1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996 2000

48 596 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐE Trong mấy thập niên vừa qua cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Ngành dược cũng đã đạt được những thành tựu to lớn, hàng loạt các loại thuốc mới được nghiên cứu và đưa vào sản xuất thành công đã góp phần hạn chế nhiều bệnh dịch lớn trên thế giới, nhiều bệnh hiểm nghèo đã từng bước được chữa khỏi. Việc phát minh ra KS là một thành tựu quan trọng của nền y học thế giới. Nó đã đem lại vũ khí duy nhất chống lại các bệnh nhiễm khuẩn mà trước đó loài người bó tay. Ngày nay đã có khoảng 8000 loại KS được nghiên cứu và khoảng 300 loại trong số đó được đưa vào áp dụng điều trị 8. Với một số lượng KS lớn như vậy nhưng đáng tiếc là con người vẫn chưa kiểm soát được hoàn toàn bệnh nhiễm khuẩn mà còn đang đứng trước hiểm hoạ vi khuẩn kháng KS lan rộng khắp toàn cầu. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên lại chính là do con người quá lạm dụng KS. KS được sử dụng bất hợp lý ở khắp mọi nơi trên thế giới, cả ở những nước đang phát triển và những nước phát triển. Tại Việt Nam, việc sử dụng KS còn khá tuỳ tiện, hiện tượng lạm dụng KS diễn ra khá phổ biến do kiến thức của người dân còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường đã tạo ra một số thói quen trong trong chỉ định dùng thuốc KS và người bệnh tự dùng KS đã dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng lan rộng. Một thực trạng đáng lo ngại là “phải mất 10 năm mới đưa ra thị trường được một loại KS thế hệ mới, thế mà chỉ qua vài tháng sử dụng lâm sàng nó đã bị vô hiệu hoớ. do vi khuẩn kháng thuốc “21. Trước thực trạng trên đây đòi hỏi các thầy thuốc, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu cần xây dựng chiến lược sử dụng KS an toàn, hợp lý. Có như vậy chúng ta mới ngăn chặn được tình trạng kháng KS, nâng cao hiệu lực điều trị của các loại KS mà chúng ta đang sử dụng. 1

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC • • Dược • HÀ NỘI

NGUYỄN TRUNG HÀ

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬDỤNG KHÁNG SINH VÀ THEO DÕI PHẢN ÚNG c ó HẠI CỦA KHÁNG SINH TẠI

BỆNH VIỆN XANH PÔN TỪNẢM 1996 - 2000.

Khoá luận tốt nghiệp Dược sĩ đại học

Khoá 51 (1996-2001)

Người hướng dẫn : Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương

Dược sĩ Nguyễn Thị Phương Châm

Trang 2

hỊ llỉỉllb 'ỉmỊr> -OP) ĩttnu - lnt(ỤKJ£ ipiìHỊ£\ ịlj£ỳ ìi*ftìib ịỊj ĩ i f 'ì»iỊ£^

-:tpf ’HÌS mn tto ịtKỊ into Ị (if ÍHKỊ lỊin tiỊỊ irm p Jẽne Hỉ£j

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

1.2 Tổng số BN điều trị tại BVXP từ năm 1996-2000 19

2.1 Một số loại kháng sinh được sử dụng tại BVXP

Trang 6

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐE

Trong mấy thập niên vừa qua cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật Ngành dược cũng đã đạt được những thành tựu to lớn, hàng loạt các loại thuốc mới được nghiên cứu và đưa vào sản xuất thành công đã góp phần hạn chế nhiều bệnh dịch lớn trên thế giới, nhiều bệnh hiểm nghèo đã từng bước được chữa khỏi

Việc phát minh ra KS là một thành tựu quan trọng của nền y học thế giới Nó đã đem lại vũ khí duy nhất chống lại các bệnh nhiễm khuẩn mà trước

đó loài người bó tay Ngày nay đã có khoảng 8000 loại KS được nghiên cứu và khoảng 300 loại trong số đó được đưa vào áp dụng điều trị [8] Với một số lượng KS lớn như vậy nhưng đáng tiếc là con người vẫn chưa kiểm soát được hoàn toàn bệnh nhiễm khuẩn mà còn đang đứng trước hiểm hoạ vi khuẩn kháng KS lan rộng khắp toàn cầu Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên lại chính là do con người quá lạm dụng KS KS được sử dụng bất hợp lý ở khắp mọi nơi trên thế giới, cả ở những nước đang phát triển và những nước phát triển

Tại Việt Nam, việc sử dụng KS còn khá tuỳ tiện, hiện tượng lạm dụng

KS diễn ra khá phổ biến do kiến thức của người dân còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường đã tạo ra một số thói quen trong trong chỉ định dùng thuốc KS và người bệnh tự dùng KS đã dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng lan rộng Một thực trạng đáng lo ngại là “phải mất 10 năm mới đưa ra thị trường được một loại KS thế hệ mới, thế mà chỉ qua vài tháng sử dụng lâm sàng nó đã bị vô hiệu hoớ do vi khuẩn kháng thuốc “[21]

Trước thực trạng trên đây đòi hỏi các thầy thuốc, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu cần xây dựng chiến lược sử dụng KS an toàn, hợp lý Có như vậy chúng ta mới ngăn chặn được tình trạng kháng KS, nâng cao hiệu lực điều

Trang 7

Để góp phần đánh giá tình hình sử dụng KS tại Bệnh viện chúng tôi tiến hành đề tài:

“Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện Xanh-Pôn từ năm 1996-2000”

Với hai mục tiêu sau đây:

♦ Tìm hiểu thực trạng sử dụng KS tại Bệnh viện Xanh-Pôn từ năm 1996-2000

♦ Theo dõi các phản ứng có hại của kháng sinh tại Bệnh viện Xanh-Pôn từ năm 1996-2000

Trang 8

1.2 Phân loại kháng sinh.

Theo cấu tạo hoá học kháng sinh được chia thành các nhóm sau[ 13,19 ]:

* Các p- lactam.

+ Các Penicillin: Penicillin V, Penicillin G

+ Các Cephalosporin: Cefotaxim, Ceftriaxon, Cefaloject

+ Các Carbapenem: Imipenem, Acid olivanic

+ Các Monobactam: Aztreonam, Tigemonam

+ Các chất ức chế |3- lactamase

* Các Aminosid.

+ Dẫn chất Streptidin: Streptomycin, Dihydrostreptomycin

Trang 9

+ Các Macrolid: Erythromycin

+ Lincosamid: Lincomycin, Clindamycin

* Các Quinolon: Acid Nalidixic, Ciprofloxacin

2.1 Trên thê giới.

Trong nền y học hiện đại, kháng sinh là nhóm thuốc quan trọng nhất

Sự phát hiện tình cờ ra Penicillium notatum của Alexander Fleming năm 1929

là nền tảng cho sự phát triển của kháng sinh hiện đại Kể từ đó người ta đã nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong điều trị rất nhiều nhóm kháng sinh khác nhau Có một số loại kháng sinh đã tổng hợp được bằng con đường hoá học như Chloramphenicol Nếu như ở đầu những năm 50 của thế kỷ này người

ta chỉ biết 3-4 kháng sinh (penicillin, streptomycin, chloramphenicol) [7]; thì đến đầu thập niên 80, thị trường kháng sinh đã có khoảng trên 50 loại penicillin; 70 loại cephalosporin; 12 loại Tetracyclin; 8 loại Aminoglycosid; 1 loại Monobactam; 3 loại Carbapenem; 9 loại Macrolid và các fluoroquinolon [10] Nhiều kháng sinh ra đời đã giúp cho việc điều trị nhiễm khuẩn hiệu quả hơn, tình trạng thiếu thuốc trong khi điều trị dần dần được khắc phục

Tuy nhiên, với số lượng kháng sinh lớn như vậy, song lại thiếu một hệ thống thông tin đầy đủ từ trên xuống dưới Bên cạnh đó, một số nhà sản xuất

vì mục đích lợi nhuận đã đưa ra những thông tin thiếu chính xác, không đầy

đủ về sản phẩm của mình Điều đó làm cho tình trạng lạm dụng kháng sinh, sử

dụng kháng sinh không cần thiết diễn ra phổ biến hơn, đặc biệt là ở những

vùng mà kiến thức y học của nhân dân và thầy thuốc còn nhiều hạn chế Tiến

sĩ Zulian Davies, trường Đại học British Columbia đã nhận xét rằng: “Trong

Trang 10

vòng 50 năm qua đã có hàng tỷ liều kháng sinh đổ vào môi trường Thế giới ngày nay đang đắm mình trong một dung dịch kháng sinh loãng” [21].

Ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Canada việc sử dụng kháng sinh được quy định rất chặt chẽ Ví dụ như : phải có đơn của thầy thuốc mới được cấp và bán kháng sinh; hay có quy định chặt chẽ các loại kháng sinh dùng trong Bệnh viện và kháng sinh bán tại các hiệu thuốc [6]

Mặc dù vậy nhưng hiện tượng lạm dụng kháng sinh vẫn xảy ra Theo một số nhà nghiên cứu tại Mỹ và Canada đã thống kê 50% số đơn thuốc kê cho bệnh nhân ngoại trú là không cần thiết [7] Cũng theo kết quả của cuộc điều tra khác tại Mỹ cho thấy 61% đơn thuốc dùng Vancomycin không đúng chỉ định [18]

Ở Châu Âu, Pháp và Italia là 2 quốc gia có thị trường thuốc kháng sinh lớn nhất, chiếm khoảng 10% thị trường thuốc Trong đó trẻ em lại giữ mức tiêu thụ cao nhất bởi lẽ thày thuốc muốn điều trị bệnh nhanh nhất theo yêu cầu của khách hàng [9,20]

Ở các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ khá cao trong mô hình bệnh tật Điều này dẫn tới việc sử dụng kháng sinh chiếm một

tỷ lệ đáng kể trong chi phí về thuốc Nó được coi là nhóm sản phẩm lớn nhất trong chi dùng thuốc ở các nước đang phát triển và chiếm khoảng 20% thị phần thuốc [8]

Nhìn chung, kháng sinh được sử dụng rất tuỳ tiện và còn nhiều bất hợp

lý Điển hình như ở Senegan, 38% bệnh nhân điều trị được chỉ định kháng sinh tiêm trong khi dùng đường uống vẫn có hiệu quả [32] Còn tại Kthmadu,

sinh không cần thiết cho bệnh ỉa chảy cấp Trong khi đó tại Camiri có tới 92% người lớn và 40% trẻ em bị ỉa chảy cấp nhận được kháng sinh không phù hợp liều và thời gian điều trị hầu hết là quá thấp [7]

Trang 11

Các thầy thuốc đã chỉ định thường xuyên các kháng sinh mới và coi kháng sinh phổ rộng như là các thuốc chữa bách bệnh để làm hài lòng bệnh nhân và để đạt hiệu quả tức thì Chính điều này đã gây lãng phí trong điều trị

và làm tăng hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Tình trạng tự sử dụng kháng sinh hay sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định đang trở thành vấn đề có tính chất thòi sự Theo một thông báo của WHO hiện nay trên thế giới có khoảng 1/5 số người ốm sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định, thậm chí phản lại các chỉ định chuyên môn [30] Theo báo cáo nghiên cứu thống kê ở Buchana, Đài Loan thì có tới 70-90% bệnh nhân tự điều trị cho mình bằng kháng sinh [32] Ổ Trung Quốc, qua nghiên cứu 100 trường hợp dùng kháng sinh trong bệnh viện thì chỉ có 59% sử dụng đúng chỉ định [8]

Cũng theo kết quả của một cuộc điều tra khác ở Mêxico, khi phỏng vấn

1659 bà mẹ thì thấy rằng 27% số người được hỏi trả lời dùng kháng sinh khi

bị mắc các bệnh đường hô hấp, 37% dùng kháng sinh khi bị ỉa chảy, 2/3 số người phỏng vấn trả lời rằng họ thường dùng kháng sinh dưới 5 ngày [25]

Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý của con người đã tạo điều kiện cho vi khuẩn rèn luyện khả năng thích nghi của chúng và kết quả là hiện tượng lan tràn các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh Ở một hội nghị quốc tế họp tại London ngày 16/7/1996, các nhà khoa học đã cảnh báo “Thế giới đang đứng trên bờ vực của cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng do tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn gia tăng, nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với kháng sinh và chết do không có thuốc hiệu lực”[21]

Nếu như năm 1940 Enzym Penicillinase sinh bởi vi khuẩn làm bất hoạt kháng sinh được phát hiện thấy ở E.coli là trường hợp vi khuẩn kháng kháng sinh đầu tiên được phát hiện, thì ngày nay cùng với sự tăng nhanh về số lượng kháng sinh và sự tự do trong sử dụng kháng sinh hiện tượng kháng thuốc đang ngày một gia tăng và lan tràn trên toàn thế giới Năm 1947 có 30%

Trang 12

các chủng Staphylococus aureus đã kháng Penicilin và tỷ lệ vi khuẩn kháng Pelicilin hiện nay là 90% [10].

Năm 1948 Chloramphenicol được lựa chọn để điều trị sốt thương hàn và

nó đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong gây ra bởi bệnh này Nhưng 24 năm

sau, vào năm 1972 ở Mếxico chủng Salmonella đã gây dịch sốt thương hàn

đầu tiên với sự kháng Chloramphenicol theo kiểu Plasmid [24]

Theo báo cáo của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương tình hình kháng

thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở khu vực Đông Nam Á là

khá cao : 97% số chủng Shigella flexneri ở Hongkong đã kháng lại Tetracylin;

ở Trung Quốc có 91,3% kháng với Ampixilin; còn ở Philipin là 81%.

Đặc biệt Klebsiella spp đã kháng lại Ampicilin ở tất cả các nước trong

khu vực; cao nhất ở Hàn Quốc (chiếm 98%), ở Malaysia (chiếm 97,3%) và

thấp nhất là ở Nhật Bản (chiếm 85%) [11]

Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn không chỉ dừng lại ở các khángsinh thông thường mà kể cả những kháng sinh thế hệ mới đặc trị nhiễm khuẩn cũng đã bị kháng Điển hình là Vancomycin, một loại kháng sinh được coi là phòng tuyến cuối cùng chống nhiễm khuẩn trong suốt 30 năm qua [16], thì đến năm 1987 người ta đã phát hiện ra một số ca kháng lại Vancomycin đầu tiên Đến năm 1995, 8% trường hợp nhiễm cầu khuẩn ruột mắc tại Bệnh viện

ở Mỹ đã kháng với Vancomycin và năm 1996 tỷ lệ này là 15% [25]

Tóm lại: hiện tượng kháng kháng sinh đã trở thành một vấn đề lớn trong

y học Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh lại là do sự lạm dụng kháng sinh và sử dụng bất hợp lý kháng sinh của con người Do đó để ngăn ngừa sự phát triển kháng thuốc của vi khuẩn cần phải tăng cường giám sát, sử dụng hợp lý thận trọng các kháng sinh hiện có, cũng cần nhấn mạnh vai trò của vệ sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn

2.2 Tại Việt Nam.

Trang 13

Ở nước ta, bệnh nhiễm khuẩn chiếm một tỷ lệ khá lớn và đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân hàng đẩu gây tử vong cho nhân dân Chính vì thế, việc dùng kháng sinh là không thể thiếu được Theo thống kê sơ bộ, hàng năm nước ta phải nhập 85 tấn nguyên liệu và 15 tấn thành phẩm kháng sinh các loại với gía tri thành tiền chiếm khoảng 40% đến 45% tổng giá trị thuốc bán ra trên thị trường [12].

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, mạng lưới cung ứng thuốc của nước ta ngày càng được mở rộng

Nhiều quầy thuốc đã được mở ở những vùng sâu, vùng xa Tình trạng khan

hiếm thuốc trước kia về cơ bản đã được khắc phục Tuy nhiên, cũng do mặt trái của nền kinh tế thị trường, do công tác quản lý còn lỏng lẻo đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông, cung ứng sử dụng thuốc chưa hợp lý xuất hiện, đặc biệt là đối với các loại thuốc kháng sinh

Kháng sinh được bán ở mọi nơi và người dân có thể tự do mua bất cứ một loại kháng sinh nào để tự điều trị mà không cần đơn hướng dẫn của thày thuốc Ngay cả các kháng sinh thế hệ mới như Cefotaxim và các loại Fluoroquinolon cũng được mua không qua kê đơn [28]

Trong khi đó, kiến thức của người dân về kháng sinh còn rất nhiều hạn chế Điều đó đã không tránh khỏi hiện tượng lạm dụng kháng sinh và sử dụng kháng sinh bất hợp lý

Theo kết quả điều tra cắt ngang về việc sử dụng kháng sinh của người tiêu dùng (Bộ y tế 7/94 tại các cửa hàng thuốc quốc doanh ở Hà Nội) cho thấy thuốc kháng sinh được tự sử dụng khá rộng rãi, chiếm khoảng 28% các thuốc tiêu thụ Trong tổng số người tiêu dùng kháng sinh chỉ có 18,4% mua kháng sinh theo đơn của thầy thuốc, đặc biệt là Ampixilin được mua không qua kê đơn là 86,6% [10] Trong Bệnh viện, phòng khám hay trạm y tế hiện tượng lạm dụng kháng sinh vẫn xảy ra, một số Bác sĩ có thói quen kê đơn các loại kháng sinh mới nhập, đắt tiền khồng cần thiết Cũng có những trường hợp kê

Trang 14

đơn không đúng, sai liều lượng Đã có những thầy thuốc sử dụng từ 7-14 kháng sinh cho một bệnh nhân [5].

Hiện tượng sử dụng kháng sinh không hợp lý đang diễn ra phổ biến trong cộng đồng Theo kết quả một cuộc điều tra của chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Bộ Y Tế tại 9 tỉnh: Sơn La, Cao Bằng, Nam Hà, Vĩnh Phú, Hà Nội, Huế, Đà Nấng, Cần Thơ, Long An cho thấy 34% đến 37,5% dùng kháng sinh để điều trị cảm cúm; 78% dùng cho bệnh đau đầu, đau dây thần kinh [26]

Chính sự thiếu hiểu biết về thuốc kháng sinh, sử dụng kháng sinh một cách tùy tiện đã gây ra tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn đang ngày càng lan rộng trên toàn quốc Theo báo cáo nghiên cứu về sự kháng thuốc của vi khuẩn tại Bệnh viện Bạch Mai cho b iế t: 100 chủng Staphylococcus aureus đã kháng lại Benzyl penicillin; Enterococcus aerogenes và Enterococi kháng lại Cephalothin với tỷ lệ từ 91,7% đến 100% [7]

Các báo cáo tại các tỉnh khác như Quảng Ninh, Tp Hồ Chí Minh cũng cho kết quả tương tự Tại Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh kết quả báo cáo cho biết chủng Pseudomonas aeruginosa đã kháng lại hoàn toàn các kháng sinh thông thường như : Chloramphenicol, Ampixillin, Tetracylin, Co.trimoxazol Tại TP

Theo kết quả nghiên cứu ở một số bệnh viện tỉnh miền Trung từ

12/1995 đến tháng 11/1997 cho thấy: 64,9% chủng Staphylococcus aureus kháng lại Chloramphenicol, Erythromycin là 55,7%; Penicillin là 48% Đáng chú ý là có tới 87,1% chủng E Coli đã kháng với Ampicillin; 80,7% với Chloramphenicol; 83,9% Doxycyclin và Co.trimoxazol là 80,7% [3]

Đặc biệt là hiện tượng Salmonella Typhi kháng thuốc lan tràn từ Nam

đến Bắc Năm 1994 tỷ lệ kháng Chloramphenicol ở miền Bắc là 8% và ở miền

Nam là 96,7% Đến năm 1996 tỷ lệ này đã ngang bằng ở các miền (>90%) và đến năm 1998 thì tỷ lệ này giảm xuống còn 61,8% [5]

Trang 15

Có thể nói hiện tượng sử dụng kháng sinh bừa bãi, lạm dụng kháng sinh đang là vấn đề y tế nan giải ở nước ta Hiện tượng này đã gây ra nhiều hậu quả như lãng phí trong điều trị, gây ra tác dụng phụ và nguy hại hơn là nó làm tăng nhanh hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc Để ngăn chặn, phòng chống và khắc phục tình trạng trên chúng ta cần phải thay đổi được nhận thức và tập quán sai lầm của cả cán bộ y tế và nhân dân trong sử dụng kháng sinh Đó là một công việc đòi hỏi phải có sự cố gắng nỗ lực của ngành y tế nói riêng và của các cấp các ngành có liên quan nói chung Có như vậy chúng ta mới đẩy lùi được tình trạng kháng kháng sinh và góp phần quan trọng trong việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Bệnh viện đa khoa Xanh-Pôn là một bệnh viện loại I, với bốn chuyên khoa đầu ngành của cơ sở Y Tế Hà Nội: Ngoại khoa, Nhi khoa; Cận lâm sàng

và Phục hồi chức năng Hàng năm BV không chỉ khám chữa bệnh cho nhân dân Hà Nội mà còn khám chữa bệnh cho nhân dân các khu vực lân cận Với 4 khoa trên việc sử dụng KS tại BV hàng năm là rất lớn vì vậy để góp phần tìm hiểu việc sử dụng thuốc của BVXP chúng tôi tiến hành “Khảo sát tình hình

sử dụng KS và theo dõi phản ứng có hại của KS tại BVXP từ năm 1996-

2000 ”

3 PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC.

3.1 Khái niệm.

Theo định nghĩa của chương trình giám sát thuốc của WHO, thì phản

ứng có hại của thuốc là “Một phản ứng đôc hại, không định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý của cơ thể” Định nghĩa này

không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hoặc vô tình [15]

3.2 Sự cần thiết phải theo dõi tác dụng có hại của thuốc.

Trang 16

Thuốc được ví như con dao 2 lưỡi Bên cạnh tác dụng chữa bệnh và nâng cao sức khoẻ, thuốc còn có tác dụng không mong muốn, có hại cho sức khoẻ.

Nguy cơ xuất hiện ADR là hậu quả không thể tránh khỏi của việc dùng thuốc Hầu như tất cả các thuốc có hiệu lực, dù được dùng khôn khéo đến mấy cũng có thể gây ADR

Mặc dù trước khi được đưa ra thị trường, thuốc đã được nghiên cứu, thử nghiệm dược lý và dược lâm sàng một cách nghiêm ngặt chính xác, song vẫn không thể phát hiện được đầy đủ ADR Bởi vì ADR có thể xuất hiện sau một thời gian dài dùng thuốc hoặc sau khi đã ngừng điều trị rất lâu(Ví dụ “ung thư

âm đạo” ở trẻ em nữ do các bà mẹ dùng dietylstiboestrol để tránh thai 10-15 năm) [17]

Do vậy, cần phải tiếp tục giám sát thuốc trong quá trình sử dụng, để xác định hiệu quả của thuốc và phát hiện những ADR mới mà trong các giai đoạn nghiên cứu thuốc chưa biết được

Để đảm đương trách nhiệm trên, năm 1968 trung tâm quốc tế WHO theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã được thành lập và đặt trụ sở tại Hoa Kỳ Ngày nay trung tâm được đặt ở Uppsala (Thụy Điển)

Tại Việt Nam, ngày 22/12/1994 “Trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc; ADR” được thành lập đặt trụ sở tại Hà Nội Hai năm sau, một chi nhánh của trung tâm được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh (1996)

Trung tâm ADR là một bộ phận tư vấn cho Bộ Y Tế về việc theo dõi phản ứng có hại của thuốc, giúp Bộ Y Tế đề ra chính sách thuốc kịp thời, mang lại hiệu quả điều trị cao, hạn chế phản ứng có hại cho thuốc Trung tâm cũng là nơi tiếp nhận và thẩm định báo cáo ADR đồng thời phản hồi thông tin ADR cho các cơ sở điều trị Trong những năm gần đây số báo cáo gửi về trung tâm ngày càng nhiều, điều đó thể hiện sự quan tâm của đội ngũ Bác sĩ, Dược

sĩ, Y tá trong việc theo dõi và xử lý các phản ứng có hại của thuốc Đặc biệt là

Trang 17

từ khi HĐT&ĐT được thành lập tại các BV với chức năng thứ 5 là theo dõi tác dụng có hại của thuốc.

Theo báo cáo của trung tâm ADR Quốc gia từ năm 1996 đến năm 2000 trung tâm ADR miền Bắc đã nhận được 3745 báo cáo ADR với số lượng hàng năm như sau:

- Năm 1996 có 444 báo cáo trong cả nước

- Năm 1997 có 904 báo cáo trong cả nước tăng 203,6% so với năm 1996

- Năm 1998 có 1306 báo cáo tăng 294,1% so với năm 1996

- Năm 1999 có 446 báo cáo tăng 100,4% so với năm 1996

- Năm 2000 có 645 báo cáo tăng 145,3 % so với năm 1996.

3.3 Tác dụng không mong muốn do thuốc kháng sinh.

Để chữa các bệnh nhiễm khuẩn, kháng sinh có vai trò rất to lớn, góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, nâng cao tuổi thọ con người Tuy nhiên kháng

sinh cũng gây không ít những TDKMM và nó có thể xảy ra ở tất cả mọi

người

Theo Tareep TDKMM của kháng sinh gồm 3 nhóm:

+ Tai biến do dị ứng

Biểu hiện lâm sàng : Sốc phản vệ, ban đỏ, mày đay, phản ứng chàm hoá,

đỏ da toàn thân, hội chứng lyell,

Trong đó sock phản vệ là tai biến nghiêm trọng nhất, dễ gây tử vong nếu không được chẩn đoán và xử lý kịp thòi Bệnh cảnh lâm sàng khá đa dạng, thông thường hay xảy ra sau khi dùng thuốc từ vài giây đến 20-30 phút [17]

Năm 1958, Tổ chức Y Tế Thế Giới nghiên cứu tình hình dị ứng Penicilin trên một số lượng lớn người bệnh cho thấy tỷ lệ sốc phản vệ là 1/70.000 Ở Đan Mạch cứ 10 triệu người dùng kháng sinh thì có 1 người tử vong do sốc phản vệ Theo tài liệu OMS năm 1996, số người sốc phản vệ do

thuốc ở Châu Âu là 1% dân số Người ta ước tính cứ 10 vạn mũi tiêm kháng

sinh thì có 49 người bị sốc phản vệ, nguy cơ tử vong là 2 người trong 1 triệu dân [1,2]

Trang 18

Ở Việt Nam trường hợp sốc phản vệ đầu tiên do Penicilin xảy ra vào năm 1960 Trong 3 năm (1978-1981) Khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận 31 trường hợp sốc phản vệ do kháng sinh, trong đó có 7 trường hợp tử vong Trong 10 năm (1981-1990) khoa Dị ứng Bệnh Viện Bạch Mai đã khám và điều trị nội trú 295 người bệnh, trong đó có 237 trường hợp dị ứng cấp tính và sốc phản vệ do kháng sinh [17].

Theo báo cáo ADR đã thẩm định tại trung tâm ADR (phía Bắc và phía Nam) năm 1998, toàn quốc có 179 báo cáo sốc phản vệ trong đó có 14 trường hợp tử vong và kháng sinh là thuốc gây sốc phản vệ nhiều n h ất: 40 trường hợp trong số 390 báo cáo kháng sinh chiếm 10,3%- Trong đó có 7 trường hợp tử vong [22]

+ Tai biến do nhiễm độc :

Tai biến này phụ thuộc chủ yếu vào độc tính riêng biệt của từng loại thuốc kháng sinh Dùng kháng sinh càng kéo dài thì nguy cơ nhiễm độc kháng sinh đó càng nặng Những cơ quan trong cơ thể hay bị nhiễm độc là thận, gan, máu và thần kinh [23]

+ Tai biến về vỉ khuẩn học :

- Hay gặp nhất là sự phân huỷ tạp khuẩn cộng tồn, còn gọi là vi khuẩn

chí trong bộ máy tiêu hoá Tai biến này xảy ra sau khi sử dụng các thuốc có hoạt phổ rộng như Tetracyclin, Ampicilin, Chloramphenicol Các tạp khuẩn cộng tồn trong bộ máy tiêu hoá sẽ bị tiêu diệt và thay thế vào đó là các loại vi khuẩn đã kháng lại các kháng sinh nói trên như tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh

và nấm Các vi khuẩn và nấm này sẽ gây lên một số biểu hiện bệnh lý thuộc

bộ máy tiêu hoá [14,23,27]

- Một tai biến nữa là do sự phân huỷ các kháng sinh có nội độc tố, sau một liều kháng sinh chưa hợp lý lúc bắt đầu dùng Các kháng sinh đã tiêu diệt quá nhiều vi khuẩn trong một lúc nên làm giải phóng ra ngay quá nhiều nội độc tố, dẫn đến triệu chứng của người nặng lên (hiện tượng truỵ mạch của

Trang 19

PHẦN I I I : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN c ú u

1 Đối tượng nghiên cứu.

- Bệnh án lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Xanh Pôn

2 Địâ điểm nghiên cứu.

- Bệnh viện Xanh-Pôn Hà Nội

- Trung tâm ADR Quốc gia (Hà Nội)

3 Thời gian nghiên cứu.

- Từ 3/2001 - 5/2001

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Hồi cứu các bệnh án lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện

Xanh Pôn từ 1996-2000

- Hồi cứu báo cáo về kháng sinh lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp,

khoa Dược, phòng thống kê Bệnh viện Xanh-Pôn từ 1996-2000

- Hồi cứu những báo cáo về ADR do kháng sinh của Bệnh viện lưu tại trung tâm ADR Quốc gia từ 1996-2000

5 Xác định cỡ mẫu nghiên cứu.

5.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh.

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc xác định một tỷ lệ trong quần thể

[21].

Trang 20

+ a là mức ý nghĩa thống kê (với độ tin cậy là 95% thì a = 0,05) Theo các khảo sát trước đó tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Xanh-Pôn khoảng 65%.

5.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu ADR do kháng sinh tại Bệnh viện Xanh-pôn.

Do số báo cáo ADR của Bệnh viện Xanh Pôn từ 1996-2000 không nhiều (45 báo cáo) nên chúng tôi quyết định chọn 100% số báo cáo của Bệnh viện để tiến hành nghiên cứu

5.3 Lấy mẫu

Do số bệnh án một năm là rất lớn và số bệnh nhân của mỗi tháng trong năm là tương đối đồng nhất nên chúng tôi chọn các bệnh án trong một tháng

Trang 21

nhất định trong năm để tiến hành lấy mẫu Ở đây chúng tôi chọn bệnh án của tháng 6 hàng năm.

Do số lượng bệnh án của các khối điều trị tại Bệnh viện Xanh-Pôn hàng năm là không đồng nhất Số bệnh án khối ngoại thường lớn gấp 1,5 lần số bệnh án khối nội và khối nhi Nên chúng tôi lấy ngẫu nhiên các bệnh án của mỗi khối với số lượng như sau:

Bảng 2 : S ố bệnh án cần lấy trong một năm.

Số bệnh án cần lấy

trong một năm

6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu.

- Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel for Windows

- Dùng phương pháp so sánh tỷ trọng, so sánh xác suất thống kê, lập bảng, vẽ biểu đồ đánh giá từng chỉ tiêu

Trang 22

PHẦN IV: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ BÀN LUẬN.

1 KHẢO SÁT CHƯNG.

1.1 Sơ đồ tổ chức của BVXP.

Bệnh viện đa khoa Xanh-Pôn được thành lập ngày 26/8/1970 theo Quyết định số 1093/ YT-TC của sở Y Tế Hà Nội

Bệnh viện là sự hợp nhất của bốn cơ sở khám chữa bệnh:

- Bệnh viện Sain-Paul ra đời từ năm 1958 ( ngoại khoa và bỏng)

- Bệnh viện B thành lập từ năm 1958 ( khám chữa bệnh cho trẻ em)

- Phòng khám Sinh Từ thành lập năm 1960 ( phụ khoa)

- Bệnh viện Ba Đình thành lập năm 1964

Từ khi được thành lập đến nay Bệnh viện được tổ chức theo sơ đồ sau:

'\

23 > o+

Trang 23

+ Nội soi tiêu hoá + Siêu âm

- Huyết học truyền máu

KHOA NỘI, Ỷ HỌC DÂN TỘC, LIÊN CHUYÊN KHOA

- Phòng khám nội

- Hồi sức cấp cứu nội

- Khoa nội

- Khoa y học dân tộc (Phòng khám điều trị và đông

- Khoa tiêu hoá

- Khoa sơ sinh

Trang 24

1.2 Tổng số BN điều trị tại BVXP từ năm 1996-2000.

BVXP là bệnh viện đa khoa trực thuộc sở y tế Hà Nội, hàng năm BV tiếp nhận và điều trị bệnh nhân đến từ Hà Nội và các vùng lân cận với số lượng như sa u :

Bảng 3 : Tổng số bệnh nhân điêu trị tại BVXP từ năm 1996-2000.

Trong đó số BN điều trị nội trú tại các khối của Bệnh viện như sau:

Bảng 4 : Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú tại BVXP từ 1996-2000.

Ngày đăng: 07/08/2015, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Năng An, Lê Vãn Khang - Sốc phản vệ do kháng sinh. Mấy vấn đề cơ sở dị ứng. NXB Y học, Hà Nội 1975, p 35 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốc phản vệ do kháng sinh. Mấy vấn đề cơ sở dị ứng
Tác giả: Nguyễn Năng An, Lê Vãn Khang
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1975
2. Nguyễn Năng An, Lê Văn Khang - Sốc phản vệ. Bách khoa thư bệnh học tập II. Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1994, p 362 - 368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư bệnh học tập II
Tác giả: Nguyễn Năng An, Lê Văn Khang
Nhà XB: Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam
Năm: 1994
3. Lê Văn An - Tình hình nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây bệnh tỉnh miền trung từ 12/1995 - 1/1997. Một số công trình nghiên cứu về độ nhạy cảm của vi khuẩn với thuốc kháng sinh (1996). Viện thông tin trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công trình nghiên cứu về độ nhạy cảm của vi khuẩn với thuốc kháng sinh
Tác giả: Lê Văn An
Nhà XB: Viện thông tin trung ương
Năm: 1996
4. Nguyễn Thanh Bình - Dịch tễ dược trong nghiên cứu cộng đồng 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ dược trong nghiên cứu cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1998
5. Nguyễn Thị Phương Châm - Kinh nghiệm của HĐT&ĐT trong thông tin thuốc, thực hành Dược lâm sàng. Đánh giá hiệu quả 2 năm hoạt động của HĐT&ĐT (1997- 1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Phương Châm
6. Nguyễn Thị Phương Châm - Khảo sát sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật chỉnh hình tại Bệnh viện Giao thông vận tải 8 thành phố Hồ Chí Minh 1991 - Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật chỉnh hình tại Bệnh viện Giao thông vận tải 8 thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Năm: 1991
7. Nguyễn Thị Chinh - Nghiên cứu phương pháp giáo dục hướng dẫn người dân tới việc sử dụng hợp lý - an toàn thuốc kháng sinh tại xã Mễ Trì -Từ Liêm- Hà Nội. Khoá luận tốt nghiệp DSĐH khoá 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Chinh
8. Dược xã hội học và pháp chế hành nghề Dược. Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược xã hội học và pháp chế hành nghề Dược
9. Nguyễn Văn Đoá - Vi khuẩn kháng thuốc và ý tưởng mới về kháng sinh (Dịch từ Biofutur 1996). Tạp chí Dược học N° 2 - 1997. P19 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi khuẩn kháng thuốc và ý tưởng mới về kháng sinh
Tác giả: Nguyễn Văn Đoá
Nhà XB: Tạp chí Dược học
Năm: 1997
10. Lê Đăng Hà và cộng sự - Vấn đề kháng kháng sinh của vi khuẩn11 .L ê Đăng Hà, Phạm Văn Ca - Tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh chính ở các nước Đông Nam Á năm 1997. Thông tin sự kháng thuốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đăng Hà và cộng sự -" Vấn đề kháng kháng sinh của vi khuẩn11 ".L ê Đăng Hà, Phạm Văn Ca
12. Hoàng Kim Huyền - Dược lâm sàng I. Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lâm sàng I
Tác giả: Hoàng Kim Huyền
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
13. Hoàng Kìm Huyền - Lựa chọn và sử dụng kháng sinh. Đánh giá hiệu quả 2 năm hoạt động của HĐT&ĐT (1997 - 1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Kìm Huyền
15. Hoàng Tích Huyền - Tác dụng không mong muốn của thuốc. NXB Y học 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng không mong muốn của thuốc
Tác giả: Hoàng Tích Huyền
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1997
16. Lê Hồng Hình, Lê Thị Phương và cộng sự - Tình hình kháng kháng sinh của Nesseria gonorrhoeae tại Hà Nội năm 1998. Thông tin sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh N° 2 - 1999. Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kháng kháng sinh của Nesseria gonorrhoeae tại Hà Nội năm 1998
Tác giả: Lê Hồng Hình, Lê Thị Phương, cộng sự
Nhà XB: Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới
Năm: 1999
17. Trần Thị Phúc Hải - Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc tại một số Bệnh viện thuộc tỉnh Thái Bình từ tháng 1 - 1997 đến tháng 3 - 1999.Luận án thạc sĩ Y học 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc tại một số Bệnh viện thuộc tỉnh Thái Bình từ tháng 1 - 1997 đến tháng 3 - 1999
Tác giả: Trần Thị Phúc Hải
Nhà XB: Luận án thạc sĩ Y học
Năm: 1999
18. Nguyễn Văn Khoa (1997) - Biến động về vi khuẩn vào đầu những năm 2000 (Dịch từ Medicine digest 1995). Tạp chí dược học N°2 - 1997. p 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động về vi khuẩn vào đầu những năm 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Khoa
Nhà XB: Tạp chí dược học
Năm: 1997
19. Phan Quốc Kinh - Hoá Dược tập II. Trường đại học Dược Hà Nội - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá Dược tập II
Tác giả: Phan Quốc Kinh
Nhà XB: Trường đại học Dược Hà Nội
Năm: 1998
20. Vũ Xuân Minh - Mua bán kháng sinh ở Pháp. Thông tin Dược lâm sàng N°5 - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua bán kháng sinh ở Pháp
Tác giả: Vũ Xuân Minh
Nhà XB: Thông tin Dược lâm sàng
Năm: 1998
21. Đặng Hạnh Phức - Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo về cuộc khủng hoảng nhiễm khuẩn trên toàn cầu. Dịch từ Scrip số 2204 N° 2 - 1997. Thông tin Dược lâm sàng N°5 - 1997. p 154 - 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo về cuộc khủng hoảng nhiễm khuẩn trên toàn cầu
Tác giả: Đặng Hạnh Phức
Nhà XB: Thông tin Dược lâm sàng
Năm: 1997
22. Lê Đình Quang - Khảo sát tình hình sử dụng và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại BV phụ sản-hà nội trước và sau khi thành lập HĐT&ĐT.Khoá luận tốt nghiệp DSĐH khoá 1995 - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Quang -

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 :  Cỡ mẫu cho nghiên cứu. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu (Trang 20)
Bảng 4 : Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú tại BVXP từ 1996-2000. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 4 Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú tại BVXP từ 1996-2000 (Trang 24)
Bảng 3 : Tổng số bệnh nhân điêu trị tại BVXP từ năm 1996-2000. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 3 Tổng số bệnh nhân điêu trị tại BVXP từ năm 1996-2000 (Trang 24)
Bảng 5 : Số ngày điều trị trung bình qua các năm 1996- 2000. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 5 Số ngày điều trị trung bình qua các năm 1996- 2000 (Trang 25)
Bảng 6 : Sô'loại kháng sinh được sử dụng tại BVXP từ năm 1996-2000. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 6 Sô'loại kháng sinh được sử dụng tại BVXP từ năm 1996-2000 (Trang 26)
Bảng 8 : Tỷ lệ BN có sử dụng kháng sình. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 8 Tỷ lệ BN có sử dụng kháng sình (Trang 28)
Bảng 9 :  Tỷ lệ BN  có SD hai KS phối hợp trở lên. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 9 Tỷ lệ BN có SD hai KS phối hợp trở lên (Trang 29)
Bảng 11  :  Tỷ lệ BN thay đổi KS trong đợt điều trị. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 11 : Tỷ lệ BN thay đổi KS trong đợt điều trị (Trang 32)
Bảng 14 :  Tổng số các báo cáo về ADR của BVXP từ năm 1996-2000. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 14 Tổng số các báo cáo về ADR của BVXP từ năm 1996-2000 (Trang 35)
Bảng 15 : Tỷ lệ ADR theo nhóm thuốc. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 15 Tỷ lệ ADR theo nhóm thuốc (Trang 36)
Bảng 16:  Tỷ  lệ ADR trong nhóm KS. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 16 Tỷ lệ ADR trong nhóm KS (Trang 37)
Bảng 17:  Các loại KS gây ADR. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 17 Các loại KS gây ADR (Trang 38)
Bảng 18: Biểu hiện ADR do KS. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 18 Biểu hiện ADR do KS (Trang 39)
Bảng 19 :  Mối liên quan giữa tuổi, giới và biểu hiện ADR do KS. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 19 Mối liên quan giữa tuổi, giới và biểu hiện ADR do KS (Trang 40)
Bảng 20 :  Tỷ lệ ADR theo đường đưa thuốc. - Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh và theo dõi phản ứng có hại của kháng sinh tại bệnh viện xanh pôn từ năm 1996   2000
Bảng 20 Tỷ lệ ADR theo đường đưa thuốc (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm