FEM : Mô hình tác động cố định Fixed Effected Model GDP : Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product GMM : Mô hình hồi quy Generalized Method of Moments GP : Chỉ số bảo hộ quyền sáng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ HOÀNG PHÚC
TÁC ĐỘNG CỦA TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐẾN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ HOÀNG PHÚC
TÁC ĐỘNG CỦA TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐẾN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUỐC GIA
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HAY SINH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Tác động của tài sản
trí tuệ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia” này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hay Sinh Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chính xác trong phạm
vi hiểu biết của tôi
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu này
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014
Học viên
LÊ HOÀNG PHÚC
Trang 4Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình ảnh
Tóm tắt
Chương 1 – TỔNG QUAN - 1
1.1 Nguyên nhân chọn đề tài - 1
1.2 Ý nghĩa của đề tài - 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu - 4
1.4 Mục tiêu nghiên cứu - 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu - 5
1.6 Kết cấu của luận văn - 5
Kết luận Chương 1 - 6
Chương 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN - 7
2.1 Cơ sở khoa học về tăng trưởng kinh tế - 7
2.2 Lý thuyết liên quan đến tài sản trí tuệ - 8
2.3 Cơ sở thực nghiệm về phát triển tài sản trí tuệ - 11
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm với mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ - 11
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về số lượng tài sản trí tuệ - 14
2.3.3 Giải thích việc sử dụng các biến trong mô hình - 16
Kết luận Chương 2 - 22
Chương 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 23
3.1 Mô tả bộ dữ liệu - 23
3.2 Vận dụng mô hình nghiên cứu - 23
Trang 5Chương 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 34
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu - 34
4.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến - 38
4.3 Tài sản trí tuệ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới như thế nào ? (Câu hỏi 1) - 40
4.4 Tài sản trí tuệ tác động như thế nào đển tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các nhóm nước có GNI bình quân khác nhau? (Câu hỏi 2) - 46
4.4.1 Hồi quy dữ liệu nhóm nước có thu nhập cao (38 quốc gia) - 46
4.4.2 Hồi quy dữ liệu nhóm nước có thu nhập trung bình cao (25 quốc gia) - 50
4.4.3 Hồi quy dữ liệu nhóm nước thu nhập trung bình thấp (21 quốc gia) - 51
4.4.4 Hồi quy dữ liệu nhóm nước thu nhập thấp (16 quốc gia) - 53
4.5 Việt Nam nên có những chính sách như thế nào quản lý như thế nào để phát triển và khai thác tài sản trí tuệ một cách hiệu quả? (Câu hỏi 3) - 60
Kết luận Chương 4 - 61
Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 62
5.1 Kết luận chung về tài sản trí tuệ - 62
5.2 Đóng góp của kết quả nghiên cứu - 63
5.3 Những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất - 64
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6FEM : Mô hình tác động cố định (Fixed Effected Model)
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GMM : Mô hình hồi quy Generalized Method of Moments
GP : Chỉ số bảo hộ quyền sáng chế Ginarte-Park
IP : Tài sản trí tuệ (Intellectual Property)
IPR : Quyền tài sản trí tuệ (Intellectual Property Right)
IPT : Tổng số tài sản trí tuệ (Intellectual Property in Total)
PM : Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS) PPP : Ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity)
R&D : Nghiên cứu và Phát triển (Research and Development)
REM : Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effected Model) rGDP : Tốc độ tăng GDP bình quân (Rate of GDP per capital growth) TFP : Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity)
TPP : Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership) TRIPS : Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ (Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights)
WB : Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WIPO : Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property
Organization) WTO : Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 7Bảng 4.2 Thống kê mô tả dữ liệu - 36
Bảng 4.3 Thống kê mô tả dữ liệu đã logarit hóa - 37
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến - 38
Bảng 4.5 Hồi quy thử các biến giải thích với biến gdp_ln - 39
Bảng 4.6 So sánh kết quả hồi quy với biến ope và lab có độ trễ 1 năm - 40
Bảng 4.7 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình cho mẫu chung - 41
Bảng 4.8 Ma trận tương quan giữa phần dư và biến giải thích của ước lượng cho mẫu chung - 43
Bảng 4.9 Kết quả ước lượng mẫu chung bằng GMM - 44
Bảng 4.10 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình trong nhóm nước thu nhập cao - 46
Bảng 4.11 Ma trận tương quan giữa phần dư và biến giải thích của ước lượng cho nhóm các nước thu nhập cao - 48
Bảng 4.12 Kết quả ước lượng mẫu các nước thu nhập cao bằng GMM - 49
Bảng 4.13 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình trong nhóm nước thu nhập trung bình cao - 50
Bảng 4.14 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp - 52
Bảng 4.15 So sánh kết quả ước lượng của các mô hình cho mẫu các nước thu nhập thấp - 53
Bảng 4.16 Ma trận tương quan giữa phần dư và biến giải thích của ước lượng cho các nước thu nhập thấp - 55
Bảng 4.17 Kết quả ước lượng mẫu các nước thu nhập thấp bằng GMM - 56
Bảng 4.18 Kết quả hồi quy tổng hợp từ các nhóm quốc gia - 57
Trang 8HÌnh 4.1 Tác động của IPT đến tăng trưởng kinh tế - 58 Hình 4.2 Tác động của IPR đến tăng trưởng kinh tế - 59
Trang 9tế và những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu này đã đề cập đến hai yếu tố tài sản hữu hình và tài sản vô hình, bao gồm tài sản trí tuệ
Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tài sản trí tuệ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia và các nhóm quốc gia Tuy nhiên, trong phạm vi tìm kiếm của tác giả, các bài nghiên cứu chưa đề cập nhiều đến số lượng bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế kiểu dáng công nghiệp, thương hiệu, … các loại có tác động thật sự đến các nhóm quốc gia có thu nhập bình quân khác nhau như thế nào, nhất là sau khi nền kinh tế thế giới vừa trải qua bão “đại suy thoái” vào năm 2008
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kết hợp các mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS Model), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model), mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model) và mô hình GMM Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng năm của 100 quốc gia liên quan đến biến số lượng tài sản trí tuệ và mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ cùng với một số biến kiểm soát liên quan đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng các bằng độc quyền có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế nhưng với mức độ khác nhau Bên cạnh đó, mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng tác động khác nhau lên các nền kinh tế có thu nhập trung bình khác nhau theo cả hướng tích cực và tiêu cực Phát hiện này có phần nào tương đồng với
lý thuyết hình chữ U ngược đã được Furukawa (2010) đề cập và giải thích
Qua tìm hiểu về tác động giữa số lượng tài sản trí tuệ với tăng trưởng kinh tế, tác giả kỳ vọng cung cấp được các đề xuất hợp lý cho việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của một nước có thu nhập GNI bình quân đầu người ở mức dưới trung bình như Việt Nam
Trang 10Chương 1 – TỔNG QUAN
1.1 Nguyên nhân chọn đề tài
Năm 1988, Chin và Grossman (1988) trong “Intellectual Property Rights and South Trade” cho rằng trong khi các công ty phía Bắc thực hiện R&D để giảm chi phí sản xuất, các công ty phía Nam có thể bắt chước nếu chính phủ các nước này không thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ Sau đó, vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) có hiệu lực và
North-là một trong những điều kiện bắt buộc đối với tất cả các thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Stiglitz (2008) cho rằng tài sản trí tuệ đã trở thành một trong những đề tài chính của xã hội toàn cầu Toàn cầu hoá là một trong những vấn đề quan trọng ngày nay, đặc biệt khi thế giới hướng về nền kinh tế tri thức Làm thế nào để chúng ta có thể điều chỉnh và quản lý tốt việc sản xuất tri thức và quyền tiếp cận tri thức trong khi TRIPS có thể làm cho việc tiếp cận tri thức trở nên khó khăn hơn, vì vậy tạo cách biệt về tri thức và gây khó khăn cho phát triển
Để nâng cao uy tín thương mại quốc tế, Việt Nam đã quyết định gia nhập WTO từ ngày 11/1/2007 qua nhiều vòng đàm phán khó khăn Do đó, Việt Nam phải cam kết thực hiện Hiệp định TRIPS Thực tế, sau khi nộp đơn xin gia nhập WTO năm 1995,
hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn với TRIPS về tính đầy đủ và tính hiệu quả Năm 2005, Việt Nam ban hành Bộ luật Dân
sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 sửa đổi, bổ sung quy định về quyền tài sản nhằm đảm bảo tài sản thực sự là hàng hoá trong giao dịch dân sự, trong đó bao gồm quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, những quy định trong Bộ luật Dân sự chủ yếu là những nguyên tắc cơ bản và liên quan đến khía cạnh dân sự Cho đến khi Luật sở hữu trí tuệ được ban hành vào tháng 11/2005 thì hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam mới bước đầu phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS
Kể từ thời điểm đó đến nay, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi bổ sung vào năm
2009 Cùng với sự phát triển của luật, các văn bản dưới luật cũng liên tục được bổ
Trang 11sung, thay đổi để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội Việt Nam có liên quan đến loại tài sản khá đặc biệt này Tuy nhiên, hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam vẫn được nhận định là chưa thực sự có hiệu quả trong Hội thảo “Sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại toàn cầu: Giải pháp khắc phục điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam” do Cục Sở hữu Trí tuệ, Tạp chí Tia Sáng, và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao phối hợp tổ chức ngày 28/5/2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh Có thể vì vậy mà đến nay doanh nghiệp vẫn thờ ơ với bảo hộ sở hữu trí tuệ và số lượng đăng ký tài sản trí tuệ còn hạn chế Trong tình hình đó, Việt Nam vẫn đang tiếp tục đàm phán gia nhập khối Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương Để gia nhập, Việt Nam phải đồng ý với Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) với những yêu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ cao hơn TRIPS trước đây
Trần Hồng Minh và Ngô Văn Giang (2008) cho rằng có thể có “lợi ích đáng kể” của
số đông khi mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ “tương đối lỏng lẻo” có thể tiếp cận được với công nghệ bằng giá tiền không quá đắt đỏ như lĩnh vực phần mềm để phát triển kinh tế Như vậy, cần so sánh việc tăng trưởng kinh tế nhờ vào “công nghệ giá rẻ”
so với lợi ích sẽ thu được có xứng đáng để Việt Nam, một nước thuộc nhóm có thu nhập trung bình thấp, lựa chọn gia nhập TPP? Tác giả chọn đề tài “Tác động của tài sản trí tuệ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia” để nghiên cứu nhằm tìm hiểu một phần quy luật tác động lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ và tổng tài sản trí tuệ qua các nhóm nước có thu nhập khác nhau, từ đó đóng góp cho định hướng phát triển về hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức của Việt Nam
1.2 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nhằm xem xét khả năng và các hành động nên thực hiện đối với một quốc gia đang phát triển thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, để huy động tối ưu nguồn lực hiện có của đất nước vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế
Trang 12Nguồn lực phát triển quốc gia có thể là tài nguyên, vốn, con người Tuy nhiên, trong tình hình của các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc sử dụng các nguồn lực tài chính và tài nguyên để bắt kịp sự phát triển của các nước phát triển hầu như khó khăn vì:
- Nguồn vốn: khả năng tích lũy tài chính thấp, khó có khả năng phát triển nhanh
Các ý tưởng sáng tạo của con người khi hội đủ điều kiện (tính mới, tính sáng tạo, khả năng ứng dụng sản xuất công nghiệp, …) có thể được bảo hộ của pháp luật Quyền sở hữu trí tuệ lúc này trở thành những tài sản dùng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư với các mức giá trị có thể rất cao
Solow (1956) cho rằng nền kinh tế phát triển dựa trên mối tương quan với các yếu
tố Lao động (L), Vốn (K) và công nghệ (A) theo hàm số Y=A.f(L,K) Trong đó, tài sản trí tuệ được xem là một phần của yếu tố A, nên việc phát triển nó được xem như một vấn đề quan trọng để phát triển kinh tế, cung cấp cho nền kinh tế một sức bật mạnh hơn nhiều so với L và K
Khi nhận thấy rõ sự tương quan giữa Tài sản trí tuệ và Tăng trưởng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển (theo GNI bình quân), nhà quản lý có thể có thêm cơ sở để quyết định hợp lý liên quan đến việc phát triển tài sản trí tuệ về mặt số lượng hay mức độ bảo hộ của pháp luật, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế tốt nhất Nguồn lực quốc gia có thể tập trung đúng thời điểm để mang lại hiệu quả cao hơn cho tăng trưởng kinh tế
Trang 131.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi dữ liệu của 100 quốc gia phân bố ở các nhóm nước có thu nhập GNI bình quân đầu người khác nhau:
- Nhóm các nước thu nhập cao (38 quốc gia)
- Nhóm các nước thu nhập trung bình cao (25 quốc gia)
- Nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (21 quốc gia)
- Nhóm các nước thu nhập thấp (16 quốc gia)
Nghiên cứu được thực hiện thành 2 phần: Nghiên cứu trên mẫu chung và nghiên cứu trên các nhóm nước khác nhau Trong đó, tác giả thực hiện tổng hợp số liệu thứ cấp được công bố trên website của Ngân hàng thế giới (các chỉ số kinh tế, giáo dục,…) và của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (các chỉ số về lượng tài sản trí tuệ đang ở giai đoạn nộp đơn xin bảo hộ)
Để xem xét sức mạnh về bảo hộ sở hữu trí tuệ, tác giả sử dụng chỉ số đo lường mức
độ bảo hộ sở hữu trí tuệ do Ginarte và Park (1997) phát triển, Park (2008) cập nhật Chỉ số này hiện đang được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế sử dụng khi nghiên cứu các vấn đề về đổi mới, tăng trưởng kinh tế liên quan đến sở hữu trí tuệ
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xem xét tác động của số lượng tài sản trí tuệ tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế các quốc gia trong mối tương quan với yếu tố pháp luật bảo hộ sở hữu trí tuệ thông qua việc tìm lời giải cho các câu hỏi sau:
1 Kiểm chứng tài sản trí tuệ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới như thế nào?
2 Tài sản trí tuệ tác động như thế nào đến tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các nhóm nước có GNI bình quân khác nhau?
3 Trong tình hình kinh tế hiện nay, Việt Nam nên có những chính sách quản lý như thế nào để phát triển, khai thác tài sản trí tuệ hiệu quả?
Trang 141.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thống kê, phân tích kết quả từ các
mô hình định lượng Pooled OLS, FEM, REM và GMM trên phần mềm thống kê Stata 12.0
Các kiểm định được sử dụng trong nghiên cứu là kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định nội sinh, kiểm định Pagan L-M, kiểm định Hausman, kiểm định Arellano-Bond Trường hợp sử dụng các hồi quy Pooled OLS, FEM, REM, tác động của hiện tượng phương sai thay đổi sẽ được kiểm soát bằng robust khi thực hiện hồi quy
Số liệu dùng trong nghiên cứu là số liệu thứ cấp được tác giả thu thập, tổng hợp từ nguồn dữ liệu được công bố chính thức tại Ngân hàng thế giới và Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Để xây dựng mô hình hồi quy, tác giả kế thừa và phát triển từ các mô hình của các tác giả Gould và Gruben (1996), Falvey và Greenaway (2006) Ngoài hai biến giải thích là số lượng tài sản trí tuệ và mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ, tác giả đã dùng các biến kiểm soát khác như mức đầu tư, chi phí cho giáo dục, tốc độ tham gia lực lượng lao động, … căn cứ vào các nghiên cứu của nhiều tác giả khác (xem thêm mục 2.3.3)
Từ kết quả phân tích định lượng, tác giả rút ra các kết luận về liên quan đến việc giải thích các vấn đề đã nêu ở mục 1.4
1.6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mục lục, Danh mục các hình, bảng biểu, Tóm tắt, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, tác giả trình bày nghiên cứu theo các phần như sau:
- Chương 1 - Tổng quan
- Chương 2 - Cơ sở lý luận
- Chương 3 -Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4 -Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Chương 5 - Kết luận và kiến nghị
Trang 15Kết luận Chương 1
- Qua chương này, tác giả đã xác định nguyên nhân của việc lựa chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Tác giả đã sơ bộ phác thảo phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng trong bài
- Giới thiệu kết cấu luận văn để người đọc dễ theo dõi các hoạt động của nghiên cứu
Trang 16Chương 2 –CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cơ sở khoa học về tăng trưởng kinh tế
Harrod (1939) và Domar (1946) xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế cho thấy tốc
độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỉ lệ giữa tiết kiệm S và lượng vốn K Tiết kiệm S được kỳ vọng được dùng vào đầu tư I Do đó càng tiết kiệm nhiều thì đầu tư càng nhiều, điều này sẽ tác động tích cực lên mức tăng trưởng của nền kinh tế
= ( ⁄ ) – = ( ⁄ ) − Tuy nhiên, theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển, việc tiết kiệm bổ sung thêm không làm cho tăng trưởng tăng theo quan hệ tuyến tính mà mức độ tăng giảm dần theo quy luật lợi nhuận biên giảm dần theo vốn bổ sung Ngoài ra, tỉ lệ tăng dân số còn
có vai trò cho phép có sự thay thế giữa vốn và lao động trong quá trình tăng trưởng (Solow, 1956) Nguồn nhân lực lại là một yếu tố có thể thay đổi nhanh chóng, có thể tạo ra những giá trị vượt trội nhờ vào việc vận dụng khả năng tư duy của mình Baier và cộng sự (2006) cho rằng năng suất trong 40 năm, từ 1960 đến 2000, tăng chủ yếu nhờ vào TFP chứ không phải là tăng lượng đầu vào Trong đó, yếu tố nhân lực giữ vai trò tác động bên cạnh cơ sở hạ tầng và yếu tố công nghệ Điều này cũng được (Lucas, 1988) khẳng định từ trước về lao động hay vốn nhân lực có thể nâng cao kỹ năng (tăng giá trị theo thời gian) thông qua hoạt động đào tạo lý thuyết và thực hành (on the job training, learning by doing) từ đó có thể tác động lên tốc độ tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, Abramovitz (1993) và Eaton và Kortum (1995) đều cho rằng nhờ vào tiếp cận với các tiến bộ về công nghệ (thông qua giáo dục, học tập
và sử dụng các sản phẩm và quy trình), vốn con người sẽ tăng lên trong dài hạn, dẫn đến tăng năng suất lao động
Sự gia tăng kỹ năng của vốn nhân lực không chỉ tác động trực tiếp lên việc tạo sản phẩm, dịch vụ tại doanh nghiệp, mà còn là tăng năng lực R&D Eaton và Kortum (1995) cho rằng bằng sáng chế thể hiện đầu ra của nghiên cứu và phát triển được bảo hộ
Trang 17Todaro và Smith (2012) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 3 nhóm yếu tố:
- Tích lũy vốn bao gồm tất cả các khoản đầu tư mới trong đất, thiết bị và nguồn nhân lực thông qua cải thiện các kỹ năng y tế, giáo dục và công việc
- Tăng trưởng dân số dẫn đến tăng trưởng lực lượng lao động
- Công nghệ mới
2.2 Lý thuyết liên quan đến tài sản trí tuệ
(Cadot và Lippman, 1995; Horowitz và Lai, 1996; O'Donoghue và Zweimuller,
2004 và Scotchmer và Green, 1990) trong quá trình nghiên cứu đã tìm thấy mối liên
hệ giữa mức bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới biểu hiện dưới dạng đường cong hình chữ U ngược Sau đó nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích hỗ trợ cho lý thuyết này như (Furukawa, 2007; Futagami và Iwaisako, 2007; Horii và Iwaisako, 2007) Furukawa (2010) đã phân tích lý thuyết ủng hộ sự tồn tại của đường cong hình chữ
U ngược (inverted U-shape) thể hiện mối liên hệ giữa mức độ bảo hộ tài sản trí tuệ với tốc độ đổi mới như sau:
- Việc tích lũy vốn con người thông qua kỹ năng, kinh nghiệm được trau dồi sẽ khuyến khích đổi mới Tuy nhiên, khi tăng bảo hộ, việc điều chỉnh sản lượng thấp do giá cả độc quyền sẽ làm kỹ năng của người lao động giảm sút và giảm tích lũy vốn con người
- Ở hình 2.1, sự gia tăng bảo hộ tài sản trí tuệ (tăng ) đến một mức độ nhất định (mức *), tốc độ đổi mới đạt mức cao nhất Nếu mức bảo hộ vượt quá * sẽ khiến việc tích lũy vốn con người bị giảm sút, từ đó sẽ tác động tiêu cực trở lại với tốc độ đổi mới
- Hàm ý chính sách : đường này phụ thuộc vào chi phí ban đầu cho đổi mới, nếu chi phí đổi mới cao, trong khi mức độ bảo hộ quá cao hoặc quá thấp sẽ ức chế tốc độ đổi mới
Có thể giải thích tình trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ quá mức gây ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới như sau: Khi tăng cường bảo hộ sẽ dẫn đển gia tăng tình trạng độc quyền
Trang 18Nhờ lợi thế độc quyền, nhà sản xuất sẽ tìm cách thu lợi nhuận độc quyền bằng cách tăng giá bán và hạn chế sản lượng Sản lượng thấp có thể làm tăng tình trạng thất nghiệp, dẫn đến giảm sút điều kiện sống, thu nhập của người lao động Điều kiện để học tập, rèn luyện kỹ năng của lao động bị giảm theo Việc giảm sút điều kiện học tập làm giảm sút khả năng sáng tạo, tạo ra sự đổi mới, gián tiếp góp phần vào việc hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia bảo hộ sở hữu trí tuệ quá mức
Hình 2.1 Bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới
Nguồn: Furukawa, 2010
Maskus (1998) nhận định rằng mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm tăng trưởng Nguyên nhân có thể là do hệ thống bảo hộ quá mức gây hạn chế lợi ích xã hội về sáng chế vì làm giảm khả năng phổ biến sản phẩm của sáng chế đó Nhưng một hệ thống bảo hộ quá yếu có thể làm giảm sự đổi mới vì không thu hút được đầu tư Quan điểm này tương tự với phân tích lý thuyết hình chữ U ngược của Furukawa (2010), nhưng Furukawa (2010) tập trung vào nguyên nhân là việc tăng hay giảm vốn con người, còn Maskus (1998) đã mở rộng tác động của bảo
hộ sở hữu trí tuệ tới lợi ích chung của xã hội
Trong thực tế, chúng ta có thể nhận thấy nếu một nhà sáng chế nhờ có nhiều năm kinh nghiệm, trăn trở và suy nghĩ để tìm được một giải pháp kỹ thuật mà từ trước
Trang 19đến nay chưa ai giải quyết được vấn đề tương tự Nhưng quá trình suy nghĩ, lao động khó khăn và lâu dài đó của nhà sáng chế không được bảo hộ nên bị người khác bắt chước và làm được ngay, thậm chí bán được nhiều sản phẩm hơn, thu được lợi nhuận cao hơn Nhà sáng chế sẽ mất động lực tạo ra các giải pháp khác, hệ quả là toàn xã hội sẽ bị giảm sút khả năng đổi mới để tạo ra năng suất lao động cao hơn Như vậy, tình trạng pháp luật quá lỏng lẻo trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng đã góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Để có thể tạo được sự công bằng cho nhà sáng chế khi tạo ra tài sản trí tuệ thì việc tăng cường luật pháp để bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều cần phải làm Nhà sáng chế phải có trách nhiệm nhận diện các đơn vị tài sản trí tuệ của mình, lưu chứng để tạo lập tài sản và tiến hành các thủ tục để được bảo hộ Lúc này, bảo hộ sở hữu trí tuệ mới có thể tạo ra sự công bằng cho nhà sáng chế trước toàn xã hội
Sự công bằng cũng thể hiện ở chỗ không gây gây thiệt hại cho xã hội vì bảo hộ tràn lan Không phải tất cả ý tưởng đều được bảo hộ Sáng chế chỉ được bảo hộ độc quyền nếu “có tính mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng công nghiệp”, hay bí mật kinh doanh cũng chỉ được bảo hộ nếu “không phải là hiểu biết thông thường, không dễ dàng có được, tạo được lợi thế kinh doanh cho người nắm giữ và được chủ sở hữu bảo mật …” (Điều 58 và 84, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi
bổ sung năm 2009) Ngay cả trong trường hợp được bảo hộ, tùy tính chất và sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích xã hội, Pháp luật cũng có giới hạn về thời gian bảo hộ hoặc hình thức bảo hộ Ví dụ: Sáng chế chỉ được bảo
hộ trong thời gian 20 năm kể từ ngày nộp đơn (Điều 93, luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, sửa đổi bổ sung năm 2009) Điều này cho thấy, chủ thể quyền sở hữu tài sản trí tuệ được pháp luật bảo vệ để khai thác lợi ích kinh tế từ tài sản của mình trong một khung thời gian nhất định, sau đó, các thông tin về sáng chế sẽ được cộng đồng
sử dụng rộng rãi và mang lại lợi ích cho xã hội sau khi đã ưu tiên cho nhà sáng chế Nếu sự bảo hộ này là vô hạn, thì xã hội sẽ không được hưởng lợi từ việc sáng tạo gây ảnh hưởng đến tăng trưởng chung
Trang 202.3 Cơ sở thực nghiệm về phát triển tài sản trí tuệ
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm với mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ
Trong nghiên cứu định lượng liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, các nhà nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với nhiều phương pháp khác nhau Trong phạm
vi tìm hiểu của tác giả, kỹ thuật định lượng được các nhà nghiên cứu sử dụng càng lúc càng phức tạp dần theo thời gian, điều này phù hợp với đặc điểm số liệu của kinh tế vĩ mô, rất dễ xảy ra các hiện tượng như tự tương quan, nội sinh, … do đó, các phương pháp phải hoàn thiện dần để khắc phục được các nhược điểm số liệu Ban đầu, kỹ thuật hồi quy đơn giản nhất được Gould và Gruben (1996) là hồi quy dạng hàm Log – Linear, sau đó Thomson và Rushing (1999) dùng phương pháp bình phương tối thiểu 2 và 3 giai đoạn Đến năm 2005, Schneider (2005) thực hiện nghiên cứu định lượng với hồi quy OLS và mô hình hiệu ứng cố định FEM cho dữ liệu dạng bảng Năm 2006, Falvey và Greenaway (2006) nghiên cứu thực nghiệm bằng phương trình ước lượng tăng trưởng phi tuyến, tập trung vào các ngưỡng đặc biệt (thresholds in particular) Với khả năng kiểm soát được hiện tượng nội sinh, phương pháp GMM được Kim và cộng sự (2012) dùng đồng thời với các phương pháp OLS và FEM Ngoài ra, để trả lời sâu hơn về các câu hỏi về ngưỡng tác động, Hudson và Minea (2013) dùng kỹ thuật hồi quy ngưỡng linh hoạt dữ liệu bảng1 để xem xét ngưỡng tác động của mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ và mức độ đổi mới (innovation)
Trong các một số mô hình nghiên cứu định lượng về bảo hộ sở hữu trí tuệ tác động đến tăng trưởng kinh tế, có tác giả cho rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế như Falvey và Greenaway (2006), nhưng cũng có một
số khác như Gould và Gruben (1996), Park và Ginarte (1997), Thompson và Rushing (1999), Schneider (2005), Hudson và Minea (2013) lại cho rằng tác động của bảo hộ sở hữu trí tuệ là gián tiếp thông qua “đổi mới”, “R&D”
1The Panel Smooth Threshold Regression - PSTR
Trang 21Bảo hộ sở hữu trí tuệ chịu tác động từ chính sách kinh tế của quốc gia, đối với những nước có nền kinh tế đóng, nhỏ, hầu như các nguồn lực dành chủ yếu vào hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ thị trường trong nước Tuy nhiên, khi thị trường mở cửa thì việc cạnh tranh sẽ thúc đẩy đổi mới, do đó, quốc gia sẽ dành nguồn lực nhiều hơn để tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ Vì vậy, (Gould và Gruben, 1996; Thompson và Rushing, 1999; Falvey và Greenaway, 2006) cho rằng nền kinh tế càng lớn, độ mở cửa càng lớn thì bảo hộ sở hữu trí tuệ càng gia tăng
Các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người thấp, không đầu tư vào nghiên cứu
và phát triển thì mức bảo hộ sở hữu trí tuệ thấp và ngược lại các nước có thu nhập cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển thì mức bảo hộ có thể phát triển cao (Park
và Ginarte, 1997; Thompson và Rushing, 1996; Thompson và Rushing, 1999) Bảo hộ sở hữu trí tuệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế, nó được xem là một yếu tố quan trọng trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh Gould và Gruben (1996) cho rằng bảo hộ sở hữu trí tác động trở lại nền kinh tế vì có mối quan hệ đặc biệt tới vốn con người, thông qua việc tạo môi trường thuận lợi cho việc tích lũy kiến thức, tăng cải tiến và dẫn đến tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, tác động của bảo hộ sở hữu trí tuệ đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế Trong nghiên cứu của Falvey và Greenaway (2006), bảo hộ sở hữu trí tuệ tác động tích cực đáng kể đến sự phát triển của các nước thu nhập thấp và thu nhập cao, nhưng tác động không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế các nước thu nhập trung bình
Trong nhóm các nước thu nhập thấp, quan hệ giữa bảo hộ sở hữu trí tuệ và tăng trưởng cũng có sự khác biệt: tác động tích cực đáng kể vào tăng trưởng ở các nước nghèo nhất, nhưng tác động không đáng kể đối với các nước có thu nhập trung bình Falvey và Greenaway (2006) giải thích tác động khác nhau này được cho là do các nguyên nhân sau:
- Tác động tích cực đáng kể của bảo hộ sở hữu trí tuệ đến tăng trưởng kinh tế ở các nước thu nhập thấp không phải do R&D và đổi mới trong nước Kết quả
Trang 22này có thể do bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh làm tăng nhập khẩu và FDI vào từ các nước tiên tiến
- Bảo hộ sở hữu trí tuệ không tác động đáng kể đến tăng trưởng của các nước thu nhập trung bình có thể do 2 tác động đối nghịch nhau: Tuy bảo hộ tác động tích cực lên tăng trưởng thông qua thương mại và thu hút FDI, nhưng nó cũng làm cho kiến thức khuếch tán chậm đi và ngăn chặn việc bắt chước
Kết quả nghiên cứu của Schneider (2005) cho thấy bảo hộ sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hướng đến tốc độ đổi mới bên cạnh các yếu tố khác như quy mô thị trường, nhập khẩu công nghệ cao, vốn con người, mức độ R&D, cơ sở hạ tầng, vốn Tuy nhiên, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ không phải lúc nào cũng có tác động giống nhau đến đổi mới Nó có tác động tích cực đến tốc độ đổi mới của các nước phát triển nhưng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự đổi mới ở các nước đang phát triển Tác giả Schneider (2005) cho rằng sự đổi mới ở các nước đang phát triển hầu hết là do sự bắt chước hoặc áp dụng các sáng chế chứ không phải do việc bảo hộ sở hữu trí tuệ
Không chỉ xem xét về bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các bằng sáng chế, Kim và cộng sự (2012) mà còn đi vào nghiên cứu sâu hơn một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác
có bản chất gần giống với sáng chế, đó là giải pháp hữu ích Tác động của 2 nhóm tài sản trí tuệ này có tác động khác nhau đến mức độ đổi mới Bảo hộ bằng sáng chế
có tác động tích cực đến các nước có nền kinh tế phát triển trong khi đó bảo hộ giải pháp hữu ích có thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đổi mới ở các nước thu nhập trung bình đến thấp Các nước đang phát triển nên tập trung vào bảo
hộ giải pháp hữu ích nhiều hơn để tăng trưởng kinh tế
Qua đó có thể thấy, việc nghiên cứu liên quan đến bảo hộ tài sản trí tuệ không thể chỉ dừng lại ở các sáng chế, hay giải pháp hữu ích mà nhà nghiên cứu cũng cần quan tâm đến các loại tài sản trí tuệ khác mà pháp luật có thể và có quy định bảo hộ như thương hiệu, quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, … vì việc bảo hộ các loại tài sản này vẫn đang diễn ra và chúng cũng có những vai trò nhất
Trang 23định đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc khai thác, kinh doanh quyền tài sản loại này
Để trả lời cho câu hỏi cụ thể mức độ nào của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ có tác động như thế nào đến việc đổi mới, Hudson và Minea (2013) nhận thấy bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh sẽ làm tăng sự đổi mới ở một số nước và làm giảm nó ở các nước khác và tác động có thể thay đổi khi mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ của quốc gia vượt qua một ngưỡng nhất định Tuy nhiên, kết luận của các tác giả này lại đi ngược với chứng minh trong mô hình chữ U ngược của Furukawa (2010): bảo hộ sở hữu trí tuệ
sẽ tác động tích cực đến đổi mới ở mức dưới 1.8 và trên 3.3 mà không phụ thuộc vào GDP bình quân đầu người
Ngoài ra, bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng chịu sự chi phối của một số yếu tố kinh tế tác động lên nó:
- Mức độ bất ổn chính trị không có tác động có ý nghĩa thống kê tới mức độ bảo
hộ sở hữu trí tuệ (Thompson và Rushing, 1996)
- (Thompson và Rushing, 1996; Park và Ginarte, 1997) nhận thấy cơ sở hạ tầng nghiên cứu và phát triển có tương quan thuận với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, nghĩa là các nước càng phát triển cơ sở hạ tầng nghiên cứu và phát triển càng chú trọng vào bảo hộ sở hữu trí tuệ
Tuy nhiên, Hudson và Minea (2013) nhận định chỉ số bảo hộ sáng chế GP, hiện đã
và đang được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng, không phải là một "biến đo được" để đánh giá sức mạnh của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, cho đến hiện tại thì chỉ
số này được xem như là chỉ số tốt có thể có cho các nhà nghiên cứu kinh tế
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về số lượng tài sản trí tuệ
Từ năm 1951, Schmookler đã sử dụng số liệu thống kê bằng sáng chế như một chỉ
số của đầu ra sáng tạo để giải thích về sự tăng trưởng TFP của nền kinh tế Mỹ, nhưng không tìm thấy mối tương quan Tuy nhiên, Griliches (1998) vẫn cho rằng số liệu thống kê bằng sáng chế là một chỉ số tốt về đầu vào, về sự khác biệt trong hoạt
Trang 24động sáng tạo vốn không quan sát được Số liệu này là nguồn tài nguyên cho việc phân tích các quá trình thay đổi kỹ thuật và được xem như chỉ số đặc trưng cho kiến thức có giá trị về mặt kinh tế và là đầu ra của nghiên cứu và phát triển Sau đó, Kim
và cộng sự (2012) cũng đã sử dụng số liệu về bằng sáng chế và giải pháp hữu ích trong quá trình nghiên cứu ở cấp độ quốc gia và doanh nghiệp Hàn Quốc
Mặc dầu cho rằng số liệu thống kê bằng sáng chế dùng để đo lường và hiểu rõ hơn
về các quá trình kinh tế nhằm giảm chi phí sản xuất và phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới (cả đầu vào và đầu ra của quá trình), Griliches (1998) nhận thấy có hai vấn đề chính trong việc sử dụng bằng sáng chế cho phân tích kinh tế:
- Khó phân loại dữ liệu bằng sáng chế theo đúng ngành công nghiệp, sản phẩm tương ứng
- Chưa có phương pháp tính "trọng số" phù hợp cho những sáng chế khác nhau
về kỹ thuật và giá trị kinh tế
Có thể đó là nguyên nhân khiến chỉ số về số lượng tài sản trí tuệ chưa được các nhà nghiên cứu kinh tế sử dụng nhiều
Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu về sở hữu trí tuệ hiện nay thường chỉ quan tâm đến bằng độc quyền sáng chế (Patent) và chỉ số quyền sáng chế (Patent Rights Index) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kim và cộng sự (2012) thì các doanh nghiệp nhỏ, tụt hậu và các quốc gia đang phát triển lại có thể dựa vào các giải pháp hữu ích để phát triển, tăng trưởng Như vậy, nếu chỉ sử dụng các số liệu thống kê về sáng chế sẽ làm hạn chế tính chính xác của kết quả của nghiên cứu
về tài sản trí tuệ
Do đó, việc nghiên cứu kinh tế liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ, theo tác giả, cần được mở rộng hơn tới việc ghi nhận sự tồn tại và khả năng mang lại lợi ích cho nền kinh tế của tất cả các dạng của tài sản trí tuệ Vì tất cả các loại tài sản này, nếu được chủ thể quyền sở hữu khai thác đúng mức sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế rất lớn Ví dụ, giá trị thương hiệu Coca Cola năm 2013 được công bố là 79,213 triệu USD trên www.interbrand.com Trong tương lai, nếu thương hiệu này vẫn được
Trang 25quản trị và khai thác tốt giá trị sẽ không dừng lại ở đó Như vậy, chủ sở hữu thương hiệu này đã góp phần không ít vào tăng trưởng kinh tế GDP của Mỹ
2.3.3 Giải thích việc sử dụng các biến trong mô hình
Qua các mô hình đã xem xét trong phần sơ lược lý thuyết và các nghiên cứu định lượng về tài sản trí tuệ, tác giả sử dụng mô hình với các biến như sau :
- Biến phụ thuộc : rGDP (tốc độ tăng GDP bình quân đầu người)
- Biến giải thích : gồm 2 nhóm
o Biến quan tâm : các biến liên quan đến sở hữu trí tuệ (IPR và IPT)
o Biến kiểm soát : các biến thể hiện tình trạng nền kinh tế và có liên quan đến tăng trưởng kinh tế quốc gia (GDP, INV, EDU, OPE, LAB, GOC, INF)
2.3.3.1 rGDP - Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người
- Tình hình sử dụng: tốc độ tăng trưởng GDP thực hàng năm của các quốc gia trong mô hình là biến phụ thuộc, nó phản ánh khả năng tăng trưởng của nền kinh tế một quốc gia là nhanh hay chậm và được Gould và Gruben (1996); Thompson và Rushing (1999) và Falvey và Greenaway (2006) sử dụng trong
mô hình nghiên cứu tăng trưởng kinh tế của mình
- Tên chỉ số chính thức: GDP per capita growth (annual %)
- Đơn vị tính : %
- Cách tính: Xác định GDP bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội GDP chia cho dân số giữa năm Sau đó, tính tốc độ gia tăng hàng năm của GDP bình quân đầu người
2.3.3.2 GDP - GDP bình quân đầu người
- Tình hình sử dụng: (Gould và Gruben, 1996; Thompson và Rushing, 1999; Schneider, 2005; Falvey và Greenaway, 2006; Kim và cộng sự, 2012; Hudson
và Minea, 2013) đều dùng GDP bình quân đầu người để đo mức độ phát triển kinh tế như một biến giải thích trong mô hình
Trang 26- Tên chỉ số chính thức: GDP per capita, PPP (constant 2011 international $)
- Đơn vị tính: %
- Cách tính: GDP bình quân đầu người dựa trên sức mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP) GDP PPP là tổng sản phẩm trong nước quy đổi ra USD quốc tế sử dụng sức mua ngang giá Dữ liệu cố định theo đô la quốc tế 2011
2.3.3.3 IP - Tài sản trí tuệ
a IPT - Số lượng tài sản trí tuệ
- Tình hình sử dụng: (Schneider, 2005; Kim và cộng sự, 2012; Hudson và Minea, 2013) xem xét năng lực sáng chế trên cơ sở đo bằng tỷ số bằng sáng chế của
Mỹ cấp cho người ở độ tuổi lao động Các tác giả này cho rằng các bằng sáng chế được bảo hộ tại Mỹ có thể là những sáng chế giá trị cao, việc yêu cầu cấp bằng sáng chế tại Mỹ là khá tốn kém nên các công ty lớn chỉ yêu cầu bảo hộ nếu họ kỳ vọng thu được lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra
- Theo tác giả chỉ số này khá thiên lệch vì thị trường Mỹ có thể là thị trường lớn nhưng không phải là duy nhất để các tài sản trí tuệ phát huy tác dụng sinh lợi
Số lượng bằng sáng chế này sẽ bị thiếu những quốc gia khác như Châu Âu, Trung Quốc cũng là những thị trường sử dụng bằng độc quyền lớn của thế giới Ngoài ra, nếu bỏ qua các bằng độc quyền được cấp tại các quốc gia cho công dân nước ngoài (bao gồm công dân Mỹ) sẽ dẫn đến không tính được độ lớn của thị trường mục tiêu của các sáng chế, bỏ qua yếu tố thị trường của sự tăng trưởng kinh tế
- Tổng số tài sản trí tuệ (IPT) được xem như là đầu vào cho sự tăng trưởng của nền kinh tế, do đó, tác giả đưa biến số lượng này vào mô hình Biến được tính theo số tài sản trí tuệ trong 100 000 dân nhằm đảm bảo số liệu quan sát dễ tính toán hơn
- Tên chỉ số chính thức: Số lượng tài sản trí tuệ
- Đơn vị tính : số đơn đăng ký/100 ngàn dân
Trang 27- Cách tính : Tác giả tự tính bằng cách lấy tổng số các bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế kiểu dáng công nghiệp và thương hiệu chia cho lực lượng lao động tương ứng trong năm
b IPR - Mức bảo hộ sở hữu trí tuệ
- Tình hình sử dụng: (Schneider, 2005; Kim và cộng sự, 2012) sử dụng số liệu về mức độ bảo hộ bằng sáng chế đến từ Park (2008)
- Mức độ bảo hộ sở hữu cũng được tế sử dụng để đưa vào các mô hình thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế Có nhiều thang đo mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ
đã được dùng từ trước đến nay:
o Rapp and Rozek (1990): tạo ra chỉ số Rapp and Rozek Index (RRI), thang điểm từ 0 đến 5 căn cứ vào tính đầy đủ của luật pháp về tài sản trí tuệ như yêu cầu công việc, hướng dẫn thủ tục kiểm tra thông tin sáng chế, cưỡng chế li-xăng, sáng chế dược phẩm, yêu cầu bảo hộ và khuyến khích thực thi pháp luật tối thiểu theo đề xuất của Phòng Thương mại Hoa Kỳ (U.S Chamber Commerce)
o Property Rights Alliance: Chỉ số mức độ bảo hộ tài sản của PRA dao động từ 0 đến 10 Chỉ số này thể hiện giá trị từ thấp nhất đến cao nhất về
hệ thống quyền sở hữu của một quốc gia được công bố từ năm 2007 Chỉ
số mức độ bảo hộ tài sản của PRA được xây dựng từ các dữ liệu thu thập
từ các nguồn bên thứ ba (ví dụ: Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới) và cấu thành từ 3 thành phần: Pháp lý và môi trường chính trị (LP), Quyền tài sản vật lý (PPR) và Quyền sở hữu trí tuệ (IPR)
o Ginarte và Park (1997), Park cập nhật (2008): tạo ra chỉ số Ginarte-Park (GP) Mức độ của quyền sáng chế là một chỉ số tổng hợp đo lường thời hạn bảo hộ, vấn đề có thể bảo hộ như sáng chế, thành viên trong các điều ước quốc tế, cơ chế thực thi và hạn chế về sở hữu sáng chế (như cấp phép bắt buộc) Chỉ số dao động từ 0 (không có hệ thống bằng sáng chế) đến 5 (mức cao nhất của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ) Hiện tại mức độ bảo
Trang 28hộ sáng chế được cập nhật cho mỗi 5 năm trong giai đoạn 1960-2010 cho
120 quốc gia
- Trong mô hình nghiên cứu này, thang GP được dùng như một yếu tố cân bằng
số tài sản trí tuệ với tình hình luật pháp về sơ hữu trí tuệ của chính quốc gia đó Ngoài ra, để đảm bảo số liệu đủ cho mô hình, tác giả xem các năm giữa các mốc tái đánh giá sẽ có chỉ số GP tương tự với chỉ số đầu kỳ
- Tên chỉ số chính thức: Patent Rights Index
2.3.3.4 INV – Tỉ lệ đầu tư
o Tác giả dùng chỉ số tỉ lệ đầu tư với quan điểm đầu tư sẽ tác động lên cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và nghiên cứu và phát triển và từ đó sẽ tác động cả trực tiếp và gián tiếp lên tốc độ tăng trưởng
- Tên chỉ số chính thức: Gross capital formation (% of GDP)
- Đơn vị tính : % so với GDP
- Cách tính: Trước đây, chỉ số này được Ngân hàng thế giới công bố với tên gọi
là GDI (Gross Domestic Investment) Chỉ số này bao gồm toàn bộ cơ sở hạ tầng (nhà máy, thiết bị, đường sá, trường học, …) cộng với mức thay đổi ròng của hàng tồn kho
2.3.3.5 EDU - Giáo dục
- Tình hình sử dụng:
o (Thompson và Rushing, 1999; Gould và Gruben (1996); Kim và cộng sự, (2012) sử dụng tỷ lệ tăng tỷ lệ nhập học trường trung học để phản ánh chất lượng về tri thức của nhân lực Trong khi (Hudson và Minea, 2013)
Trang 29sử dụng tỷ lệ phần trăm của tổng số tuyển sinh trong dân số ở độ tuổi trên 15 ở bậc đại học (sử dụng bộ dữ liệu Barro và Lee (2000)
o Nguồn nhân lực phải có tri thức tối thiểu để có thể tác động tốt hơn đến tốc độ tăng trưởng Tuy nhiên, do hạn chế về mặt số liệu do đó, tác giả dùng phần chi phí cho giáo dục trung học
- Tên chỉ số chính thức: Education expenditure (% of GNI)
- Đơn vị tính : %
- Cách tính: Chi tiêu giáo dục bao gồm các chi phí điều hành hiện tại trong giáo dục, kể cả tiền lương và không bao gồm vốn đầu tư trong các tòa nhà và trang thiết bị
2.3.3.6 OPE - Độ mở của nền kinh tế
- Tình hình sử dụng:
o Để đo độ mở của nền kinh tế, Kim và cộng sự (2012) sử dụng chỉ số tự
do thương mại quốc tế của Viện Fraser Khi nền kinh tế “mở” hơn sẽ thì thị trường ít có sự bảo hộ và phải cạnh tranh nhiều hơn Vì vậy, (Chen và Puttitanun, 2005; Aghion và cộng sự, 2001) cho rằng các quốc gia này phải đầu tư nhiều trong nghiên cứu và phát triển
o Leamer (1988), Hudson và Minea (2013) xem xét độ mở của nền kinh tế thông qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hoặc tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP của một quốc gia
Trang 30cộng sự (2012) đo vốn con người về số lượng thông qua dân số ở độ tuổi làm việc để kiểm soát cho nguồn lao động
o Tuy nhiên, tác giả cho rằng không phải toàn bộ dân số trong nước đều có thể tham gia sản xuất, do đó tác giả đã thay biến tốc độ tăng dân số POP trong mô hình tổng quát bằng biến tốc độ gia tăng lực lượng lao động LAB (labor force) trong mô hình hồi quy
- Tên chỉ số chính thức: Labor force participation rate (% of total population
ages 15+)
- Đơn vị tính: %
- Cách tính: Tỉ lệ lực lượng lao động là tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia vào các hoạt động kinh tế
2.3.3.8 GOC - Chi tiêu của Chính phủ
- Tình hình sử dụng: Các khoản chi của Chính phủ được Gould và Gruben (1996) xem như tác động không đáng kể lên trong việc thay đổi năng suất sản xuất do nó chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong sản lượng Tuy nhiên tác giả vẫn đưa vào để đảm bảo tính đầy đủ của mô hình Chi tiêu công được xem như có khả năng tác động tích cực đến nền kinh tế
- Tên chỉ số chính thức: General government final consumption expenditure (%
of GDP)
- Đơn vị tính: %
- Cách tính: Khoản chi này bao gồm chi tiêu cho việc mua hàng hóa và dịch vụ,
kể cả chi cho quốc phòng (nhưng không phải cho quân sự)
2.3.3.9 INF - Lạm phát
- Tình hình sử dụng: Falvey và Greenaway (2006) sử dụng tỉ lệ lạm phát để kiểm soát mức ổn định của nền kinh tế Nền kinh tế ổn định có thể tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế Lạm phát nhẹ được xem như là yếu tố để thúc đẩy kinh
tế tăng trưởng, nhưng khi nó ở mức cao lại có tác động ngược lại, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Trang 31- Tên chỉ số chính thức: Inflation, GDP deflator (annual %)
độ bảo hộ sở hữu trí tuệ) đến tăng tưởng kinh tế
- Căn cứ vào các mô hình đã xem xét, tác giả xây dựng chọn lọc các biến dự kiến
sử dụng trong mô hình nghiên cứu của mình
Trang 32Chương 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả bộ dữ liệu
Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ năm 1998 đến năm 2012 (15 năm)
từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO)
Số liệu là các quan sát hàng năm của 100 quốc gia thuộc 4 nhóm nước khác nhau được Ngân hàng thế giới công bố phân nhóm vào năm 2012 theo thu nhập GNI bình quân đầu người :
- Thu nhập thấp: 1.035 USD hoặc ít hơn
- Thu nhập trung bình thấp: từ 1.036 USD đến 4.085 USD
- Thu nhập trung bình cao: từ 4.086 USD đến 12.615 USD
- Thu nhập cao: từ 12.616 USD hoặc cao hơn
Để có số liệu tổng quát về tài sản trí tuệ, tác giả cộng gộp tất cả 4 loại đơn xin cấp bằng độc quyền đã được WIPO công bố tại website http://www.wipo.int/portal/en/
để tạo thành một chỉ số chung là Tổng số tài sản trí tuệ (IPT):
- Giải pháp hữu ích (Utility model)
- Kiểu dáng công nghiệp (Industrial Design)
- Thương hiệu (Trade mark)
3.2 Vận dụng mô hình nghiên cứu
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các mô hình của Gould và Gruben (1996) và của Falvey và Greenaway (2006) đã điều chỉnh giảm các biến giải thích
để mô hình đơn giản và phù hợp hơn tình trạng số liệu thu thập được Ngoài ra, nghiên cứu này tiến xa hơn trong việc:
- Xem xét tất cả các loại tài sản trí tuệ có thể thống kê được theo thống kê của WIPO
Trang 33- Xác định tác động của tài sản trí tuệ trong mối tương quan với biến kiểm soát là mức bảo hộ sáng chế ứng với từng quốc gia
- Xét tác động của bảo hộ sở hữu trí tuệ và tài sản trí tuệ theo các nhóm quốc gia khác nhau theo phân loại của WB về GNI bình quân
Mô hình nghiên cứu tổng quát
Qua các lý giải về việc sử dụng các biến ở phần 2.3.3, tác giả đã chi tiết hóa mô hình nghiên cứu tổng quát bên trên thành mô hình hồi quy sử dụng dữ liệu bảng như sau:
3.2.1 Biến và nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 3.1 Mô tả biến dùng trong nghiên cứu
Stt Biến Giải thích biến Kỳ vọng dấu Giải thích Nguồn dữ liệu
Trang 34Stt Biến Giải thích biến Kỳ vọng dấu Giải thích Nguồn dữ liệu
1 rGDP Tốc độ
tăng GDP bình quân đầu người Biến phụ
World Bank
capita growth (annual %)
2 GDP GDP bình
quân đầu người theo sức mua ngang giá (theo giá
sự, 2012; Hudson và Minea, 2013) đều dùng GDP bình quân đầu người để đo mức độ phát triển kinh tế như một biến giải thích trong mô hình
World Bank
capita, PPP (constant 2011 international
$)
3 IPT Số tài sản
trí tuệ trên 100,000
(Schneider, 2005; Kim và cộng sự, 2012; Hudson và Minea, 2013) xem xét năng lực sáng chế đo bằng tỷ số bằng sáng chế và cho thấy số bằng sáng chế có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế
Số liệu tự tính toán từ số liệu
của WIPO
4 IPR Chỉ số (+) (Thomson và Rushing, 1999;
Schneider, 2005; Kim và cộng
W.G Park
Trang 35Stt Biến Giải thích biến Kỳ vọng dấu Giải thích Nguồn dữ liệu
quyền sáng chế (Patent Rights Index)
sự, 2012; Hudson và Minea, 2013) đều sử dụng số liệu về mức độ bảo hộ sáng chế của Park (2008)
Các kỳ vọng của các tác giả này đều là quyền sở hữu trí tuệ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế hoặc đổi mới với các mức độ khác nhau
Tác giả dùng chỉ số tỉ lệ đầu tư với quan điểm đầu tư sẽ tác động lên cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nghiên cứu và phát triển và từ đó sẽ tác động tích cực lên tốc độ tăng trưởng
World Bank
Gross capital formation (%
of GDP)
Trang 36Stt Biến Giải thích biến Kỳ vọng dấu Giải thích Nguồn dữ liệu
6 EDU Tỉ lệ chi
phí cho giáo dục
(+)
(Thompson và Rushing, 1999;
Gould và Gruben, 1996; Kim
và cộng sự, 2012; Hudson và Minea, 2013) đều sử dụng tỷ
lệ nhập học trường trung học, đại học để phản ánh chất lượng về tri thức của nhân lực
Tác giả dùng chi phí cho giáo dục trung học để thay thế, kỳ vọng giáo dục được đầu tư sẽ làm tăng chất lượng vốn con người từ đó tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế thông quan khả năng tạo ra đổi mới
World Bank,
Education expenditure (% of GNI)
7 OPE Độ mở
của nền kinh tế
(+)
(Leamer, 1988; Hudson và Minea, 2013) sử dụng kim ngạch xuất khẩu hoặc tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP của một quốc gia
8 LAB Tỉ lệ tăng
trưởng lực lượng lao
(+) (Falvey và Greenaway, 2006; Todaro và Smith, 2012; Kim
và cộng sự, 2012) dùng biến
World Bank,
participation
Trang 37Stt Biến Giải thích biến Kỳ vọng dấu Giải thích Nguồn dữ liệu
động tốc độ tăng dân số như một
biến giải thích trong mô hình
Khi tăng lực lượng lao động
sẽ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Tác giả dùng biến tốc độ gia tăng lực lượng lao động LAB (labor force) trong mô hình hồi quy
rate, total (%
population ages 15+)
9 GOC Chi tiêu
của Chính phủ
(+)
Gould và Gruben (1996) xem chi tiêu của Chính phủ tác động không đáng kể lên trong việc thay đổi năng suất sản xuất do nó chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong sản lượng Chi tiêu công được xem như có khả năng tác động tích cực đến nền kinh tế
World Bank,
General government final
consumption expenditure (% of GDP)
10 INF Tỉ lệ lạm
phát trung bình
(+/-)
Falvey và Greenaway (2006)
sử dụng tỉ lệ lạm phát để kiểm soát mức ổn định của nền kinh
tế Lạm phát với các mức độ khác nhau sẽ có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm tăng trưởng kinh tế
World Bank,
Inflation, GDP deflator
(annual %)
Nguồn: Tác giả tự thiết lập căn cứ vào nội dung các bài nghiên cứu đã tham khảo
Trang 383.2.2 Quy trình nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả đã thực hiện các hoạt động nghiên cứu theo các bước trong hình 3.1 như sau:
Bước 1 - Xem xét cơ sở khoa học của nghiên cứu: xem xét các lý thuyết liên quan
đến tăng trưởng, lý thuyết và các nghiên cứu định lượng đã được thực hiện
Bước 2 - Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở các lý thuyết và nghiên cứu định
lượng đã xem xét ở bước 1, tác giả xác định và mô tả các dữ liệu dùng để thực hiện nghiên cứu và xây dựng mô hình mô hình hồi quy cho dữ liệu bảng Đồng thời, xây dựng quy trình nghiên cứu cho mô hình
Bước 3 - Thống kê mô tả dữ liệu : Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được thống kê để
xem xét mức độ đầy đủ (balanced) hay không, có những bất thường gì về mặt dữ liệu để có biện pháp xử lý dữ liệu kịp thời, đảm bảo bộ dữ liệu sẵn sàng đưa vào nghiên cứu định lượng
Bước 4 - Kiểm định đa cộng tuyến: Tác giả tiến hành kiểm định hiện tượng đa cộng
tuyến của các biến trong mẫu (thông qua kiểm tra hệ số khuếch đại phương sai VIF) Trường hợp có đa cộng tuyến, tác giả điều chỉnh lại mô hình cho đến khi hiện tượng này không còn quá nghiêm trọng
Bài viết chỉ sử dụng dữ liệu bảng với trong khoảng thời gian tương đối ngắn (15 năm), do đó không thực hiện kiểm định về:
- Tính dừng (Stationery) của panel-data
- Tính độc lập của các đơn vị chéo (Cross-sectional dependence)
- Hiện tượng tương quan chuỗi (Serial correlation) trong bảng dữ liệu
Bước 5- Thực hiện hồi quy dữ liệu với mô hình Pooled OLS và mô hình REM Bước 6- Thực hiện kiểm định Pagan LM để kiểm tra hiện tượng phương sai của sai
số ước lượng thay đổi
- Trường hợp p_value ≥ 0.05 : chọn kết quả hồi quy Pooled OLS để giải thích
- Trường hợp p_value < 0.05 : chọn kết quả hồi quy REM để giải thích
Trang 39Bước 7 - Thực hiện hồi quy dữ liệu với mô hình FEM và mô hình REM
Bước 8 - Kiểm định Hausman
- Trường hợp p_value ≥ 0.05 : chọn kết quả hồi quy REM để giải thích
- Trường hợp p_value < 0.05 : chọn kết quả hồi quy FEM để giải thích
Bước 9 - Thực hiện hồi quy FEM hoặc REM tùy theo kết quả kiểm định ở bước 7 Bước 10 – Xem xét khả năng xuất hiện hiện tượng nội sinh bằng cách xem xét độ
lớn của hệ số thống kê Rho (Cohen và Cohen, 1983) và hệ số tương quan giữa phần
dư với các biến
- Nếu các hệ số này không lớn (Rho so với 0.3, Corr(u_i, x) so với 0.2) thì chọn kết quả từ hồi quy REM hoặc FEM để giải thích
- Nếu các hệ số Rho ≥ 0.3, Corr(u_i, x) ≥ 0.2 thì chọn giải thích kết quả theo GMM
Lưu ý : Hiện vẫn chưa có kiểm định đặc thù cho tính chất của biến giải thích có nội sinh hay không Tác giả sử dụng cách lấy phần dư từ ước lượng để xem tương quan giữa phần dư này với các biến Biến được xem là có thể có hiện tượng nội sinh khi
có hệ số tương quan lớn
Bước 11– Đọc kết quả hồi quy
Căn cứ theo các kiểm định, tiến hành đọc và diễn giải kết quả ước lượng theo một trong các mô hình hồi quy đã được giới thiệu Trong quá trình thực hiện hồi quy, một số kiểm định đã được thực hiện đồng thời như sau
- Kiểm định Arellano-Bond (AB): dùng để kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi theo bậc sai phân Thông thường, kiểm định này được quan tâm có tự tương quan ở bậc 2 hay không Khi p-value < 0.1 cho thấy có hiện tượng tự tương quan, đòi hỏi phải thay đổi biến công cụ cho thích hợp hơn hoặc chuyển
từ GMM sai phân sang sử dụng GMM hệ thống
Trang 40- Kiểm định Sargan-Hansen (SH) hay J-test: dùng để kiểm định có thừa biến công cụ hay không P-value < 0.05 cho phép kết luận ước lượng không thừa
biến