Tai nạn thương tích trẻ em hoàn toàn có thể phòng tránh được thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và tạo dựng môi trườn
Trang 1Tai nạn thương tích trẻ em có thể xảy ra đối với tất cả các lứa tuổi và hiện đang là vấn đề y tế công cộng được quan tâm Tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, so với các nguyên nhân tử vong do bệnh truyền nhiễm và không truyên nhiễm, tai nạn thương tích trẻ em đang trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với trẻ Tai nạn thương tích trẻ em hoàn toàn có thể phòng tránh được thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và tạo dựng môi trường học tập, vui chơi an toàn là không thể thiếu Để thực hiện các biện pháp đó, hướng tiếp cận dựa vào nhà trường được xem là khả thi và hiệu quả.
Từ khóa: Học sinh tiểu học, tai nạn thương tích trẻ em, phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em, phòng tránh dựa vào nhà trường.
Child injury and school-based
prevention methods Nguyen Thuy Quynh (*), Le Vu Anh (**), Nguyen Duc Quang (***)
Child injury, a majorly concerned public health problem, may happen to all age groups Beside causes of death by communicable and uncommunicable diseases, child injury has become the leading cause of death in children in developing countries in general and in Vietnam in particular
Child injury is preventable via various types of different intervention of which improvement of knowledge and skills on injury prevention and creation of a safe environment for children to study and play are essential To achieve these interventions, school based approach is considered as feasible and effective
Key words:
Primary school students, child injury, child injury prevention, school- based intervention.
Tác giả:
(*): Ths Nguyễn Thúy Quỳnh Bộ môn Vệ sinh lao động Bệnh nghề nghiệp Trường Đại học Y tế công cộng
-138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội- email.ntq@hsph.edu.vn.
(**) GS.TS Lê Vũ Anh - Trường Đại học Y tế công cộng - 138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội
(***) PGS.TS Nguyễn Dục Quang, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Tai nạn thương tích ở trẻ em và biện pháp
phòng chống dựa vào nhà trường
Nguyễn Thúy Quỳnh (*), Lê Vũ Anh (**), Nguyễn Dục Quang (***)
Trang 21 Giới thiệu
Tai nạn thương tích (TNTT) hiện nay đang là
vấn đề nổi cộm của Y tế công cộng Trên thế giới
mỗi năm có khoảng 5 triệu tử vong do TNTT, chiếm
9% của tổng số tử vong và 12% của gánh nặng bệnh
tật toàn cầu 90% tử vong do chấn thương xảy ra ở
các nước thu nhập thấp và trung bình Đông Nam Á
và Tây Thái Bình Dương là khu vực có số tử vong
do chấn thương cao nhất [10]
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng
năm có khoảng hàng triệu trẻ em tử vong bởi những
nguyên nhân có thể phòng tránh được trong đó
nguyên nhân do TNTT đóng góp một phần đáng kể
Với mỗi trường hợp tử vong do TNTT có hàng ngàn
trẻ phải sống trong tàn tật ở các mức độ khác nhau
do TNTT gây nên Ảnh hưởng của TNTT đối với xã
hội, gia đình và cộng đồng là rất lớn cả về sức khỏe,
kinh tế và các vấn đề tâm lý xã hội TNTT trẻ em
cũng được phân bố đặc trưng theo nhóm tuổi cả về
tỷ trọng và loại thương tích Tử vong do TNTT có
xu hướng gia tăng theo tuổi Đối với trẻ em dưới 1
tuổi, thương tích chỉ là nguyên nhân của 1-1,5% các
trường hợp tử vong; trẻ 1-4 tuổi là 6%; trẻ 5-9 tuổi
thương tích chiếm 25% số tử vong; 10-14 tuổi chiếm
31%; 15-17 tuổi tương đương nhóm tuổi cũng chiếm
31% tương đương với nhóm tuổi 10-14 tuổi Như
vậy trung bình đối với trẻ trong độ tuổi 5-14 tuổi,
thương tích là nguyên nhân tử vong của hơn ¼ số
trường hợp tử vong trên toàn cầu [12]
Kết quả điều tra quốc gia về tình hình TNTT tại
Việt Nam tiến hành năm 2001 cho thấy TNTT đang
dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong ở Việt Nam, đặc biệt ở lứa tuổi trẻ
em Hàng năm, cứ 100.000 trẻ dưới 18 tuổi thì có
gần 84 trẻ bị tử vong, cao gấp hơn 5 lần so với số
tử vong do bệnh truyền nhiễm (14,9/100.000) và
gấp hơn bốn lần so với bệnh không truyền nhiễm
(19,3/100.000) Đuối nước là nguyên nhân TNTT
gây tử vong lớn nhất cho trẻ em, TNGT đứng hàng
thứ 2, thứ 3 là ngã, ngộ độc đứng ở vị trí thứ tư và
TNTT do vật sắc nhọn là nguyên nhân gây tử vong
đứng hàng thứ năm [3] Sau gần 10 năm thực hiện
Chính sách quốc gia về phòng chống TNTT, chưa
có nghiên cứu quốc gia nào khác đánh giá thực
trạng tình hình TNTT trẻ em Việt Nam Hiện tại hệ
thống ghi nhận thường xuyên tử vong do TNTT từ
các xã của 63 tỉnh thành trong cả nước mặc dù còn
khá nhiều hạn chế về phân loại nguyên nhân và sự
đầy đủ của số liệu, tuy nhiên cho đến nay đây vẫn
được coi là nguồn số liệu tham khảo cho những người làm công tác phòng chống TNTT Kết quả từ hệ thống giám sát số liệu này cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2005 - 2007, số trường hợp tử vong do TNTT ở trẻ em từ dưới 18 tuổi hàng năm có gia tăng nhưng tỷ suất tử vong lại giảm xuống (số TV theo các năm 2005-2006-2007 là: 6938 - 7,198 - 7894; tỷ suất TV theo các năm trên 100 000 trẻ là: 25,8/100
000 - 26,3/100 000 - 21,7/100 000) Con số này được lý giải có thể do tốc độ tăng dân số nhanh chóng hoặc hạn chế về số liệu như đã đề cập ở trên Số liệu cũng cho thấy đuối nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ em Việt Nam, thứ nhì là TNGT, thứ 3 là ngã và ngộ độc [1,2] Một số nghiên cứu khác về tình hình TNTT trẻ em ở 6 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ năm 2003 và 2008 cũng cho thấy mô hình TNTT tương tự như kết quả các nghiên cứu trên đuối nước, TNGT là những nguyên nhân hàng đầu gây TNTT cho trẻ [4,5]
Mặc dù số liệu về TNTT ở trẻ em Việt Nam còn hạn chế nhưng các thông tin hiện có cho thấy TNTT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em Việt Nam
2 Tai nạn thương tích trẻ em có thể phòng ngừa được
Kinh nghiệm của nhiều nước có thu nhập cao cho thấy nếu có chiến lược phòng chống TNTT phù hợp dựa trên các bằng chứng khoa học, TNTT trẻ
em hoàn toàn có thể dự phòng được Tại một số nước thành viên của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế, số lượng tử vong do thương tích ở trẻ dưới
15 tuổi giảm một nửa trong giai đoạn 1975-1995 Có được thành tựu này là do kết quả của sự kết hợp giữa nghiên cứu, xây dựng hệ thống số liệu, áp dụng các biện pháp dự phòng cụ thể, cải thiện môi trường an toàn, xây dựng và thực thi pháp luật, giáo dục cộng đồng, cải thiện chất lượng dịch vụ sơ cấp cứu, chăm sóc chấn thương thiết yếu [11]
Tai nạn thương tích có thể phòng ngừa được thông qua một số các biện pháp như pháp chế và thực thi, sửa đổi sản phẩm, cải thiện môi trường, khuyến khích sử dụng các thiết bị an toàn, giáo dục kỹ năng và thay đổi hành vi và tăng cường các dịch vụ chăm sóc chấn thương thiết yếu Các biện pháp này đã được chứng minh là có hiệu quả, ví dụ như tại các quốc gia có thu nhập cao số ca ngộ độc ở trẻ
em giảm đáng kể thông qua các pháp luật đòi hỏi
Trang 3việc đóng gói các loại chất độc phòng TNTT cho trẻ
em; ở Malaysia việc phân luồng xe máy đã làm
giảm 27% các vụ va chạm hay sử dụng mũ bảo hiểm
khi đi xe đạp làm giảm tới 63-88% nguy cơ thương
tích vùng đầu và chấn thương sọ não nghiêm trọng
trong số những người đi xe máy ở tất cả các độ tuổi
[14] Cải thiện môi trường là một chiến lược phòng
chống TNTT được xem là có hiệu quả đối với mọi
lứa tuổi, đặc biệt phù hợp đối với trẻ em Chiến
lược này phát huy được hiệu quả rất nhiều khi sử
dụng kết hợp với hai chiến chiến lược khác là thực
thi luật pháp và truyền thông giáo dục [7]
Tại Việt Nam, chương trình phòng chống TNTT
trẻ em của Bộ Y tế dưới sự tài trợ của UNICEF được
tiến hành ở 6 tỉnh trọng điểm đã áp dụng chiến lược
cải thiện môi trường tại các cấp độ như hộ gia đình,
cộng đồng và trường học và cũng đã thu được những
thành công đáng kể Ví dụ như với cấp độ hộ gia
đình, lắp đặt các giá cao ngoài tầm với của trẻ để
để dao và các vật sắc nhọn, giá đựng phích, đậy
giếng và bể nước, cũi cho trẻ nhỏ, tủ thuốc…; tại
cộng đồng làm hàng rào chắn quanh ao, đèn đường,
hạn chế tốc độ và cải tạo sân chơi công cộng; tại
trường học lắp đặt các biển báo giao thông, biển báo
phòng chống TNTT, chắn ban công và cải tạo hệ
thống điện…[8] Bên cạnh việc cải thiện môi trường,
việc giáo dục truyền thông và tăng cường kỹ năng
về phòng chống TNTT cho trẻ được thực hiện song
song thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,
các chương trình truyền thông tại cộng đồng và tư
vấn tại hộ gia đình là không thể thiếu Chiến dịch
truyền thông giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao
kiến thức về đội mũ bảo hiểm đã được thực hiện
trước khi Luật đội mũ bảo hiểm được ban hành tại
Việt Nam 2007 là một bằng chứng cho thấy vai trò
tích cực của truyền thông trong thành công của các
chương trình can thiệp phòng chống TNTT
3 Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em
trong độ tuổi tiểu học dựa vào nhà trường, một
giải pháp được xem là khả thi và hiệu quả.
Trẻ em trong độ tuổi tiểu học là giai đoạn trẻ có
sự thay đổi về môi trường sống, trẻ bắt đầu nhỏ rời
khỏi môi trường gia đình để dành nhiều thời gian
hơn với bạn bè trang lứa cho các sinh hoạt tại trường
học và cộng đồng Trong thời kỳ này, trẻ có thể học
hỏi để tự khẳng định bản thân, xây dựng được niềm
tin vào bản thân, tự đánh giá bản thân và có định
hướng về những hành vi tốt và không tốt Giai đoạn
này có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển về tinh thần, trí tuệ và xã hội sau này [8]
Giáo dục trẻ em thực hành an toàn cho trẻ không chỉ có tác dụng giảm tỷ lệ TNTT hiện tại mà còn có tác dụng thay đổi hành vi an toàn cho thế hệ tương lai Nếu trẻ em được trang bị kiến thức cơ bản ban đầu để nhận biết những yếu tố nguy cơ gây TNTT và kỹ năng ứng phó với các nguy cơ đó sẽ rất có ích cho việc nâng cao kỹ năng sống cho trẻ trong suốt cuộc đời Quá trình giáo dục môi trường an toàn và phòng chống TNTT cho trẻ diễn ra thường xuyên liên tục thông qua các hoạt động vui chơi ở trường, lớp sẽ dần tạo cho trẻ những phản xạ linh hoạt, nhạy bén, thói quen ý thức thường trực đối với những rủi ro, nguy hiểm gây tai nạn bất thường Trẻ em học cách cư xử qua cả sự chỉ dẫn và quan sát từ cha mẹ, giáo viên, người thân, bạn bè… và những người đóng vai trò làm hình mẫu cho cách ứng xử của chúng và qua quan sát Hành vi của trẻ sẽ được củng cố và điều chỉnh bởi những hậu quả
do những hành động của chúng mang lại và sự đáp ứng của người khác đối với hành vi của chúng Trẻ nhỏ học cách ứng xử qua quan sát và tương tác với xã hội hơn là chỉ từ những lời chỉ dẫn Tương tự như vậy, trẻ nhỏ cần được dạy dỗ các kỹ năng thông qua quá trình hướng dẫn, tập luyện (lặp lại nhiều lần) và phản hồi hơn là chỉ nói lý thuyết [6] Sự tự tin về khả năng thể hiện những hành vi phù hợp, là rất quan trọng đối với việc duy trì và học tập cách cư xử, đặc biệt trước những áp lực của xã hội bắt phải
cư xử theo cách khác
Các phương pháp thu nhận kỹ năng bao gồm học tập có sự tham gia, thảo luận nhóm, đóng vai và thực hành, có sự phản hồi kịp thời và xây dựng kỹ năng giao tiếp với bạn bè và những người xung quanh Các phương pháp này được thiết kế đơn giản gần với những hoạt động thông thường trong cuộc sống như thông qua các trò chơi; phân tích trường hợp; làm việc nhóm nhỏ Người cung cấp cho các
em kỹ năng sống cần thiết vừa phải có chuyên môn vừa phải có trách nhiệm Kinh nghiệm cho thấy những người giảng dạy các kỹ năng sống có hiệu quả thường là các nhà hoạt động xã hội, giáo viên và các nhà tâm lý học Họ có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định hay sự thành công của chương trình [13]
Lứa tuổi tiểu học đang trong giai đoạn quan sát, học tập, thực hành ứng xử với môi trường xung quanh, các hành vi an toàn đang trong quá trình
Trang 4hình thành và hoàn thiện Vì vậy việc tạo dựng một
môi trường sống, học tập và vui chơi an toàn cho trẻ
sẽ góp phần đáng kể trong việc phòng chống TNTT
Hơn nữa, nếu trẻ nếu trẻ em trong những giai đoạn
đầu đời này được học tập trong môi trường an toàn
và được khuyến khích tham gia vào việc xây dựng
môi trường an toàn trong trường học cũng sẽ nâng
cao được kiến thức và kỹ năng sống an toàn và tạo
cho trẻ có trách nhiệm tham gia tạo dựng môi trường
sống, học tập an toàn cho bản thân, làm nền tảng
cho cuộc sống sau này của trẻ
4 Tiếp cận phòng chống tai nạn thương tích
cho học sinh tiểu học dựa vào nhà trường
Mô hình và nội dung can thiệp phòng chống tai
nạn thương tích cho học sinh tiểu học dựa trên các
nguyên tắc chia sẻ về trách nhiệm trong các vấn đề
về chấn thương và các giải pháp phòng chống của
các chuyên gia và các thành viên của cộng đồng, và
là sự tham gia chịu trách nhiệm xác định những ưu
tiên và những can thiệp phù hợp Việc thực hiện sẽ
được dựa trên một mạng lưới tổ chức và xã hội và
nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự tham gia của
cộng đồng Mô hình can thiệp này được xây dựng
dựa trên các nguyên lý được đề cập ở trên với một
mối liên kết giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội
và gắn kết chặt chẽ với cộng đồng để cùng nhau giải
quyết một vấn đề sức khỏe đó là phòng chống tai nạn
thương tích cho học sinh tiểu học Điều này được thể
hiện cụ thể qua việc tham gia của lãnh đạo, giáo
viên trong ngành giáo dục, cán bộ y tế, cán bộ đoàn
đội, các chuyên gia phòng chống TNTT và chuyên
gia giáo dục trung ương, địa phương và các chuyên
gia quốc tế sẽ cùng nhau hoạt động để đạt được mục
đích chung này Chương trình can thiệp sẽ được xây
dựng với 2 cấu phần cơ bản: nâng cao kiến thức, kỹ
năng về phòng chống TNTT cho học sinh và tạo
dựng môi trường học tập an toàn cho trẻ
Sau khi mô hình can thiệp được thống nhất,
chương trình can thiệp cụ thể sẽ được xây dựng với
sự tham gia của các chuyên gia có kiến thức, kinh
nghiệm về phòng chống tai nạn thương tích và các
chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm xây dựng
chương trình giảng dạy tuyến trung ương sẽ phối
hợp với nhóm kỹ thuật địa phương là những người
có kinh nghiệm, kỹ năng sư phạm và thực tế giảng
dạy cho học sinh tiểu học để cùng nhau xây dựng
nội dung chương trình can thiệp Với cách thức tiếp
cận như vậy, chương trình sẽ vừa mang tính hàn
lâm vừa mang tính thực tiễn
Chương trình giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho học sinh tiểu học nhằm giúp học sinh (1) Hình thành và nâng cao những hiểu biết về các yếu tố có thể gây tai nạn thương tích cho trẻ em (2) Rèn kĩ năng về phòng chống tai nạn thương tích, có khả năng ứng phó với những nguy cơ gây tai nạn thương tích, qua đó giảm thiểu TNTT cho trẻ em Chương trình được xây dựng thông qua việc khai thác và tích hợp với chương trình học tập của học sinh và bổ xung thêm các hoạt động ngoại khóa, dựa trên nguyên tắc giúp trẻ "học mà chơi, chơi mà học", đảm bảo không gây gánh nặng cho trẻ và nhà trường, vừa đáp ứng được tính khoa học và thực tiễn phù hợp với hoàn cảnh giáo dục hiện tại của Việt Nam Chương trình được thực hiện theo các bước sau:
- Rà soát nội dung của tất cả các bài học thuộc các môn học từ lớp 1 đến lớp 5 đề xuất những môn học sẽ tích hợp, với từng môn học lựa chọn bài học, loại hình TNTT dự kiến được tích hợp, mức độ, thời lượng và phương pháp giảng dạy tích hợp PC TNTT phù hợp với từng lớp học
- Lựa chọn nội dung phòng chống TNTT để lồng ghép: các loại TNTT thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi học sinh tiểu học được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu TNTT trẻ em thực tế tại Đà Nẵng và Việt Nam Dựa trên các phân tích về mô hình lý thuyết và các số liệu thực tế, chương trình sẽ đưa ra các nội dung cơ bản về phòng chống TNTT dự kiến được giảng dạy trong chương trình tiểu học và phân bổ nội dung đó phù hợp đối với từng khối lớp và cho từng môn học Các nội dung này sẽ được chuyển tải dưới các dạng thông điệp mang tính lặp lại để học sinh có thể ghi nhớ
- Sau khi có môn học tích hợp và nội dung phòng chống TNTT, có 3 cấp độ tích hợp có thể áp dụng là: (1) Tích hợp toàn phần - Khi mục tiêu và nội dung bài học hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nội dung giáo dục phòng chống TNTT; (2) Mức độ bộ phận - Khi chỉ có 1 bộ phận bài học có nội dung giáo dục phù hợp với giáo dục phòng chống TNTT và (3) Mức độ liên hệ - Khi nội dung và bài học có điều kiện liên hệ một cách logic với nội dung giáo dục phòng chống TNTT
- Bên cạnh đó, chương trình giảng dạy ngoại khóa phòng chống tai nạn thương tích được xây dựng như một cấu phần đi kèm, hỗ trợ và củng cố kiến thức đã học ở chương trình tích hợp chính khóa
Trang 5Do đó, nội dung các bài học được xây dựng phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, sử
dụng phương pháp giảng dạy tích cực và tài liệu
giảng dạy phong phú
Tạo dựng môi trường trường học an toàn cho
học sinh được thực hiện thông qua mô hình bảng
kiểm trường học an toàn (THAT) nhằm giảm thiểu
nguy cơ TNTT cho học sinh trong trường học
Chương trình được thực hiện thông qua các bước:
- Dựa vào các tài liệu trong nước và quốc tế, xây
dựng bảng kiểm THAT và Tài liệu hướng dẫn sử
dụng bảng kiểm có sự tham gia của cộng đồng và
phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương
- Sử dụng bảng kiểm THAT để đánh giá và đề
xuất danh mục các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho học sinh cần được cải thiện
- Xác định và lựa chọn giải pháp can thiệp: Tùy theo loại nguy cơ cụ thể gây thương tích cho trẻ và nguồn lực thực tế để đưa ra giải pháp phù hợp Các giải pháp được đề cập theo các cấp độ (1) cảnh báo nguy cơ (2) giảm thiểu nguy cơ (3) loại bỏ nguy cơ
- Triển khai thực hiện giải pháp can thiệp đã được lựa chọn ở bước trên
- Đánh giá sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho học sinh trong trường học sau quá trình thực hiện can thiệp số yếu tố nguy cơ được loại bỏ hay giảm thiểu và xem xét xem có yếu tố nguy
cơ mới phát sinh không
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1 Bộ Y tế, Thống kê tử vong trẻ em và vị thành niên từ
0-19 tuổi do tai nạn thương tích 2005 - 2006, Hà Nội 2008
2 Bộ Y tế, Thống kê tử vong do tai nạn thương tích năm
2007, Hà Nội 2008
3 Lê Vũ Anh, Lê Cự Linh, Phạm Việt Cường (2003), Điều
tra liên trường về chấn thương ở Việt Nam, Hà Nội 2003.
4 Lê Vũ Anh, Nguyễn Thuý Quỳnh, Lê Cự Linh, Trần Thị
Hồng, Nguyễn Thị Trang Nhung, Lã Ngọc Quang, Trần
Trọng Hà (2004) Điều tra cơ bản tình hình chấn thương và
các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Phòng,
Hải Dương, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Cần Thơ, Đồng
Tháp năm 2004 Trường Đại học Y tế công cộng - UNICEF
Việt Nam, 2004.
5 Nguyễn Trọng Hà, Phạm Việt Cường, Lã Ngọc Quang,
Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Trang Nhung, Lê Thị Kim
Ánh, Nguyễn Y Vân, Phạm Công Tuấn (2008) Điều tra cơ
bản tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới
18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên Huế,
Quảng Trị, Cần Thơ, Đồng Tháp năm 2008 Trường Đại học
Y tế công cộng - UNICEF Việt Nam, 2009.
Tiếng Anh
6 Badura, A (1977a), Self-efficacy: Toward a Unifying Theory of Behavior Change Psychological Review.
7 Bunn F, Collier T, Frots C, Ker K, Roberts I, Wentz R, Traffic calming for prevention of road traffic injuries: systematic review and meta-analysis Injury prevention 2003; 9(3): 200-204
8 Csikszentmihalyi, M.and Schneider, B (2000), Becoming Adult: How Teenagers Prepare for the world of work New York: basic book.
9 Doyle J Child injury prevention The story of UNICEF's interventions in Vietnam, Hanoi 2008.
10 Dean T Jamison, Henry Mosley et al (editors) Disease Control Priorities in Developing Countries Published for the World Bank - Oxford University Press.
11 Florence, Innocenti Research Centre (2001), A league table of child deaths by injury in rich nations Innocenti report No2.
12 Krug, E., et al (2002), World report on violence and Health, World Health Organization: Geneva.
13 Pan American Health Organization (2001), Life skill approach to child and adolescent healthy human development Washing DC
14 WHO (2008), World report on child injury prevention, Geneva.