cụ để tư duy và giao tiếp.Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn chocác em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong đoạnvăn
Trang 1cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn chocác em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong đoạnvăn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các phương tiện liên kếttrong đoạn văn Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối quinạp, diễn dịch, song hành hay móc xích
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy để tạothành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã dùngcác phương tiện liên kết trong văn bản)
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiện hiện đại,thông tin đại chúng cập nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đường say mê
“nghiện” sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách kiếm hiệp Vì vậy, các emkhông còn ham đọc sách, ham nghiên cứu Cho nên, việc viết một đoạn văn lại càng
là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn luyện cho các em.Hơn thế nữa, tập làmvăn là môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của môn Văn – Tiếng Việt, mônTập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối tương quan chặt chẽ với Văn vàTiếng Việt Như vậy, chúng ta dạy Tập làm văn cho học sinh là dạy cho các em nắm
Trang 2vững văn bản, biết xây dựng các đoạn văn thông thường Rèn luyện cho học sinh làrèn luyện cho các em các thao tác, những cách thức, những bước đi trong quá trìnhtạo lập văn bản Vì thế, cách xây dựng đoạn văn trong phân môn tập làm văn đượccoi như vị trí hàng đầu Việc rèn cách viết đoạn văn cho học sinh THCS theo trụctăng dần qua các thể loại văn học: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận thuyết minh,điều hành ( hành chính công vụ) Từ đó giúp các em biết vận dụng các thể loại vănbản để phục vụ cho học tập và trong đời sống Qua việc tiếp thu những kiến thức củamôn Văn – Tiếng Việt, học sinh vận dụng sáng tạo, tổng hợp để có thể nói hoặc viếttheo những yêu cầu, những đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộcsống đặt ra cho các em.
Thông qua môn Tập làm văn, qua bài làm văn của mình, các em bọc lộ nhữngtri thức, vốn sống tư tưởng, tình cảm của cá nhân Vì thế người giáo viên phải biếtnắm lấy ưu thế này để phát huy những khả năng của các em, đồng thời qua việc rènluyện kĩ năng viết đoạn văn giáo viên có dịp uốn nắn điều chỉnh những lệch trongvốn sống, nhận thức, tư tưởng tình cảm - đặc biệt qua các thể loại văn học mà các
em sẽ học trong chương trình
Trên đây là những lí do, vị trí, vai trò của việc xây dựng đoạn văn cho học sinhTHCS Từ những mặt tích cực, hạn chế trên chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu và xây dựng các bước để rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt hơn
II/ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, vấn đề nghiên cứu, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn chohọc sinh đã đặt ra từ lâu nhưng chưa được quan tâm nhiều do phân môn Tập làm vănchưa được xem là phân môn chính và có nhiều quan niệm khác nhau:
Trước cải cách giáp dục (Từ những năm 1980 trở về trước), phân môn Tập làmvăn thuộc về môn Văn, là bộ phận của môn Văn, quan niệm Tập làm văn giúp chohọc sinh tạo lập được những văn bản văn học
Đến cải cách giáo dục (1980 – 2001), Tập làm văn là một phần của mônTiếngViệt, quan niệm dạy môn này và Tiếng Việt có tính chất như là công cụ để họctốt các môn học khác Làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng văn bản
Trang 3Giai đoạn hiện nay: phân môn Tập làm văn có tính độc lập nhưng có mối quan
hệ trực tiếp đến phần Văn và phần Tiếng Việt
Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn được tích hợp cùng phânmôn Văn và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn mới Các kiểu văn bản của Tậplàm văn chính là trục để xây dựng nội dung, chương trình Ngữ Văn THCS từ nămhọc 2002 – 2003
III/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1
Mục đích
Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm được các thể loại trong chươngtrình tập làm văn ở THCS như Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh,Điều hành Từ đó, giúp học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ chohọc tập, trong đời sống Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựngđoạn văn biểu cảm nói riêng và đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạnvăn dù ngắn hay dài đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức,hướng dẫn cho các em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần: Mở bài,Thân bài, Kết luận
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó Ý chính đó, có thể đứng ở đầuđoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ýchính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thứcnói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếp thuđược qua các môn Văn – Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để có thể nói
và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc sốngđặt ra cho các em
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho họcsinh một số đức tính như lòng nhân ái, tính trung thực, sự kiên trì…Bởi vì môn nàygóp phần phát triển trí tưởng tượng óc sáng tạo, biết phân biệt: đúng, sai, tốt, xấu,phải, trái… Từ đó, nuôi dưỡng tâm hồn học sinh hướng tới cái chân, thiện, mĩ
2
Nhiệm vụ
Trang 4Người giáo viên phải nắm lấy ưu thế của học sinh như những tri thức, vốn sống,
tư tưởng, tình cảm để phát huy những khả năng cao hơn Đồng thời, qua đó uốn nắn,điều chỉnh, hạn chế những lệch lạc trong nhận thức, vốn sống, tư tưởng, tình cảmcủa các em
Củng cố kiến thức Tiếng Việt và Văn học góp phần bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ
để học sinh biết rung động trước cái hay, cái đẹp, hướng các em tới nhu cầu thẩm
mĩ, sáng tạo và biết tôn trọng những giá trị thẩm mĩ khi xây dựng đoạn văn
Là bộ môn khó, đặc biệt yêu cầu kĩ năng càng khó hơn, đòi hỏi chúng ta phảidày công, kiên trì dạy các em Qua đó, hình thành thói quen, kĩ năng phân tích đề,lập dàn ý, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, trình bày, diễn đạt Trong đó, cách viết đoạn,dựng đoạn càng quan trọng trong bước đầu tạo lập viết đoạn, dựng đoạn càng quantrọng trong bước đầu lập văn bản Cũng từ dựng đoạn, nhiệm vụ của giáo viên NgữVăn là phát huy năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giúp các em biết tíchluỹ vốn kiên thức, biết huy động vốn kiến thức, biết đặt ra các vấn đề và giải quyếtcác vấn đề ấy Qua đó, biết trình bày kết quả tư duy của mình một cách rõ ràng, chặtchẽ, có sức thuyết phục trước từng vấn đề, từng kiểu văn bản khi viết đoạn và tronggiao tiếp Là phân môn có tính thực hành cao, nên giáo viên cần cho học sinh đọcnhiều đoạn văn mẫu, viết nhiều đoạn văn để tạo lập văn bản được dễ dàng hơn Đó
là những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của giáo viên Ngữ văn trong bước rènluyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS
IV/ ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Điều tra các đối tượng học sinh, phạm vi nghiên cứu ở một số trường trongHuyện
Đối tượng phần lớn là học sinh khối lớp 7 - bậc THCS
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trước hết, chúng ta phải có cái nhìn khái quát toàn bộ chương trình ở cấpTHCS như sau:
Chương trình Tập làm văn THCS đồng tâm với chương trình Tập làm văn củaTiểu học nhưng ở yêu cầu cao hơn, tiếp tục và hoàn chỉnh chương trình ở THCS, mởrộng các thể văn mới hơn, yêu cầu cao hơn đối với học sinh Chương trình Tập làm
Trang 5văn có mối quan hệ khá rõ ràng: Giữa Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn Để trở thànhthao tác tốt viết đoạn văn, giáo viên hướng dẫn học sinh như cách dùng từ đặt câu vàcao hơn là dựng đoạn Vì vậy, có thể nói học sinh được học và thực hành 15 loại vănbản ở bậc THCS, đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục học lên ở những bậc trên.
1.Phương pháp lí thuyết
Bước đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm quen vớinhững đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài qua các tiết học:
Lí thuyết về đoạn văn Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây dựng đoạn văn,
bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong đoạn văn, viết theo các cách diễndịch, qui nạp, song hành, móc xích …Từ đó, cho học sinh tập viết đoạn văn, có vậndụng lí thuyết về thể loại văn ấy Tuy nhiên, phương pháp lí thuyết không quá nặng
2.Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểucho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến mức tối đa để khuyếnkhích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn Vậy, trong tiết học Tập làm văn màđặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, hướng dẫn các kĩ năng nghiên cứu, tìm hiểu
để vận dụng các kiến thức đã học để dựng đoạn theo đặc điểm thể loại để tạo lập vănbản
3
Phương pháp kiểm tra, khảo sát
Với phương pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn cácthao tác từ lí thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu Từ đó, ta mới đi vàokiểm tra, khảo sát để thấy được sự vận dụng tổng hợp, để sáng tạo văn bản quanhiều bước trong quá trình rèn luyện các kĩ năng Đó là điều kiện để đánh giá họcsinh thông qua bài kiểm tra, bài viết ở lớp (hoặc ở nhà) đòi hỏi phải đánh giá đúngnăng lực của học sinh và đòi hỏi một sự nhạy cảm của thầy trước yêu cầu thực hànhcủa học sinh
4 Phương pháp cố vấn, chuyên gia
Trang 6Đây là những phương pháp khó đối với học sinh Học sinh thường không chú ýđến những cái khó khăn này và cũng không cần hỏi ai những vấn đề cần tháo gỡ,cần đến chuyên gia cố vấn
Mặc dù, mức độ lí thuyết mang tính trừu tượng, việc kiểm tra, đánh giá, cố vấn,chuyên gia, giáo viên giúp học sinh vận dụng kiến thức vào viết văn rõ ràng hơn Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nói chung và viết đoạn văn biểucảm nói riêng giáo viên phải định hướng cho các em biết đối chiếu giữa thực hành
và lí thuyết, đối chiếu kết quả thực hành của mình với yêu cầu chung Nhưng,phương pháp cố vấn, chuyên gia phải được liên hệ một cách chặt chẽ giữa giáo viênvới học sinh
Trên đây là một số các phương pháp nghiên cứu đối với việc rèn luyện các kĩnăng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh THCS
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG A/ LÍ THUYẾT VỀ ĐOẠN VĂN VÀ THỰC TRẠNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU
CẢM CỦA HỌC SINH THCS
I/ LÍ THUYẾT VỀ ĐOẠN VĂN
Như chúng ta đã biết, bài viết được cấu thành bởi các đoạn văn( văn bản) theonhững phương thức và bằng những phương tiện khác nhau Dựng đoạn được triểnkhai từ ý trong dàn bài Có thể Đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và cũng có thể một ý
có nhiều đoạn Trong đoạn văn thường có bố cục ba phần: mở đoạn, phát triển đoạn
và kết đoạn Ở góc độ đặc điểm cấu trúc thì các đoạn văn có thể là đoạn diễn dịch,qui nạp, móc xích, song hành…
Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ yêu cầudiễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sao cho phùhợp với ý của đoạn để hiệu qủa biểu đạt cao hơn, đoạn văn có sức cuốn hút hơn vớingười đọc Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng luyện nói trên lớp Có triển khai
ý thành đoạn cũng mới tiến hành được Đây là những thao tác, những kĩ năng có khithực hiện và rèn luyện đồng thời cùng một lúc
Qua đó, ta có thể hiểu được: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắtđầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng và thường
Trang 7biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành Đoạnvăn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùnglàm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từđồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung kháiquát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạnvăn (hay còn gọi là câu chốt) Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm
rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành…
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết
để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Có nhiều phương tiện liên kết trong đoạnvăn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện
ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng câu nối trong đoạn văn.Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính chỉnhthể cho văn bản
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thời chúngcũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn Mặt khác, lại có nhữngphương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các phươngtiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết, với sự việc được phảnánh và tình huống giao tiếp cụ thể
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh đểphát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn luyện kĩnăng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho chương trình THPT Mặc dù vậy,học sinh ở các trường THCS, phần lớn có khuynh hướng không thích học văn màđặc biệt là phân môn tập làm văn Và vì thế nó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếpthu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em
II/ THỰC TRẠNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM CỦA HỌC SINH THCSCũng bộ môn Ngữ văn, nhưng theo khảo sát, phần lớn các em học phân mônTập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn văn khiến cho giáo viên và họcsinh còn rất lúng túng Thường thì thời lượng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên họcsinh không thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về mặt
Lí thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối: việc rèn kĩ
Trang 8năng viết được tiến hành trong các tiết phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kếtđoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề, một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng
là một văn bản hoàn chỉnh Khi viết còn chưa hiểu kĩ đề bài nên hay bị sai lệch Việcphân phối thời gian, số lượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụthể Cho nên, có nhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài,chủ đề của đoạn văn Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lô gíc và sinhđộng Chưa biết vận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặcnhiều đoạn văn Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán
Phần lớn học sinh chưa biết sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với từng kiểu vănbản Và đặc biệt là phong cách văn bản
Qua Đề kiểm tra chất lượng học kì I - Môn Ngữ Văn - Năm học 2006 - 2007(Đề của Sở giáo dục & Đào tạo Thanh Hoá):
Phần II Tự luận:
Cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh.
Chúng tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh ở các nhà trường thấy rằng :Trên 70% số học sinh chưa biết viết đoạn văn biểu cảm
Số học sinh có khả năng dựng đoạn và sử lí yêu cầu của đề bài trên 21%, số họcsinh đạt giỏi là con số o - một con số đáng báo động trong việc học phân môn Làmvăn hiện nay trong nhà trường THCS
Số liệu cụ thể ở trường THCS Quảng X như sau:
Số liệu cụ thể ở trường THCS Quảng Y:
Trang 9Bài làm của học sinh là kết quả của quá trình tiếp thu lí thuyết và rèn luyện các
kĩ năng viết văn của học sinh và là sự vận dụng tổng hợp các năng lực tư duy, trình
độ, vốn sống, vốn ngôn ngữ và cả những cảm xúc và rung động thẩm mĩ Cho nên,việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh là cả quá trình lâu dài, việc tiến bộ của các
em cũng chậm (không như các môn khoa học tự nhiên) Vì vậy, giáo viên không nênnóng vội mà phải rèn luyện cho học sinh tính kiên trì và giáo viên cũng cần kiên trìkhi dạy cho học sinh Những tình trạng viết đoạn văn ở THCS như trên là do nhiềunguyên nhân
Điều ta cần nói trước là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tư tưởnglập nghiệp của học sinh sau này như thi vào các trường Cao đẳng, Đại học Ngữ văn
ít hơn các môn khác Và điều quan trọng nhất là cơ chế thị trường thực dụng, conngười khô khan, kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đa dạng, nhiều loại hình cuốn húthọc sinh Hơn thế nữa phụ huynh lại định hướng cho con em mình theo khuynhhướng trên
Và ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tập làm vănkhó học, trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏi văn Hơn thế nữanội dung, chương trình trong SGK còn quá tải, trình độ giáo viên chưa đáp ứng, chấtliệu của môn Ngữ văn bị giảm suốt vì đưa nhiều thể loại văn bản Nhật dụng, văn bảnChính luận, văn bản Nghị luận vào, coi nhẹ giảng bình, giáo viên giao nhiều bài tập,khó được điểm cao
Trên đây là tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và nó cũng
có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động Cho nên chúng ta càng quantâm nhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, đặc biệt là dạy một tiết dựngđoạn văn trong văn bản
Trang 10B/ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
I/ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
1 Khái niệm Văn biểu cảm
Văn biểu cảm là văn viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người đọc Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình, bao gồm các thể loại văn học như thơ trữ tình, ca dao trữ tình, tuỳ bút
Tình cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm đẹp thấm nhuần tư tưởng nhân văn sâu sắc.
Ngoài biểu cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, đoạn văn biểu cảm còn sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khơi gợi tình cảm.
( Sách giáo khoa – Ngữ Văn – 7 / Tập I – Trang 73)
2 Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm
2.1 Mỗi đoạn văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu như yêuthiên nhiên, yêu loài vật, yêu con người, yêu thương trường lớp, bạn hữu, yêu giađình, yêu quê hương đất nước, ghét thói tầm thường, độc ác…
2.2 Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ,tượng trưng (một đồ vật, một loài cây cỏ, một danh lam thắng cảnh hay một hiệntượng nào đó) để gửi gắm cảm xúc, ý nghĩ của mình, trang trải nỗi lòng mình mộtcách kín đáo hoặc nồng hậu, mãnh liệt, thiết tha
Ví dụ: Bằng Sơn qua bảo “ Tấm gương” đã lấy tấm gương làm ẩn dụ để ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người của tình bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không nói dối, không nịnh hót hay độc ác với bất cứ ai Đồng thời tác giả chỉ rõ có một gương mặt đẹp quả là hạnh phúc lúc soi gương; nếu có thêm một tâm hồn đẹp đẽ để soi vào tấm gương lương tâm thì hạnh phúc mới thật trọn vẹn”.
(Ngữ Văn – 7 / Tr-84,85)
2.3 Cũng như đoạn văn thuộc các thể loại khác, đoạn văn biểu cảm cũng có bốcục ba phần
Trang 11Mở đoạn : Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian Cảm
xúc ban đầu của người viết
Phát triển đoạn : Biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu sắc
Kết thúc đoạn : Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.
2.4 Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoà quệnvới nhau chặt chẽ Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến bộ, đúngđắn Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm
2.5 Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã qua suy nghĩ, khác với trạngthái, cảm xúc ( biểu hiện ra nét mặt cử chỉ)
2.6 Có hai cách (lối) biểu cảm
Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta… Tácdụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan Điều này thấy
rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm của nhân vật
Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ của nhânvật và tình cảm của người viết
Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau, khôngtách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâu sắc tinh tếhơn
II/ YÊU CẦU CỦA ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong văn biểu cảm cũng có những yêucầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặt hình thức cũng nhưnội dung đoạn văn biểu cảm Từ đó, các em mới có thể viết đoạn (xây dựng đoạn)đúng với yêu cầu Đoạn văn biểu cảm với việc nâng cao năng lực cảm thụ văn họccủa học sinh là những yêu cầu, nội dung liên quan mật thiết với nhau
Về mặt hình thức của đoạn văn :
Yêu cầu trước hết là học sinh phải nắm được dấu hiệu, qui ước khi viết đoạnvăn biểu cảm:
Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống hàng
Trang 12Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn cho các em tìm hiểu đề,xác định ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đến xây dựng câu chủ đề.Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúp học sinh địnhhướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, qui nạp hay cáckiểu cấu trúc khác Đồng thời cũng định hướng cho các em lựa chọn các phép liênkết, phương tiện liên kết, cách dùng từ ngữ cho phù hợp với cảm xúc trong bài viếtcủa mình
Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thể đứng ở cuốiđoạn (theo cấu trúc qui nạp) v.v…Câu chủ đề phải mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắngọn, hàm xúc và thường đủ hai thành phần chính của câu : chủ ngữ và vị ngữ Các câucòn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễn giải, chứng minh, làm rõ hoặc kết luận nhữngcảm xúc đã thể hiện trong câu chủ đề
Các câu trong đoạn văn biểu cảm phải được liên kết với nhau một cách chặt chẽbằng các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ- câu liên kết, hoặc các mối quan
hệ phụ thuộc, không phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài
Đoạn văn phải có sự lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chuẩn mực, giàugiá trị biểu cảm để gọi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết, có sức thuyếtphục, lay động người đọc, người nghe Từ ngữ ấy phải thể hiện được thái độ rõ ràngcủa người viết: đó là tình cảm buồn, vui, yêu ghét, hay thích thú…Có thể biểu cảmtrực tiếp hoặc biểu cảm gián tiếp hoặc kết hợp cả hai lối biểu cảm…
Ví dụ 1 : Em thương con cò trong bài ca dao vì thân phận, vì cảnh ngộ, vì gieo neo mà phải đi ăn đêm Vạc mới đi ăn đêm, “ con cò mà đi ăn đêm” là một nghịch lí đầy bi kịch Bi kịch ấy làm ta rơi lệ khi nghe tiếng kêu thảm thiết của cò:
“Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.”
(Lê Hương Thảo, lớp 6A – Trường PTCS Thổ Trang – Vĩnh Tường – Vĩnh
Phúc Năm học 1994 – 1995)
Ví dụ 2: “ Hình ảnh người dân chài mới đẹp làm sao:
“ Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”
Trang 13Vẻ đẹp của người lao động ở đây là vẻ đẹp khoẻ mạnh và tràn trề sức sống Có
lẽ, biển cả vốn gần gũi thân yêu với họ đã cho họ vẻ đẹp cường tráng, đáng mến ấy”.
(Khánh Vân– Lớp 6 Văn– Trường THCS Trần Phú– Hải Phòng–
Năm học 1993 – 1994)
Về mặt nội dung:
“Đoạn văn biểu cảm thể hiện được các năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúc thẩm mĩ…”
(Trích: Giảng dạy Tập làm văn ở trường THCS – TS Lê Xuân Soan – Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh)
Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để có thể giáo viên vận dụng văn trongnhà trường vào nghiên cứu soạn giảng Tập làm văn, đặc biệt là vận dụng vào các tiếtthực hành Tập làm văn và làm văn trong trường THCS
III/ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM
Rèn các kĩ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảm nói riêng khôngchỉ xuất phát từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tính thực hành tổng hợp cao)trong nhà trường THCS mà còn là trách nhiệm, nhiệm vụ của người thầy giáo trongchương trình thay sách giáo khoa hiện nay Điều quan trọng nhất khi viết đoạn vănbiểu cảm là học sinh nắm vững các thao tác, cách thức trình bày đoạn văn biểu cảm,
để từ các kĩ năng Tập làm văn phát triển thành kĩ xảo, thói quen làm văn
Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứng bằng một
ví dụ cụ thể sau:
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao”:
“Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông soa sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ, Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Trang 14Đêm đêm tưởng giải ngân hà, Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”
Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao Vì vậy, đề văn biểu cảmbao giờ cũng nêu ra được đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm cho bài viết.Xác định rõ các bước làm văn biểu cảm: Tìm hiểu đề, tím ý, lập dàn ý, viết các đoạnvăn mở bài, thân bài, kết bài
Để tiến hành rèn luyện các kĩ năng Tập làm văn, trước hết học sinh phải xácđịnh ý cho đoạn văn
1 Xác định ý cho bài văn biểu cảm.
Giáo viên định hướng cho học sinh xác định các vấn đề sau:
+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên ?
+ Mục đích biểu cảm ?
+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp
+ Tình cảm, cảm xúc phải chân thật, trong sáng có sức thuyết phục
+ Lời văn, hơi văn, mạch văn phải phù hợp, gợi cảm
Trước hết chúng ta hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ở đây là : Bài ca dao.Bài ca dao ấy nói về lòng thương nhớ và tình cảm thuỷ chung của nhân vật trữ tìnhkhi xa quê hương
Hình thành được cảm xúc tình cảm của mình sau khi đọc xong bài ca dao
Lời văn, giọng văn phải bọc lộ cảm xúc, tình cảm chân thành khi đọc hiểu bàidao: Bài ca dao thấm thía bao nỗi buồn thương tha thiết, mong chờ, nhớ trông…Quá trình tìm hiểu đề là quá trình xác định ý cho bài văn biểu cảm ý của bài vănnằm ngay trong từ ngữ, hình ảnh: Đêm qua, đứng bờ ao, trông, buồn trông, buồn trông( mức độ tăng dần), rồi: sao ơi, sao hỡi, tưởng, nhớ ba năm, Đà mòn, dạ chẳng mòn ; trong kết cấu của bài ca dao… Vấn đề là giáo viên tổ chức hướng dẫn như thế
nào để học sinh phát hiện ra các ý chính của bài mà đề yêu cầu Có như vậy việc tìm ý,triển khai ý mới trở thành kĩ năng ở các em Tránh tình trạng khi viết đoạn lại không