Tên đề tài:PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGỒI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học những năm gần đâ
Trang 1Tên đề tài:
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGỒI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học những năm gần đây, việcdạy Văn học nước ngồi (VHNN) ở trường trung học cơ sở (THCS) cũngbắt đầu được quan tâm và cĩ một vị trí xứng đáng trong chương trình Vănhọc Cùng với Văn học Việt Nam, VHNN đã gĩp phần khơng nhỏ trongviệc cung cấp kiến thức văn chương thế giới, giúp cho học sinh được tiếpxúc với văn học của những miền đất khác lạ về truyền thống, phong tụctập quán, đồng thời bồi dưỡng cho các em những tình cảm, những rungđộng thẩm mỹ cĩ tính chất vĩnh cửu của lồi người
Nếu như trước đây, vấn đề phương pháp giảng dạy VHNN dường nhưchỉ mang tính chất tự phát, thì giờ đây đã xuất hiện một số bài viết, một sốgiáo trình đề cập vấn đề phương pháp trong giảng dạy VHNN
Khi xem xét các tài liệu nĩi trên, tơi nhận thấy vấn đề giảng dạyVHNN mới được đề cập như một giải pháp tình thế, xuất phát từ nỗi bứcxúc về chất lượng dạy và học, và cĩ lẽ đấy mới chỉ là những tín hiệu banđầu khiến những ai cĩ tâm huyết phải trăn trở suy tư
Thực trạng giảng dạy và học tập phần VHNN, đặc biệt là phần Thơ nước ngồi ở trường THCS đã khiến chúng ta thực sự lo lắng băn khoăn.
Người dạy đã gặp nhiều khĩ khăn khi tìm kiếm tài liệu tham khảo, xác
định thực chất của phương pháp dạy thơ nước ngồi Dạy thơ nước ngồi
cĩ những điểm gì giống và khác dạy thơ Việt Nam, đĩ là câu hỏi mà nhiềugiáo viên đang cần lời giải đáp Những hiện tượng thực tế ấy đã dẫn tới sự
Trang 2bấp bênh, không đồng đều về chất lượng day học VHNN trong mỗi bài,mỗi cá nhân giáo viên, mỗi trường, mỗi lớp.
Xét góc độ khác, các tác phẩm VHNN được đưa vào chương trìnhTHCS phần lớn là những sáng tác của các bậc thầy văn chương, đỉnh caocủa kho tàng văn học nhân loại VHNN tuy là phần khó dạy nhưng nếutìm ra cách dạy thích hợp lại dễ đạt hiệu quả cao Sức hấp dẫn của cái mới
từ những miền đất xa xôi, nhiều bí ẩn của phương Đông, phương Tây luônluôn là mảnh đất màu mỡ chắp cánh cho trí tưởng tượng, sức khám phácủa thầy và trò khi được tiếp xúc với văn chương thế giới Nếu không cónhững phương pháp thích hợp để người giáo viên có thể dựa vào đó màvận dụng sáng tạo nhằm giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp, khám phá,chiếm lĩnh tác phẩm … thì mọi kiến thức VHNN, những áng thơ bất hủcủa các thi nhân vĩ đại như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Tagor … nhiều khi lại vôtình trở thành gánh nặng hoặc sự thờ ơ lãnh đạm của giáo viên và học sinhtrong mỗi giờ lên lớp
Cho nên cần phải đặt vấn đề giảng dạy VHNN trong một hệ thống lýluận về phương pháp dạy học VHNN ở trường THCS một cách chínhthống và trong sự đổi mới về phương pháp dạy học Văn học hiện nay Bởi
lẽ phương pháp dạy học VHNN tuy cùng nằm trong một hệ thống chung
về các phương pháp dạy học, nhưng do những nét riêng biệt của VHNNnên bên cạnh những tương đồng, còn có những điểm khu biệt mang tínhchất đặc trưng Chính vì thế, tìm ra một phương pháp hữu hiệu để nâng
cao chất lượng giảng dạy VHNN, đặc biệt là thơ nước ngoài là vấn đề cần
thiết tuy có nhiều khó khăn phức tạp Thực hiện được mong muốn trên,những người nghiên cứu không chỉ cần có năng lực tổng hợp ( như kiếnthức về VHNN, trình độ ngoại ngữ, văn hóa, triết học …) mà còn cần cảthời gian tìm hiểu, thử nghiệm để rút ra những kết luận xác đáng, đủ độ tin
Trang 3Trong đề tài này, với trình độ còn hạn chế của mình, tôi mới chỉ bước
đầu tìm hiểu phương pháp giảng dạy thể loại Thơ trong chương trình
VHNN ở trường THCS, từ đó đề ra một số biện pháp có tính chất lí thuyết
nhằm góp phần mở ra một hướng dạy thể loại Thơ nước ngoài theo
phương pháp mới (trên cơ sở kế thừa và phát huy những phương pháp tốt
đã được sử dụng trước đây)
II/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
1 Thuận lợi
- Được sự động viên của BGH nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để giáoviên phát huy sáng tạo trong giảng dạy
- Được sự góp ý của đồng nghiệp
- Tài liệu sách tham khảo hiện nay khá nhiều
- Kinh nghiệm thực tế đúc kết trong những năm dạy học của bản thân
Trang 4III/ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận của đề tài :
Có giáo viên cho rằng : đối với Thơ nước ngoài, cách dạy hay nhất là
cho học sinh học thuộc lòng bài thơ và ghi chép những lời văn mà giáoviên sẽ đọc cho các em trong quá trình diễn giảng và bình chú bài thơ Đó
là một thực tế đáng buồn Bình tâm suy nghĩ, tôi thấy một trong những
nguyên nhân quan trọng khiến giáo viên lúng túng khi dạy thơ nước ngoài
là họ chưa xác định được thực chất của phương pháp dạy học Thơ nước ngoài : Phương pháp dạy học thơ nước ngoài có những đặc điểm gì, khác
với phương pháp dạy học thơ Việt Nam như thế nào ?
Thơ là tiếng nói cảm xúc mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người từbuổi sơ khai Nhà thơ là một khái niệm không biên giới Tác phẩm thơ củacác thi nhân Việt Nam hay Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Tây Ban Nha … đều
có thể gặp nhau ở thể loại, cảm hứng, phương thức biểu thị cảm xúc, tâmtrạng … Nhưng thơ còn là khúc tâm trạng của mỗi cá nhân, là nỗi niềmtâm sự của từng thi sĩ, là sự thể hiện cách cảm, cách nghĩ độc đáo của nhàthơ, được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa, lịch sử của mỗi dân tộc, mỗiquốc gia Cho nên từ cái thế giới tưởng như rất riêng tư của nhà thơ, đặcbiệt là những nhà thơ lớn, chúng ta lại hiểu được tâm hồn của một dân tộc,dấu ấn của một thời đại
Mặt khác, nếu coi phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện
Trang 5tính mục đích là dấu hiệu cơ bản của phương pháp Mục đích nào phương
pháp ấy, phương pháp giúp con người thực hiện mục đích của mình Vì
thế, quan niệm phương pháp dạy học Thơ nước ngoài cũng hoàn toàn
giống như phương pháp dạy thơ Việt Nam thì không hợp Lý, không giúp
đạt được mục đích của việc dạy thơ nước ngoài.
Mục đích của việc dạy VHNN, đặc biệt là Thơ nước ngoài là nhằm
bồi dưỡng tình cảm và nhận thức thẩm mĩ cho học sinh, giúp các em tiếpnhận được những giá trị lung linh mới lạ của những tác phẩm vô giá trongkho tàng văn chương nhân loại Qua những tác phẩm ấy, các em không chỉđược mở rộng tầm hiểu biết về văn chương nghệ thuật mà còn được bồidưỡng những tình cảm cao thượng, tình yêu đất nước, con người, bồidưỡng ý chí, nghị lực, niềm tin, nhân cách … Được thực hiện bằng những
phương pháp tốt, việc phân tích, tìm hiểu những bài Thơ nước ngoài giúp
cho học sinh không chỉ biết yêu cái đẹp của nghệ thuật văn chương màcòn “chạm” được vào thế giới tâm hồn, tình cảm của một dân tộc khác
Từ những suy nghĩ ấy, tôi xin đề xuất một số biện pháp giảng dạy thơnước ngoài sau đây
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Dạy và học Thơ nước ngoài ở trường THCS hiện nay là dạy và học
qua các bản dịch Chúng ta đều biết rằng ngôn ngữ mỗi dân tộc có nhữngđặc điểm riêng biệt tạo nên mối quan hệ phong phú giữa lớp vỏ ngôn từvới nội dung biểu đạt Mối quan hệ ấy lại gắn liền với đặc trưng của thi ca
và không dễ chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác Bản dịch văn xuôihoàn hảo đã khó, bản dịch thơ hoàn hảo lại càng khó hơn Bởi lẽ thơ là sựdồn nén của cảm xúc, ngôn ngữ thơ chứa nhiều tầng ý nghĩa và thường “ýtại ngôn ngoại” nên sẽ rất khó tìm được sự tương đồng với một ngôn ngữkhác
Trang 6Nhưng khó dịch thơ không đồng nghĩa với không thể dịch được thơ.Giống như một họa sĩ vẽ chân dung, dịch giả thơ có thể làm cho bản saoxấu hơn hay đẹp hơn, nhưng vẫn giữ được những nét giống nguyên mẫu
và bằng tài năng của mình, có thể lột tả được cái thần của nguyên mẫu.Dịch không chỉ cần truyền đạt đúng và chính xác nội dung tác phẩm màcòn phải truyền đạt sao cho dễ hiểu đối với người đọc Nghĩa là văn bảndịch phải đạt mức độ chuẩn xác và trong sáng về ngôn ngữ
Dạy Thơ nước ngoài trong nhà trường là dạy những tác phẩm nghệ
thuật mà nội dung tác phẩm và tâm hồn thi sĩ được biểu hiện một cách đa
dạng qua những hệ thống ngôn từ không phải bản ngữ Vì thế, việc xem
xét, nghiên cứu văn bản dịch sẽ là yếu tố đầu tiên cần được coi trọng và
đưa vào hệ thống những phương pháp giảng dạy Thơ nước ngoài.
a Việc xem xét văn bản dịch
Nói chung, các bản dịch Thơ nước ngoài được tuyển chọn trong SGK
là những bản dịch có chất lượng khá tốt Nhưng việc dịch thơ, nhất là thơ
cổ điển, thì vì nhiều lí do không mấy dịch giả thực sự thành công Cho nêncần phải thận trọng khi sử dụng những thành quả dịch thuật của họ Theotôi, trong trường hợp này, giáo viên cần nghiên cứu bản dịch ở hai mức độ:
- Mức độ thứ nhất : Nghiên cứu kỹ bản dịch và nếu có điều kiện thì sosánh với nguyên bản để hiểu được tác phẩm một cách đầy đủ hơn Từ đó,xác định xem người dịch đã có những đóng góp gì trong việc thể hiện cáihay, cái đẹp của bài thơ và những tình điệu đặc sắc của tâm hồn thi sĩ Mặtkhác, giáo viên xem xét bản dịch kĩ lưỡng sẽ phát hiện được những lời thơdịch nào làm cho ý thơ không sát với nguyên bản, từ đó có định hướngđúng đắn để phân tích và bình giá một cách chính xác những “nhãn tự”,những “cảnh cú” trong tác phẩm thơ
Trang 7- Mức độ thứ hai : Nghiên cứu để tìm ra cách thức sử dụng bản dịchtrong giờ dạy như thế nào để học sinh vừa có thể hiểu bài thơ, vừa đượcbồi dưỡng thêm về kiến thức văn chương và năng lực cảm thụ tác phẩm.Trong những thao tác trên, người giáo viên có những khó khăn vềhàng rào ngôn ngữ, vì thế thường chỉ có thể thực hiện được với những bảndịch thơ Đường có in kèm cả bản phiên âm Hán Việt và bản dịch nghĩa.Mặt khác, chỉ nên xem xét ở những câu chữ đắt nhất, có ảnh hưởng trựctiếp đến nội dung, ý nghĩa của bài thơ Nếu không, sẽ dễ rơi vào tình trạngbiến giờ phân tích tìm hiểu bài thơ thành giờ đánh giá cách dịch thơ.
VD : Khi hướng dẫn học sinh phân tích bài Tĩnh dạ tứ (cảm nghĩ trong
đêm thanh tĩnh) của Lí Bạch, giáo viên nên cho học sinh đối chiếu
với nguyên văn và bản dịch nghĩa để thấy nếu chỉ phân tích ở bảndịch thơ thì ý nghĩa của câu (1) và (2) sẽ không đúng với cảm xúc,tâm trạng của chủ đề trữ tình
Nguyên văn : Sáng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương.
Dịch nghĩa : Ánh trăng sáng đầu giường
Bạch đang sống xa quê hương Trăng trong cảnh sống của nhà thơ khi ấy
không bao giờ chỉ thuần là cảnh Từ trăng sang sương đã thể hiện một
khoảnh khắc suy tư của thi sĩ Sự quan sát bằng thị giác đã chuyển thành
sự cảm nhận mang màu sắc tâm trạng : trăng sáng đẹp nhưng sao như lạnh
Trang 8lẽo cái lạnh của kẻ cô đơn xa nhà Do đó, thêm bất cứ động từ nào cho
trăng và đất đều là thừa và làm giảm mất ý vị trữ tình của bài thơ Từ sự tìm hiểu này, chúng ta nhắc học sinh không nên lưu ý các từ rọi và phủ
trong bản dịch thơ và hướng các em phân tích câu (1) và (2) từ bản dịchnghĩa
Cách xem xét văn bản dịch kiểu như trên có thể thực hiện ngay từ lúcbắt đầu thao tác phân tích bài thơ hoặc khi hướng dẫn học sinh phân tíchnhững câu thơ có những từ ngữ cần xem xét
Trong việc xem xét bản dịch của các bài thơ Đường, chúng ta cần sosánh các bản dịch khác nhau của cùng một bài thơ Mục đích so sánhkhông phải để xem xét khâu dịch mà để giúp học sinh hiểu và cảm thụ bàithơ một cách thấu đáo hơn
b Liên hệ, so sánh với các tác phẩm khác
Các tác giả, tác phẩm VHNN thường khá xa lạ với học sinh phổ thông.Lứa tuổi THCS không dễ dàng cảm nhận được bức tranh đời sống, bứctranh tâm trạng trong các tác phẩm VHNN Vì thế, cho các em tiếp cận tácphẩm ở nhiều hướng khác nhau là một cách làm cần thiết Một trongnhững hướng ấy là cho học sinh liên hệ, so sánh đối chiếu tác phẩm đanghọc với các tác phẩm khác cùng hoặc khác tác giả
Khi tiếp xúc với các tác phẩm Thơ nước ngoài, biện pháp so sánh này
sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm
VD : Khi dạy bài Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch, ta nên cho các em so sánh
với bài dân ca Nam triều sau đây :
Gió thu luồn qua cửa Tấm màn lụa bay tung.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Trang 9Gửi tình theo ánh trăng.
Có thể nói dân ca Nam triều (đầu TK V – cuối TK VI) đã ảnh hưởng
rất sâu đến Lí Bạch Nhiều bài thơ rất hay của Lí Bạch, trong đó có Tĩnh
dạ tứ đã chịu ảnh hưởng của dân ca Nam triều thực hiện thao tác so sánh, các em sẽ thấy cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch đã có cách bộc
lộ tâm sự khá độc đáo Có thể tìm thấy nét độc đáo này trong câu thứ 3 vàcâu kết :
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Từ vọng mang sắc thái biểu cảm rõ hơn từ khán của dân ca Nam triều (ss: Ngưỡng đầu khán minh nguyệt) Hình ảnh cúi đầu nhớ cố hương trong
thơ Lí Bạch cũng thể hiện một mối tình quê trĩu nặng hơn Đó là một cáchbộc lộ nỗi nhớ quê hương đến khắc khoải đau đớn chứ không nhẹ nhàng
mông lung như trong câu kết của dân ca Nam triều (ss : Kí tình thiên lí quang).
Biện pháp so sánh trong tiếp nhận tri thức bao giờ cũng góp phần làmnảy sinh những khám phá mới, từ đó giúp cho giáo viên có thể khắc sâunhận thức cho học sinh một cách khá dễ dàng
VD : Khi dạy Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch, giáo viên cho các em
so sánh với bài Thác nước Lư Sơn của Từ Ngưng – một nhà thơ
cảm giác diệu kì từ hình ảnh thác nước Còn hình ảnh thơ của Từ Ngưng
thì dường như chỉ có cái hình mà thiếu mất cái thần, chỉ có cái chân mà
Trang 10chưa có sự lung linh của cái ảo … cách so sánh này vừa giúp học sinh
khám phá thêm về bài thơ, vừa làm cho các em hiểu thêm về tác giả
Trong khi dùng biện pháp so sánh, giáo viên có thể cho các em sosánh các bài thơ của cùng một tác giả
VD : Khi dạy bài thơ Mây và sóng, chúng ta có thể so sánh với bài Buổi sơ khai trong tập thơ Trăng non, cũng của R Tagor.
Nếu như Mây và sóng thể hiện sâu sắc tình cảm hồn nhiên trong sáng của em bé với người mẹ thương yêu thì Buổi sơ khai lại là tiếng nói tâm
tình của bà mẹ với đứa con yêu quý của mình
Mẹ ơi, con đến từ đâu vậy ?
Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào ?
Đó chính là câu hỏi trẻ thơ muôn thuở mà Tagor đã lấy làm thi tứ.Người mẹ trong bài thơ đã nói cho bé biết em được sinh ra từ chính nhữngnỗi niềm sâu kín, những thèm khát, những ước mơ của mẹ Trong trái tim
thương yêu của mẹ, con là hình ảnh của Chúa Đời, là bản thân cuộc sống,
là niềm hạnh phúc, là sự kì diệu mà mẹ khó lí giải hết bằng lời Bởi lẽ :
Không biết sự kì diệu nào
Đã chiếm lĩnh kho tàng trên cõi thế
Và đặt vào đôi tay mảnh khảnh của mẹ đây.
Những câu kết ấy của bài thơ Buổi sơ khai như cứ ngân vang mãi … Mây và sóng và Buổi sơ khai, hai bài thơ, hai cách thể hiện độc đáo, khi
được đặt trong mối quan hệ mang dụng ý so sánh, sẽ giúp học sinh cóthêm điều kiện để rèn luyện năng lực cảm thụ văn chương
Ở một trường hợp khác, khi dạy bài thơ Mây và sóng của R Tagor, giáo viên có thể cho các em so sánh với bài thơ Em bé và mặt trăng của
Trang 11nhà thơ Huy Cận Đây là một bài thơ không có trong chương trình Vănhọc THCS nên ta có thể trích đoạn :
Mẹ là trăng, con bá cổ hôn, Con là trăng nở, mẹ ôm vào lòng.
Mẹ đùa con dưới trang trong, Trăng cao con với mẹ bồng lên cao.
Bé đã hái được trăng nào,
Mà nghe lòng mẹ rào rào cánh trăng.
Chỉ cần tiếp cận với những vần thơ như thế học sinh cũng dễ có sựliên hệ so sánh để thấy được sự độc đáo của mỗi nhà thơ Xét về nhịp và
tiết tấu, thể thơ lục bát với giai điệu mượt mà trong Em bé và mặt trăng thật khác với thể thơ văn xuôi giàu chất suy tư của Mây và sóng Nhưng
xét ở góc độ đề tài và chủ đề, hai bài thơ lại có sự tương đồng khi thể hiệnchân lí vĩnh hằng về tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp
Nói tóm lại, có thể tiến hành biện pháp so sánh đối chiếu này ở hầu hết
các bài dạy về Thơ nước ngoài trong chương trình THCS Người dạy có
thể thực hiện biện pháp này ở phần đầu, sau khi đã cho các em đọc tácphẩm hoặc trong quá trình hướng dẫn phân tích từng ý, từng câu của bàithơ
c Tiếp cận bài thơ từ đặc trưng thể loại
Nói đến tìm hiểu tác phẩm là nói đến vấn đề thể loại Thể loại văn họcthuộc về phương thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học, cũng nhưcách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Không
có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của thể loại Phân tíchmột tác phẩm văn học không thể xem nhẹ đặc trưng thể loại Trong dạy
Trang 12học văn học, coi trọng đặc trưng thể loại còn là một nguyên tắc dạy họcquan trọng.
Là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình, nhưng bảnchất của thơ lại rất đa dạng với nhiều biến thái và màu sắc phong phú, dễtác động đến người đọc Dạy thơ Việt Nam hay thơ nước ngoài, người dạy
cũng cần chú ý đến đặc trưng của thơ, nhất là chú ý đến cái Tôi trong cảm
xúc và suy nghĩ Cốt lõi của thơ là trữ tình Mọi biểu hiện cuộc sống đượcnói đến trong thơ đều gắn với tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người,
đều thông qua cảm nhận chủ quan của nhà thơ, bộc lộ khá đậm nét cái Tôi
của người cầm bút
Đối với thơ Việt Nam, tìm hiểu thế giới tâm hồn của nhà thơ đã là mộtcông việc khó khăn bởi thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh những gì
tinh tế nhất của tình cảm con người Đối với Thơ nước ngoài, học sinh
càng không dễ dàng cảm nhận được chiều sâu tâm trạng, nỗi niềm, suynghĩ của tác giả Bên cạnh trở ngại về ngôn ngữ, học sinh còn gặp phảinhững khác biệt về cách cảm, cách nghĩ, lối sống, truyền thống và hàngloạt những yếu tố khác trong tình cảm, tư tưởng …
Do vậy, có thể :
(1) Lưu ý học sinh đến đặc điểm thời đại, hoàn cảnh sống, tính cách, nỗi niềm tâm sự của nhà thơ ở ngoài đời để từ đó giúp các em tìm hiểu tâm trạng của họ trong thơ.
Tuy điều này cũng là cần thiết với việc dạy thơ ca nói chung, nhưngriêng đối với thơ nước ngoài, việc tìm hiểu này cần đậm hơn, sâu hơn vàcông phu hơn
Dạy bài thơ Mây và sóng, giáo viên cần hiểu được những nét cơ bản
về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả R Tagor – nhà văn hóa lỗi lạc của
Ấn Độ và thế giới đã để lại một gia tài văn học phong phú : 52 tập thơ, 42