1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN viết về văn biểu cảm một cách sáng tạo và đạt kết quả tốt.

23 705 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy, việc nghiên cứu về bộ môn Ngữ văn với từng phương diện của nó đểlàm sao có những bài viết hoàn chỉnh, trở thành mẫu chung cho nhiều ngườitham khảo là một việc làm thiết thực, có ý n

Trang 1

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất nước ta đang bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XXI- kỷ nguyên của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, song song cùng với nó là các lĩnh vực của đờisống xã hội đều phát triển, đặc biệt là khoa học đang ngày càng phát triển như vũbão để đáp ứng nền kinh tế ngày càng cao Điều đó đòi hỏi mỗi chúng ta phải

có tri thức thật vững vàng, có cách nhìn về khoa học và đời sống

Hiện nay lĩnh vực giáo dục nước ta cũng ngày một số thay đổi theo chiềuhướng đi lên phù hợp với sự phát triển của xã hội, ngày nay giáo dục đang được

cả xã hội quan tâm và đầu tư vì: " Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư chogiáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển "

.Trong số các môn dạy ở bậc THCS, thì môn Ngữ văn có vị trí quan trọng.Bởi lẽ, hệ thống ngôn ngữ của nhân loại tích luỹ được thể hiện trong môn họcnày vô cùng phong phú Văn học là nghệ thuật ngôn từ, qua môn học này họcsinh khám phá, tìm hiểu đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cho phùhợp và đạt hiệu quả trong giao tiếp cũng như trong học tập, lao động và cuộcsống Đây cũng chính là nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường hiện nay và mônNgữ văn chính là bộ môn giữ vị trí số một trong việc thực hiện nhiệm vụ quantrọng này

Chiếm thời lượng cao nhất so với các môn học khác, môn Ngữ văn khôngchỉ giúp cho học sinh mở rộng vốn từ, rèn kỹ năng phân tích, bình

giá, cảm thụ cái hay cái đẹp của văn chương mà quan trọng hơn là rèn cho họcsinh các kỹ năng cơ bản nghe - đọc - nói - viết Việc dạy cho học sinh viết đúng,viết hay, giàu màu sắc văn chương nghệ thuật, đó chính là các tiết dạy tập làmvăn trong chương trình quy định Để làm được một bài văn hay đòi hỏi học sinhphải huy động vốn kiến thức về văn học đã chiếm lĩnh được, có vốn từ phongphú, có năng lực tư duy nhạy bén, nắm chắc các thao tác làm văn, biết vận dụng

Trang 2

các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội làm cho bài văn rõ ràng,hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, có tính sáng tạo của bản thân.

Như chúng ta đã biết năm học 2002 - 2003 là năm đầu tiên thực hiện việcđổi mới chương trình và sách giáo khoa bậc THCS Riêng môn Ngữ văn trongchương trình mới đã đưa 6 kiểu văn bản vào chương trình học đó là: Tự sự, miêu

tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính - công vụ Ở loại văn biểu cảmđầu được học từ lớp 7 trở lên, đây là loại văn mới mẻ và tương đối khó đối vớihọc sinh lớp bậc THCS Bởi lẽ ở độ tuổi các em còn tương đối nhỏ, các em chưađịnh hình được rõ phương pháp làm văn, chính vì vậy để viết được một bài vănhay, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức nghệ thuật về hai loại văn này làmột vấn đề khó Hơn nữa, do việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa vừamới được thực hiện nên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn họcsinh tìm ra phương pháp viết bài làm văn đạt hiệu quả, dẫn đến con đườngtruyền đạt kiến thức tới học sinh nhiều chỗ còn khó hiểu, khó nắm bắt Hơn thếnữa phương pháp viết bài và cách tiếp cận tác phẩm ở các vùng, các địa phươngkhác nhau cũng chưa được thống nhất Chính những điều ấy làm cho biết baothầy cô giáo yêu nghề băn khoăn, trăn trở Vì vậy, họ muốn tìm ra một phươngpháp tích cực nhất, tối ưu nhất để truyền đạt kiến thức cho học sinh ngày một cóchất lượng

Vậy, việc nghiên cứu về bộ môn Ngữ văn với từng phương diện của nó đểlàm sao có những bài viết hoàn chỉnh, trở thành mẫu chung cho nhiều ngườitham khảo là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa quan trọng trong công tác giảngdạy môn học này Trên cơ sở đó giúp học sinh yêu văn tìm ra được phương pháphọc văn và làm văn ngày một hiệu quả về cả chiều rộng lẫn chiều sâu Đó cũngchính là lý do khiến tôi lựa chọn đề tài này

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Để phục vụ tốt cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo và tìm hiểu

một số tài liệu " Những bài văn mẫu của nhiều tác giả":

-"100 bài văn mẫu lớp 9" của Nguyễn Hữu Quang- Nguyễn Lê Tuyết Mai.

Trang 3

-"Những bài làm văn mẫu lớp 9" của Trần Thị Thìn

- "Nâng cao Ngữ văn THCS" của Tạ Đức Hiền - TS Lê Thuận An - TS

Nguyễn Việt Nga - TS Phạm Minh Tú

- "Tuyển chọn 36 đề thi luyện thi tốt nghiệp THCS, bồi dưỡng học sinh

giỏi" của Trần Thị Hoàng Cúc - Nguyễn Thị Út

- "Kiến thức văn bản Văn - Tiếng Việt dùng cho lớp 9" của Nguyễn Xuân

Lạc

- "Bồi dưỡng Ngữ văn THCS lớp 9" của Thái Quang Vinh - Lê Lương

Tâm - Thạch Ngọc Hà- Đặng Đức Hiền

- "Những bài làm văn mẫu lớp 7 "của Trần Thị Thìn ( tập 1,2)

"Tuyển tập 36 bộ đề thi Văn Tiếng việt lớp 9" của Vũ Hoàng Chương

-Phan Phú Tuấn

- "Tuyển tập 130 bài văn hay lớp 8" của Thái Quang Vinh - Trần Thị

Hoàng Cúc- Nguyễn Thị Út - Trần Đức Niềm - Lê Thị Nguyên

- "Văn hay học sinh gỏi lớp 9" của Trần Thị Hoàng

- "Bồi dưỡng làm văn lớp 7" của Lê Lương Tâm - Thái Quang Vinh- Ngô

Lê Hương Giang- Trần Thảo Linh

- Trong một số tài liệu có những bài viết chặt chẽ, khai thác được đầy đủcác biện pháp nghệ thuật tác giả sử dụng trong bài văn, bài thơ

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 4

Xuất phát từ vai trò thể loại của văn biểu cảm trong chương trình và trongcuộc sống, tôi chọn đề tài này với mong muốn học sinh trở thành chủ thể của quátrình học tập, các em chủ động học tập một cách sáng tạo, rèn các kỹ năng vàhình thành các kỹ năng để sản sinh văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bảnviết) Biết kết hợp kiến thức tập làm văn và Tiếng Việt như: dùng từ, đặt câu,viết đoạn, tạo lập văn bản, khả năng liên kết câu, liên kết đoạn trên cơ sở đócảm thụ được những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn chương Từ

đó học sinh có những bài viết về văn biểu cảm một cách sáng tạo và đạt kết quảtốt

Văn biểu cảm được học trong chương trình THCS từ lớp 7 trở lên Sáchgiáo khoa 7,8,9 đã trình bày một cách hệ thống, lôgíc về kiểu văn bản này, kiếnthức đi từ đơn giản đến phức tạp Song một vấn đề đặt ra là giáo viên phải tìmhiểu khai thác, phân tích, tổng hợp kiến thức đó một cách triệt để, dựa trên cơ sởnhững bài văn mẫu đã được dùng cho nhiều người, đồng thời giáo viên cũngphải biết hướng dẫn cho học sinh cách khai thác kiến từ sách giáo khoa và cácbài văn mẫu, giới thiệu cho học sinh những tài liệu tham khảo như: Tuyển tậpnhững bài văn hay, những bài văn mẫu thông qua những bài văn mẫu đã đượclĩnh hội nhằm giúp cho học sinh có phương pháp tiếp cận văn học một cáchthống nhất trên nhiều trường, nhiều điạ phương, nhiều vùng trên cả nước và vậndụng nó trong hoạt động văn học thích hợp, để từ đó học sinh có phương pháphọc tốt nhất, viết nên những bài văn hay giàu cảm xúc, lập luận chặt chẽ lôi cuốnngười đọc và giàu sức thuyết phục

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

- Đọc tài liệu liên quan đến vấn đề, tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp,đây là phương pháp quan trọng nhất

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các bài văn của học sinh vàrút ra nhận xét chung nhất

Trang 5

- Phương pháp đàm thoại: hỏi đáp giữa giáo viên và học sinh qua các tiếtdạy về hai nội dung này.

- Thực nghiệm, khảo sát việc học kiểu bài biểu cảm ở một số trường

- Trao đổi: trao đổi với một số giáo viên, học sinh khi dạy và học về i kiểuvăn bản này

Chương II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

A CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Thế nào là văn biểu cảm?

Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánhgiá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơingười đọc

Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình: bao gồm các thể loại văn học như thơ trữtình, ca dao trữ tình, tuỳ bút

Ví dụ:

Bước xuống Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoaLom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhàNhớ nước, đau lòng con quốc quốcThương nhà, mỏi miệng cái gia giaDừng hcân đứng lại trời non nướcMột mảnh tình riên ta với ta

( Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Trang 6

( Ca dao)

" Sông Đà như một áng tóc dài ngàn ngàn vạn vạn sải, áng tóc trên mảngđầu Tây Bắc trong suốt thời chiếm đóng đã nhiều lần vương vấn thứ máu cán bộ

và trung niên pha loãng như các miệng nhánh sông và cửa suối đổ ra "

( Trích " Người lái đò Sông Đà" - Nguyễn Tuân)

Tình cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm đẹp, thấm nhuần

tư tưởng nhân văn ( như yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, ghétnhững thói tầm thường, độc ác )

Ngoài cách biểu cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, văn biểu cảm còn

sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khêu gợi tình cảm

2 Đặc điểm của văn biểu cảm

- Trong phạm vi trường THCS mỗi bài văn biểu cảm tập trung biểu đạtmột tình cảm chủ yếu như: yêu thiên nhiên, yêu loài vật, yêu trường lớp, bạn bè,yêu gia đình, yêu quê hương đất nước

- Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn một hình ảnh có ý nghĩa

ẩn dụ, tượng trưng (là một đồ vật, loài cây hay một hiện tượng nào đó) để gửigắm tình cảm, tư tưởng, hoặc biểu cảm bằng cách thổ lộ trực tiếp những nỗiniềm, cảm xúc trong lòng

- Bài văn biểu cảm thường có bố cục ba phần như mọi bài văn khác là mởbài, thân bài, kết bài

+ Mở bài: Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian,cảm xúc ban đầu của mình

+ Thân bài: qua miêu tả tự sự mà biểu lộ cmả xúc ý nghĩ một cách cụ thể

và sâu sắc

+ Kết bài: Kết động cảm xúc, ý nghĩ hoặc nâng lên bài học tư tưởng

- Tình cảm trong bài phải rõ ràng, trong sáng, chân thực thì bài văn biểucảm mới giá trị

Trang 7

3 Phương pháp làm bài văn biểu cảm

a) Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm

- Cảm nghĩ về những vui buồn tuổi thơ

- Cảm nghĩ về loài cây em yêu

* Cách làm bài văn biểu cảm

- Các bước làm bài văn biểu cảm là tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn bài, viếtbài và sửa bài

- Muốn tìm ý cho bài văn biểu cảm thì phải hình dung cụ thể đối tượngbiểu cảm trong mội trường hợp và cảm xúc, tình cảm của mình trong các trườnghợp đó

- Tìm lời văn thích hợp và gợi cảm

b) Cách lập ý cho bài văn biểu cảm

Để tạo ý cho bài biểu cảm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nảy sinh, ngườiviết có thể hồi tưởng kỷ niệm quá khứ, suy nghĩ về hiện tại, mơ ước tới tươnglai, tưởng tượng những tình huống gợi cảm, hoặc vừa quan sát vừa suy ngẫm,vừa thể hiện cảm xúc

Nhưng dù dùng cách gì thì tình cảm trong bài cũng phải chân thật và sựviệc được nêu ra phải có trong kinh nghiệm Được như thế bài văn mới làm chongười đọc tin và đồng cảm

c) Các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn biểu cảm.

Trang 8

- Muốn phát biểu suy nghĩ, cảm xúc đối với đời sống xung quanh,hãydùng phương thức tự sự và miêu tả để gợi ra đối tượng biểu cảm và gửi gắm cảmxúc.

Ví dụ:

Những ngón chân của bố khum khum, lúc nào cũng như bám vào đất để khỏi trơn ngã Người ta nói " đấy là bàn chân vất vả" Gan bàn chân bao giờ cũng xám xịt và lỗ rỗ, bao giờ cũng khuyết một miếng, không đầy đặn như gan bàn chân người khác Mu bàn chân mốc trắng, bong da từng bãi, lại có nốt lấm tấm Đêm nào bố cũng ngâm nước nóng hoà muối, gãi lấy gãi để rồi bỏ vào đôi guốc mộc Khi ngủ bố rên, rên vì đau mình, nhưng cũng rên vì nhức chân Rượu

tê thấp không tài nào xoa bóp khỏi.

Bố đi chân đất Bố đi ngang dọc đông tây đâu đâu con không hiểu Con chỉ thấy ngày nào bố cũng ngâm chân xuống nước, xuống bùn để câu quăng Bố tất bật đi từ khi sương còn đẫm ngọn cây ngọn cỏ Khi bố về cũng là lúc cây cỏ đẫm sương đêm Cái thúng câu bao lần chà đi xát lại bằng sắn thuyền Cái ống câu nhẵn mòn, cái cần câu bóng dấu tay cầm Con chỉ biết cái hòm đồ nghề cắt tóc sực mùi dầu máy tra tông-đơ, cái ghế xếp bao lần thay vải, nó theo bố đi xa lắm.

Bố ơi! Bố chữa làm sao được lành lặn đôi bàn chân ấy: đôi bàn chân dầm sương dãi nắng đã thành bệnh.

( Duy Khán, Tuổi thơ im lặng)

- Tự sự và miêu tả ở đây nhằm khêu gợi cảm xúc, do cảm xúc chi phốichứ không nhằm mục đích kể chuyện, miêu tả đầy đủ sự việc, phong cảnh

d) Cách làm bài văn biểu cảm về một tác phẩm văn học.

Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học ( bài văn, bài thơ) là trìnhbày những cảm xúc tưởng tượng, liên tưởng suy ngẫm của mình về nội dung vàhình thức của tác phẩm đó

Bài cảm nghĩ về một tác phẩm văn học cũng phải có 3 phần:

- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm

Trang 9

- Thân bài: Những cảm xúc suy nghĩ do tác phẩm gợi lên

- Kết bài: Ấn tượng chung về tác phẩm

B CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1) Về phía giáo viên

- Giáo viên nắm khá vững về phương pháp truyền đạt và các khái niệm vềvăn biểu cảm Tuy nhiên do ảnh hưởng bởi lối dạy cũ nên chưa sử dụng thuầnthục phương pháp dạy học mới, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc dạy cáctiết làm văn (đặc biệt là các tiết luyện nói) và chưa thật sự đầu tư thời gian vàocác tiết dạy này

- Trong các tiết giảng giáo viên có cố gắng đưa ra các khái niệm về vănbiểu cảm Song chưa thật sự phát huy tính chủ động học tập của học sinh, chưacho học sinh luyện tập nhiều

Chương III NHỮNG BÀI LÀM VĂN MẪU

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Lượm của Tố

Trang 10

- Bài thơ Lượm là một bài thơ nói lên điều này.

* Thân bài:

- Nhà thơ nhắc lại kỉ niệm hai chú cháu gặp nhau

- Hình ảnh Lượm hồn nhiên vui vẻ, tinh nghịch, đáng yêu " Ca lô đội

lệch Nhảy trên đường vàng"

+ Tác giả dùng các từ láy tượng hình để làm nổi bật bức chân dung hồnnhiên của Lượm

- Chiến công của chú bé Lượm: " Chú đồng chí nhỏ Đạn bay vèo vèo"

những chi tiết này thể hiện quyết tâm chiến đấu của Lượm

- Sự hi sinh anh dũng của chú bé Lượm:

+ Chú ngã xuống trong tư thế người anh hùng thiếu niên

+ Nhà thơ thể hiện sự thương tiếc trước sự hi sinh của Lượm

+ Ca ngợi hình ảnh Lượm

* Kết bài:

- Hình ảnh Lượm sống mãi trong ký ức mỗi người

- Ngày nay đất nước yên bình ta phải nhớ đến công lao của họ

- Chúng ta hãy học tập tốt để xây dựng đất nước quê hương ngày một tươiđẹp hơn

đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Trong văn học đã có rất nhiều tác phẩm ghi

lại sự hi sinh anh dũng của họ Bài thơ Lượm của Tố Hữu là một bài như thế.

Bài thơ Lượm in trong tập thơ " Việt Bắc" Bài thơ được viết bằng thể thơ

bốn chữ, yếu tố tự sự kết hợp với yếu tố trữ tình một cách hài hoà Tác giả đãlàm sống dậy trong tâm hồn tuổi thơ chúng ta hình ảnh một chú đội viên liên lạc

Trang 11

nhỏ tuổi trong kháng chiến chống Pháp với hình dáng bé nhỏ, nhanh nhẹn, hồnnhiên và vô cùng dũng cảm trong khói lửa chiến tranh.

Mở đầu bài thơ, Tố Hữu nhắc lại một kỉ niệm trong những ngày đầu kháng

chiến thật là đáng nhớ: " Ngày Huế đổ máu", ngày mà quê hương Huế đang bị

giặc Pháp dày xéo dã man Phố Hàng Bè là nơi hai chú cháu gặp nhau lần cuốicùng:

"Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè"

Khi ấy Lượm đã trở thành một người lính thực sự rất đáng yêu:

"Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca- lô đội lệch "

Cái xắc đựng công văn giấy tờ, cái ca lô là hai thứ quân trang mà Lượm đã

có, cũng với hai thứ ấy cho thấy Lượm thật sự là người lính đang tham gia chiếntrường Tác giả miêu tả đôi chân và cái đầu chú đội viên liên lạc thể hiện mộtcon người nhanh nhẹn, hiếu động, hồn nhiên và tinh nghịch Người đội viên liên

lạc cần phải có " Cái chân thoăn thoắt" ấy Qua các từ láy tượng hình " loắt

choắt", "xinh xinh", "nghênh nghênh" Tố Hữu đã tạo nêm những nét đẹp làm

nổi bật cái thần bức chân dung tinh thần của chú Lượm

Với Lượm được đi chiến đấu là "vui", là "thích" Chú là một thiếu niên " Tuổi nhỏ chí cao": " Cháu đi liên lạc - Vui lắm chú à - Ở đồn Mang Cá -

Thích hơn ở nhà!" Hầu như ai cũng yêu, cũng quý cái cười của chú bé liên lạc: " Cháu cười híp mí - Má đỏ bồ quân" Lượm hồn nhiên, yêu đời Lượm thật đáng

yêu Người đội viên liên lạc thành phố Huế anh hùng khác nào con chim chíchnhỏ, hót ríu ran tung bay trong nắng đẹp ; nắng hồng bình minh của bầu trời tự

do và cách mạng Những câu thơ diễn tả sợ hồn nhiên của chú Lượm thật là hay,

Ngày đăng: 07/08/2015, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w