năng tiêu dùng giảm sút Do đó, khi tỷ lệ chi tiêu chính phủ so với GDP tăng càng cao, tác giả cho rằng GDP bình quân đầu người sẽ có xu hướng giảm

3.4.2.6 INF (inflation ratio): tỷ lệ lạm phát

Tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh, thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp

Khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm cho thị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm Do đó, khi lạm phát tăng cao, tác giả cho rằng GDP bình quân đầu người cũng sẽ có xu hướng giảm như đối với tác động của biến GOV

3.4.2.7 POP (population grow): tỷ lệ tăng dân số hàng năm

Tác giả chọn biến POP đưa vào mô hình vì dân số là một vấn đề nổi bật của khu vực Châu Á, khi mà ở đa số các quốc gia kém hoặc đang phát triển thì việc kiểm soát, hạn chế tốc độ gia tăng dân số còn gặp khó khăn

Trang 32

Sự gia tăng dân số nhanh làm cản trở lớn tới tốc độ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế việc nâng cao chất lượng cuộc sống trong khi hạ tầng cơ sở không kịp phát triển để đáp ứng nhu cầu tương ứng Dân số tăng khiến cho nguồn lực bị sẻ chia thay vì gia tăng mức đầu tư nguồn lực bình quân trên đầu người Tác giả sử dụng biến POP để phản ánh thêm tác động của yếu tố xã hội, yếu tố phi kinh tế đến tăng trưởng kinh tế Khi tỷ lệ tăng dân số dương, tác giả cho rằng GDP bình quân đầu người cũng sẽ có xu hướng giảm như đối với tác động của biến GOV, INF ở trên

3.4.3 Mô hình cụ thể

Với tập các biến và mô hình tổng quát ở (3.1) như trên, tác giả diễn giải thành

3 mô hình chi tiết như sau:

 Giả thiết 1: nhằm xem xét mức độ tác động của cung tiền mở rộng M2 đến tăng trưởng kinh tế

Y it = α +β*M2 it +µ 1 *EXPORT it +µ 2 *GOV it +µ 3 *INF it +µ 4 *POP it +ε it (3.2)

 Giả thiết 2: nhằm xem xét mức độ tác động của cung tiền (M2-M1) đến tăng trưởng kinh tế

Y it = α +β*QUASI it +µ 1 *EXPORT it +µ 2 *GOV it +µ 3 *INF it +µ 4 *POP it +ε it (3.3)

 Giả thiết 3: nhằm xem xét mức độ tác động của tỷ lệ tín dụng tư nhân đến tăng trưởng kinh tế

Y it = α +β*PRIVATE it +µ 1 *EXPORT it +µ 2 *GOV it +µ 3 *INF it +µ 4 *POP it +ε it (3.4)

Mối quan hệ tích cực giữa chiều sâu tài chính đã được nhiều tác giả chứng minh như King và Levine (1993), Murinde và Eng (1994), Klein và Olivei (1999), Levine, Loayza, Beck (2000), Chang và Caudill (2005), Gries, Kraft và Meierrieks (2009), Sangjoon (2012)… Các quốc gia có tỷ lệ cung tiền mở rộng cao tức chiều sâu tài chính gia tăng thì tạo điều kiện cho tăng trưởng tốt hơn Thậm chí King và Levine (1993) còn kiểm chứng được rằng phát triển tài chính là một chỉ số tốt để dự đoán sự tăng trưởng kinh tế dài hạn trong vòng từ 10 đến 30 năm tiếp theo Một quốc gia có nền tài chính phát triển được kỳ vọng sẽ mang lại tăng trưởng cao do

Trang 33

các thúc đẩy về lưu thông nguồn vốn, gia tăng tiếp cận nguồn vốn cho sản xuất và tiêu dùng, đa dạng các dịch vụ tài chính hỗ trợ như bảo hiểm, quản lý tài sản, đánh

giá rủi ro, thẩm định hoặc các cơ hội đầu tư, đầu cơ sinh lời

Tuy nhiên các tác giả như Demetriades và Hussein (1996), Rousseau và Wachtel (2005, 2007), Loayza và Ranciere (2006), Hasan, Koetter, Lensink và Meesters (2009), Dabos và Gantman (2010)… đã không tìm thấy hoặc tìm thấy mối quan hệ khá yếu giữa chiều sâu tài chính và GDP Các chỉ số đại diện cho chiều sâu tài chính cao chưa chắc đã phản ánh hệ thống tài chính vững vàng và an toàn

Như vậy các biến chiều sâu tài chính ảnh hưởng thuận chiều hay ngược chiều với GDP vẫn là câu hỏi đặt ra Liệu đối với các nước đang phát triển Châu Á, có thể

kỳ vọng rằng chiều sâu tài chính sẽ mang lại khả năng tăng trưởng cao hay không?

Về mặt cá nhân, tác giả vẫn kỳ vọng các mối quan hệ giữa biến tài chính và tăng trưởng kinh tế sẽ là thuận chiều Một quốc gia có chiều sâu tài chính càng cao, nghĩa là quốc gia đó có hệ thống trung gian tài chính với quy mô lớn, tỷ lệ thanh toán tiền mặt giảm được thay thế bằng các phương thức thanh toán qua ngân hàng, nguồn vốn huy động dồi dào và tiếp tục chảy vào hệ thống doanh nghiệp tư nhân để thúc đẩy sản xuất kinh doanh… từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Bảng 3.1: Mô tả kỳ vọng dự kiến của mô hình:

Đồng biến (+)/ Nghịch biến (-)

Nhóm biến chiều sâu tài chính

Trang 34

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trước khi xem xét kết quả nghiên cứu, tác giả thống kê mô tả sơ bộ về các biến sử dụng trong mô hình Với 30 quốc gia quan sát trong 18 năm từ 1994-2012, chúng ta có dữ liệu bảng cân bằng với 540 quan sát

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến

Y M2 QUASI PRIVATE EXPORT GOV INF POP

Mean 3.719972 60.29118 42.53533 45.04323 48.92404 13.34616 24.06750 1.378176 Median 3.997853 44.92032 28.81517 30.37346 37.31402 11.78644 5.691005 1.388018 Maximum 33.03049 328.1832 292.2687 202.2128 233.3484 40.38462 4447.866 5.321578 Minimum -20.77814 6.362329 1.225356 1.166045 0.111538 3.460375 -8.525170 -2.394547 Std Dev 4.924577 50.04550 44.91403 40.75018 42.61548 6.073782 220.1052 0.956669 Skewness -0.308927 2.294106 2.681914 1.339276 2.365519 1.301909 16.96266 -0.372312 Kurtosis 9.007363 10.15156 12.61303 3.942893 9.016200 5.336619 318.3683 4.642066

Jarque-Bera 820.5786 1624.421 2726.572 181.4329 1317.991 275.3922 2263682 73.14407 Probability 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000

Sum 2008.785 32557.24 22969.08 24323.34 26418.98 7206.928 12996.45 744.2149 Sum Sq

Dev 13071.54 1349954 1087308 895051.1 978866.7 19884.16 26112543 493.3011 Observations 540 540 540 540 540 540 540 540

Trong giai đoạn này, các quốc gia được nghiên cứu có mức tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người khoảng 3.7%/năm, trong đó thấp nhất là mức suy giảm -20.78% năm 1994 của Azerbaijan, và cao nhất cũng là mức tăng trưởng vượt trội 33.03% của quốc gia này vào năm 2006 do nhờ giá dầu lên cao khiến thu nhập từ dầu mỏ tăng vọt Tỷ lệ M2/GDP bình quân 60.29%, trong đó tỷ lệ cao nhất thuộc về Hong Kong trong năm 2011 lên tới 328.18% Tiền (M2-M1) trên GDP (QUASI) bình quân 42.5% và tỷ lệ tín dụng tư nhân (PRIVATE) bình quân 45.04%, trong đó Hồng Kông cũng là quốc gia đạt 2 tỷ lệ này cao nhất tương tự như M2 Lý giải cho điều này là do đặc thù kinh tế của Hồng Kông chiếm đến 90% là dịch vụ, Hồng Kông cũng là trung tâm tài chính, thương mại quốc tế quan trọng và là nơi tập trung nhiều đại bản doanh công ty của khu vực Châu Á Thái Bình Dương Ngược lại, một

Trang 35

số quốc gia Đông Nam Á như Campuchia hay Myanmar, các quốc gia vùng Trung

Á như Azerbaijan hay Kazakhstan… có chỉ số chiều sâu tài chính thấp nhất cho thấy các quốc gia này có quy mô hoạt động tài chính và hệ thống tài chính kém phát triển hơn so với các quốc gia khác, đặc biệt ở giai đoạn đầu nghiên cứu của các năm thập kỷ 1990 Ngoài ra so sánh tỷ lệ trên GDP của M2 và QUASI cho thấy lượng tiền quasi chiếm tỷ trọng khá cao trong M2

Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP trung bình đạt 48.92%, Singapore giữ tỷ lệ này cao nhất do xuất khẩu, đặc biệt là mặt hàng điện tử, hóa chất, dịch vụ là nguồn cung cấp chính cho thu nhập kinh tế Tỷ lệ lạm phát bình quân của khu vực ở mức khá cao 24.07% do một số quốc gia như Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyz… có tỷ

lệ lạm phát phi mã vào những năm 1994, 1995, Lào, Indonesia năm 1998, 1999… Ngoài ra, giá trị độ lệch chuẩn (std.dev) của các biến đều khá lớn cũng cho thấy sự khác biệt giữa mức độ chỉ tiêu của các quốc gia trong mẫu quan sát

4.1 Kết quả nghiên cứu giả thiết 1

Bảng 4.2: Kiểm định tương quan của giả thuyết 1

Y M2 EXPORT GOV INF POP

Y và EXPORT là -0.0532 thể hiện mối tương quan âm, nghĩa là trái với kỳ vọng ban đầu của tác giả Liệu vấn đề này có lặp lại trong mô hình nghiên cứu hay không?

Trang 36

Đầu tiên tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS để ước lượng giả thiết 1 Đồng thời tác giả cũng lần lượt sử dụng:

 Phương pháp hiệu ứng cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên tác động theo thời gian: xem xét ảnh hưởng của sự thay đổi theo thời gian (năm) đối với hàm tăng trưởng GDP

 Phương pháp hiệu ứng cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên tác động theo quốc gia: xem xét ảnh hưởng của sự khác biệt giữa các quốc gia đối với hàm tăng trưởng GDP

Tác giả sẽ dùng kiểm định Hausman, kiểm định Durbin-Watson, hệ số xác định R2

để chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất Tóm tắt kết quả hồi quy ở bảng 4.3

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy giả thuyết 1

Biến hồi quy

Biến phụ thuộc Y Pooled

OLS

Hiệu ứng cố định Hiệu ứng ngẫu nhiên Thời gian Quốc gia Thời gian Quốc gia

(1) (2) (3) (4) (5) M2

Trang 37

Tại tất cả các kết quả hồi quy, tác giả thấy rằng hệ số của biến M2 đều mang giá trị âm Kết quả trái ngược với kỳ vọng ban đầu của tác giả về mối quan hệ giữa biến chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế Mặc dù, hệ số của M2 gần về bằng

0, tuy nhiên như vậy tác giả đã không quan sát được ảnh hưởng tích cực của M2 đối với GDP Việc đưa vào các biến giả thời gian của mô hình FEM hoặc cho phép thành phần sai số của tung độ gốc biến thiên theo thời gian của mô hình REM không tạo ra ảnh hưởng khác biệt so với mô hình Pooled OLS Điều đó cho thấy yếu tố thay đổi thời gian không tác động nhiều đến hàm tăng trưởng GDP

Hệ số của các biến GOV, INF, POP đều âm, nhưng điều này phù hợp với giả định ban đầu của tác giả về tác động tiêu cực của việc gia tăng chi tiêu chính phủ, lạm phát và dân số đến tăng trưởng kinh tế Hệ số của biến EXPORT trong một số trường hợp mang giá trị âm, nhưng đều không có mức ý nghĩa, các trường hợp còn lại thể hiện tác động thuận chiều lên tăng trưởng kinh tế, phù hợp với giả định ban đầu của tác giả

Để lựa chọn hồi quy phù hợp, tác giả đánh giá lần lượt các yêu cầu sau:

 Về hệ số xác định R2: kết quả hồi quy số 3 có mức độ giải thích được cao nhất, với R2 = 33.95%

 Về kiểm định DW: chỉ có kết quả hồi quy số 3 và số 5 đạt yêu cầu vì không

có sự tương quan trong mô hình (1<d<3)

 Về kiểm định Hausman đối với hiệu ứng tác động theo thời gian hoặc theo quốc gia đều cho giá trị p-value < 5%, nghĩa là nên chọn mô hình FEM, hay nên chọn kết quả 2 hoặc 3

Qua đó, kết quả hồi quy số 3 là kết quả hồi quy được tác giả lựa chọn do có hệ

số R2 tốt nhất, đáp ứng điều kiện không có sự tương quan trong mô hình và phù hợp với kết quả kiểm định cho rằng nên lựa chọn mô hình FEM khi xem xét yếu tố tác động theo quốc gia

Y it = – 0.0443*M2 it + 0.1181*EXPORT it – 0.0599*GOV it

– 0.0038*INF it – 0.4369*POP it + 2.1082 (4.1)

Bảng 4.4 thể hiện kết quả phương trình (415) chạy trên phần mềm Eviews

Trang 38

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy giả thiết 1 bằng mô hình FEM

Total panel (balanced) observations: 540

Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

M2 -0.044349 0.013535 -3.276688 0.0011 EXPORT 0.118128 0.020433 5.781304 0.0000 GOV -0.059924 0.080272 -0.746504 0.4557 INF -0.003817 0.000848 -4.503398 0.0000 POP -0.436909 0.321324 -1.359715 0.1745

C 2.108242 1.488290 1.416553 0.1572

Effects Specification Cross-section fixed (dummy variables)

R-squared 0.339525 Mean dependent var 3.719972

Adjusted R-squared 0.295057 S.D dependent var 4.924577

S.E of regression 4.134719 Akaike info criterion 5.739335

Sum squared resid 8633.429 Schwarz criterion 6.017492

Log likelihood -1514.620 Hannan-Quinn criter 5.848121

F-statistic 7.635317 Durbin-Watson stat 1.176581

Prob(F-statistic) 0.000000

Trong kết quả hồi quy này hệ số của GOV và POP không có ý nghĩa thống kê

ở mức ý nghĩa 10% Trong khi đó, hệ số M2 là -0.0443 tại mức ý nghĩa 0.11% cho thấy có tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa tăng trưởng kinh tế và chiều sâu tài chính Nghĩa là các quốc gia Châu Á trong giai đoạn 1994-2012 không có được ảnh hưởng tích cực từ chiều sâu tài chính Việc gia tăng cung tiền mở rộng trên GDP đã không mang lại hiệu quả như kỳ vọng ban đầu của tác giả Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Lucas (1988) , Demetriades và Hussein (1996),

Ngày đăng: 07/08/2015, 21:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mô tả kỳ vọng dự kiến của mô hình: - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 3.1 Mô tả kỳ vọng dự kiến của mô hình: (Trang 33)
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến (Trang 34)
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy giả thiết 1 bằng mô hình FEM - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy giả thiết 1 bằng mô hình FEM (Trang 38)
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy giả thuyết 2 - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy giả thuyết 2 (Trang 40)
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy giả thiết 2 bằng mô hình FEM - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy giả thiết 2 bằng mô hình FEM (Trang 41)
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy giả thuyết 3 - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy giả thuyết 3 (Trang 42)
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy giả thiết 3 bằng mô hình FEM - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy giả thiết 3 bằng mô hình FEM (Trang 43)
Bảng 4.9: Kết quả hiệu chỉnh phương sai thay đổi - NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIỀU SÂU TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á.PDF
Bảng 4.9 Kết quả hiệu chỉnh phương sai thay đổi (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w