TÓM TẮT Bài viết này nhằm mục tiêu nghiên cứu sự thay đổi của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian tại Việt Nam và Thái Lan trong khoảng thời gian từ quý I năm 1998
Trang 1LÊ TRUNG DŨNG
SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC THEO THỜI GIAN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT
NAM VÀ THÁI LAN
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
Thành Phố Hồ Chí Minh, Tháng 11 năm 2014
Trang 2theo thời gian: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và Thái Lan” là công trình do chính tôi nghiên cứu và soạn thảo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
Lê Trung Dũng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 8
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 8
2.1.1 Lý thuyết ngẫu nhiên trong mô hình của Mundell – Fleming (1960) 8
2.1.2 Lý thuyết về tính biến động quá mức của tỷ giá hối đoái - mô hình giá cứng nhắc của Rudiger Dornbusch (1976) 9
2.1.3 Mô hình nền kinh tế mở có nền thương mại năng động 10
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 13
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM VÀ THÁI LAN 18
3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 18
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 18
3.1.1.1 Mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những ràng buộc dài hạn 19
3.1.1.2 Xác định cấu trúc ràng buộc dài hạn 20
3.1.1.3 Phân tích sự biến động theo thời gian của biến nghiên cứu 22
3.1.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan 23
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
Trang 44.2 Kiểm định tính dừng của các biến 37 4.3 Mối tương quan theo thời gian giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực 38 4.4 Tác động của các cú sốc lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian 40 4.4.1 Tác động của cú sốc cầu lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian 40 4.4.2 Tác động của cú sốc cung lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian 47 4.4.3 Tác động của cú sốc danh nghĩa lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian 52 4.5 Sự tác động theo thời gian của các cú sốc lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực tại Việt Nam và Thái Lan 57 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DXY: Chỉ số US Dollar Index
G7: Nhóm 7 quốc gia phát triển bao gồm Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ, Anh và Canada GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GEX: Chi tiêu chính phủ
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
INTHB-USD: chỉ số tỷ giá danh nghĩa THB/USD
INVND-USD: chỉ số tỷ giá danh nghĩa VND/USD
M2: Cung tiền thực
Max: Giá trị lớn nhất
Min: Giá trị nhỏ nhất
NEER: Tỷ giá hiệu danh nghĩa đa phương
NOEM: Mô hình nền kinh tế mở
OLS: Ước lượng theo phương pháp bình phương bé nhất
REER: Tỷ giá hiệu thực đa phương
TB: Cán cân thương mại
THB: Đồng Baht Thái
Trang 6VAR: Mô hình Vecto tự hồi quy
Trang 7TÓM TẮT
Bài viết này nhằm mục tiêu nghiên cứu sự thay đổi của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian tại Việt Nam và Thái Lan trong khoảng thời gian từ quý I năm 1998 đến quý II năm 2014 dưới tác động của các cú sốc kinh tế (cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa) Chúng tôi sử dụng ý tưởng nghiên cứu của Rafiq (2013), khi nhận thấy các biến số kinh tế có tính động và có sự thay đổi theo thời gian trong suốt giai đoạn nghiên cứu Bằng cách ứng dụng mô hình hệ số thay đổi theo thời gian với những biến động ngẫu nhiên TVP-VAR (mô hình được đề xuất bởi Primiceri (2005)), để xem xét các hệ số thay đổi theo thời gian và những biến động ngẫu nhiên khi ước lượng Chúng tôi sử dụng 5 biến trong quá trình hồi quy: Cán cân thương mại (TB), tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), chi tiêu chính phủ (GEX), tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP), cung tiền thực (M2) Kết quả hồi quy thực nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan cho các kết quả sau: (I) Cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực có sự thay đổi theo thời gian (II) Dưới tác động của các cú sốc kinh tế (cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa) thì cán cân thương mại không có tác động đến sự biến động theo thời gian của tỷ giá hối đoái thực, trong khi tỷ giá hối đoái thực giải thích mạnh cho sự biến động của cán cân thương mại theo thời gian và có tính bền vững trong 17 năm nghiên cứu nhưng có mối tương quan khác nhau ở hai quốc gia Kết quả thực nghiệm ở Việt Nam cho thấy mối tương quan cùng chiều, trong khi kết quả tại Thái Lan lại là mối quan hệ ngược chiều (III) Cả ba cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa đều không có tác động trong dài hạn đến sự biến động theo thời gian của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại mà chỉ có tác động trong ngắn hạn hoặc trung hạn Trong ngắn hạn cán cân thương mại của Việt Nam chủ yếu chịu tác động của cú sốc cầu trong khi cú sốc danh nghĩa và cú sốc cung tác động không đáng kể Còn tỷ giá hối đoái thực chịu sự tác động mạnh nhất của cú sốc danh nghĩa trong khi cú sốc cầu và cú sốc cung tác động rất nhỏ Ở Thái Lan cán cân thương mại đều chịu sự tác động khá
Trang 8mạnh của ba cú sốc, trong đó cú sốc cung gây ra tác động mạnh nhất và có mối tương quan thuận, còn cú sốc danh nghĩa và cú sốc cầu lại tạo ra mối tương quan nghịch Tỷ giá hối đoái thực của Thái Lan chịu tác động mạnh nhất từ cú sốc cung và có mối tương quan cùng chiều, còn cú sốc danh nghĩa thì tạo ra mối tương quan cùng chiều và
có tác động nhỏ đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, trong khi cú sốc cầu thì tác động rất nhỏ Điều cuối cùng chúng tôi tìm thấy là không chỉ cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực thay đổi theo thời gian mà sự tác động của các cú sốc kinh tế lên hai biến này cũng thay đổi theo thời gian về chiều hướng và cường độ tác động và có sự khác nhau giữa các quốc gia (IV) Điều cuối cùng chúng tôi tìm thấy là không chỉ cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực thay đổi theo thời gian mà sự tác động của các cú sốc kinh tế lên hai biến này cũng thay đổi theo thời gian về chiều hướng và cường độ tác động và có sự khác nhau giữa các quốc gia
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) bắt nguồn từ Thái Lan có nguồn gốc
từ sự sai lầm trong chính sách điều hành tỷ giá của Chính Phủ nước này, và nó đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong tư duy điều hành của các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia Các quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam và Thái Lan bắt đầu quản lý chặt chẽ sự biến động của đồng nội tệ so với các đồng tiền khác và thường được xem là chiến lược hỗ trợ xuất khẩu, nhưng sự chênh lệch cán cân thương mại ở các quốc gia đã gây ra sự mất cân bằng vĩ mô toàn cầu Trong bối cảnh tham vấn đa phương và các cuộc họp G20 đã dậy lên các câu hỏi về việc liệu các nước thặng dư lớn trong tài khoản vãng lai có nên đánh giá cao đồng tiền của mình hay không? Phần lớn hướng sự tập trung vào sự thặng dư lớn trong cán cân thương mại của Trung Quốc1 Bài viết này, phân tích sự biến động của cán cân thương mại của Việt Nam và Thái Lan để hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động trong thương mại giữa hai quốc gia, điều này rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách để đưa ra các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế Những phân tích gần đây được tiến hành dựa trên nền tảng của các mô hình kinh tế vĩ mô mới, với những cách tiếp cận có sự chặt chẽ về lý thuyết thường dẫn đến những kết quả mâu thuẫn (Chinn và Lee, 2006)2 Bài nghiên cứu của chúng tôi dựa vào kết quả nghiên cứu của các tác giả về việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái hoặc tài khoản vãng lai Ví dụ, Clarida và Gali (1994) đã áp dụng một chiến lược xác định dài hạn để khám phá vai trò của những
cú sốc tiền tệ đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, trong một hệ thống ba biến gồm tỷ giá hối đoái thực song phương, chênh lệnh lạm phát, và sản lượng tương đối Chadha & Prasad (1997), Prasad (1999), Astley & Garratt (2000), và Lee & Chinn (2006) đã phân tích vai trò của những cú sốc tạm thời và cố định đối với số dư tài khoản vãng lai của
1 xem Rafid (2013)
2 xem Rafid (2013)
Trang 10các nền kinh tế G73 Rafiq (2013) đã phân tích cán cân tài khoản vãng lai của 5 quốc gia có cán cân thương mại thặng dư lớn là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia và Đài Loan, bằng việc sử dụng mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những biến động ngẫu nhiên TVP-VAR, khi ông thấy rằng sự hiện diện tiềm tàng của những bất ổn cấu trúc có thể dẫn đến việc phân tích cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực trong các mô hình hệ số cố định mẫu phụ thuộc là không phù hợp Cũng như những chỉ trích của Grier và Ye (2009) cho thấy rằng trong một mô hình hệ số cố định không chú trọng đến những thay đổi cấu trúc (đặc biệt là ở giá trị trung bình) giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại sẽ dẫn đến những kết luận sai lầm Hơn nữa,
họ cũng cho thấy rằng việc không chú trọng đến sự thay đổi phương sai có điều kiện của sự biến động trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến ước lượng OLS của các hệ số VAR trở nên không hiệu quả, dẫn tới sự phân tách phương sai và phương trình phản ứng đẩy trở nên không tối ưu4
1.1a – Việt Nam
3 xem Rafid (2013)
4 xem Rafid (2013)
Trang 111.1b – Thái Lan
Hình 1.1: Đồ thị mô tả sự biến động của M2, GEX, GDP, TB, REER qua các năm ở Việt Nam và Thái Lan
Để phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại, bài viết này sử dụng một tập hợp những giả định xác định trong dài hạn để mở rộng một
mô hình vector tự hồi quy (VAR) - bằng cách xem xét các hệ số thay đổi theo thời gian
và những biến động ngẫu nhiên khi ước lượng (TVP-VAR) Các hệ số thay đổi có thể giải thích cơ chế lan truyền của tỷ giá hối đoái và các cú sốc trong cán cân thương mại
mà không phải chịu một điểm gẫy cụ thể, trong khi các mô hình thành phần biến động ngẫu nhiên thay đổi trong những cú sốc cấu trúc và tác động trực tiếp của nó5 Bài nghiên cứu tại Việt Nam và Thái Lan đạt được những kết quả sau:
Cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực có sự thay đổi theo thời gian
Cả ba cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa đều không có tác động trong dài hạn đến sự biến động theo thời gian của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại mà chỉ có tác động trong ngắn hạn hoặc trung hạn
5 xem Rafid (2013)
Trang 12 Trong ngắn hạn cán cân thương mại của Việt Nam chủ yếu chịu tác động của cú sốc cầu trong khi cú sốc danh nghĩa và cú sốc cung tác động không đáng kể Còn tỷ giá hối đoái thực chịu sự tác động mạnh nhất của
cú sốc danh nghĩa trong khi cú sốc cầu và cú sốc cung tác động rất nhỏ Ở Thái Lan cán cân thương mại đều chịu sự tác động khá mạnh của ba cú sốc trong đó ở giai đoạn đầu cú sốc cung có tác động mạnh nhất và có mối tương quan thuận với cán cân thương mại, cú sốc danh nghĩa và cú sốc cầu có mối tương quan nghịch với cán cân thương mại Tỷ giá hối đoái thực của Thái Lan chịu tác động mạnh nhất từ cú sốc cung và có mối tương quan cùng chiều, còn cú sốc danh nghĩa thì tạo ra mối tương quan cùng chiều và có tác động nhỏ đến sự biến động của tỷ giá hối đoái, trong khi cú sốc cầu thì tác động rất nhỏ
Dưới tác động tổng hợp của các cú sốc thì cán cân thương mại hầu như không ảnh hưởng đến sự biến động theo thời gian của tỷ giá hối đoái thực Trong khi, tỷ giá hối đoái thực lại có tác động mạnh đến sự thay đổi của cán cân thượng mại theo thời gian và tạo ra mối tương quan thuận (nghịch) ở hai quốc gia
Điều cuối cùng chúng tôi tìm thấy là không chỉ cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực thay đổi theo thời gian, mà sự tác động của các cú sốc kinh tế lên hai biến này cũng thay đổi theo thời gian về chiều hướng và cường độ tác động và có sự khác nhau giữa các quốc gia
Tóm lại, bài viết này tập trung phân tích sự biến động của cán cân thương mại
và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian cũng như xem xét mối quan hệ giữa chúng dưới tác động của ba cú sốc kinh tế (cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa) tại Việt Nam và Thái Lan để trả lời các câu hỏi sau:
1 Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian dưới tác động tổng hợp của các cú sốc kinh tế?
Trang 132 Các cú sốc kinh tế tác động đến sự biến động của cán cân thương mại và tỷ
giá hối đoái thực theo thời gian như thế nào?
3 Sự tác động của các cú sốc kinh tế có thay đổi theo thời gian hay không?
Để giải quyết các câu hỏi trên chúng tôi sử dụng ý tưởng trong bài viết của
Rafiq (2013), bằng cách ứng dụng mô hình TVP-VAR để nắm bắt sự biến động theo
thời gian của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái Dữ liệu nghiên cứu được thu thập
tại Việt Nam và Thái Lan từ quý I năm 1998 đến quý II năm 2014 Nội dung nghiên
cứu tiếp theo được trình bày như sau:
Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở lý thuyết cho
bài nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu thực nghiệm cho Việt Nam và Thái Lan
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận bài nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
2.1.1 Lý thuyết ngẫu nhiên trong mô hình của Mundell – Fleming (1960)
Mô hình Mundell-Fleming là mô hình kinh tế vĩ mô do hai nhà khoa học Robert Mundell và Marcus đề xuất vào đầu thập niên 1960 và đã đạt giải Nobel kinh tế vào năm 1999 bởi những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ Trong mô hình Mundell Fleming mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán được giải thích trong sự tác động của chính phủ bằng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ:
Chính sách tài khóa trong cơ chế tỷ giá thả nổi, vốn tự do luân chuyển
Để tăng sản lượng (trong trường hợp nền kinh tế cân bằng dưới mức toàn dụng), chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng (tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế), điều này sẽ làm tăng tổng cầu trong nước Trong ngắn hạn, đường IS dịch chuyển sang phải trong khi đường LM đứng yên, dẫn đến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu về đồng nội tệ lớn), điều này làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu Trong dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu ròng đường IS dịch chuyển ngược lại về bên trái, do đó làm mất ảnh hưởng của chính sách tiền tài khóa mở rộng, đưa lãi suất trong nước về mức lãi suất thế giới, nhưng làm cho cán cân thương mại bị xấu đi
Chính sách tiền tệ trong cơ chế tỷ giá thả nổi, vốn tự do luân chuyển
Khi áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách tăng lượng cung tiền, đường
LM dịch chuyển sang phải, sản lượng tăng và lãi suất trong nước tạm thời giảm xuống
Trang 15so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra ngoài làm cho cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng lên (nội tệ giảm giá) Trong dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu đường IS dịch chuyển sang phải làm cho sản lượng tiếp tục tăng
2.1.2 Lý thuyết về tính biến động quá mức của tỷ giá hối đoái - mô hình giá cứng nhắc của Rudiger Dornbusch (1976)
Lý thuyết “Tỷ giá biến động quá mức” được Rudiger Dornbusch đề cập năm
1976 giải thích mối quan hệ giữa tỷ giá trong thực tế và tỷ giá trong điều kiện ngang giá sức mua Mô hình giả định rằng, giá cả trên thị trường hàng hóa và tiền lương trên thị trường lao động là cứng nhắc, chậm thay đổi trước những cú sốc trong nền kinh tế,
do đó tỷ giá tăng giảm không tương xứng so với sự thay đổi của mức giá
Trong thị trường vốn quốc tế nước chủ nhà được giả định là nhỏ nên phải chấp nhận mức lãi suất nước ngoài được cho trước, vốn tự do luân chuyển đảm bảo trái phiếu trong nước và trái phiếu nước ngoài thay thế hoàn hảo cho nhau để ngang bằng lãi suất tồn tại, tỷ lệ mất giá kỳ vọng của nội tệ bằng chênh lệch giữa lãi suất trong nước
và lãi suất nước ngoài Nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất nước ngoài thì nội tệ phải tăng giá để đảm bảo điều kiện ngang bằng lãi suất
Thị trường tài sản quốc tế: Mô hình Dornbush giả định điều kiện ngang giá sức mua chỉ đúng trong dài hạn, nên tỷ lệ mất giá kỳ vọng của đồng tiền ∆e được quyết định bởi tốc độ của tham số điều chỉnh β>0 và khoảng chênh lệch giữa tỷ giá hiện tại e
và tỷ giá cân bằng dài hạn ē
Thị trường hàng hóa: Việc mất giá của đồng nội tệ sẽ làm tăng xuất khẩu và
sẽ bị triệt tiêu bởi sự tăng giá trong nước làm mất lợi thế cạnh tranh Tỷ
lệ mất giá của tỷ giá phải lớn hơn tỷ lệ tăng của giá cả trong nước để giữ trạng thái cân
Trang 16bằng cung cầu Tổng cầu d là hàm số phụ thuộc thuận chiều vào giá tương đối của hàng hóa trong nước (e-p+ pf) và thu nhập trong nước y, ngược chiều với lãi suất danh nghĩa trong nước r Chúng tôi lưu ý rằng, sự sụt giảm về giá của hàng hóa trong nước sẽ làm tăng tổng cầu, cũng như sự gia tăng thu nhập hoặc một sự sụt giảm trong lãi suất cũng
có tác động tương tự
Mô hình Dornbusch xem thị trường vốn là nhân tố chính quyết định tỷ giá trong ngắn hạn, mô hình giải thích những biến động của tỷ giá có quan hệ với mức giá thế giới và thay đổi số lượng tiền thế giới Tỷ giá hối đoái có khuynh hướng biến động quá mức (so với cân bằng) trong ngắn hạn do có sự chênh lệch về tốc độ điều chỉnh giá cả giữa thị trường hàng hóa và thị trường tài chính, các chủ thể kinh tế trên thị trường hàng hoá và lao động cần có một khoảng thời gian để điều chỉnh hành vi trước một cơ chế chính sách tiền tệ mới Mặc dù tỷ giá biến động quá mức so với sự thay đổi trong mức giá cả hàng hóa làm cho tỷ giá theo ngang giá sức mua sẽ có độ lệch trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn, khi giá cả trong thị trường điều chỉnh, tỷ giá hối đoái sẽ biến động trở về mức cân bằng trong dài hạn và mức cân bằng này là không đổi theo thời gian
Bên cạnh đó mô hình cũng lý giải tỷ giá thực tế thường biến động mạnh hơn các nhân tố tác động Tuy nhiên mô hình không đưa yếu tố kỳ vọng lạm phát vào chính thức
2.1.3 Mô hình nền kinh tế mở có nền thương mại năng động
Để các nghiên cứu về sự biến động của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực có ý nghĩa về mặt kinh tế chúng ta cần xác định phạm vi nghiên cứu cơ sở Hệ thống lý thuyết này dựa trên các nghiên cứu của Prasad (1999), đây được xem như là một tài liệu tổng quát về những biến động ngẫu nhiên trong mô hình nền kinh tế mở
Trang 17của Obstfeld (1985), Cladira và Gali (1994) và của Lee và Chinn (2006) Mô hình dựa trên những cơ sở lý thuyết của mô hình Mundell-Fleming (1960) của hai nhà khoa học Robert Mundell và Marcus và đã được mở rộng để kết hợp với mô hình giá cả thay đổi chậm theo thời gian Như vậy, lợi thế của mô hình này là nó kết hợp những giả định chính và dự đoán những tiêu chuẩn của mô hình nền kinh tế mở (NOEM) trong các lý thuyết hiện tại
Cán cân thương mại được xác định bởi sản lượng thực tế yt và tỷ giá hối đoái thực tế qt
t t t
Trong đó và a biểu thị độ co giãn của cán cân thương mại được xác định bởi
tỷ giá hối đoái và sản lượng tương đối Giả định này là phù hợp với phương trình thương mại cân bằng từng phần, có nghĩa là các thành phần của sản lượng trong nước
sẽ chỉ được xác định bởi tỷ giá hối đoái trong một thế giới được đặc trưng bởi chu kỳ kinh doanh tuần hoàn đối xứng trong mô hình nền kinh tế mở
Trang 18Ba nhân tố ngẫu nhiên được xem xét trong mô hình là cú sốc cung (liên quan đến sản lượng đầu ra tương đối, cú sốc cầu (liên quan đến biến cầu nước ngoài) và cú sốc danh nghĩa (liên quan đến biến cung tiền), ba biến này chính là phần dư của quá trình tự hồi quy với biến độ trễ của chính nó và được cho bởi ba công thức sau:
Mô hình này có thể giải quyết được những thay đổi trong giá cả sẽ được kỳ vọng cân bằng trong dài hạn
Trang 19tb ) về cơ bản bị ảnh hưởng bởi 2 cú sốc: cú sốc cung ( s
t
) và cú sốc cầu ( d 1
t
) Tuy nhiên, mô hình cũng đưa ra ba hạn chế như cú sốc danh nghĩa hoặc cú sốc cầu không có bất cứ ảnh hưởng lên sản lượng thực và cú sốc danh nghĩa không ảnh hưởng lên tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn Điều này không có nghĩa là các biến động
tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong ngắn hạn không bị tác động bởi những thay đổi trong chính sách tiền tệ hoặc ảnh hưởng của các cú sốc kỳ vọng
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là hai chủ đề được nhiều nhà kinh tế học
vĩ mô nghiên cứu trong những năm qua và đã có nhiều tranh cãi xung quanh các mối quan hệ giữa chúng Sau đây chúng tôi xin khái quát sơ bộ những kết quả nghiên cứu thực nghiệm chính trên thế giới để làm cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu của chúng tôi về vấn đề này:
Đầu tiên chúng tôi đến với nghiên cứu của Clarida và Gali (1994), họ thực hiện nghiên cứu nguồn gốc của sự biến động tỷ giá hối đoái thực kể từ sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods theo số liệu của hai quốc gia Nhật Bản và Đức, bằng cách sử dụng mô hình SVAR trong một hệ thống ba biến gồm tỷ giá hối đoái thực song phương, chênh lệch lạm phát và sản lượng tương đối Các phát hiện của hai ông cho thấy rằng những cú sốc tiền tệ (cú sốc danh nghĩa), cung tiền cũng như nhu cầu về số
dư tiền thật, giải thích đáng kể sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực so với đồng đôla
Mỹ, cụ thể là 35% thay đổi không điều kiện của cặp USD-JPY và 41% thay đổi không điều kiện của USD-GEM là do ảnh hưởng của những cú sốc danh nghĩa Đồng thời
Trang 20những cú sốc cầu, được hiểu là tiết kiệm và đầu tư quốc gia, cũng giải thích phần lớn
sự khác biệt trong sự biến động tỷ giá hối đoái thực, trong khi các cú sốc cung giải thích rất ít
Tiếp theo ý tưởng của Clarida và Gali (1994), Chadha và Prasad (1997) đã nghiên cứu về những biến động của tỷ giá hối đoái thực và chu kỳ kinh doanh với dữ liệu nghiên cứu ở Nhật Bản bằng cách sử dụng mô hình VAR Bài nghiên cứu ước lượng tầm quan trọng của các cú sốc vĩ mô lên sự biến động của sản lượng đầu ra, tỷ giá hối đoái thực và mức giá tổng hợp của nền kinh tế Những cú sốc trên thị trường hàng hóa được xem như là cú sốc cầu thực, những cú sốc trên thị trường tiền tệ được xem như là nhưng cú sốc danh nghĩa hoặc cú sốc tiền tệ và cú sốc tác động trong dài hạn đến sản lượng đầu ra là cú sốc cung Sự phân tích cấu trúc chỉ ra rằng cú sốc danh nghĩa và cú sốc cầu thực là yếu tố quyết định chính trong sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực, trong khi cú sốc cung thì đóng vai trò nhỏ hơn
Năm 2006 Lee và Chinn đã thực hiện nghiên cứu sự thay đổi của cán cân tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực ở các quốc gia G7, để cố gắng phân tích vai trò của những cú sốc tạm thời và cố định lên tỷ giá hối đoái thực và cán cân tài khoản vãng lai Trong đó, cũng như Clarida và Gali (1994) và Chadha và Prasad (1997) cú sốc tạm thời được hiểu như là những cú sốc tiền tệ và cú sốc cố định là những cú sốc về sản lượng, nhưng Lee và Chinn đã cụ thể hóa sự thay đổi trong sản lượng như là những thay đổi trong công nghệ, vì nó tác động mạnh mẽ đến năng suất lao động và sản lượng đầu ra trong dài hạn Nghiên cứu của họ cho thấy rằng, các cú sốc cố định có ảnh hưởng lớn trong dài hạn đến tỷ giá hối đoái thực, nhưng nó chỉ tác động tương đối nhỏ đến cán cân tài khoản vãng lai và cú sốc tạm thời có ảnh hưởng lớn đến tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn thông qua tác động giá cả đưa ra thị trường, nhưng không có tác động trong dài hạn
Trang 21Cũng với chủ đề này Tervala J (2006) đã nghiên cứu với một khía cạnh khác về tác động của chính sách tài khóa (đại diện bởi biến chi tiêu chính phủ) đến kênh truyền dẫn quốc tế Kết quả của ông chỉ ra rằng, có nhiều mức độ khác nhau về đánh giá hiệu quả của chi tiêu chính phủ đại diện cho chính sách tài khóa của chính phủ (hoặc cú sốc tài khóa), nếu hiệu quả của chi tiêu chính phủ thấp hoặc bằng 0, một sự gia tăng chi tiêu chính phủ gây ra sự sụt giảm trong tiêu dùng trong nước, dẫn đến một sự thay đổi tương đối trong tiêu dùng, làm giảm nhu cầu tương đối với đồng nội tệ và do đó tỷ giá thực giảm giá Những dự đoán này thống nhất với kết luận trong Obstfeld và Rogoff (1995) Mặt khác, nếu hiệu quả của chi tiêu chính phủ là cao, tiêu dùng trong nước gia tăng nhiều hơn so với tiêu dùng nước ngoài Do đó, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng giá vì sự thay đổi tiêu dùng tương đối làm tăng nhu cầu tương đối của đồng nội tệ một cách phù hợp với ý nghĩa của mô hình Keynes
Năm 2008 Kim và Lee đã thực hiện nghiên cứu những biến động kinh tế vĩ mô quốc tế theo tinh thần của mô hình nền kinh tế mở (NOEM) Mô hình nghiên cứu tác động của bốn cú sốc kinh tế (cú sốc công nghệ, cú sốc nguồn cung lao động, cú sốc sở thích, và cú sốc danh nghĩa) được phân tích để rút ra những ràng buộc dài hạn về mặt lý thuyết bằng cách ước lượng những ràng buộc dài hạn theo mô hình VAR cấu trúc cho
ba nền kinh tế lớn (Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản) Trong đó, cú sốc sở thích được hiểu là sự thay đổi trong ưu tiên sử dụng hàng trong nước so với hàng hóa nước ngoài và nó cũng bao gồm cả cú sốc tài khóa (cú sốc trong chi tiêu chính phủ) bởi vì việc sở hữu tài sản trong dài hạn nó bao gồm cả sở thích và chi tiêu cho tài sản đó nên
nó ảnh hưởng tương đối đến nhu cầu hàng hóa trong nước so với hàng hóa nước ngoài
và cú sốc danh nghĩa được hiểu là cú sốc tiền tệ Bài nghiên cứu của họ đã tìm ra được bốn điểm mới, nhưng cái mà chúng ta quan tâm chính trong phạm vi bài nghiên cứu này là việc phát hiện ra những cú sốc sở thích là nguồn quan trọng nhất gây ra sự biến động của giá hối đoái thực và những cú sốc công nghệ cũng đóng một vai trò không kém Đồng thời cú sốc công nghệ cũng là nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng toàn cầu
Trang 22trong những năm gần đây trong khi cú sốc danh nghĩa (cú sốc tiền tệ) không có tác động dài hạn lên tỷ giá hối đoái thực Còn cú sốc công nghệ và cú sốc nguồn cung lao động chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong sự biến động của cán cân vãng lai
Cuối cùng, một nghiên cứu mà chúng tôi đánh giá cao là nghiên cứu của Rafiq (2013) khi nghiên cứu của ông đã khắc phục những điểm yếu được đề cập trong Grier
và Ye (2009), khi một mô hình hệ số cố định không chú trọng đến những thay đổi cấu trúc (đặc biệt là ở giá trị trung bình) giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại dẫn đến những kết luận không đáng tin cậy Hơn nữa, Grier và Ye (2009) cũng cho thấy rằng việc không chú trọng đến sự thay đổi phương sai có điều kiện của sự biến động trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến ước lượng OLS của các hệ số VAR trở nên không hiệu quả, dẫn tới sự phân tách phương sai và phương trình phản ứng đẩy trở nên không tối ưu6 Để giải quyết các vấn đề trên trong việc kiểm tra mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại tại nhóm các nền kinh tế Đông Á, Rafiq (2013) đã
sử dụng một tập hợp những giả định xác định trong dài hạn để mở rộng một mô hình vector tự hồi quy (VAR) - bằng cách cho các hệ số thay đổi theo thời gian và những biến động ngẫu nhiên (TVP-VAR) khi ước lượng và được trình bày chi tiết trong phần sau Bài viết này cho thấy rằng từ trước đến nay các cú sốc kinh tế vĩ mô sẽ được xác định dựa vào mối tương quan giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái Những cú sốc thường trực (tạm thời) trong lịch sử đã tạo ra một sự tương quan thuận (nghịch) giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực trong vòng 20 năm qua Thứ hai, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á sự biến động của tỷ giá hối đoái thực tế của các nước Đông Á đã bị chi phối bởi thành phần dai dẳng (thường trực), trong khi sự biến động của cán cân thương mại bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các yếu tố tạm thời7
6 xem Rafid (2013)
7 xem Rafid (2013)
Trang 23Tóm lại: Về gốc độ nghiên cứu lý thuyết và mô hình nền kinh tế mở chúng tôi
kỳ vọng một mối tương quan nghịch trong ngắn hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực, và trong dài hạn hai biến này chịu tác động chủ yếu từ cú sốc cung và cú sốc cầu và không chịu tác động bởi cú sốc danh nghĩa Còn dưới gốc độ các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới thì chúng tôi thấy rằng các cú sốc đã tạo ra một mối tương quan thuận (nghịch) giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá hối đoái thực chịu sự tác động bởi cú sốc cung và cú sốc cầu trong khi cú sốc danh nghĩa lại có tác động mạnh đến cán cân thương mại
Trang 24CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM VÀ THÁI LAN
3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Kể từ những năm 1990, khung phân tích các chính sách kinh tế rất phổ biến với việc vận dụng mô hình VAR (Vector Autoregression) được Chrisphopher Sims đề xuất vào năm 1980, tạo điều kiện thuận lợi trong xử lý các vấn đề kinh tế khác nhau với kỹ thuật hồi quy đa chuỗi thời gian phức tạp Ý tưởng cơ bản của phương pháp VAR đó là coi mọi biến điều có thể là biến nội sinh để từ đó xây dựng mối quan hệ động giữa chúng Qua đó, mô hình VAR cho phép chúng ta đo lường được những phản ứng giao động của các biến số kinh tế vĩ mô trước các cú sốc tài khóa, cú sốc tiền tệ, hoặc các cú sốc ngoại sinh khác Tuy nhiên, điểm yếu của mô hình VAR là cho các tham số cố định theo thời gian, điều này làm mất đi tính động của các biến số kinh tế Để khắc phục nhược điểm của mô hình VAR chúng tôi sử dụng mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những biến động ngẫu nhiên TVP-VAP (mô hình được đề xuất bởi Primiceri (2005)) để tìm ra nguồn gốc của sự thay đổi theo thời gian của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam và Thái Lan Mô hình TVP-VAR xem xét các hệ số thay đổi theo thời gian và những biến động ngẫu nhiên khi ước lượng Do
đó, các hệ số thay đổi có thể giải thích cơ chế lan truyền của tỷ giá hối đoái và các cú sốc trong cán cân thương mại mà không phải chịu một điểm gẫy cụ thể, trong khi các
mô hình thành phần biến động ngẫu nhiên thay đổi trong những cú sốc cấu trúc và tác động trực tiếp của nó8 Sau đây chúng tôi trình bày phương pháp mô hình TVP-VAR một mô hình mở rộng của mô hình VAR:
8 xem Rafid (2013)
Trang 253.1.1.1 Mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những ràng buộc dài hạn9
Để dễ kiểm soát hơn trong quá trình phân tích mô hình TVP-VAR, bài nghiên cứu trình bày một mô hình vĩ mô 3 phương trình Việc sử dụng mô hình VAR với các phương trình hồi quy đơn giản để kiểm tra các yếu tố quyết định tới cán cân thương mại cho phép giảm sự sai lệch, kể cả những tác động phản hồi Mô hình thay đổi theo thời gian có dạng rút gọn như sau:
' , 1 1
Trang 26Cogley và Sargent (2005) chỉ ra rằng các hệ số VAR, sẽ cải tiến vấn đề bỏ qua các biến động bắt nguồn từ cấu trúc hiệp phương sai thay đổi, và dẫn tới hiện tượng lệch trên
Promiceri (2005) cho rằng các tham số thay đổi theo thời gian của mô hình,
, ,
t ao i t
được phát triển từ các bước ngẫu nhiên không có hệ số chặn Cũng được phát triển từ bước ngẫu nhiên bất thường, tham số at bao gồm các phần tử khác 0 và khác 1 của ma trận At và được xếp thành dòng ln hi,t là các bước ngẫu nhiên cấp số nhân, bao gồm các phần tử chéo của Ht, và không phụ thuộc vào các phần còn lại Ưu tiên cho trạng thái ban đầu của hệ số hồi quy, hiệp phương sai và log của độ lệch chuẩn
10 xem Rafid (2013)
Trang 27 từ đó ta có thể đo lường được những ảnh hưởng trong dài hạn lên biến xt Các phương sai ngẫu nhiên của Xt được viết dưới dạng tổng quát như sau:
Trang 28t k
t k t t t
3.1.1.3 Phân tích sự biến động theo thời gian của biến nghiên cứu11
Phân tích tập trung vào các biến động - có điều kiện và không điều kiện của m các biến nghiên cứu Mỗi biến được xem như là một phân phối độ trễ thay đổi theo thời gian trong m biến nhiễu cấu trúc Với m bằng 3 biến thì X(i,t) được thể hiện như sau:
, 2 , 2 , 2 , 0 i , d 0 i , s 0 i , n
Trang 29m biến nghiên cứu Phương sai vô điều kiện và hiệp phương sai tại thời điểm t của biến
Xi,t được tính như sau (với m bằng 3):
, 2 j, 2 , 2 j, 2 , 2 j, 2 ,, , 0 i , d , d 0 i , s , s 0 i , n , n
3.1.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan
Dựa vào ý tưởng bài nghiên cứu của Rafiq (2013) về các vấn đề liên quan đến những biến động giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái theo thời gian dưới tác động của các cú sốc kinh tế (cú sốc cung, cú sốc cầu, cú sốc danh nghĩa) và ứng dụng
mô hình hồi quy tham số thay đổi theo thời gian với những biến động ngẫu nhiên TVP-VAR (mô hình được đề xuất bởi Primiceri (2005)), chúng tôi xây dựng các biến nghiên cứu thực nghiệm cho Việt Nam và Thái Lan bao gồm năm biến như sau:
12 xem Rafid (2013)
Trang 30 Cán cân thương mại (TB): Cán cân thương mại là một bộ phận trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ
đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư và ngược lại Với các yếu tố khác không thay đổi, khi cán cân thương mại thặng dư, làm cho cung ngoại tệ tăng kết quả là tỷ giá hối đoái của các đồng ngoại tệ sẽ giảm còn tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ sẽ tăng Trong trường hợp một quốc gia đang bị thâm hụt thương mại, đồng nội tệ cần được chuyển đổi thành đồng ngoại tệ để thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế Kết quả là nguồn cung đồng nội tệ tăng lên và tỷ giá hối đoái sẽ giảm, còn tỷ giá của đồng tiền của quốc gia đang có thặng dư với quốc gia này sẽ tăng Trong mô hình Mundell – Fleming xét trong điều kiện nền kinh tế nhỏ mở với chính sách tỷ giá thả nổi và vốn tự do luân chuyển, thì chúng ta cũng có thể thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá hối đoái giảm (nội tệ giảm giá so với ngoại tệ) sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh về giá tương đối do biến động của tỷ giá mang lại cho hàng hóa trong nước so với hàng hóa nước ngoài, điều này giúp tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu, giúp cho cán cân thương mại tăng lên Tuy nhiên, xét trong các điều kiện khác thì mối quan
hệ này lại có sự thay đổi khác nhau, chúng ta sẽ tìm hiểu bằng dữ liệu thực nghiệm cho Việt Nam và Thái Lan Biến này được đưa vào mô hình với dạng chỉ số của tổng sản lượng (TB/GDP) để kiểm soát hiệu ứng theo quy mô
Tỷ giá hối đoái thực (REER): Là chỉ số bình quân gia quyền thực của ảnh hưởng tỷ giá hối đoái, lấy chỉ số giá tiêu dùng làm nền tảng Chúng tôi sử dụng biến REER tỷ giá hiệu lực thực (Real Effective Exchange Rate – REER) chỉ số này cho phép đánh giá và dự báo tỷ giá thực theo hướng xem xét sức mua đối ngoại thực tế của đồng tiền quốc gia và sự tác động đến khả năng cạnh tranh
Trang 31xuất khẩu của quốc gia đó Ứng với mỗi đồng tiền trong rổ hàng hóa thì tỷ giá so với đồng nội tệ sẽ được đem so sánh ở hai thời điểm năm cơ sở và hiện hành Sau đó điều chỉnh thông qua lạm phát hai nước và quyền số thương mại Do đó, Các nhà kinh tế thường dùng REER để đo lường sự biến đổi khả năng cạnh tranh đối ngoại của nền kinh tế Công thức tính REER như sau:
CPI chỉ số giá cả CPI trong nước
i là đối tác thương mại thứ i trong rổ hàng hóa IMF
Trang 32Nếu REER > 1(hoặc 100): Giá trị thực của đồng bản tệ năm t giảm so với năm gốc có nghĩa là sức mua của đồng bản tệ giảm, khả năng cạnh tranh xuất khẩu tăng
Biến cú sốc cung: Trong bài nghiên cứu của S Rafiq (2013) về nguồn gốc sự thay đổi của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian ở các nước Đông Á, ông đã xác định cú sốc cung có quan hệ mật thiết đến sản lượng đầu ra tương đối và sản lượng đầu ra có mối quan hệ với sản lượng nước ngoài
Vì vậy, chỉ số cầu nước ngoài được dùng để xác định cú sốc cung và được tính bằng cách lấy bình quân gia quyền theo trọng số thương mại với GDP thực của các đối tác thương mại chính sau đó trừ cho sản lượng nội địa, biến này nhằm kiểm soát cầu ngoại sinh Tuy nhiên, do việc hạn chế trong việc thu thập dữ liệu trọng số thương mại của Thái Lan với các quốc gia có giao thương chính, nên chúng tôi không thể tính toán được chỉ số cầu nước ngoài cho Thái Lan, do đó chúng tôi sử dụng trực tiếp biến tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP) để đại diện cho biến cú sốc cung Theo nghiên cứu của Plessis, Smit, và Sturzenegger (2008) trong việc xác định tác động tổng hợp của cú sốc cung và cú sốc cầu ở các nước Nam Phi, họ đã phân tích phương sai của biến GPD thực để đại diện cho cú sốc cung và đã tìm ra mối quan hệ cùng chiều giữa cú sốc cung và lãi suất thực
Biến cú sốc danh nghĩa (cú sốc tiền tệ): Clarida và Gali (1994) khi nghiên cứu
về nguồn gốc sự biến động tỷ giá hối đoái ở hai quốc gia Đức và Nhật ông đã ước lượng cú sốc danh nghĩa bằng biến cung tiền (M2) cũng như nhu cầu về số
dư tiền thật, giải thích đáng kể sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực so với đồng đôla Mỹ, cụ thể là 35% thay đổi không điều kiện của cặp USD-JPY và 41% thay đổi không điều kiện của USD-GEM là do ảnh hưởng của những cú sốc danh nghĩa Trong Betts và Devereux (1996) và Chari và các đồng sự (1997) hiệu ứng
Trang 33giá cả theo giá thị trường gây ra những cú sốc tiền tệ làm biến động tỷ giá hối đoái thực tế trong ngắn hạn nhưng không phải trong dài hạn
Biến cú sốc cầu: Các nghiên cứu của Betts và Devereux (1996), Chari et al (1997), Tervala (2006), Kim và Lee (2008) và (2013) đã định nghĩa rằng cú sốc cầu được xem xét như là một cú sốc tài khóa và được đại diện bởi biến chi tiêu chính phủ (GEX) Trong bài nghiên cứu hiệu quả của chi tiêu chính phủ và kênh truyền dẫn quốc tế của chính sách tài khóa của Tervala (2006), đã chỉ ra rằng nếu hiệu quả của chi tiêu chính phủ là cao, tiêu dùng trong nước gia tăng nhiều hơn so với tiêu dùng nước ngoài Do đó, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng giá vì sự thay đổi tiêu dùng tương đối làm tăng nhu cầu tương đối của đồng nội tệ một cách phù hợp với ý nghĩa của Keynes Nghiên cứu của Arin và Koray (2006) thì cho thấy một sự mở rộng của chính sách tài khóa làm gia tăng sản lượng trong nước và làm giảm cầu hàng hóa nước ngoài, quay lại với phương trình (2.3) cầu hàng hóa nước ngoài được biểu diễn theo hàm của tỷ giá st và cú sốc cầu dt Còn nghiên cứu củaArin và Koray (2006) đã sử dụng mô hình VAR bán cấu trúc tìm ra được kết quả cho thấy rằng sản lượng đầu ra của
Mỹ tăng trong khi sản lượng đầu ra của Canada giảm khi chi tiêu chính phủ Mỹ gia tăng điều này hỗ trợ cho mô hình lý thuyết nền kinh tế mở
Các biến được tính toán lại theo phần trăm thay đổi so với kỳ trước đó trước khi đưa vào mô hình hồi quy, để đảm bảo cho các biến có tính dừng và chúng ta có thểdễ dàng rút ra mối quan hệ kinh tế từ kết quả hồi quy
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo từng quý từ quý I năm 1998 đến quý II năm 2014 tại hai quốc gia là Việt Nam và Thái Lan được trình bày tóm tắt trong bảng sau:
Trang 34Bảng tóm tắt các biến và nguồn thu thập dữ liệu hồi quy
Việt Nam Cán cân thương mại Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Tỷ giá hối đoái thực Tính toán thông qua các số liệu thu thập từ
IMF Tổng sản phẩm quốc nội thực Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Chi tiêu chính phủ Bộ tài chính và cổng thông tin điện tử chính
phủ Việt Nam Thái Lan Cán cân thương mại Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Tỷ giá hối đoái thực Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS
Tổng sản phẩm quốc nội thực Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Chi tiêu chính phủ Tổng cục thống kêThái Lan(Nesdb,
Thailand)
Chúng tôi thu thập dữ liệu bao gồm khoảng thời gian xảy ra hai cuộc khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 và khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007-2008, nên chúng tôi có thể so sánh những tác động khác nhau của các biến trong những điều kiện kinh tế đặc biệt Đồng thời, việc lựa chọn nghiên cứu tại Việt Nam và Thái Lan với hai lý do sau: Thứ nhất, đây là hai quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á có nền kinh tế khá tương đồng Cả hai quốc gia điều có bước xuất phát điểm kinh tế từ mức thấp với nền tảng kinh tế chính là nông nghiệp và đang
Trang 35tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển theo hướng xuất khẩu mở của hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, kết quả là đang có tốc độ tăng trưởng khá cao
và quy mô kinh tế ngày càng mở rộng; Thứ hai, Việt Nam có lịch sử cán cân thương mại liên tục bị thâm hụt trong nhiều năm, trong khi Thái Lan lại có cán cân thương mại thặng dư trong nhiều năm do đó việc nghiên cứu tại hai quốc gia này chúng tôi cũng muốn kiểm tra liệu điều này có ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu hay không và đồng thời chúng tôi cũng có thể so sánh với kết quả nghiên cứu với kết quả bài nghiên cứu của Rafiq (2013)
Trang 36CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thống kê mô tả
4.1.1 Thống kê mô tả REER và cán cân thương mại của Việt Nam
Đồ thị dưới đây thể hiện sự biến động của tỷ giá hiệu lực thực đa phương (REER), tỷ giá hiệu lực danh nghĩa đa phương (NEER), chỉ số tỷ giá danh nghĩa VND/USD (INVND-USD) từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 6 năm 2014 (với kỳ gốc là tháng 1 năm 1995) của Việt Nam và chỉ số US Dollar Index (DXY) đây là chỉ số đo lường sức mạnh của đồng đôla Mỹ
Chúng ta chú ý rằng đây là đồ thị ngược, nghĩa là khi VND mất giá thì đồ thị sẽ
đi xuống và ngược lại NEER của Việt Nam được tính bằng một rổ tỷ giá của 1513 quốc gia có trọng số thương mại lớn nhất với Việt Nam và các quốc gia có đồng tiền mạnh, còn REER là NEER sau khi hiệu chỉnh bằng CPI
40 60 80 100 120 140 160 180
Trang 37Hình 4.1: Đồ thị mô tả REER và NEER của Việt Nam
Có thể thấy INVND-USD (đường màu đỏ) đã mất giá khoảng -48% kể từ tháng
1 năm 1995 đến nay, điều này phù hợp với chính sách phá giá tiền đồng của Việt Nam
để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, mục đích là theo đuổi chiến lược xuất khẩu Trong khi NEER (đường màu xanh lá cây) đã tăng khoảng 55% và ngược lại REER (đường màu đen) hiện tại đã giảm giá khoảng -33% so với năm 1995 Trong khi
tỷ giá VND mất giá liên tục so với USD, NEER có một giai đoạn tăng rất mạnh từ năm
1997 đến 1999 do đồng Yen và các đồng tiền các nước Đông Nam Á mất giá vì khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Từ năm 1999 đến 2003, NEER khá ổn định rồi sau
đó mất giá liên tục một phần do VND mất giá so với USD trong khi EUR, SGD, KRW tăng giá so với USD, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm
2007 - 2008
Từ năm 1995 đến cuối năm 2003 và đầu 2004 REER bám khá sát với NEER nhưng sau đó hai chỉ số này quay đầu đi ngược nhau Trong khi NEER tăng khoảng 47% trong giai đoạn này, thì REER đã giảm khoảng 33% điều này giúp cho hàng hóa của Việt Nam có lợi thế hơn 33% so với các đối tác nước ngoài nhờ vào sự biến động của tỷ giá, mục đích nhằm thúc đẩy xuất khẩu giảm nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại liên tục âm trong nhiều năm của Việt Nam
Với chính sách phá giá tiền đồng kể từ năm 1996 nhằm theo đuổi chính sách thúc đẩy xuất khẩu cùng với việc mở cửa kinh tế hội nhập vào thị trường thế giới, thương mại của Việt Nam tăng rất nhanh Tính trong giai đoạn 1998-2013 xuất khẩu của Việt Nam tăng gấp 13 lần (trung bình mỗi năm tăng khoảng 18,74%), nhập khẩu tăng 10,4 lần (trung bình mỗi năm tăng khoảng 16,88%), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 11,6 lần (trung bình mỗi năm tăng khoảng 17,76%) Điều này phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam cũng như phần nào thể hiện sự thành công của chính sách phá giá tiền đồng Tuy nhiên, Kinh tế Việt Nam cũng tiềm ẩn
Trang 38nhiều rủi ro xung quanh những thành công này, minh chứng là cán cân thương mại của Việt Nam bị thâm hụt trong nhiều năm và ngày càng tăng, từ mốc thâm hụt -437 triệu USD năm 1998 đến giai đoạn đỉnh điểm là 18.028,67 triệu USD năm 2008 tương đương khoảng 18% của GDP (trong đồ thị bên trên chúng ta thấy cột biểu diễn trạng thái của cán cân thương mại TB thâm hụt cao nhất là năm 2008)
0 40,000
98 00 02 04 06 08 10 12
NK
0 50,000
98 00 02 04 06 08 10 12
TB
Export, Import, Export and Import and Trade blance of Vietnam
Unit: Million USD
Hình 4.2: Đồ thị mô tả cán cân thương mại của Việt Nam
Từ năm 1998 đến nay phần lớn hàng nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng rất lớn khoảng trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu, đây là con số khá cao so với các nước trong khu vực…Ở giai đoạn đầu phát triển có thể đây là con số hợp lý, tuy nhiên con số này vẫn cao và duy trì dài trong nhiều năm rõ ràng bộc lộ điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam
Do việc không phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nên nền kinh tế bị lệ thuộc rất nhiều vào hàng nhập khẩu và rất dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế ngoại sinh
Trang 39Trong khi đó, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô, và hàng gia công, sơ chế giá trị gia tăng thấp Kim ngạch xuất khẩu khoáng sản (dầu thô và khoáng sản khác) từ năm 2000 đến nay chiếm khoảng 30%-40%, những mặt hàng gia công chiếm 43%-50% chính điều này đã làm cho cán cân thương mại của Việt Nam liên tục
âm qua nhiều năm
Điểm đáng chú ý từ đồ thị trên là kể từ năm 2012 chúng ta thấy xuất khẩu đã bức phá và vượt mặt nhập khẩu giúp cho các cân thương mại của Việt Nam chuyển trạng thái từ thâm hụt sang thặng dư đây là một tín hiệu tích cực cho dù cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm yếu
4.1.2 Thống kê mô tả REER và cán cân thương mại của Thái Lan
Trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 Thái Lan thực hiện đồng thời
cả ba chính sách bộ ba bất khả thi (cố định tỷ giá, tự do hóa dòng vốn và chính sách tiền tệ độc lập), họ vừa cố định đồng THB vào USD vừa cho phép tự do hóa dòng vốn Với tốc độ phát triển kinh tế trong những năm 1980 và nữa đầu những năm 1990 đã gây áp lực tăng giá đồng nội tệ, nên để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Thái Lan đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ Kết quả là cung tiền tăng mạnh gây
ra sức ép lạm phát, theo đúng quy luật cân bằng của thị trường thì lúc này đồng nội tệ phải giảm giá, tuy nhiên với chính sách cố định tỷ giá đồng THB theo đồng USD vô hình dung đã làm cho đồng THB được định giá quá cao hơn giá trị thực của nó Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, các quốc gia ở các nước Đông Á trong đó bao gồm cả Thái Lan bắt đầu thực hiện chính sách phá giá đồng nội tệ, điều này giúp cho hàng hóa của Thái Lan có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới và cán cân thương mại ngày càng phát triển
Dưới đây là đồ thị mô tả sự biến động của tỷ giá hiệu lực thực đa phương (REER), tỷ giá hiệu lực danh nghĩa đa phương (NEER), chỉ số tỷ giá danh nghĩa đồng