ĐẬT VẤN ĐỂ Răng là một bộ phận quan trọng của con người. Răng tham gia vào giai đoạn đầu tiên của quá trình tiêu hoá bằng việc nhai, xé nhỏ và nghiền nát thức ăn, trước khi thức ăn được chuyển xuống dạ dày, ruột và tại đây xảy ra quá trình nhào trộn, tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng. Nhờ quá trình đó mà con người mới tồn tại, khỏe mạnh, hoạt động bình thường, hơn thế nữa hàm răng là một phần trong vẻ đẹp của con người. Vì vậy mà bảo vệ răng miệng là bảo vệ sức khoẻ cho chính bản thân mỗi chúng ta. Các bệnh về răng miệng là những bệnh phổ biến hay mắc phải ởViệt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh này rất cao và đáng chú ý hofn bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi với chi phí điều trị tốn kém. Tại nhiều quốc gia, ngưòi ta coi đây là một bệnh xã hội. Bệnh răng miệng không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây đau, làm mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng tới sức khoẻ, tâm lý và sức lao động của con người. Vì vậy nghiên cứu phòng và điều trị bệnh răng miệng là nhiệm vụ hàng đầu của ngành răng hàm mặt. Tuy bệnh răng miệng có thể xảy ra với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, nhưng cũng rất dễ phòng chống, bởi vì bệnh gắn liền với nhận thức của con người. Vì vậy để phòng chống các bệnh răng miệng có hiệu quả trước hết phải nâng cao nhận thức của mỗi người đối với bệnh răng miệng. Xuất phát từ nhu cầu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tổng quan hoá sinh về bệnh răng miệng và thuốc điều trị Bao gồm các nội dung sau: 1. Tìm hiểu tình hình, xu hướng phát triển trong nước và trên thế giới của các bệnh răng miệng thường gặp (sâu răng và quanh răng). Đi sâu tìm hiểu về mảng bám răng và cao răng, cấu tạo răng, nguyên nhân cơ chế gây bệnh của các bệnh răng miệng thường gặp cũng như mối liên quan giữa răng miệng với toàn thân. 2. Phân tích các thuốc chính dùng trong việc điều trị bệnh răng miệng (Thuốc hoá dược, đông dược và thuốc có nguồn gốc dược liệu). 3. Phân tích việc phòng các bệnh răng miệng và xây dựng phác đồ cho việc dự phòng và điều trị các bệnh răng miệng thường gặp.
Trang 1BỘ YTẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN HỮU TRUNG
TỔNG QUAN HOÁ SINH VỂ BỆNH RĂNG MIỆNG
VÀ THUỐC ĐIỂU TRỊ
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ ĐẠI HỌC NĂM 2001 - 2006)
Người hướng dẫn : GVC Nguyễn Duy Thiệp Nơi thực hiện : Bộ môn Sinh hoá
Trưòtig đại học Dược Hà Nội Thòi gian thực hiện : Tháng 02/2006 - 05/2006
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng đối với bản thân
em Trong những dỏng đầu tiên này, em muốn bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến:
GVC Nguyễn Duy Thiệp
Bộ môn Sinh hoá - Trường Đại học Dược Hà Nội
Là người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới GS.TS Nguyễn Xuân Thắng cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Sinh hóa đã động viên, giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình tiến hành khoá luận.
Cũng nhân dịp này em xin chân thành cẩm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Trường Đại Học Dược Hà Nội đã dạy
dỗ em trong 5 năm học Đại Học.
Em xỉn bày tỏ lòng biêt ơn đến gia đình và người thân của em đã luôn là nguồn động lực cho em trong quá trình học tập.
Và em xin bày tỏ lời cảm ơn đến các bạn bè, những người đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống.
Hà Nội, Ngày 18 tháng 5 năm 2006
Sinh viên NGUYỄN H ữ J TRUNG
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đ ề 1
1 BỆNH RĂNG M IỆN G 2
1.1 Tình hình bệnh răng miệng trên Thế giới và Việt Naiti 2
1.1.1 Tình hình bệnh sâu răng T ! 2
1.1.2 Tình hình bệnh quanh răng 4
1.2 Cấu trúc răng 6
1.2.1 Men răng 6
1.2.2 Ngà răng 7
1.2.3 Tuỷ răng 7
1.2.4 Bộ phận nâng đỡ răng 8
1.3 Mảng bám răng và cao răng 10
1.3.1 Mảng bám răng 10
1.3.2 Cao răng 12
1.4 Các bệnh răng miệng thường gặp 13
1.4.1 Bệnh sâu răng 13
1.4.2 Bệnh quanh răng 18
1.5 Liên quan giữa răng miệng và toàn thân 22
1.5.1 Liên quan giữa bệnh răng miệng vói toàn thân 22
1.5.2 Liên quan giữa bệnh toàn thân với răng miệng 24
2 THUỐC ĐIEU TRỊ BỆNH RÃNG MIỆNG 27
2.1 Đông dược điều trị bệnh răng miệng 27
2.1.1 Các vị thuốc 27
2.1.2 Các bài thuốc 31
2.2 Thuốc có nguồn gốc từ dược liệu điều trị bệnh răng miệng 34
2.2.1 Tinh dầu và hoạt chất chính trong tinh dầu 34
2.2.2 Chế phẩm từ các dược liệu khác 35
2.3 Hoá dược điều trị bệnh răng miệng 36
2.3.1 Thuốc kháng sinh 36
2.3.2 Các chất sát khuẩn 38
2.3.3 Thuốc giảm đau 42
2.3.4 Thuốc an thần gây ngủ 45
2.3.5 Thuốc mê 45
2.3.6 Thuốc tê 46
3 PHÒNG BỆNH RĂNG MIỆNG 48
3.1 Phòng bệnh sâu răng 48
3.1.1 Dự phòng toàn thân 48
3.1.2 Dự phòng tại chỗ 49
Trang 43.1.3 Một số phương pháp phòng chống sâu răng khác 58
3.1.4 Phương hướng phòng bệnh sâu răng cho cộng đồng 58
3.2 Phòng bệnh quanh răng 58
3.3 Xây dựng phác đồ phòng và điều trị bệnh răng miệng 59
4.BÀ N LƯ Ạ N ' ° L I 60
4.1 Bệnh răng miệng 60
4.2 Thuốc điều t r ị 60
4.3 Phưoỉng hướng dự phòng bệnh răng miệng 63
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT L ĩ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Đề xuât 65 Tài liệu tham khảo
Trang 5Chỉ số sâu mất trám răng sữa Tác dụng không mong muốn Thuốc giảm đau ngoại vi Thuốc giảm đau trung ương Thần kinh trung ương Trước Công nguyên : Vùng cao nguyên Trung Bộ : Vùng duyên hải Bắc trung bộ : Vùng duyên hải Nam trung bộ : Vùng núi phía Bắc
: Tổ chức y tế Thế Giới
Trang 6ĐẬT VẤN ĐỂ
Răng là một bộ phận quan trọng của con người Răng tham gia vào giai đoạn đầu tiên của quá trình tiêu hoá bằng việc nhai, xé nhỏ và nghiền nát thức ăn, trước khi thức ăn được chuyển xuống dạ dày, ruột và tại đây xảy ra quá trình nhào trộn, tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng Nhờ quá trình đó mà con người mới tồn tại, khỏe mạnh, hoạt động bình thường, hơn thế nữa hàm răng là một phần trong vẻ đẹp của con người Vì vậy mà bảo vệ răng miệng là bảo vệ sức khoẻ cho chính bản thân mỗi chúng ta
Các bệnh về răng miệng là những bệnh phổ biến hay mắc phải ở Việt Nam
cũng như nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh này rất cao và đáng chú ý hofn bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi với chi phí điều trị tốn kém Tại nhiều quốc gia, ngưòi ta coi đây là một bệnh xã hội
Bệnh răng miệng không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây đau, làm mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng tới sức khoẻ, tâm lý và sức lao động của con người Vì vậy nghiên cứu phòng và điều trị bệnh răng miệng là nhiệm vụ hàng đầu của ngành răng hàm mặt
Tuy bệnh răng miệng có thể xảy ra với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, nhưng cũng rất dễ phòng chống, bởi vì bệnh gắn liền với nhận thức của con người Vì vậy
để phòng chống các bệnh răng miệng có hiệu quả trước hết phải nâng cao nhận thức của mỗi người đối với bệnh răng miệng
Xuất phát từ nhu cầu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tổng quan hoá sinh
về bệnh răng miệng và thuốc điều trị Bao gồm các nội dung sau:
1 Tìm hiểu tình hình, xu hướng phát triển trong nước và trên thế giới của các bệnh răng miệng thường gặp (sâu răng và quanh răng) Đi sâu tìm hiểu về mảng bám răng và cao răng, cấu tạo răng, nguyên nhân cơ chế gây bệnh của các bệnh răng miệng thường gặp cũng như mối liên quan giữa răng miệng với toàn thân
2 Phân tích các thuốc chính dùng trong việc điều trị bệnh răng miệng (Thuốc hoá dược, đông dược và thuốc có nguồn gốc dược liệu)
3 Phân tích việc phòng các bệnh răng miệng và xây dựng phác đồ cho việc dự phòng và điều trị các bệnh răng miệng thường gặp
Trang 71 BỆNH RĂNG MIỆNG
1.1 Tình hình bệnh răng miệng trên Thê giới và Việt Nam
Bệnh răng miệng là bệnh rất dễ mắc phải và ngày càng có xu hướng gia tăng Trong đó bệnh sâu răng và viêm quanh răng là hai bệnh điển hình và phổ biến nhất trong các bệnh vễ răng miệng, vì vậy trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi xin điểm qua tình hình của hai bệnh này trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình bệnh sâu răng
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng phụ thuộc vào chỉ
số SMT ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35-44 như bảng 1 - Phụ lục bảng [76]
> Thời kỳ trước công nguyên:
• 900-600 năm Tr.CN: Khoảng 5% dân số bị sâu răng.
• 200 năm trước và S.CN: Khoảng 7% dân số bị sâu răng
• 1600-1700 năm S.CN: Khoảng 12% dân số bị sâu răng [30]
> Bệnh sáu răng liên quan đến xã hội hiện đại:
Trên thê giói:
Theo xác định của ngân hàng dữ liệu sức khoẻ răng miệng của WHO hiện nay có 2 xu hướng chính của sức khoẻ răng miệng [73]:
• Xu hướng xấu đi cho phần lófn các nước nghèo và nước đang phát triển
Cụ thể: ở những nước đang phát triển (trong đó có nhiều nước trong khu vực)tình trạng sâu răng và chỉ số SMT ở trẻ em còn cao và có xu hướng gia tăng Chỉ số SMT ở một số nước điển hình như: Iran từ 2,4 (1974) lên 4,9 (1976); Maroc từ 2,6 (1960) lên 4,5 (1980) Các nước như Lào, Campuchia, Triều Tiên, Bruney, Philipine chỉ số SMT tuổi 12 từ 2,4 (1980) đến 5,5 (1994) [75] Đây là những nước nghèo không có chương trình Fluor hoá nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn uống không khoa học nên sâu răng ngày càng tăng
• Xu hướng cải thiện ở phần lớn các nước công nghiệp phát triển (SMT trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống còn khoảng 2-4)
Cụ thể: ở các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Canada, Thuỵ Điển,
Mỹ, Phần Lan và các nước Bắc Âu trong những năm 60 - 70 có tỷ lệ sâu răng cao
Trang 8trên 90% dân số, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có chỉ số SMT từ 7,4 - 12 và tình hình sâu răng là rất nghiêm trọng Tuy vậy từ những năm 80 - 90 cho đến nay chỉ số này đã giảm xuống Năm 1997, SMT tuổi 12 của Canada, Nauy, Thuỵ Điển là 1, 2 -
2, 6, Mỹ là 1, 2, Phần Lan và Australia <1,2 [77] Đây là ở nhưng nước công nghiệp tiên tiến, nhà nước coi chương trình Fluor hoá nước uống, thuốc chải răng, giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm nhiều
Tại Singapore chương trình chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ răng miệng được chú ý: Những năm của thập kỷ 60 chỉ số SMT trẻ 12 tuổi là > 3 thì đến tháng 4 năm
1999 chỉ số này <0,4 [64]
Tại Malaysia đã có nhiều dự án trong việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng, như đưa nguồn Fluor vào nguồn nước ăn cho cộng đồng, xây dựng các phòng chăm sóc răng miệng cố định tại các trường tiểu học [68]
Tại Úc, 50% thời gian làm việc của bác sĩ răng miệng dành cho công tác phòng bệnh [5]
Tại Việt Nam:
Từ những năm của thập kỷ 60 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu tình trạng sâu răng ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Dương Hồng (1977): 77% trẻ em 6 tuổi ở Hà Nội và nông thôn bị sâu răng sữa; 30% trẻ em 13 tuổi bị sâu răng vĩnh viễn [3]
Năm 1978 bộ môn RHM Đại học Y Hà Nội thông báo tỷ lệ sâu răng của trẻ
em trên 6 tuổi khoảng 39%; sâu răng sữa của trẻ từ 1 - 5 tuổi là 31,33% [44]
Năm 1981 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở một số tỉnh miền Nam
là 70,49% [22]
Theo kết quả điều tra toàn quốc do hai viện RHM Hà nội và Thành Phố Hồ Chí Minh thực hiện năm 1990 cho thấy bệnh sâu răng và viêm lợi là những bệnh rất
phổ biến ở lứa tuổi học sinh PTCS Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng trung bình ở lứa tuổi
này trên 50% thậm chí có những địa phương trên 90% (Xem bảng 2 - Phụ lục bảng) [29],
Viện RHM Hà Nội phối hợp với viện Nghiên cứu và thống kê sức khoẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong 3 năm (1999-
Trang 92001), thu được một số kết quả bệnh sâu răng như trong bảng 3, 4 - Phụ lục bảng [70].
Theo cuộc khảo sát trên 2000 học sinh tiểu học trong cả nước từ 6 - 11 tuổi thì thấy tỷ lệ trẻ em Việt Nam bị sâu răng sữa rất cao, ở mức 84,9% Trung bình mỗi trẻ em lứa tuổi này có 5,07 răng sữa bị sâu, đặc biệt ở 4 vùng là VNPB, VDHBTB, VDHNTB và VCNTB hầu như răng sữa sâu đều không được điều trị [19]
Tại tỉnh Bắc Cạn tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh lóíp 3 tại 5 trường tiểu học thị
xã Bắc Cạn là 64% và tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 12,3% [34]
ở thành phố Hải Dương tình trạng sâu răng ờ học sinh 12 tuổi khá cao, vào
khoảng 67% [37],
ở người trưởng thành tỷ lệ sâu răng cũng cao, ở VDHBTB có từ 93,2% - 96,3% người trưởng thành bị sâu răng và VDHNTB tỷ lệ này cũng đạt tới 94,6% - 97,8% ở các tỉnh Đồng bằng và ven biển miền Bắc tỷ lệ sâu răng thấp hcm ở Thànhthị và Trung du ở miền Nam cao hơn miền Bắc [16]
Từ kết quả trên cho thấy tình trạng sâu răng có thể gặp ỏ mọi lứa tuổi từ trẻ
em cho đến người lớn ở cả răng sữa và răng vĩnh viễn, gặp ở mọi miền, mọi vùng
trong cả nước nhưng đáng chú ý hơn cả vẫn là với trẻ em vì lứa tuổi này trẻ em thường không có ý thức về vệ sinh răng miệng, nhận thức về sâu răng còn hạn chế, lại thường xuyên tiếp xúc với các chất có khả năng gây sâu răng như đường Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, từ khi có chương trình Nha học đường, trẻ em được chăm sóc răng miệng tốt hơn Cho tới năm 2000, cả nước có trên 1700 điểm Nha học đường cố định tại trường học để chăm sóc răng miệng thường xuyên cho các cháu Tuy vậy, nhìn chung trong cả nước mới chỉ có khoảng 25% trẻ em được chăm sóc răng miệng, còn lại khoảng 13 triệu trẻ em chưa được chăm sóc răng miệng [42]
1.1.2 Tình hình bệnh quanh răng
Bệnh quanh răng là bệnh phổ biến thứ hai trong các bệnh về răng miệng chỉ sau sâu răng Nếu như sâu răng có thể gây mất răng thì bệnh quanh răng mà điển hình là viêm quanh răng có thể gây rụng răng và để lại biến chứng rất nguy hiểm
Trang 10Theo số liệu thu được từ ngân hàng dữ liệu răng miệng toàn cầu của WHO thì lứa tuổi 35 - 44 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với triệu chứng rất điển hình và mức độ trầm trọng hơn so với lứa tuổi trẻ Có trên 70% thanh thiếu niên ở các nưóc mắc bệnh quanh răng và cũng không có sự khác nhau về tỉ lệ viêm quanh răng giữa các nước phát triển và đang phát triển [73].
Tại Việt Nam;
Tại Việt Nam bệnh quanh răng là bệnh rất phổ biến đứng ỏ hàng thứ 2 trong các bệnh về răng miệng chỉ sau sâu răng, ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh quanh răng
từ mức độ nhẹ cho đến nặng
Viện RHM Hà Nội phối hợp với viện nghiên cứu và thống kê sức khoẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong 3 năm (1999- 2001) thu được một số kết quả tình hình bệnh quanh răng như trong bảng 5, 6 - Phụ lục bảng [70]
Theo cuộc điều tra bệnh viêm lợi và viêm quanh răng ở các tỉnh VDHBTB và VDHNTB thu được kết quả như trong bảng 7 - Phụ lục bảng [16]
Theo điều tra năm 1990 của 2 viện RHM Hà Nội và Thành Phố HCM đối với
trẻ em 12 tuổi thì có 98,33% bị viêm lợi trên toàn quốc, ở miền Nam có 6,36% chảy
máu lợi, 91,5% có cao răng [30]
Trong cuộc đánh giá bệnh răng miệng người trưởng thành ở các tỉnh
VDHTB của Trần Đình Hải, tỷ lệ người trưởng thành có tổ chức quanh răng lành mạnh là rất thấp, chỉ ở mức dưới 2,2% [16]
Qua nghiên cứu đánh giá tình trạng quanh răng và mất răng ở người cao tuổi tại khoa RHM bệnh viện Hữu Nghị thì thấy tình trạng vệ sinh răng miệng còn kém, bệnh quanh răng còn chiếm tỷ lệ cao [24]:
■ Viêm lợi vừa và nặng chiếm 75,5% và tăng dần theo tuổi
■ Tmh trạng mất răng: 94% người mất răng từ 1 - 30 chiếc, số răng mất trungbình ở mỗi người là 7,7 chiếc
■ Tình trạng tổ chức quanh răng; Không có người có tổ chức quanh răng lànhmạnh hoàn toàn, 54,2% người có cao răng bị viêm lợi, 45,8% người bị viêm
Trên thế giới:
Trang 11quanh răng trong đó 7,4% người có túi lợi sâu Điều đáng nói đây là tầng lớp cán bộ trung cao cấp, họ có trình độ nhận thức và hiểu biết tương đối cao, có điều kiện kinh tế nhưng tình trạng vệ sinh răng miệng còn kém.
Như vậy theo những số liệu nêu trên chúng ta có thể thấy tình trạng bệnh
quanh răng đang ở mức báo động, có thể xảy ra với mọi đối tượng, mọi tầng lớp
trong xã hội
1.2 Cấu trúc răng
Mỗi chiếc răng gồm 3 phần [3], [13], [21], [22], [60], [63]:
> Thán răng: Phần răng thấy rõ trong hốc miệng, có hình dáng khác nhau tuỳ
theo chức năng của từng loại răng
> Chán răng: Phần răng nằm sâu trong xương hàm.
> Cổ răng: Phần nối tiếp giữa thân răng và chân răng, có lợi bao phủ Lợi nằm
cao hơn cổ răng từ 1 - 2 mm và tạo thành túi lợi Răng có cấu trúc từ ngoài vào trong như hình 1, 2- Phụ lục hình
1.2.1 Men răng
> Khái niệm: Men răng là tổ chức cứng nhất của cơ thể và là tổ chức có tỉ lệ
muối vô cơ cao nhất trong các tổ chức rắn của cơ thể với 95% là muối vô cơ
> Tính chất lý học: Cứng, dòn, trong, cản tia X Men răng phủ thân răng thường dày mỏng không đều, chỗ dày nhất là núm răng (> 1,5 mm), ở vùng
cổ răng men răng mỏng dần và tận cùng bằng một cạnh góc nhọn
> Tính chất hoá học:
Thành phần vô cơ; 95% chủ yếu là apatithydroxy (Caj0(PO4)6(OH)2) và ngoài
ra còn có: MgC03 2% và 1 lượng nhỏ Cl', p-, S04^-, Na+ và
Thành phần hữu cơ: Chiếm 1% chủ yếu là acid amin: histidin, lysine, arginin
> Cấu trúc tổ chức học: Phần vô cơ bao gồm những trụ bao bọc bởi chất hữu
cơ Bên ngoài men răng có phủ 1 lớp hữu cơ: gọi là màng thứ phát
Lúc răng mới mọc, men răng còn non, có tới 30% chất hữu cơ và nước, dần dần chất vô cơ tăng dần, men răng cũng ngấm dần các chất vi lượng chủ yếu là Fluor làm cho apatit chuyển thành fluorapatit
Trang 12Hình dáng và bề dày của men răng được xác định từ trước khi răng mọc Trong đời sống, men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, và
có sự trao đổi về vật lý và hoá học với môi trường trong miệng
> Chức năng: Tham gia vào việc nghiền nát thức ăn và làm đẹp cho con người.
1.2.2 Ngà răng
> Khái niệm: Là một tổ chức chiếm khối lượng chủ yếu ở thân răng, được bao
bọc bởi men răng và xương răng
> Tính chất lý học: Ngà răng ít rắn hơn và chịu giãn hơn men răng, không dòn
và dễ vỡ như men răng
> Tính chất hoá học:
Thành phần chất vô cơ: 70% phosphate 3calci apatat, CaC0 3, Mg'^^ và F" Thành phần hữu cơ và nước; chiếm 30%, thành phần hữu cơ chủ yếu là collagen
> Cấu trúc tổ chức học: Có 2 loại tổ chức học:
Ngà tiên phát: Là lớp ngà tạo nên trong quá trình hình thành răng gồm; ốngngà, ngà gian ống, dây tomes
Ngà thứ phát: Là ngà được hình thành ở giai đoạn răng đã hình thành rồi
> Chức năng: Bao bọc và che trở cho tuỷ răng.
1.2.3 Tuỷ răng
> Khái niệm: Tuỷ răng là một khối tổ chức liên kết mạch máu nằm trong một
cái hốc giữa răng gọi là hốc tuỷ răng
Hốc tuỷ là một khoang nằm trong lòng khối ngà của răng gồm buồng tuỷ và ống tuỷ, là phần chứa tuỷ răng
Tuỷ răng ở buồng tuỷ là tuỷ buồng và tuỷ răng ở ống tuỷ là tuỷ ống, hình thể của hốc tủy tương đối phù họfp với hình thể ngoài của thân răng và chân răng
> Tổ chức học: Gồm có:
■ Thành phần sợi và chất căn bản:
Thành phần sợi: Mô tuỷ có rất nhiều lưới sợi và bó collagen
Trang 13Chất căn bản: Dạng gel, bao lưới sợi và tế bào, chứa nhiều nước, nhiều loại glycosaminoglycan, glucoprotein.
■ Mạch máu; Tuỷ có rất nhiều mạch máu, các mạch máu chính đi vào tuỷ qua lỗ chóp và điều hoà dòng máu được kiểm soát thông qua sự điều hoà co mạch của hệ giao cảm
■ Thần kinh: Các sợi thần kinh cũng đi vào tuỷ qua lỗ chóp cùng với mạch máu và mạch bạch huyết, gồm:
Sợi không Myelin: Là những sợi chạy dọc theo hệ thống thần kinh tự chủ, liên quan trực tiếp đến ống mạch, chi phối cơ trơn của thành mạch và điều hoà sự co mạch
Sợi có Myelin: Ghi nhận cảm giác đau
> Chức năng:
■ Tạo ngà: Biệt hoá lớp tế bào ngoại vi trở thành lớp tế bào ngà
■ Đảm bảo sự trao đổi chuyển hoá trong các tổ chức răng, nhờ lưới mạch máu rất giầu trong tuỷ và vai trò dinh dưỡng của tế bào tạo ngà
> Khái niệm: Lợi là phần niêm mạc miệng biệt hoá ôm cổ răng, một phần chân
răng và xưofng ổ răng
> Cấu trúc: Lợi gồm có lợi tự do và lợi bám dính, đường phân chia giữa 2 phần
là rãnh dưới lợi tự do
■ Lợi tự do: Là phần lợi không dính vào xương ổ răng, ôm sát cổ răng
Nó gồm 2 phần khác nhau về mặt bệnh lý là bờ lợi và nhú lợi Bờ lợi
là thành ngoài của rãnh lợi Nhú lợi là phần che phủ kẽ giữa các răng
■ Lợi dính: Là phần bám dính vào chân răng ở phía trên và mặt ngoài xương ổ răng ở phía dưới, cấu trúc bề mặt sần sùi kiểu da cam
Trang 14> Tổ chức học: Biểu mô lợi được cấu tạo 4 lófp từ nông ra sâu: Lớp đáy, lófp
gai, lớp hạt và lớp song hoá Dinh dưỡng cho lợi là hệ mao mạch đi từ động mạch xương ổ răng toả vào lợi
> Chức năng: Lợi có chức năng bảo vệ răng và ổ răng, giữ răng và thẩm mỹ.
1.2.4.2 Dây chằng vùng quanh răng
> Khái niệm: Là mô liên kết đặc biệt nối liền xương răng với xưofng ổ răng,
chiều dày thay đổi theo tuổi và lực nhai, thông thường dày từ 0,15- 0,35 cm
> Cấu trúc: Gồm những sợi collagen xếp thành từng bó, một đầu bám vào
xương ổ răng, một đầu bám vào xương răng của chân răng, dựa vào hướng đi người ta chia ra thành những nhóm sợi khác nhau gồm: Nhóm cổ răng, nhóm ngang, nhóm chéo, nhóm cuống
> Chức năng: Dây chằng quanh răng có nhiệm vụ giữ cho răng gắn vào xương
ổ răng, đổng thời có chức năng làm vật đệm, làm cho mỗi răng có sự xê dịch nhẹ độc lập với nhau trong khi ăn nhai, giúp lưu thông máu, truyền cảm giác
áp lực và truyền lực để tránh tác dụng có hại của lực nhai đối với răng và quanh răng
1.2.4.3 Xương răng
> Khái niệm: Là tổ chức vô cơ bao phủ ngà chân răng.
> Thành phần hoá học: Gần giống như xương nhưng không có mạch máu và
thần kinh trực tiếp
> Câu trúc: Xương răng có và không có tế bào Hai loại này không khác nhau
về chức phận cũng như bệnh lý Bề dày xương răng khác nhau ở các vùng,
tăng theo tuổi, ở cuống răng dày hơn ở cổ răng
> Chức năng: Cùng với xựơng ổ răng, giữ bề rộng cần thiết cho dây chằng
quanh răng, bảo vệ răng, tham gia sửa chữa một số tổn thương ở ngà chân răng
1.2.4.4 Xương ổ răng
> Khái niệm: Là phần lõm của xương hàm ôm vào chân răng và là mô chống
đỡ quan trọng nhất của răng
9
Trang 15> Cấu tạo: Xưoỉng ổ răng gồm 2 phần:
■ Lá cứng: Là thành trong huyệt răng, là một lá xương mỏng có các lỗ nhỏ để mạch máu và thần kinh đi qua và bề mặt có những bó sợi của dây chằng quanh răng bám vào
■ Tổ chức xương chống đỡ xung quanh huyệt răng
> Thành phần hoá học: 70% chất vô cơ calciphosphat, 30% chất hữu cơ và
nước, 90% thành phần hữu cơ là collagen
> Hoạt động chuyển hoá: Xương ổ răng hoạt động chuyển hoá rất mạnh Có
khả năng phục hồi theo nhu cầu cần thiết
> Chức năng: Giữ răng chắc trong xương hàm, truyền và phân tán lực nhai.
1.3 Mảng bám răng và cao răng
1.3.1 Mảng bám răng
Mảng bám răng là một sản phẩm có thành phần cấu tạo vô cùng phức tạp, nó gồm các vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí Được hình thành dần trong suốt quá trình thay
đổi môi trường ờ vùng răng miệng Acid và những độc tố do vi khuẩn tạo ra trong
mảng bám răng là nguyên nhâri đầu tiên của hai bệnh răng miệng phổ biến nhất: Bệnh sâu răng và bệnh quanh răng Một mảng bám răng già có thể dày từ 50 - 2000 (fxm) và gồm 70% vi khuẩn và 30% chất trung gian (chất tựa hữu cơ) Mảng bám răng thường tập trung ở cổ răng và kẽ răng nơi mà bàn chải không với tới được [13],[51], [53], [61]
1.3.1.1 Các giai đoạn hình thành mảng bám răng
Sự hình thành mảng bám răng trải qua 2 giai đoạn [13], [61]:
■ Giai đoạn 1: Thành lập màng vô khuẩn.
Màng vô khuẩn có nguồn gốc từ nước bọt do men carbohydrase hay men neuronidase của vi khuẩn tác động lên acid sialic của Muxin nước bọt làm cho lắng đọng kết tủa trên bề mặt răng và hình thành một chất tựa (màng
vô khuẩn), giai đoạn này thường kéo dài 2 giờ
Trang 16■ Giai đoạn 2: Thành lập mảng bám răng.
Sau khi mảng tựa được thành lập trên răng, có nhiều loại vi khuẩn trong miệng đến sinh sôi, nẩy nở và tiết ra chất dextran làm cho mảng bám răng dính chặt vào tổ chức men răng hơn, vi khuẩn còn sử dụng trực tiếp các phân tử đường để liên kết với nhau trong mảng bám răng, từ đó phát triển dần kích thước của chúng (Xem hình 3)
1.3.1.2 Cấu trúc vi thể của mảng bám răng
Là một màng vi khuẩn, tập trung tất cả các loại vi khuẩn sống và chết trong một chất tựa hữu cơ có nguồn gốc vô khuẩn Nó có nguồn gốc vi khuẩn giầu về polysaccarid và glucoprotein với tỷ lệ 70% là vi khuẩn (cả kỵ khí và hiếu khí), 30%
là chất tựa hữu cơ hay còn gọi là chất gian bào Trung bình: Imm^ mảng bám có 10**
vi khuẩn [13], [51], [62]
Trong mảng bám răng, vi khuẩn lớn iên và phát triển tạo lên những sản phẩm men, độc tố làm ảnh hưởng và tác động tới môi trưòmg xung quanh Vi khuẩn tiết ra men endotoxin biến protid trong thức ăn ngấm ở mảng bám răng trở thành những gốc NH3 làm môi trường mảng bám răng kiềm tính, tạo điều kiện thuận lợi
cho mảng bám răng vôi hoá trở thành cao răng Chủng vi khuẩn thấy ở mảng bám
răng là những chủng vi khuẩn thông thường thấy trong hốc miệng Chủng vi khuẩn thấy ở mảng bám răng còn non và đã già không giống nhau [62 J
Meiir<ĩfHj —
ì\
Hình 3: Mảng bám răng và cao răng Hình 4: Răng ố vàng do hút thuốc lá lâu năm
1.3.1.3 Phân loại mảng bám răng
Có nhiều cách phân ioại, phân loại theo vị trí thì có hai loại mảng bám răng;
■ Mảng bám răng trên lợi: Lúc đầu mảng bám răng trên lợi mới hình thành
có rất ít vi khuẩn, có nhiều tế bào bong của niêm mạc miệng Đầu tiên
11
Trang 1790% là cầu khuẩn Gr(+), 10% là cầu khuẩn Gr(-), dần dần tỷ lệ thay đổi Nhìn chung mảng bám răng trên lợi là vi khuẩn hiếu khí.
■ Mảng bám răng dưới lợi: Khi lợi phù nề do phản ứng viêm làm cho bờ lợi phủ đi một phần mảng bám răng trên lợi, vi khuản yếm khí ngày càng tăng, đánh răng lúc này không hiệu quả Mảng bám răng dưới lợi có nhiều liên cầu khuẩn chiếm khoảng 25%, 25% các loại Actinomices, 25% trực khuẩn G(-) (Purobacterium, Bacteroides) và xoắn trùng Spirochete Nhìn chung mảng bám răng dưới lợi có nhiều vi khuẩn yếm khí và vi khuẩn G(-), về phần sinh bệnh học thì mảng bám răng dưới lợi nguy hiểm hơn mảng bám răng trên lợi [13], [61]
1.3.2 Cao răng
1.3.2.1 Sự hình thành cao răng
Cao răng, đá răng hay vôi răng là mảng bám răng bị khoáng hoá, nó được
hình thành bỏfi sự thấm đẫm dung dịch các ion Ca?* và P0^4' của nước bọt Nếu nước
bọt có độ nhớt kém, những mắt xích Muco polysaccarid ngắn, môi trường kiềm của nước bọt và thức ăn có nhiều đạm và Vitamin A thúc đẩy việc hình thành cao răng Ngược lại Vitamin c ngăn cản việc hình thành cao răng [3], [7], [61]
Cao răng có màu từ vàng nhạt đến nâu đen tuỳ thuộc vào chất cặn lắng và chất dính tạo thành (Xem hình 3) ở những người hút thuốc lá thì cao răng nhuộm màu vàng nâu gây mất thẫm mỹ (Xem hình 4) Cao răng cứng nhưng xốp và có bề mặt gồ ghề nên cao răng là chỗ tập trung của mảng bám răng và mảng bám răng thành lập đều đặn trên bề mặt cao răng thô nhám rất khó lấy đi Chính bề mặt gồ gề của mảng bám răng là nơi lý tưởng cho vi khuẩn phát triển và sinh độc tố Nếu để tồn tại lâu, cao răng phát triển dần về kích thước, lan rộng xuống phía dưới cuống răng, đẩy lợi tụt xuống, dần dần gây bệnh quanh răng, rụng răng [13], [51]
Tuy nhiên cao răng không thể thành lập nếu mảng bám răng được lấy đi ít nhất 24h một lần Khi cao răng được thành lập, chỉ có nhân viên nha khoa mới lấy đi được Răng cần được làm sạch cao răng 3 - 6 tháng một lần để phòng bệnh quanh răng [3], [7], [13], [51], [61],
Trang 18Cao răng được cấu tạo bởi 2 thành phần [7]:
■ Thành phần hiĩu cơ: Gồm các vi khuẩn và các chất gian khuẩn
■ Thành phần vô cơ: Được cấu tạo bởi CaCOj, Ca3(P04)2 và Mg3(P04)2
1.3.2.2 Phân loại cao răng
Theo vị trí, phân thành cao răng trên lợi và cao răng dưới lợi [3], [7], [61]
■ Cao răng trên lợi: Nhìn thấy được mầu xám hoặc nâu xám (ở những người nghiện thuốc lá) hoặc vàng, mền Thường xuất hiện ở những răng cạnh lỗ tuyến nước bọt; Hàm trên mặt ngoài răng 6, 7 và hàm dưới mặt trong nhóm răng cửa Nó còn ở phía trên các răng không ăn nhai và bề mặt các răng giả
■ Cao răng dưói lợi: Nhìn thấy khi lợi đã bong ra khỏi cổ răng, nếu khối lượng lớn nó làm cho lợi bong ra ta nhìn thấy không cần tách lợi, mầu xám, bám chắc vào răng, có thể nhìn thấy qua lợi do mầu xám ánh ra.Yếu tố gây bệnh của cao răng trong bệnh nha chu là do mảng vi khuẩn trên các bề mặt cao răng Cũng như mảng bám răng dưới lọi, cao răng dưới lợi là nguy hiểm trong sự phá huỷ tổ chức quanh răng
1.4 Các bệnh răng miệng thưòtig gặp
Trang 19> Nguyên nhân
Do sâu răng đã xuất hiện từ lâu đời nên đã có nhiều tác giả nghiên cứu nguyên nhân sâu răng Nguyên nhân sâu răng gồm có 3 yếu tố: Đường, vi khuẩn trong miệng và răng (gồm men răng và nước bọt)
Vi khuẩn gây sâu răng tồn tại trong khoang miệng, nhưng chủ yếu chúng tập trung trên mảng bám răng và cao răng Trong số những vi khuẩn trên mảng bám răng và cao răng thì người ta đã chú ý tới hai loại vi khuẩn là streptococcus mutans
và Lactobacillus vì nó trực tiếp lên men đường thành acid, acid và độc tố của chúng phá huỷ men răng và làm tổn thương tổ chức khoáng của răng để tạo thành lỗ sâu gây sâu răng Khi sâu răng xẩy ra thì cả 3 yếu tố trên phải cùng tồn tại, nếu thiếu 1 trong 3 yếu tố đó thì sâu răng sẽ không được hình thành Vì thế việc phòng bệnh sâu răng sẽ phải xoay quanh 3 yếu tố trên [3], [5], [13], [18], [52]
> Cơ chê bệnh sinh
4- Thuyết hoá học của Miller
Miller là người đầu tiên dùng phương pháp thực nghiệm để giải thích cơ chế bệnh sinh của sâu răng, ông đem ngâm ruột bánh mì, đường vào nước bọt rồi ngậm răng vào, acid sinh ra tiêu apatit ông đưa ra thuyết pH thấp dễ gây sâu răng
4- Thuyết của Davies
Theo Davies thì cơ chế sâu răng được trình bày như sau:
, Vi khuẩn lên men ,Glucid - m ^ Acid
Acid + răng Tiêu calci (ở men răng)
Acid sinh ra từ sự lên men chất đường do vi khuẩn sẽ gây mất một số chất khoáng tạo nên cấu trúc của răng và gây sâu răng Acid thấm qua mảng bám răng đến bề mặt răng làm hoà tan các chất khoáng ở men răng và ngà răng [3]
Từ trước năm 1970 người ta còn quan niệm sâu răng là một tổn thương không thể phục hồi Giải thích bệnh sinh sâu răng người ta chú ý nhiều đến chất đường và
vi khuẩn streptococcus Mutans và giải thích bệnh sinh sâu răng bằng sơ đồ KEY như hình 6 - Phụ lục hình Theo sơ đồ KEY việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào
Trang 20chế độ ăn hạn chế đường và tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, song kết quả phòng bệnh sâu răng vẫn bị hạn chế [18].
Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ căn nguyên bệnh sâu răng và giải thích bằng sơ đồ WHITE như hình 7 - Phụ lục hình, thay thế vòng tròn của sơ đồ KEY
(chất đưèmg) bằng vòng tròn chất nền (Subtrate) và nhấn mạnh vai trò của nước bọt (chất trung hoà - Baffers) và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng, ở pH= 5,8 -ỉ-7,1, với pH này thì có tính kháng khuẩn và làm trôi mảng bám Nước bọt có tác dụng ngăn sự gắn kết của vi khuẩn với răng, ngăn quá trình sâu răng Ngày nay người ta nhận thấy nếu tốc độ dòng chảy của nước bọt kém cũng đóng vai trò làm tăng tỷ lệ mắc bệnh sâu răng Ngoài ra trong bệnh sinh của sâu răng, người ta cũng không thể không nhắc đến vai trò của Fluor vì Fluor kết hợp với hydroxydapatit của men răng thành fluorapatat cứng hơn, acid khó tấn công hơn nên làm giảm sâu răng [18], [71],
Người ta có thể tóm tắt cơ chế bệnh học sâu răng bằng hai quá trình hủy khoáng và tái khoáng Mỗi quá trình đều do một số yếu tố thúc đẩy Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng:
Các yếu tô' gáy mất ẩn định làm sâu răng
Các yếu tố bảo vệ chống lại sâu răng
Mảng bám răng: vi khuẩn (kiểm soát được) Nước bọt (kích thích)
Chế độ ăn đường nhiều lần (kiểm soát)
Thiếu nước bọt hay nước bọt acid
Acid từ dạ đày tràn lên miệng
Trang 21Năm 1995 Hội nha khoa Hoa Kỳ đã đưa ra khái niệm sâu răng là bệnh nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ
đồ với 3 vòng tròn của yếu tố: Vật chủ (Răng: men răng, ngà răng, xương răng), môi trường (thức ăn có khả năng lên men chứa Carbohydrate), tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là streptococcus Mutans và Lactobacillus) và bệnh lý là sâu răng (gồm sâu ởthân răng và sâu ở chân răng) như hình 8- phụ lục hình [5], [18]
> Phân loại
Có nhiều cách phân loại sâu răng Phân loại sâu răng tuỳ theo mức độ tổnthương Theo cách phân loại này sâu răng được chia làm 2 loại [3]:
Sâu men (S1): Đây là thể sâu răng rất khó phát hiện cho dù sâu răng bắt đầu
từ men răng Ngày nay nếu phát hiện thấy tổn thương sâu men chỉ cần bồi gel Fluor sau một thời gian, tổn thưoỉng được khôi phục hoàn toàn Nhưng đây là giai đoạn mà bệnh nhân rất khó nhận ra bởi vì bệnh sâu răng có tốc độ phát triển chậm và không để lại dấu hiệu nào đặc biệt
Sâu ngà: Tuỳ theo vị trí lỗ sâu có sâu ngà nông (S2) và sâu ngà sâu (S3) Dấu
hiệu của sâu ngà là đau buốt do kích thích chua, ngọt, lạnh, nóng nhưng hết kích thích là hết đau Đây là dấu hiệu cơ năng chung cho (S2) và (S3)
Sự khác nhau chính giữa sâu ngà nông và sâu cho nhiều sâu của lỗ sâu nếu tổn thương sâu < 2mm là (S2) và 2 - 4 mm là (S3)
> Dấu hiệu
Dấu hiệu dễ nhận thấy là xuất hiện lỗ hổng trền bề mặt răng Bệnh nhân nào cũng có thể phát hiện được dấu hiệu này Nhưng tiếc là khi phát hiện được thì bệnh
đã tiến triển được một thời gian dài Khi thấy chất trắng trên lâm sàng thì sâu răng
đã tới đường men ngà Khi lỗ sâu còn nông thì người bệnh không thấy đau, chỉ khi
lỗ sâu lớn ăn vào ngà răng thì đau với cường độ nhẹ Đặc biệt là khi kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt, đau do lạnh nhiều hơn do nóng Nhưng ngừng kích thích, đau sẽ ngưng [3], [52]
> Diễn biến
Bình thường bệnh sâu răng có tốc độ phát triển chậm từ 2 đến 4 năm để ăn sâu
Trang 22từ bề mặt lớp men răng đến ngà răng Khoảng 6 tháng đến 1 năm ( hoặc 2 năm đầu ) bệnh tiến triển chậm không tạo thành lỗ trên mặt răng nên bệnh nhân không nhận ra[52].
Vi khuẩn sinh sản ở mảng bám răng tác động lên chất đường của thức ãn
trong miệng tạo ra acid và quá trình sâu bắt đầu Men răng là tổ chức cứng bao phủ ngoài cùng nên men răng sẽ bị acid phá huỷ trước tiên Lúc đầu men răng mới bị huỷ hoại rất ít nên có thể điều trị khỏi bằng cách dùng Fluor và tẩy sạch mảng bám răng bằng cách chải răng Sau đó sâu răng lan đến phần ngà mềm hơn và làm thành một lỗ sâu Giai đoạn này muốn điều trị phải trám răng Khi sâu răng vào đến tủy răng nó có thể tạo một u hạt ở chóp răng [3], [13], [52]
> Hậu quả
Nếu để bệnh tiếp tục phát triển thì sâu răng vào đến tủy răng, nó gây viêm tuỷ răng tạo nên cơn đau thậm chí rất đau, không xác định được là đau răng nào, đau thường chỉ xác định được một khu vực chung chung Sâu răng có thể tạo ra một uhạt ở chóp chân răng, u hạt là một tổ chức gồm mủ và vi khuẩn có thể gây biến
chứng, sưng nề làm biến dạng khuôn mặt, khó ăn nhai, khó ngủ yên Điều trị ờ giai
đoạn này bằng cách chữa tuỷ khá tốn kém Nếu không điều trị hoặc tuỷ không thể điều trị được chỉ còn cách nhổ bỏ răng Nếu tiếp tục để phát triển không điều trị thì tuỷ chết và từ bệnh sâu răng sẽ bước sang giai đọan viêm quanh cuống răng, rụng răng, viêm xương răng Nên không thể coi thường bệnh sâu răng [13], [52]
> Điều trị
Nếu được phát hiện sóm khi lỗ sâu chưa xuất hiện hoặc sâu răng chưa vào tới ngà răng thì bệnh sâu răng có thể ngăn chặn được bởi chính người bệnh mà không phải tốn kém gì Có ba cách chủ yếu chữa sâu răng giai đoạn sớm (sâu men):
■ Vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách
■ Hạn chế thức ăn chứa đường
■ Sử dụng dung dịch keo Fluor ở chỗ răng sâu Phương pháp này có tácdụng rất nhanh và hiệu quả trong phục hồi cấu trúc của răng trở lạibình thường vì Fluor ở dạng dung dịch này có nồng đô^ao-hỡa so với
Trang 23Fluor trong kem đánh răng,
ở giai đoạn muộn của bệnh sâu răng tlỊiì cách phổ biến nhất là hàn răng Trong một số trường hợp sâu răng nặng không hàn được phải nhổ răng [52]
1.4.2 Bệnh quanh răng
Bệnh quanh răng là bệnh của tổ chức qucỊnh răng, có nguyên nhân và cơ chế phức tạp Bệnh có tính chất xã hội với tỷ lệ mắc bệnh rất cao Đây là một bệnh mãn tính thường tái phát thành đợt Bệnh gồm 2 q^á trình: Tổn thương viêm và tổn thương thoái hoá, trong đó tổn thương chính là tổn thương viêm Tuỳ theo mức độ viêm tổ chức quanh răng mà chia ra 2 bệnh chíịnh là viêm lợi và viêm quanh răng [40], [62], [78]
1.4.2.1 Phân loại bệnh quanh răng
Có nhiều cách phân loại nhưng hiện nay người t|a thường phân loại dựa theo yếu tố bệnh căn và quá trình bệnh lý, bao gồm [5], [66];
■ Viêm lợi: Là viêm phần lợi trên xuơng ổ răng do bất cứ nguyên nhânnào
l, ngoài phần lợi còn phá huỷ các
và xương răng
i hoá các tổ chức quanh răng mà
chức quanh răng do hậu quả mất
■ Viêm quanh răng: Là viêm lan rộn
dây chằng quanh răng, xương ổ rănị
■ Hư quanh răng: Là hiện tượng thoí
không có hiện tượng viêm tiên phát
■ Teo vùng quanh răng: Là tiêu các t
Trang 24> Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân, nhưng hay gặp nhất là do vi khuẩn
trong mảng bám răng hoặc cao răng tồn tại lâu trong miệng Vi khuẩn tồn tại càng lâu, mức độ nghiêm trọng mà chúng gây ra càng lớn Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác:
■ Nguyên nhân tại chỗ: Vệ sinh răng miệng kém, răng mọc lệch lạc
■ Nguyên nhân toàn thân hoặc ảnh hưởng của nội tiết; Dậy thì, thai nghén, kinh nguyệt, tác nhân hoá học hoặc dị ứng thuốc
> Tiến triển: Nếu bệnh nhân vệ sinh răng miệng tốt và chữa trị kịp thời, lợi sẽ
hết viêm và trở lại bình thường Nếu không điều trị triệt để, bệnh dễ tái phát,
bị viêm mạn tính và có không ít trường hợp tiến triển tới viêm quanh răng nếu quá trình viêm mạn tính và lan sâu xuống tổ chức quanh răng
> Điều trị: Chống chỉ định lấy cao răng, mảng bám răng trong giai đoạn viêm
cấp và ở giai đoạn này, cần chữa trị tại chỗ, bơm rửa sạch bằng nước oxy già
3 - 6% hoặc tím gential 5% rồi chấm vào vùng viêm các thuốc làm săn niêm mạc như gential 1 - 2% ở viêm lợi loét hoại tử có thể dùng AgNƠ3 1 - 5% chấm vào chỗ loét, sau 1 - 2 ngày lấy cao răng và mảng bám răng
Thể khác chủ yếu là điều trị chỗ lấy cao răng, mảng bám răng, vệ sinh răng miệng, dùng nước súc miệng có tính chất sát khuẩn và đánh răng
Toàn thân; Kháng sinh liệu pháp, Vitamin liệu pháp
1.4.2.3 Bệnh viêm quanh răng
Đặc điểm: Viêm lợi mạn tính có túi quanh răng, có tiêu xương ổ răng và bệnh phát triển mạn tính với những đợt cấp hay bán cấp, thường gặp ở người lớn
■ Sự đáp ứng của cá thể: Đây là đáp ứng miễn dịch của từng cá thể Sự
19
Trang 25khởi động của nó có thể dẫn tới hiện tượng tự phá huỷ.
Sự khởi phát bệnh quanh răng phụ thuộc vào 2 yếu tố chính là vi khuẩn trong mảng bám răng tác động tại chỗ và theo sự khác nhau trong đáp ứng miễn dịch của
cơ thể, cùng một số lượng mảng bám răng có thể gây ra những mức độ viêm quanh
răng khác nhau ở những cá thể khác nhau.
■ Các yếu tố khác vói vai trò làm bệnh nặng thêm:
Phanh môi bám cao Các bệnh toàn thân Yếu tố nội tiết: Dậy thì, thai nghén Bệnh nhân ĐTĐ, stress, hút thuốc lá
> Cơ chế bệnh sình:
Tác động trực tiếp: Các vi khuẩn có mặt trên mảng bám răng một mặt sinh ra
các men chuyển hoá đường và đạm thành các sản phẩm có khả năng thay đổi pH ở mảng bám răng, từ đó tác động lên các muối vô cơ của nước bọt gây lắng đọng calci tạo thành cao răng, chính mảng bám răng và cao răng thường xuyên gây kích thích lợi, gây hiện tượng viêm lợi, viêm quanh răng, mặt khác các vi khuẩn trong mảng bám răng còn sinh ra các men gây phá huỷ mô, cụ thể:
■ Actinobacillus Actinomycetecomitans (aa): Là cầu khuẩn Gr(-), yếmkhí sản sinh ra độc tố với bạch cầu đa nhân trung tính và đơn nhân,men collagenase làm tiêu dây chằng, ức chế đại thực bào, phá huỷlysosom của thực bào dẫn đến tiêu xương ổ răng, làm cho tổ chức quanh răng bị phá huỷ sớm và nhanh
■ Bacteroides; Là trực khuẩn G(-), yếm khí, vỏ của nó che trở chống lại
sự thực bào, chất lipopolysaccarid của nó gây tiêu xương
■ Capnocytophase; Là trực khuẩn G(-), gây tiêu xương ổ răng
■ Fusobacterium nucleatum: Là trực khuẩn G(-), yếm khí, sinh ra memCollagenase làm tiêu dây chằng
■ Spirochete: Xoắn trùng, thường gặp trong viêm lợi loét, hoại tử Sự có mặt của nó có lẽ là thứ phát với viêm nhưng nó làm tổn thương nhiều thành phần của tế bào chống đỡ của cá thể
Trang 26Tác động gián tiếp: Do tính kháng nguyên của mảng vi khuẩn Những sản
phẩm của vi khuẩn, độc tố và những kháng nguyên khuyếch tán qua biểu mô lợi kết hợp với tổ chức quanh răng, tạo nên những phức hợp kháng nguyên Với cơ chế bảo
vệ thông qua kháng thể của cơ thể làm tổn thương tổ chức quanh răng [61], [62]
> Diễn biến từ viêm lợi đến viêm quanh răng:
Khi viêm lợi không được quan tâm điều trị thì sẽ phát triển thành bệnh viêm quanh răng, đến lúc này bệnh không chỉ đơn thuần là sưng và chảy máu lợi nữa
mà lợi sẽ dần dần tụt khỏi răng, tạo nên những túi lợi sâu, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và làm trầm trọng thêm mức độ của bệnh, hơn thế nữa nếu bệnh không được quan tâm đúng mức thì xương và dây chằng quanh răng bị tiêu huỷ dần làm cho răng không có chỗ tựa, cuối cùng lung lay và rụng (Xem hình 9)
r
Hình 9: Bình thường viêm lợi > Viêm quanh răng trầm trọng.
Quá trình phát triển của bệnh từ viêm lợi sang viêm quanh răng rồi rụng sảy
ra chậm (vài năm) nhưng hầu như không có dấu hiệu đau đớn nào vì thế mà thông thường người bệnh không nhận thức được tình trạng răng miệng của mình
Một điều nguy hiểm nữa với bệnh nhân viêm quanh răng là nguy cơ sâu ở
chân răng, lý do là khi lợi tụt xuống để lộ cổ răng được bao bọc bỏi một lớp xương răng mỏng và mềm hofn so vói men răng vì vậy mà nó dễ bị tiêu huỷ bởi acid của vi khuẩn tạo nên lỗ sâu răng [47],
> Dấu hiệu
■ Hôi miệng
■ Lợi sưng, đỏ, chảy máu
■ Lợi co hở cổ và chân răng
■ Tiêu xương ổ răng
■ Răng lung lay và di chuyển [5], [47]
> Biến Chứng: Nếu bệnh không được điều trị sẽ biến chứng và gây mất răng
hàng loạt Nếu được điều trị kịp thời bệnh sẽ ổn định và phục hồi chức năng
21
Trang 27ăn nhai Nhưng ở những người viêm quanh răng nặng , kèm theo bệnh toàn
thân (như ĐTĐ) thì tiên lượng xấu, khó giữ răng, cụ thể:
■ Túi mủ phát triển thành áp xe quanh răng, có thể khu trú ở quanh răngmột hoặc nhiều răng, cần phải dẫn lưu ống mủ
■ Viêm tuỷ ngược dòng do nhiễm trùng từ túi quanh răng lan tói cuống răng
và vào tuỷ răng
■ Viêm mô tế bào, viêm xoang hàm [5]
> Điều trị: Là một phức hợp các biện pháp điều trị không có biện pháp điều trị
đặc hiệu nào gồm;
■ Điều trị khởi đầu: Loại trừ kích thích tại chỗ như; Lấy cao răng, mảng bám răng, chỉnh sửa các sai sót trong điều trị phục hình như hàn thừa, kênh, nhổ các răng và chân răng sâu đã mất chức năng
■ Điều trị phẫu thuật: Điều trị viêm lợi, túi mủ quanh răng bằng bảo tồn , phẫu thuật và phục hồi lại những răng đã mất
■ Điều trị duy trì; Gồm có:
Vệ sinh răng miệng tốt và thường xuyên
Khám định kỳ răng miệng, lấy cao răng, mảng bám răng (nếu có), đồng thời kiểm soát các yếu tố gây bệnh
^ Kháng sinh liệu pháp: Viêm quanh răng là một bệnh nhiễm
trùng nên cần điều trị bằng thuốc kháng sinh [41]
1.5 Liên quan giữa răng miệng và toàn thân
Cơ thể là một khối thống nhất Giữa các cơ quan trong cơ thể khi hoạt động đều có sự phối hợp qua lại với nhau Khi bệnh lý xuất hiện ở một số cơ quan thì ít nhiều ảnh hưởng tới một số cơ quan khác Bệnh răng miệng cũng như bệnh lý ở các
cơ quan khác đều không tách rời qui luật trên [31], [54], [78]
1.5.1 Liên quan giữa bệnh răng miệng với toàn thân
Tuy còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau về ổ nhiễm khuẩn khu trú tại răng gây biểu hiện bệnh lý ở các cơ quan khác, song đa số các tác giả đều lưu ý tới ổ nhiễm khuẩn tiềm tàng ở răng là nguyên nhân của một hội chứng bệnh lý toàn thân
Trang 281.5.1.1 Bệnh tim mạch
ở đây vai trò của ổ nhiễm khuẩn răng đã được khẳng định, mọi bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh hoặc mắc phải đều có thể là đối tượng bị thêm nhiễm vi khuẩn nhất là nhiễm khuẩn tiềm tàng ở răng, chiếm vị trí hàng đầu
Vincent đã nghiên cứu trên 161 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn xác định đường vào là 88/ 161 chiếm 55% trong đó đường vào do răng chiếm 27%
J.Car đã xác định viêm nội tâm mạc bán cấp do nhóm streptocoques chiếm
ưu thế có nguồn gốc ở đường tiêu hoá, đường vào do răng chiếm 24,3% cao nhất so với các đường vào khác được xác định
Giáo sư Phạm Gia Khải cùng đồng sự đã nghiên cứu và xác định có 7,1% viêm nội tâm mạc bán cấp đường vào do răng sau đường tiêm chích ma tuý [31]
1.5.1.2 Sốt kéo dài (>15 ngày)
Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân là bệnh khó chuẩn đoán và điều trị Nó có thể do nhiều nguyên nhân như viêm nội tâm mạc, thương hàm, lao kê, chỉ khi đứng trước một trình trạng sốt kéo dài đơn độc, các xét nghiệm không nói lên được điều gì, việc điều trị bằng các thuốc thông thường không có kết quả thì cần phải khám ổ nhiễm khuẩn khu trú bí mật, nhất là ở răng miệng [31]
1.5.1.3 Các biểu hiện thần kinh
Vi khuẩn có thể đi qua đường bạch huyết từ những ổ nhiễm khuẩn ở răng miệng ảnh hưởng tới thần kinh
J.vicent đã xác định một số trường hợp liệt mặt, nhức đầu, chóng mặt đã khỏi, sau khi chữa răng [31]
1.5.1.4 Các biểu hiện ở da lông
Các biểu hiện ở da như đau, tăng nhiệt độ nơi đau, đỏ da mặt, rụng lông, tăng tiết các tuyến nước bọt, mồ hôi đều có thể là nguyên nhân từ ổ nhiễm khuẩn ở răng miệng [31]
1.5.1.5 Các biểu hiện ở mắt
Tỷ lệ gặp các tổn thương mắt do nguyên nhân răng rất khác nhau; Các tổn
23
Trang 29thương đó có thể là những biểu hiện phản xạ, nhiễm khuẩn mắt do kế cận, viêm kết mạc, giác mạc và tổn thương võng mạc [31],
Viêm xoang hàm do bệnh răng : Viêm xoang hàm là tình trạng viêm niêm
mạc xoang không có tổn thương xương, bệnh thường gặp ở người lớn do nhiễm
khuẩn quanh cuống răng, nang chân răng làm mủ vỡ vào xoang, biến chứng của răng nanh hoặc răng khôn mọc ngầm hoặc tai biến do nhổ răng [31], 54]
1.5.2 Liên quan giữa bệnh toàn thân với răng miệng
1.5.2.1 Các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm vỉrus
> Một số bệnh như sốt phát ban, thuỷ đậu và cúm gây ra niêm mạc môi khô, lưỡi nứt nẻ và nếu sốt cao gây tổn thương niêm mạc, chảy máu lợi
> Nhiễm HIV: Hay gặp bệnh ung thư và bệnh nhiễm khuẩn
■ Bệnh ung thư; Kaposi sarcoma là loại K hay gặp nhất trong AIDS, tổn thương là những nốt màu đỏ hoặc ở vòng miệng và lợi thường nổi cục, nếu để phát triển các tổn thương thường loét, chảy máu u hạch không Hodgkin hay gặp trên lợi với biểu hiện một vùng rát không đau, có loét hoặc không
■ Bệnh nhiễm khuẩn:
Viêm lợi HN: Bờ lợi đỏ, lan ra rìa, chảy máu tự nhiên, loét và hoại tử
lợi, ít đáp ứng với thuốc điều trị
Viêm quanh răng HN: Xung huyết và loét ở lợi, dây chằng bị phá huỷ
rất nhanh, xương ổ răng tiêu nhanh, răng lung lay, chữa không hiệu
Trang 30quả và bệnh nhân rất đau [31], [78].
1.5.2.2 Các bệnh về máu
> Các bệnh về dòng hồng cầu (chủ yếu là thiếu máu): Gây viêm miệng
> Các bệnh về dòng bạch cầu (bạch cầu cấp và mạn): Gây sưng lợi, chảy máu
tự nhiên, lợi sưng có màu đỏ sẫm và niêm mạc miệng loét hoại tử
> Các bệnh do dòng tiểu cầu: Xuất huyết ở niêm mạc miệng, chảy máu tự nhiên ở lợi.
> Bệnh ưa chảy máu: Làm niêm mạc miệng, lợi dễ chảy máu
> Cẩn thận khi nhổ răng hay làm phẫu thuật về răng cho bệnh nhân bị bệnh chảy máu [31]
1.5.2.3 Các bệnh nội tiết
> Thiểu năng tuyến giáp; Răng mọc chậm, tổ chức cứng của răng yếu, dễ gãy xương
> Cường tuyến giáp làm răng dễ vỡ
> Rối loạn tuyến cận giáp làm rối loại chuyển hoá calci ảnh hưcmg đến độ cứng chắc của răng
> Thiểu năng tuyến yên: Làm cho răng nhỏ
> Tuyến sinh dục nữ:
■ Thời kỳ có kinh: Tăng tiết nước bọt, viêm lợi, viêm niêm mạc miệng
■ Thời kỳ có thai; Răng dễ vỡ do thiếu calci, dễ bị viêm lợi, thai nghén
■ Thời kỳ mãn kinh: Dễ bị khô miệng, viêm lợi, viêm quanh răng
> Đái tháo đưòmg: Gây viêm quanh răng, lợi viêm đỏ, phì đại, loét lợi, có nhiều cao răng
> Addison: Có vết xạm ở niêm mạc miệng, lợi lở [31]
1.5.2.4 Bệnh tai mũi họng
Từ viêm xoang, viêm amydal có thể gây ra bệnh lý ở răng và mô xung quanh
1.5.2.5 Bệnh đưòìig tiêu hoá
> Chứng trào ngược thực quản làm cho pH ở miệng thấp gây sâu răng
> Viêm ruột thường kèm theo đợt viêm lợi [31]
25
Trang 31■ Những người làm kẹo, đường, thường bị sâu răng nhiều.
■ Những người tiếp xúc với acid dễ bị sâu răng lan rộng [31]
> Thiếu vi chất calciyýluor
Làm ảnh hưcmg đến chất lượng men răng, ngà răng dễ dẫn đến sâu răng
> Thiếu vitamin
■ Thiếu vitamin c gây chảy máu lợi, viêm lợi, răng lung lay
■ Thiếu vitamin D biến dạng xương hàm, răng mọc chậm, tổ chức cứng của răng thiếu vững chắc
■ Thiếu vitamin BI gây rối loạn chuyển hoá Albumin làm giảm mức độ vững chắc của răng
■ Thiếu vitamin K dễ chảy máu [31]
Trang 322 THUỐC ĐIỂU TRỊ BỆNH RÃNG MIỆNG
2.1 Đông dược điều trị bệnh răng miệng
2.1.1 Các vị thuốc
2.1.1.1 Bạch chỉ
> Tên khoa học: Rađix Angelica dahurica Rễ phơi hay sấy khô của cây bạch chỉ {Angelica dahurica benth et Hook), họ Hoa tán (Apiaceae).
> Thành phần hóa học chính: Tinh dầu, coumarin.
> Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Trừ phong giảm đau: Trị chứng đầu phong thống (gặp gió thì đau), thiên đầu thống (đau đầu do thần kinh), đau răng
■ Dùng làm thuốc cầm máu: Chữa chảy máu chân răng
> Liều dùng: 5-lOg dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, chia làm nhiều lần
uống, mỗi lần l-2g [10], [27]
2.1.1.2 Bồ kết
> Tên khoa học: Pructus Gleditschia australis Quả chín, phoi khô của cây bổ kết {Gleditsia australis Hemsl), họ Đậu ịpabaceae).
> Thành phần hóa học chính: Saponintriterpen và Aavonoid.
> Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Chữa nhức răng, sâu răng, chốc đầu, rụng tóc
■ Thông khiếu, sát trùng làm cho hắt hơi để chữa trúng phong, cấm khẩu, phong tê, sáng mắt
■ Tiêu đờm, chữa ho
■ Chữa lỵ, bí đại tiện
> Liều dùng và cách dùng: 1,0 - l,5g dưới dạng thuốc bột, sao vàng để dùng
hoặc thuốc sắc [27]
2.1.1.3 Cốt toái bổ
> Tên khoa học: Zhyzoma Drynaria íortunei Thân rễ khô của cây cốt toái bổ
27
Trang 33{Drynaria fortunei J.Sm), họ Dương xỉ ( Polypodiaceae).
> Thành phần hóa học: Có hesperidin và tinh bột.
^ Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Bổ thận, trị đau xương, dập xương, bong gân
■ Hành huyết, phá huyết ứ
> Liều dùng cách dùng: 6-12g/ngày: Thuốc sắc hay ngâm rượu.
■ Để chữa răng đau do thận hư thì cốt toái bổ tán nhỏ, cho vào bầu dục lợn, nướng chín mà ăn
■ Để chữa chảy máu chân răng: Dùng bột cốt toái bổ xát nhẹ vào chân răng
■ Để chữa sâu răng: cốt toái bổ và nhũ tương hai vị bằng nhau tán nhỏ nhét vào khe răng
■ Để chống viêm giảm đau do sưng lợi răng: Bạch chỉ, kinh giới, phòng phong, thạch cao sống: sắc uống [10], [27]
2.1.1.4 Muối ăn
> Tên khoa học: Natrium chloridum Crudum.
> Thành phần hóa học chính: Natri clorua, muối calci, Magie Sulfat, sắt.
> Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Chữa nhiệt kết trong ruột và dạ dày, táo bón, đau răng, răng lung lay,lợi lở, đau mắt đỏ
■ Cổ họng sưng đỏ, chữa ho cảm
> Liều dùng: 1 - 3g/ngày [27].
2.1.1.5 Ong đen
> Tên khoa học: Xylocopa dissiniles thuộc họ Ong (Apidae).
> Thành phần hóa học: Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
> Công dụng theo y học cổ truyền: Thanh nhiệt, tả hỏa khử phong chữa sâu
răng, miệng lở loét, đau cổ họng, trẻ con kinh phong
> Liều dùng: 2- 4 con, tán nhỏ uống [27].
Trang 342.1.1.6 Tê tân
> Tên khoa học: Ascarum Sieboldii Arỉstolochiaceae (họ Mộc thông)
> Thành phần hóa học chính: Tinh dầu
> Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Tán phong hàn, hành thuỷ khí, thông khiếu dùng trong trường hợp phong hàn, phong thấp, đau đầu, đau tê
■ Chữa đau răng, hôi miệng, lở mồm, lở lưỡi, gây tê tại chỗ
■ Chữa cảm lạnh, ngạt mũi, bí mồ hôi, huyết ứ
> Liều dùng: 1 - 4g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu, thuốc bột hoặc viên thường phối hợp với các vị thuốc khác
■ Trị đau răng: Tế tân lOg và thạch cao: lOg ngâm trong lOOml rượu, dùng rượu này ngậm mỏi miệng thì nhổ đi
■ Chữa hôi miệng: Ngậm tế tân [10], [27], [43]
2.1.1.7 Xương rồng
> Tên khoa học: Euphobia antiquarum Euphobiaceae (họ Thầu dầu).
> Thành phần hóa học chính: Saponin, acid hữu cơ.
> Công dụng theo y học cổ truyền:
■ Nhựa xương rồng: Chữa đau bụng, tẩy, tháo nước
■ Dùng ngoài: Chữa đau răng, thuốc sát trùng diệt sâu bọ
> Cách dùng chữa đau răng: giã nát và ngậm [27].
Chú ý: Cây có chất độc trong nhựa xương rồng, nên không để bắn vào mắt.
2.1.1.8 Long não hương
> Tên khoa học: Borneol - Camphor còn gọi là Băng phiến, Mai hoa băng phiến, Mai phiến, Từ bi , được chế từ gỗ cây Long não hương (Duỵoba lanops arimatica Dỉptexro carpaceae), cây Đại bi hay Từ bi, ịblumea balsamiỷera Asteraceae) Họ cúc, hoặc bằng phương pháp tổng hợp hóa học.
> Thành phần hóa học chính: Chủ yếu là chất borneol.
> Công dụng theo y học cổ truyền: Thông khiếu, tan uất hỏa, tan màng mắt,
sáng mắt, chữa đau bụng, đau ngực, ho lâu ngày, ngạt mũi, đau cổ họng, cấm
29
Trang 35khẩu, đau răng.
> Liều dùng: 0,1 - 0,2g/ngày, chia làm nhiều lần, dưới dạng thuốc bột [27],
[43]
2.1.1.9 Các vỊ thuốc khác
Tên vị thuốc Liều dùng - cách dùng Công dụng
(Trong bệnh răng miệng)
Cải xoang Ngày uống 60-100g rau tươi ép nước Chữa cam răng
Cát cánh Cát cánh, hổi hương tán nhỏ trộn đều
bôi vào nơi cam răng đã rửa sạch
Chữa cam răng Chữa hôi miệng
Độc hoạt 3-6g/ ngày, thuốc sắc hay ngâm rượu Chữa đau răng
Quỷ trâm thảo Lấy hoa ngâm rượu (1/5) rồi ngậm Chữa đau răng
Hùng hoàng Cho vào quả táo đen bỏ nhân nướng
cháy thành than, tán, bôi chỗ vào đau
Chữa cam răng
Bạch lựu Vỏ rễ và vỏ thân làm thuốc ngậm Chữa đau răng
Thanh đại Thanh đại, phèn chua, hồng hoàng,
long não hương, tán nhỏ, tất cả tán nhỏ, rửa sạch chỗ lợi viêm, bôi vào
Chữa viêm lợi Chảy máu lợi, răng
Thăng ma Sắc với nước ngậm trong miệng Chữa đau răng
Hành Sắc nước hoặc ép lấy nước uống Chữa đau răng
Xương khô Ngâm trong lOOml cồn rồi ngậm Chữa đau răng
Trang 362.1.2 Các bài thuốc
2.1.2.1 Đại thừa khí thang
> Thành phần: Đại hoàng 12g, Hậu phác 15g, Chỉ thực 12g, Mang tiêu 9g
> Công năng: Hạ mạnh nhiệt kết.
> Chủ trị: Đại tiện không thông, đầy bụng, ấn bụng thấy đau, sốt cao, đổ mồ hôi nhiều ở chân tay, miệng khát.
> Giải thích bài thuốc: Chủ yếu là để hàn hạ, bài thuốc phối hợp có tác dụng
mạnh mẽ tống hết nhiệt kết ra ngoài
> Bàn luận: Ngày nay bài thuốc được dùng để điều trị chứng: Tắc ruột, sỏi
đường tiết niệu, viêm quanh răng cấp, loét miệng, viêm amydal
> Cách dùng: sắc lấy nước uống [15].
2.1.2.2 Đại hoàng phụ tử thang
> Thành phần: Đại hoàng 9g, Phụ tử 12g, Tế tân 3g.
> Công năng: ô n dương tán hàn, tả kết hành trệ.
> Chủ trị: Hàn tích lý thực, bụng đau tiện bí, đau nửa dưới sưòỉn, sốt, tay chân
buốt lạnh, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch khẩn huyền
> Giải thích bài thuốc: Bài thuốc sử dụng cái cay nóng của phụ tử, ôn dưoỉng
để đuổi hàn, trợ giúp tế tân trừ hàn để tàn kết Đại hoàng; Tẩy rửa tràng vị, tả trừ tích trệ Tính vị của đại hoàng tuy thuộc khổ hàn, nhưng phối hợp với các
vị đại nhiệt cay tán là Phụ tử, Tế tấn, ắt chế ngự được tính hàn mà vẫn có tính tẩu mã Ba vị thuốc trên phối ngũ, làm ấm dương, đuổi lạnh để tán kết, thông tiện để trừ tích
> Bàn luận: Ngày nay bài thuốc được dùng để trị tắc ruột viêm ruột thừa, sỏi
mật, tinh hoàn sưng đau, giun chui ống mật nhỏ, đau răng
> Cách dùng: sắc để lấy nước uống [15].
31
Trang 372.1.2.3 Điều vỊ thừa khí thang
> Thành phần: Đại hoàng 12g, Mang tiêu 12g, Chích cam thảo 6g
> Công năng: Hoãn hạ nhiệt kết.
> Chủ trị: Bệnh vị tràng táo nhiệt, sốt cao, miệng khát, bứt dứt, răng miệng hầu
họng sưng đau, miệng lưỡi lở loét, hôi miệng
> Giải thích bài thuốc:
■ Đại hoàng: Khổ, hàn, tả nhiệt thông tiện, dọn sạch tràng vị, làm quân
■ Mang tiêu; Mặn, lạnh, làm mềm thức cứng, nhuận tràng, ích khídưỡng vị, làm tá
■ Cam thảo chích: Điều vị, làm sứ
> Bàn luận: Ngày nay bài thuốc được dùng để điều trị viêm tuyến tuỵ cấp, sốt
cao không rõ nguyên nhân, viêm quanh răng, chảy máu cam
> Cách dùng: sắc lấy nước uống [15].
2.1.2.4 Ngưu bàng giải cơ thang
> Thành phần:
Ngưu bàng tử: lOg Bạc hà: 6g
Kinh giới: 6g Liên kiều: lOg
Thạch hộc: 12g Huyền sâm; lOg
Hạ khô thảo: 12g
> Công năng: Sơ phong thanh nhiệt, mát huyết tiêu thũng.
> Chủ trịĩ Phong nhiệt đau răng, đầu mặt phong nhiệt, chứng biểu nhiệt, ung
nhọt bên ngoài, đau sưng tấy đỏ cục bộ, tiểu vàng miệng khát
> Giải thích bài thuốc: Chủ dược là Ngưu bàng tử: Cay, tán phong nhiệt ở đầu
mặt; Bạc hà, Kinh giới phát hãn giải biểu; Liên kiều thanh nhiệt giải độc tán kết tiêu ung; Đan bì, Sơn chi, Hạ khô thảo tả hỏa mát huyết, tán huyết; Huyền sâm tả hoả giải độc; phối với Thạch hộc, tư âm thanh nhiệt
> Bàn luận: Ngày nay bài thuốc được dùng để điều trị chứng quai bị, tiết thũng
vùng đầu mặt, đau răng
> Cách dùng', sắc lấy nước uống [15].
Trang 382.1.2.5 Băng bằng tán
> Thành phần: Băng phiến l,5g, Chu sa l ,8g, Huyền minh phấn 15g, Bằng sa 15g
> Công năng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, khỏi đau, khử chỗ hoại tử, sinh cơ.
> Chủ trị: Yết hầu, răng miệng đau mới hoặc đã lâu ngày, họng đau nóng.
> Giải thích bài thuốc: Bài thuốc có:
■ Bằng sa: Mát không độc, vị ngọt có thể thanh nhiệt tán kết tiêu sưng sát trùng, trừ gét bẩn, hút chất ẩm
■ Huyền minh phấn: Tính hàn, không độc, thanh nhiệt tán kết, làm mềm chỗ rắn, tiêu sưng, vẫn dùng làm thuốc sạch miệng
■ Tá dược là Băng phiến giải trừ uất nhiệt hoả độc, sát trùng hết đau; Chu sa thanh hoả nhiệt độc, lại khử chỗ thối, loét
Các thuốc phối hợp: Giải hoả độc, tiêu sưng đau có mục đích làm giảm đauloét
> Bàn luận: Ngày nay bài thuốc này hay dùng để điều trị các bệnh viêm niêm
mạc xoang miệng, viêm Amydal cấp, viêm họng cấp, viêm quanh răng, sưng
mủ vùng lợi, lở miệng tái phát, loét xoang miệng
> Cách dùng: Tất cả nghiền bột cực mịn, xoa chỗ bệnh, có thể xoa 5 - 6
lần/ngày [15]
2.1.2.6 Các bài thuốc khác
Tên bài thuốc Thành phần-Dạng thuốc Chủ tri
Bạch chỉ thang 1 [33] - Bạch chỉ, thạch cao, tri mẫu - Trị đau răng
Bach chỉ vi phong thang
[33]
- Bạch chỉ, cương tằm, mạn kinh, chích thảo, đương quy, sài
hồ, ma hoàng, cát cánh, khương hoạt, thăng ma, cao bản, thương truật
Cát căn thang 4 [33] - Cam thảo, xích phục linh, cát
Trang 39Sài cát giải cơ thang [15]
- Sài hồ, cam thảo, cát căn, hoang cầm, bạch chỉ, thược dược, cát cánh, sinh khưoỉng, đại táo, thạch cao, chi mẫu, tế tân, hoàng liên
- Dạng nước sắc
- Chứng cảm mạo, cúm
- Đau lợi, răng do phong hoả
- Dạng nước sắc
- Trong trường hợp thận hư gây đau răng,chảy máu chân răng, răng lung lay
Thăng ma cát căn thang
2.2 Thuốc có nguồn gốc từ dược liệu điều trị bệnh răng miệng
2.2.1 Tinh dầu và hoạt chất chính trong tinh dầu
Tinh dầu là sản phẩm được sử dụng nhiều nhất trong Y học dân gian.Tính chất của tinh dầu: Dễ bay hơi, đặc biệt là khi có hơi nước Hoạt tính của tinh dầu cũng rất thay đổi [43];
Trang 402.2.1.2 Eugenol
> Nguồn gốc: Được điều chế từ tinh dầu đinh hương (Aỉtheroỉeum caryophylli) được chiết xuất từ cây đinh hương ịsyzygium aromatỉcum Myrtaceae) và tinh dầu hương nhu trắng (Aetherolum actmi) được chiết xuất từ cây hương nhu trắng ịodmum gratissi mum lamiaceae).
> Thành phần: Trong tinh dầu đinh hương có đến 80 - 85% là eugenol và
trong tinh dầu hương nhu trắng có đến 30 -45% eugenol
> Tác dụng: Sát khuẩn, giảm đau.
> Công dụng và Liều dùng:
■ Trộn với bột oxyd kẽm để tạo thành bột nhão eugenat là một xi măng hàn tạm lỗ sâu hay hàn lót lỗ hàn, có tác dụng diệt khuẩn, giảm đau, bột nhão eugenat còn được sử dụng để chụp tủy răng
■ Eugenol trộn với bột kẽm oxyd dạng sền sệt, được dùng làm chất hàn ống tuỷ và trong thành phần của nhiều loại bột nhão hàn ống tuỷ khác
■ Eugenol trộn với bột kẽm oxyd và colophan (tùng hương) để làm bột dẻo đắp sau phẫu thuật lợi
■ Dung dịch Eugenol: Có thể dùng chấm tại chỗ trong điều trị viêm huyệt răng và viêm lợi [6], [26], [32], [58]
2.2.2 Chê phẩm từ các dược liệu khác
2.2.2.1 Nước sắc vỏ cây đại
> Công dụng: Nước sắc vỏ cây đại ịplumeria accutiỷolia Apocynaceae) dùng
để điều trị bệnh viêm quanh răng [25]
35