1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm hà nội

64 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 4,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I ỉ ĐẬT VẤN ĐỂ 8 Thuốc là một trong những nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người, là một thành phần cơ bản để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) và triển khai các dịch vụ y tế. Chính vì vậy mà mục tiêu của Chính sách thuốc quốc gía (CSTQG) của ngành Dược Việt Nam(2061996) là Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân. Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nưóc trong những năm gần đây, nhiều thành phần kinh tế được khuyên khích cùng tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng thuốc, tạo ra sức bật mới cho ngành Dược Việt Nam với một thị trường thuốc phong phú, cơ bản đáp ứng nhu cầu thuốc cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, giải quyết được tình trạng khan hiếm thuốc của thời kỳ bao cấp. Bên cạnh đó, Bộ Y tê đã ban hành Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân nhằm huy động nhiều nguồn lực tham gia dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ Dược bao gồm hệ thống hành nghề Dược tư nhân cùng các doanh nghiệp Nhà nước và các công ty dược nước ngoài. Sự phong phú của các loại hình dịch vụ Dược đặt ra yêu cầu nghiên cứu các ưu nhược điểm của chúng cũng như đánh giá sự lựa chọn củavcộng đồng đối với từng loại hình. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ Dược của người dân quận Cầu Giấy và huyện Từ Liêm Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau: Xác định các loại hình dịch vụ Dược được người dân lựa chọn trên địa bàn nghiên cứu. Xác định các yếu tố thúc đẩy người dân lựa chọn các loại hình dịch vụ Dược. Đánh giá, so sánh các ưu nhược điểm của từng loại hình và trên cơ sở đó có những kiến nghị và đề xuất nhằm mục đích hoàn thiện mạng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng. 1

Trang 1

BỘ Y TÊ TRƯÒNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘỈ

sv NGUYỄN PHƯƠNG HẠNH

DƯỢC CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN CÀU GIAY

VÀ HUYỆN TỪ LIÊM - HÀ NỘI

(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ ĐẠI HỌC KHÓA 1996 - 2001)

Ngưòi hướng dẫn:

TS LÊ VIẾT HÙNG

DS LÊ THỊ UYỂN

Nơi thực hiện:

Quận Cầu Giấy - huyện Từ Liêm - Hà Nội

Bộ môn Quản lý kinh tế Dược

Thời gian thực hiện:

Tháng 3 - 5/2001

ị - " * ị

\ r :0> : /

HÀ N Ô I-5/2001

Trang 2

‘Tôi JQU chân thành 6ày tỏ Còng 6iết ơn sâu sắc tói <zỹ Lê V ừ ỉ ‘Hùng đã tận

tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện kho á Cuận.

‘Tơi jận gửi íời cầm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong 6ộ môn Quản

[ý - %inh tê'(Dược cùng các thầy cô giáo trong trường, gŨL đình và 6ạn 6è đẵ

đọng viên và giúp ấỡ tôi hoàn thảnh íịịioấ Cuận.

Tôi jận gửi ữfi cầm ơn chân thành tói Trung tâm ° { t ế quận cầu Ọiâỳ, Trung tâm y tê âuyện Tủ’ Lừm và tất cả những người đã tham, gia phỏng vấn củng như trả Cời 6ộ câu hỏi trong quá trình fịíiẩo sất của tôi

'Ha Nội, ngày 20 thắng 5 năm 2001

Sinh viên

Trang 3

QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

Công ty CP Công ty cổ phần

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

CSSK Chăm sóc sức khoẻ

CSSKBĐ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

CSTQG Chính sách thuốc quốc gia

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

GDP BQ Tổng sản phẩm quốc nội / người / năm

GMP-ASEAN Tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt (ASEAN)HNDTN Hành nghề dược tư nhân

TTBQ Tiền thuốc bình quân

TTY Thuốc thiết yếu

WHO / TCYTTG TỔ chức Y tế Thế giới

XNDP Xí nghiệp Dược phẩm

XNK Xuất nhập khẩu

YHCTDT Y học cổ truyền dân tộc

YTTN Y tế tư nhân

Trang 4

3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 18

3.2.5 Nơi, lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân 27

3.2.6 T ình hình lựa chọn nơ i mua thuốc của người dân 29

3.2.7 C ấc yếu t ố thúc đẩy người dân lựa chọn các lo ạ i hình

Trang 5

3.3 Bàn luận 37

3.3.2 So sánh tỷ lệ yếu tô thúc đẩy người dãn lưa chọn giữa

3.3.S So sánh ưu, nhược điểm giữa các lo ạ i hình d ịch vụ Dược 46

Trang 6

PHẦN I ỉ ĐẬT VẤN ĐỂ8

Thuốc là một trong những nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người, là một thành phần cơ bản để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) và

triển khai các dịch vụ y tế Chính vì vậy mà mục tiêu của Chính sách thuốc

quốc gía (CSTQG) của ngành Dược Việt Nam(20/6/1996) là " Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân"

Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nưóc trong những năm gần đây, nhiều thành phần kinh tế được khuyên khích cùng tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng thuốc, tạo ra sức bật mới cho ngành Dược Việt Nam với một thị trường thuốc phong phú, cơ bản đáp ứng nhu cầu thuốc cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, giải quyết được tình trạng khan hiếm thuốc của thời kỳ bao cấp Bên cạnh đó, Bộ Y tê đã ban hành Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân nhằm huy động nhiều nguồn lực tham gia dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ Dược bao gồm hệ thống hành nghề Dược

tư nhân cùng các doanh nghiệp Nhà nước và các công ty dược nước ngoài Sự phong phú của các loại hình dịch vụ Dược đặt ra yêu cầu nghiên cứu các ưu nhược điểm của chúng cũng như đánh giá sự lựa chọn củavcộng đồng đối với từng loại hình Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài:

" Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ Dược của người dân quận Cầu

Giấy và huyện Từ Liêm - Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau:

- Xác định các loại hình dịch vụ Dược được người dân lựa chọn trên địa bàn nghiên cứu

- Xác định các yếu tố thúc đẩy người dân lựa chọn các loại hình dịch vụ Dược

- Đánh giá, so sánh các ưu nhược điểm của từng loại hình và trên cơ sở đó

có những kiến nghị và đề xuất nhằm mục đích hoàn thiện mạng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng

Trang 7

PHẦN I I : TỔNG QUAN

2.1 Một số nét khái quát về ngành Dược Việt Nam trong cơ chê mới;

Sau 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kỉnh

tế - xã hội (1991-2000), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, nước ta đã đạt được nhiều những thành tựu quan trọng, v ề tình hình chung, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu,bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, từ chỗ chủ yếu chỉ có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đã chuyển sang có nhiều thành phần, trong

đó nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân Chính vì vậy, đất nước từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện, những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khoẻ(CSSK), nước sạch, điện sinh hoạt, học tập, đi lại, giải trí được đáp ứng tốt hơn Trong xu thế của sự đổi mới và phát triển chung đó, hệ thống y tế cũng đã có nhiều cải tiến để thích ứng với cơ chế kinh tế mới Hệ thống CSSK hiện nay bao gồm hệ thống y tế nhà nước, hệ thống hành nghề y tế tư nhân, bảo hiểm y tế đã tạo ra một mạng lưới rộng khắp, phục vụ kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

Cuối những năm '80 đầu những năm '90, nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nên đã xoá bỏ bao cấp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cung ứng thuốc Bên cạnh đó, Bộ

Y tế và ngành Dược cũng song song tiến hành tổ chức lại hệ thống quản lý từ

TW đến địa phương [6] Việc đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia vào việc cung ứng thuốc đặc biệt là sau khi thực hiện "Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân" và "Chính sách thuốc quốc gia"(CSTQG) đã tạo ra một thị

Trang 8

trường thuốc sôi động, giải quyết về cơ bản nhu cầu về thuốc cho người dân Lượng thuốc tiêu thụ bình quân đầu người tăng lên rõ rệt và khá đều đặn thể

hiện ở bảng sau:

Bảng 1 : Tiền thuốc bình quân đầu người

Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 TTBQ(USD) 0,5 1,0 2,2 2,5 3,2 4,2 4,6 5,2 5,5 5,0 5,4

2.1.1 Nguồn thuốc cung ứng ngày càng dồi dào bao gồm cả thuốc sản

xuất trong nước và thuốc nhập khẩu Vào năm 1992, kết quả thống kê cho thấy lĩnh vực sản xuất thuốc đã tăng gấp 3 lần và lĩnh vực xuất nhập khẩu thuốc đã tăng gấp 10 lần trong vòng chưa đến 5 năm Thị trường dược phẩm Việt Nam được dự kiến sẽ tăng tnrởng nhanh chóng trong những năm tới và sẽ trở thành một trong những tiềm năng to lớn cho sự phát triển của thị trường dược phẩm thế giới [17]

❖ Về tình hình sản xuất thuốc trong nước, trước đây các cơ sở sản xuất dược phẩm của ta đều là xí nghiệp bào chế thuốc mà nguyên liệu chủ yếu được nhập từ nước ngoài Nhà xưởng và trang thiết bị lạc hậu Bên cạnh đó, ngành Y tế không quản lý và điều tiết được về vấn đề nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc Song gần đây, vấn đề này đã được ổn định cùng với

sự đổi mới công nghệ đã khuyến khích các đơn vị không ngừng đầu tư phát triển Đến nay đã có 18 đơn vị sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn Thực hành sản xuất thuốc tốt GMP- ASEAN trong đó 7 cơ sở do nước ngoài đầu tư, 7 cơ sở

trực thuộc TW, 3 cơ sở của tỉnh và 1 là công ty TNHH Thuốc sản xuất

trong nước đã đáp ứng được khoảng 26- 30% nhu cầu về thuốc của nhân

Trang 9

dân (tuy nhiên con số này có bao gồm cả những thuốc phải dùng nguyên liệu nước ngoài).

Bảng 2 : Cỉá trị tổng sản lượngi TSL) thuốc sản xuất trong nước

Đơn vị: Triệu đổng VN

Giá trị tổng sản lượng 1.035.717 1.232.498 1.405.807 1.485.170 1.727.504

Tỷ lệ gia tăng (%) (so với 1995) 100 118,9 135,7 143,3 166,7

ịNguồn : Cục Quản lý Dược Việt Nơm)

❖ Trong lĩnh vực nhập khẩu, thuốc chữa bệnh được nhập khẩu vào nước ta thông qua các doanh nghiệp được phép XNK trực tiếp Ngoài nguồn thuốc nhập theo con đường chính ngạch, một số thuốc được nhập khẩu vào nước ta bằng các hình thức khác như: viện trợ theo chương trình, nhập khẩu tiểu ngạch, nhập phi mậu dịch, nhập lậu tuy nhiên với số lượng không nhiều, khó theo dõi và cũng chưa có thống kê chính thức nào

Bảng 3 : Tổng giá trị nhập khẩu

Đơn vị: triệu USD

Tỷ lệ gia tăng (%) (so với 1995) 100 124,8 138,2 148,4 139,7

(Nguồn : Cục Quẩn lý Dược Việt Nơm)

Qua bảng 2 và bảng 3 ta nhận thấy: tốc độ sản xuất thuốc trong nước và nhập khẩu thuốc đều tăng trong các năm vừa qua Tổng giá trị nhập khẩu thuốc trước năm 1998 có tăng cao hơn so với tốc độ sản xuất trong nước, nhưng đến năm 1999, sau khi ngành Dược thực hiện đầu tư và phát triển, tổng giá trị nhập đã giảm so với thuốc sản xuất trong nước Chính vì vậy, phương hướng thực hiện CSTQG trong giai đoạn II (2001- 2005) là " thực hiện qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Dược theo hướng công nghiệp hoá, tập trung và chuyên môn hoá, ngành Dược phấn đấu sản xuất thuốc trong nước

Trang 10

phải đáp ứng được 50- 60% nhu cầu thuốc phòng và chữa bệnh", giảm dần lượng thuốc nhập khẩu trong tỷ trọng tiêu dùng thuốc của người dân [5]„

Mặc dù nền kinh tê cả nước còn gặp nhiều khó khăn, nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa ổn định nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc vẫn tăng trưởng đều đặn So sánh các chỉ tiêu của hai năm gần đây cho thấy: về giá trị tổng sản lượng năm 2000 tăng hơn năm 1999 là 33,99%; doanh thu sản xuất tăng 25,05% Tổng giá trị xuất khẩu tăng 79%; nhập khẩu tăng 10,15% [6] đã cho thấy những bước tiến đáng kể của ngành Dược Việt Nam

2.1.2 Sự gia tăng vê chủng loại thuốc:

Theo số liệu thống kê, năm 1993 chỉ có 775 mặt hàng thuốc trong nước

được cấp giấy phép lưu hành nhưng đến năm 1995, ở nước ta đã có khoảng

6000 thuốc được đăng ký trong đó có: 3400 thuốc trong nước với khoảng 150 hoạt chất và 2600 thuốc nhập khẩu với khoảng 600 hoạt chất.Và tính đến ngày 31/12/2000, số thuốc được cấp phép còn hiệu lực lên đến 9051 mặt hàng trong

đó thuốc trong nước: 5659 mặt hàng và 3392 thuốc nhập khẩu Chủng loại thuốc phong phú, đa dạng cùng với việc thực hiện các chiến lược sản phẩm, đầu tư kinh phí và nhân lực cho công tác Marketing do đó số mặt hàng mới được đưa ra thị trường nhanh chóng được chấp nhận hơn và việc tiêu thụ do đó cũng tăng theo tương ứng [6], [17]

Bên cạnh mặt tích cực của sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và chủng loại thuốc, chúng ta không thể không xét đến những vấn đề mới nảy sinh Đó là:

a) Sự phát triển của các chiến lược Marketing trong ngành Dược như khuyến mại, giảm giá, tạng quà, thông tin quảng cáo không loại trừ cả các kháng sinh của các nhà sản xuất trong và ngoài nước trong việc khuyến khích

kê đơn, thúc đẩy bán thuốc và tự sử dụng thuốc đã làm cho nhu cầu về thuốc của cộng đồng bị nhân lên rất nhiều và tăng vấn đề sử dụng thuốc không hợp

lý Lý do lợi nhuận, động cơ muốn chiếm lĩnh thị trường giữa những người

Trang 11

cạnh tranh đã gây ra sự biến động của thị trường thuốc và ỉà một trong những nguyên nhân làm nảy sinh nhu cầu thuốc bất hợp lý Lý do căn bản về kinh tế

và mối quan hệ đôi bên cùng có lợi tổn tại giữa các bác sĩ, trình dược viên của các công ty, những người bán buôn và bán lẻ cần được xem xét một cách cẩn thận hơn [13], [17]

b) Việc gia tăng về số lượng và chủng loại thuốc cũng kéo theo sự gia tăng

về vấn đề vi phạm chất lượng thuốc như để tồn kho các thuốc quá hạn, buôn bán thuốc giả, thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng Đặc biệt có cả một số thuốc do Chương trình Y tế quốc gia cung cấp không đạt tiêu chuẩn chất lượng hoặc đã hết hạn sử dụng Kháng sinh giả được tiêu thụ mạnh nhất là Ampicillin, Penicillin, Ciprofloxacin, Rifampicin, tiếp đến là các thuốc chống viêm: Prednisolon, Dexamethason và các thuốc khác như Diazepam, Salbutamol, Artesunat và các vitamin [7]

Theo PGS.TS Trịnh Văn Quỳ( Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm) thống kê: Thuốc nhập khẩu không đạt tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ cao hơn thuốc sản xuất trong nước l%.Trong số 1236 hoạt chất năm 2000 chỉ kiểm tra được 360 hoạt chất, số còn lại đang trôi nổi trên thị trường và nhiều thuốc trong sô này không

có tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá chất lượng, thiếu các chất chuẩn, chất đối chiếu đặc biệt là các thuốc nhiều thành phần và các thuốc được nhập mà chưa

có SDK Con số này đưa ra vấn đề về việc quản lý và kiểm nghiệm thuốc ở Việt Nam Ngoài ra các thuốc không đạt tiêu chuẩn thường được đem về tiêu thụ ở các vùng nông thôn(5,01%), miền núi, vùng sâu,vùng xa( 4,23%) là những nơi trình độ dân trí chưa cao và không tập trung nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại phù hợp với công tác kiểm nghiệm [7]

2.1.3 Sự phát triển của màng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng, đặc

biệt là hệ thống hành nghề Dược tư nhân

Theo tài liệu [4J, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia sản xuất và kinh doanh thuốc, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân:

Trang 12

Bảng 4 : Sô lượng các doanh nghiệp dược từ 1996 đến 1999

Loai hình Số lượng qua các năm Tỷ lê (%) tăng doanh nghiệp

1996 1997 1998 1999 1999/1996

cty, XN dược địa phương 118 126 132 126 106,7

Dự án đầu tư đã được cấp giấy phép 18 20 22 24 133,3

DN tư nhân, CTTNHH, CTCP 170 170 168 255 150,0

Tổng 323 334 340 424 131,3

(Nguồn: Niên giám thống kê y tế hàng năm)

Qua bảng trên chúng ta thấy số lượng các doanh nghiệp tăng không nhiều nhưng số lượng các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân tăng với tốc độ cao (150,0%) trong 4 năm, đặc biệt là trong năm 1999

Qua khảo sát các đơn vị bán lẻ thuốc ( 1999) [3] cho thấy:

- Tổng số điểm bán lẻ trên toàn quốc là 18051 trong đó của Nhà nước là

1921 cơ sở(10,64%) và của tư nhân( bao gồm nhà thuốc và đại lý) là 16130 cơ sở(89,36%)

Bảng 5 : Các chỉ tiêu đánh giá màng lưới cung ứng thuốc (1999)

Dân số

Người

Diện tích km2

Sô điểm bán lẻ Bình quân

1 điểm bán phục vụTổng sô NN TN N(ng) S(km2) R(km)77.263.000 330.440,7 18051 1921 16130 4280 18,336 2,28

Như vậy, hệ thống hành nghề Dược tư nhân đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cung ứng thuốc cho cộng đồng.Vậy, hệ thống này bao gồm những loại hình nào? Theo Pháp lệnh hành nghề Y dược tư nhân cùng các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành thì hiện nay ở Việt Nam có các loại hình HN DTN với số lượng như sau:

Trang 13

Bảng 5 : Sô lượng các loại hình HN D T N 1998-1999

3 Doanh nghiện tư nhân 10 15 5 0,09

4 Nhà thuốc tư nhân 5192 6350 1158 38,39

❖ Tính theo tỷ lệ thì lớn nhất là đại lý bán thuốc(59,12%), sau đó là nhà thuốc tư nhân(38,39%), thấp nhất là Công ty cổ phần(0,04%), (trong số này chưa tính đến các DNNN về dược đã cổ phần hoá trong đó có vốn góp của Nhà nước,cán bộ công nhân viên và vốn tư nhân) sau đó đến DNTN(0,09%) Hiện nay đang có 1 số DNNN chuyển sang loại hình Công ty cổ phần, trong tương lai loại hình này sẽ có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng do chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn

❖ Loại hình Công ty TNHH kinh doanh Dược có ở 31 tỉnh, thành phố trực thuộc TW(chiếm 50,82% tổng số tỉnh, thành phố trong cả nước) song chủ yếu tập trang ở Hà Nội(68) và TP Hồ Chí Minh(102) ( chiếm 72,65%) [2] là những nơi có thị trường thuốc sôi động và là 2 trung tâm bán buôn thuốc lớn nhất của cả nước mà từ đây, thuốc được phân phối đi các tỉnh thành khác

Trang 14

❖ Loại hình DNTN cho đến hết năm 1999, trong cả nước chỉ có 15 DNTN,

rải rác ở 10 tỉnh trong cả nước nhưng tập trang chủ yếu ở miền Nam song loai

hình này không được ưu tiên phát triển nhiều do các điều kiên về vốn và nguy

cơ rủi ro trong kinh doanh cao hơn so với loại hình Công ty TNHH [2],

❖ Hai loại hình bán lẻ thuốc phục vụ nhân dân chủ yếu là nhà thuốc tư nhân và đại lý của các doanh nghiệp Sự phát triển nhanh chóng của 2 loại hình này đã góp nhần làm giảm gánh nặng cho hệ thống quốc doanh Tuy nhiên, có một nhược điểm cần nhanh chóng khắc phục là sự phân bố các nhà

thuốc không đổng đều, thường tập trung nhiều ở thành phố, thị xã, thị trấn, nơi

đông dân, có mức sống cao, giao thông buôn bán đi lại thuận lợi mà cao điểm

là Hà Nội(1403- chiếm 22,09%) và TP Hồ Chí Minh(2139- chiếm 33,68%),

còn lại thưa thớt ở vùng sâu, vùng xa [2] Sự gia tăng số lượng các nhà thuốc

chủ yếu là do vấn đề lợi nhuận chi phối và điều này đã làm nảy sinh một vấn

đề khá bức xúc trong giai đoạn hiện nay Đó là tính không công bằng trong cung ứng và sử dụng thuốc của người dân giữa các vùng được thể hiện qua một số con số thống kê sau:

Bảng 6 : Bán kính bình quân có điểm bán thuốc

Trang 15

vùng xa, bán kính bình quân có lđiểm bán thuốc đều hơn 10km - quá xa so với yêu cầu trên.

Bảng 7 : Số dân bình quân 1 điểm bán thuốc phục vụ

Hà Nội - TP HỒ Chí Minh 2700

Các tỉnh - thành khác 12600

Bảng 8 : Tiền thuốc bình quân đầu người theo vùng (số liệu năm 1998)

(Nguồn: Cục Quản lý Dược)

Qua các bảng trên chúng ta nhận thấy một sự chênh lệch rõ rệt về tiêu dùng thuốc giữa các vùng khác nhau song có một tương quan nhất định với sự phát triển kinh tế- xã hội của các vùng Một nguyên nhân của tình trạng này đã được phân tích là hầu hết tiền thuốc do người dân tự bỏ tiền ra mua, còn tiền thuốc do nhà nước chi tính theo đầu người chỉ xấp xỉ đạt 0,67ƯSD(chiếm tỷ lệ 11,55% so với tiền thuốc bình quân đầu người- số liệu so sánh với năm 1999 - còn rất thấp) do đó chi tiêu về thuốc giữa các vùng phụ thuộc vào mức thu nhập của từng địa phương [1] Đây cũng là một trong những thách thức đặt ra cho ngành Y tế trong giai đoạn tới Chính vì vậy, trong định hướng phát triển

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2001- 2010, Đảng ta chủ trương: "Nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nâng cao chất lượng CSSK ở

Trang 16

tất cả các tuyến Đổi mới cơ chế, chính sách viện phí, mở rộng y tế tự nguyện, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Có chính sách trợ giúp cho người nghèo được khám chữa bệnh" và trong phương hướng phát triển kế hoạch 5 năm 2001- 2005 là cố gắng phấn đấu "bảo đảm sự bình đẳng thụ hưởng các dich vụ về y tế trong các tầng lớp dân cư

Qua phân tích trên, chúng ta thấy mặc dù mới bắt đầu đi vào hoạt động được khoảng 10 năm nhưng hệ thống hành nghề Dược tư nhân đã phát triển nhanh chóng, từng bước khẳng định vai trò của mình trong một cơ chế thị trường đầy năng động Hệ thống HNDTN đã có nhiều những đóng góp đáng

kể sau:

* Tăng thêm các điểm bán thuốc, mở rộng mạng lưới bán lẻ thuốc, tạo thuận lợi, dễ dàng cho người dân khi cần mua thuốc, chiếm lĩnh phần lớn thị trường bán lẻ

* Đã đóng góp thêm được một lượng sản phẩm nhất định phục vụ việc CSSK nhân dân Số cơ sở sản xuất thuốc tư nhân là 192 đơn vị, lớn hơn số cơ

sở sản xuất của Nhà nước (103) tuy vậy về quy mô còn nhỏ hơn nhiều Số mặt hàng được đăng ký sản xuất, lưu hành là 662 sản phẩm, bằng 16% so với sản phẩm của DNNN được phép lưu hành (4146) Tính theo giá trị sản lượng chiếm khoảng 5-7% giá trị tổng sản lượng toàn ngành Điều hạn chế là chất lượng sản phẩm chưa cao, phần lớn là sản phẩm đông dược Tuy nhiên, trong tương lai, lượng thuốc này sẽ gia tăng khi các dự án đầu tư được cấp phép đi vào hoạt động và khi số các DNNN về dược tiến hành cổ phần hoá nhiều hơn

* Góp phần nâng cao kiến thức về thuốc cho cộng đồng

* Góp phần hạn chế các điểm bán thuốc không hợp pháp

* Tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động

và tạo cho người dân sự tin tưởng vào ngành Dược

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống HNDTN cũng còn tồn tại không ít những nhược điểm

Trang 17

> Theo phân tích ở trên, mạng lưới bán thuốc tư nhân phân bố không

đồng đều đã dẫn đến sư không công bằng trong cung ứng thuốc cho nhân dân

Cũng phải thấy rằng một cơ chế thị trường tự do, năng động không thể bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận với thuốc cho đa số nhân dân, đặc biệt là với người nghèo.Công bằng trong vấn đề cung ứng thuốc cho nhân dân phải được hiểu là: "Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc, đặc biệt là TTY có chất lượng để người dân được sử dụng an toàn, hợp lý và có hiệu quả với giá

cả phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thu nhập của các tầng lớp dân cư" [14] Đây quả là một vấn đề nan giải cho ngành Dược Việt Nam trong cơ chế mới

> Thứ hai, do có quá nhiều loại hình cung ứng thuốc nên thuốc được bán

ra trên thị trường từ nhiều nguồn khác nhau rất khó xác định chất lượng, ảnh hưởng đến việc điều trị và sức khoẻ người dân Cùng với sự gia tăng các cơ sở bán thuốc tư nhân là sự vi phạm quy chế chuyên môn ngày càng nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lý

Sau 15 năm đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngành Y tế cùng xã hội đã có những biến chuyển mạnh mẽ, có những bước phát triển tích cực Tuy vậy, cơ chế mới cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn

đề phức tạp đòi hỏi phải có những chính sách xã hội thích hợp nhằm giữ được

sự Ổn định và phát triển của ngành Y tế nói riêng và cả xã hội nói chung, phát huy những thành tựu đồng thời cũng hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực

mà cơ chế đem lại

2 2 Sự iựa chọn dịch vụ Dược của cộng đồng:

Sức khoẻ của bất cứ cộng đồng nào cũng phụ thuộc vào sự tương tác và cân bằng giữa nhu cầu của cộng đồng và nguồn lực y tế sẩn có, cũng như sự lựa chọn và ứng dụng các can thiệp sức khoẻ và các can thiệp có liên quan đến sức khoẻ

Trang 18

NGUỖN L ực

Y TẾ

(sẵn có từ các dịch vụ sức khoẻ, các ngành khác,

từ công đồng)

CAN THIỆP SỨC KHOẺ

Hình 1 : Đánh giá các can thiệp sức khoẻ [11]

Chăm sóc sức khoẻ hay các nhu cầu về sức khoẻ liên quan đến nhiều nhân

tố Những nhân tố đó bao gồm các nhân tố về kinh tế xã hội, lối sống, khả năng tiếp cận với thuốc, khả năng quản lý người bệnh thông qua quá trìng tự CSSK(self-care), sức khoẻ cộng đồng và các nhân tố môi trường, sự phong phú

và sẵn sàng đáp ứng của các sản phẩm y tế cũng như các nhân tố về dân số và dịch tễ học [19] Trong khoá luận này, chúng tôi muốn đề cập đến khả năng tiếp cận, lựa chọn và sử dụng các dịch vụ Dược của cộng đổng

2.2.1 Vài nét về tình hình cung ứng thuốc hiện nay

Theo một báo cáo của nhóm tư vấn của WHO có nhận xét: " Người tiêu dùng ngày càng tỏ ra thích tính thuận tiện và sẵn sàng của các loại thuốc có sẵn trên thị trường hơn là phải chờ đợi lâu tại các bệnh viện và các trung tâm y tế" Trên thế giới, vấn đề tự cấp phát thuốc ngày càng được thúc đẩy và được coi là biện pháp làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Cơ cấu thay đổi đã làm tăng tính tin cậy hơn vào khu vực kinh tế tư nhân và làm cho khu vực tư nhãn được đánh giá đúng đắn hơn Tuy nhiên, vấn đề tự cấp phát thuốc

cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mà điển hình là ở các nước kém phát triển, do

Trang 19

chính sách trên nên gần như tất cả các thuốc đều có sẵn trên thị trường và đều

có thể mua bán không cần đơn Bên canh đó là xu hướng gia tăng sô người tự

sử dụng các thuốc có tính chất thương mại hoá, sự xuất hiện của những cá nhân bán thuốc bất hợp pháp, sự phát triển nhanh chóng về số lượng các sản phẩm có sẩn và sự thay đổi sức mua của người tiêu dùng Sức khoẻ đang dần dần bị dược phẩm hoá và con người ngày càng lệ thuộc vào thuốc [18]

Một điều đáng chú ý ở đây cũng được nhắc đến là vai trò của người dược

và những người bán thuốc khác trong việc hướng dẫn tự sử dụng thuốc( self- medication) Những nghiên cứu ở một số nước kém phát triển đã chỉ ra rằng các hiệu thuốc không chỉ được đặt ở những nơi mua bán thuốc( bệnh viện,

phòng khám ) mà còn được đặt ở những nơi mọi người tìm kiếm những thông

tin và giải đáp thắc mắc vể các vấn đề sức khoẻ Hầu hết những nghiên cứu

này được tiến hành ở vùng nông thôn và thành thị và đã đánh giá các hiệu

thuốc như những nơi CSSKBĐ [18] Trong hệ thống tổ chức của ngành y tế nước ta, y tế cơ sở là tuyến đầu tiên tiếp xúc với cá nhân, gia đình và cộng đồng, thực hiện các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân Y tế

cơ sở là cầu nối giữa ngành y tế với các tổ chức chính quyền, đoàn thể, xã hội

và các tổ chức kinh tế địa phương và do đó, y tế cơ sở có vai trò to lớn trong việc xã hội hoá công tác CSSK nhân dân [8] Chính vì vậy mà chủ trương " Hoàn chỉnh quy hoạch, củng cố và nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, có bác sĩ làm việc ở tất cả các trạm y tế xã đổng bằng và trung du, phần lớn xã miền núi" và chính sách " đồng bộ cả trong đào tạo và phân phối cán bộ Dược " đang được đặt ra cấp bách

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Bộ Y tế, tuyến y tế cơ sở của nước ta có rất nhiều vấn đề phải quan tâm

* Các điểm dịch vụ y tế công cộng thường không có đủ thuốc phục vụ nhân dân và đó là lý do khiến ngưòi dân tìm đến các điểm bán thuốc tư nhân

Trang 20

* Vấn đề vi phạm quy chế chuyên môn ở các điểm bán thuốc tư nhân lại rất phổ biến Nhiều cơ sở không có đăng ký kinh doanh, thậm chí người bán không có chuyên môn, thuốc có thể cùng bán với các loại hàng hoá khác, nhiều khi có thuốc giả, thuốc kém phẩm chất Ngoài ra vì mục đích kinh

doanh nên những người bán thuốc ở đây nhiều khi không quan tâm đến việc

lạm dụng thuốc hay điều trị không đúng bệnh mà thường chỉ chú ý chọn thuốc theo thị hiếu của người dân [8] Do đó nhiệm vụ góp phần nâng cao nhận thức của người dân về cách sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đã không thực hiện được Trong khi đó, một vài nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một thói quen của con người là tìm kiếm những lời khuyên của các dược sĩ và nhĩíng người bán thuốc về cách sử dụng thuốc nói chung Chính vì vậy mà người dược sĩ cần phải nhìn nhận lại vai trò của mình, đặc biệt là trong vấn đề tự CSSK, tự cấp phát và sử dụng thuốc của người dân Họ không chỉ đóng vai trò những người cung cấp thuốc mà còn đóng vai trò của:

- Những nhà tư vấn để cung cấp những thông tin quan trọng về thuốc cho bệnh nhân để thoả mãn yêu cầu của họ Người dược sĩ phải có khả năng giúp người bệnh cảm thấy phù hợp và có trách nhiệm đối với vấn đề tự cấp thuốc và khi cần thiết phải tham khảo những đơn thuốc bệnh nhân đã sử dụng

- Người hướng dẫn và giám sát: người dược sĩ phải luôn coi trọng bệnh nhân, coi trọng và phối hợp với những người làm việc trong lĩnh vực sức khoẻ cộng đồng hay đúng hơn, các dược sĩ chính là một bộ phận của hệ thống CSSK có vai trò quản lý và phân phối thuốc

Người dược sĩ, để thực hiện được những trọng trách này phải đặt yếu tố nghề nghiệp lên hàng đầu, yếu tố kinh tế được coi là quan trọng trong một chừng mực nhất định.Tuyên ngôn Thực hành hiệu thuốc tốt( THHTT) của Hiệp hội Dược học thế giới( FIP) (5/9/1993) đòi hỏi người dược sĩ phải cung ứng đủ thuốc, cung cấp thông tin tốt, hướng dẫn bệnh nhân dùng thuốc, theo dõi hiệu quả của thuốc và có vai trò quyết định trong việc dùng thuốc

Trang 21

2.2.2 Một sô tiêu chuẩn của cung ứng thuốc cho công đồng

Trong vài thập kỷ gần đây, Dược cộng đồng đã đê cập đến các hoạt động chăm lo thuốc men trong cộng đồng, từ việc cung ứng đủ, phân phối thuận tiện thuốc có chất lượng đến việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, kinh tế Các hoạt động thông tin- giáo dục truyền thông về thuốc và sử dụng thuốc được tiến hành thường xuyên thông qua hê thống các phương tiện thông tin đại chúng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra 6 tiêu chuẩn để hướng dẫn, giám sát và đánh giá việc cung ứng thuốc ở tuyến y tế cơ sở và chúng tôi cũng căn

cứ vào đây để đề ra các nội dung khảo sát tại cộng đồng như sau [13]:

* Thuận tiện: Điểm bán thuốc gần dân, người dân đi đến điểm bán thuốc không mất nhiều thời gian dù đi bằng phương tiện thông thường( 3 0 - 6 0 phút)

* Giờ giấc bán:

- Phù hợp với tập quán sinh hoạt của địa phương

- Cần có hiệu thuốc phục vụ 24/24 giờ để phục vụ cấp cứu

- Thủ tục: mua bán thuận tiện, nhất là thuốc thông thường không cần đơn

- Có sẵn và đủ các loại thuốc thiết yếu

- Có đủ số lượng thuốc đáp ứng yêu cầu người mua

* Chất lượng thuốc đảm bảo và không bán các thuốc: chưa có số đăng ký hoặc chưa được phép nhập, sản xuất; thuốc giả, kém chất lượng, thuốc quá hạn dùng

* Giá cả hợp lý và có niêm yết giá công khai: Có các loại thuốc cùng chủng loại nhưng nguồn gốc khác nhau để phù hợp với khả năng tài chính của người mua

Trang 22

* Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.

* Kinh tế: đảm bảo giá thành điều trị, giá thuốc phù hợp khả năng chi trả của từng đối tượng khác nhau; tiết kiệm chi phí cho cộng đồng và cá thể Bên cạnh đó cũng đảm bảo thu nhập và lãi hợp lý cho người bán thuốc

Các tiêu chuẩn trên cũng phù hợp với quan điểm về Marketing Dược của

Mickey c Smith như sau: " Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính sách chiến lược marketing của thuốc và nhằm thoả mãn nhu cầu của bệnh nhân, nhằm phục vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Ngoài các mục tiêu, chức năng của Marketing thông thường, do đặc thù riêng của ngành yêu cầu marketing dược có nhiệm vụ: thuốc được bán ra đúng loại thuốc, đúng giá, đúng số lượng, đúng lúc và đúng nơi"

2.2.3 Mô hình dịch vụ Dược của nước ta hiện nay:

Theo tài liệu [13], ở nước ta hiện nay có các loại hình dịch vụ Dược chính

sau đây:

- Các DNNN làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thuốc: các Cty DP, Xí nghiệp DP TW, địa phương

- Các Cty TNHH, Cty cổ phần, Cty nước ngoài/liên doanh có bán thuốc

- Các hiệu thuốc trực thuộc các Cty DP, quầy của các hiệu thuốc đặt tại các

xã, phường

- Các đại lý cho Cty DP, XNDP tại xã

- Các quầy thuốc của trạm y tế xã

- Thuốc dành cho bảo hiểm y tế

- Các dịch vụ y tế Nhà nước, tập thể, tư nhân kết hợp bán thuốc

- Các nhà thuốc tư nhân

- Các cá nhân bán thuốc bất họp pháp

- Các cơ sở YHCTDT

Trang 23

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT

3.1 Đôi tượng và phương pháp nghiên cứu:

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Địa bàn nghiên cứu chủ yếu: quận Cầu Giấy( Hà Nội) với mục tiêu để rút

ra kết luận

- Địa bàn nghiên cứu để so sánh: huyện Từ Liêm( Hà Nội) Do vấn đề thời gian và khả năng có hạn, chúng tôi tiến hành khảo sát trên địa bàn huyện Từ Liêm với cỡ mẫu bằng 1/2 so với quận Cầu Giấy Chính vì vậy, so sánh của

chúng tôi chỉ dừng lại ở mức độ so sánh sơ bộ, chưa có ý nghĩa về mặt thống

- Đối tượng nghiên cứu: tất cả những người đã đi khám chữa bệnh và mua thuốc trong các hộ gia đình đều có khả năng được chọn vào mẫu trong đó chú trọng đến các bà mẹ( do họ thường là người chăm nom và quyết định cách xử trí khi có người ốm trong nhà)

3.1.2 Phương pháp nghiên cứu:

* Khoá luận sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang thuộc loại nghiên cứu không can thiệp:

- Nghiên cứu không can thiệp là nghiên cứu trong đó nhà nghiên cứu chỉ mô

tả và phân tích các đối tượng hay hoàn cảnh nhưng không can thiệp

- Nghiên cứu mô tả bao gồm việc thu thập và trình bày số liệu một cách có

hệ thống nhằm đưa ra một bức tranh rõ nét về một tình hình cụ thể

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm định lượng sự phân bố của một số biến

số trong quần thể nghiên cứu tại một thời điểm Trong khoá luận này, chúng tôi tiến hành khảo sát sự lựa chọn/hành vi của con người và sự hiểu biết, thái

độ, niềm tin và các quan điểm có thể giúp giải thích hành vi đó Ngoài ra, chúng tôi có tiến hành khảo sát về một số các đặc điểm về mặt kinh tế- xã hội của con người như tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hoá có thể giúp đánh giá

sự khác nhau trong hành vi, sự hiểu biết, niềm tin của họ

Trang 24

* Phương pháp điều tra:

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập số liệu chủ yếu bằng cách phỏng vấn trực tiếp có sử dụng bộ câu hỏi với danh mục các

câu hỏỉ cố đinh (xem phụ lục 1) Ngoài ra có thể sử dụng ngay bộ câu hỏi in sẵn đó( hay bộ câu hỏi tự điền) gửi tới đối tương nghiên cứu và họ trả ỉờí bằng

cách tự điền vào Có hai cách được sử dụng để gửí bộ câu hỏi đến đốỉ tượng nghiên cứu:

- Phát tận tay các bộ câu hỏi cho người trả lời và sau 3-5 ngày tới thu lại

- Nhờ những người có uy tín trong tổ dân phố, thôn/xóm (VD: bí thư, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn/xóm ) gửi phiếu đến các hộ gia đình Tuy nhiên, trong nghiẽn cứu này, cách này ít được áp dụng

3.1.3 Xác định cỡ mẫu: ( cho địa bàn nghiên cứu chủ yếu là quận Cầu

Giấy) Áp dụng công thức sau:

dTrong đó:

n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có

P: tỷ lệ số người có sử dụng thuốc trong vòng 4 tuần qua Tỷ lệ này được xác định qua 1 nghiên cứu thử trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức và có tham khảo 1 nghiên cứu trước đó Kết quả thu được p = 0,8 (kết quả nhận được từ 24/30, trong đó 24 là số người có sử dụng thuốc trong vòng 4 tuần qua; 30 là số người tiến hành khảo sát thử)

d: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu và tỷ lệ của quần thể Trong nghiên cứu này, áp dụng với d = 5%( hay 0,05)

a : mức ý nghĩa thống kê (được quy định bởi người nghiên cứu) Trong trường hợp này, lấy a = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%

Z(1_ a/2) • giá trị của hệ số giới hạn tin cậy, Z(1_ a/ 2 ) phụ thuộc vào hệ số tin

cậy (1- 00

Với a = 0,05 :=> hệ số tin cậy (1- a) = 0,95 và tương ứng có giá trị:

Trang 25

Vậy, cỡ mẫu nghiên cứu là:

n = (1,96)2 = 246 (mẫu)

(0,05)

3.1.4 Phương pháp chọn mẫu:

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

bao gồm các bước sau:

+ Trên đia bàn quận Cầu Giấy có 7 phường, chọn 4 trong số 7phường bằng

phương pháp chọn ngẫu nhiên đơn

+ Trên địa bàn mỗi phường, chọn ngẫu nhiên 2 tổ dân phố ( ta có 8 tổ dân phố được chọn)

+ Đối với mỗi tổ dân phố, số phiếu phát ra là 30- 35 phiếu cho các hộ gia đình

Tuy nhiên, các hộ gia đình khảo sát trong nghiên cứu này không hẳn được chọn một cách thực sự ngẫu nhiên như phải vào đúng các hộ gia đình cách nhau đúng một khoảng cách được chọn ngẫu nhiên nào đó Đối với các gia đình mà trong quá trình đi phát phiếu họ đi vắng hay vì những lý do khác nhau

từ chối không trả lời phỏng vấn hay điền vào phiếu câu hỏi đều phải loại mặc

dù các gia đình đó trên lý thuyết phải được chọn vào mẫu Tuy nhiên, tất cả các hộ gia đình được chọn để khảo sát trong nghiên cứu này đều không có sự sắp xếp nào trước

Tương tự, đối với huyện Từ Liêm chúng tôi cũng tiến hành như vậy

+ Trên địa bàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn Chọn ngẫu nhiên 2 xã trong huyện

+ Trên địa bàn mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 3 thôn/ hoặc xóm (ta có 6 thôn/xóm được chọn)

+ Đối với mỗi thôn/xóm, số phiếu phát ra là 20 - 25 phiếu cho các hộ gia đình

* Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn có những ưu điểm là:

- Không cần thiết phải có khung mẫu gồm toàn bộ đơn vị mẫu của quần thể nghiên cứu, chỉ cần có khung mẫu của các cụm là đủ

Trang 26

- Mẫu này dễ chọn hơn mẫu ngẫu nhiên đơn có cùng môt kích thước vì những đơn vị mãu bản thân họ đã tập hợp với nhau thành các nhóm thay vì

sống rải rác trong toàn bộ quần thể nghiên cứu Do đó có thể tiết kiệm được thời gian và kinh phí đi lại

* Tuy nhiên, mẫu cũng có nhược điểm là:

- So với mẫu ngẫu nhiên đơn, sẽ có một xác suất lớn hơn về sự không đại diện của mẫu được chọn ra ( tuỳ thuộc vào số cụm được chọn nhưng do những điều kiện có hạn của đề tài, số cụm được chọn không phải là lớn)

- Phương pháp này có thể gặp sai số do đường xá

3.1.5 X ử lý sô liệu: bằng phần mềm SPSS 9.0 for Windows.

3.1.6 Thời gian khảo sát: từ 7/3/2001 đến 7/5/2001.

3.2 Kết quả khảo sát và nhận xét:

Một vài nét về quận cầu Giấy và huyện Từ Liêm - Hà Nội (xem phụ lục 2 5}.

* Quận Cầu Giấy là một quận nội thành của thủ đô Hà Nội, có diện tích ll,96km2 và dân số là 132.500 người (số liệu năm 1999) Trước đây, Cầu Giấy, Cầu Diễn, Mai Dịch, Nghiã Đô và Nghĩa Tân là 5 trong số 12 thị trấn của huyện Từ Liêm Cho đến năm 1998, sau khi tách quận, Cầu Giấy trở thành một quận, các thị trấn trên( trừ Cầu Diễn) trở thành các phường theo đơn vị hành chính tương ứng Ngoài ra, Cầu Giấy hiện nay được mở rộng thêm 4 phường nữa đó là: Dịch Vọng, Quan Hoa, Trung Hoà và Yên Hoà Do là một quận mới nên Cầu Giấy rất tích cực phát triển và có tốc độ đô thị hoá rất nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

v ề hệ thống y tế, theo thống kê của Trang tâm y tế quận Cầu Giấy, đến tháng 11/2000, trên địa bàn toàn quận có 3 bệnh viện, 7 trạm y tế phường, 62 phòng khám bệnh( đa khoa, thông thường và chuyên khoa), 66 nhà thuốc tư nhân, 15 cơ sở YHCTDT và nhiều dịch vụ khác, phục vụ kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh cũng như cung ứng thuốc cho người dân

Trang 27

* Huyện Từ Liêm thuộc ngoại thành Hà Nội bao gồm 1 thị trấn Cầu Diễn

và 15 xã, có diện tích 75,lkm2 và dân số 189.700 người (theo số liệu năm 1999) Cơ cấu ngành nghể của huyện Từ Liêm chủ yếu vẫn là làm nông nghiệp

Về hệ thống y tế, cũng theo thống kê của Trung tâm y tế huyện Từ Liêm, đến năm 2000, trên địa bàn huyện có 1 bệnh viên, 16 trạm y tế xã và thị trấn với 13 dược tá đang công tác, 34 phòng khám( có 1 phòng khám Y cao), 23

nhà thuốc tư nhân nhưng phân bố không đồng đều( chỉ có ở thị trấn Cầu Diễn:

4; xã CỔ Nhuế: 9; Xuân Đỉnh: 4 và Đông Ngạc: 2, các xã khác không có NTTN), 20 đại lý thuốc, 6 cơ sở YHCTDT và một số các dịch vụ y tê khác

Theo số liệu thu được ở 2 xã khảo sát có:

+ Xã Đông Ngạc: s = 362,4ha, dân số 16925 người Nghề nghiệp chính là nông nghiệp và một bộ phận là công chức với thu nhập bình quân đầu người là 3,36 tr.VNĐ/năm Số hộ nghèo là 11%(2000)

+ Xã Xuân Đỉnh: s = 558ha (không có số liệu về dân số) Nghề nghiệp chính là làm bánh mứt kẹo với thu nhập bình quân đầu người là 3,6 tr.VNĐ/năm Số hộ nghèo là 1% (2000)

3.2.1 Mô hình dịch vụ Dược ở cộng đồng:

Sau quá trình nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi có đưa ra mô hình dịch vụ

Dược ở cộng đồng như sau:

Trang 29

3.2.2 Kết quả phiếu khảo sát thu được:

Để tăng tính chính xác của kết quả khảo sát, chúng tôi chỉ cần lấy những thông tin trong vòng 1 tháng gần nhất để giảm sai số do nhớ lại( như vậy, đối vớỉ những người mà trong vòng 1 tháng trở lại đây không có vấn đề vé sức khoẻ và không đi mua thuốc thì những phiếu đó sẽ bị loại mà theo tỷ lê điều tra ban đâù là khoảng 20%) và chúng tôi cũng loại những phiếu không điền đầy đủ các mục yêu cầu Kết quả thu thập được trình bày trong bảng sau:

Bảng 9: Kết quả sô phiếu khảo sát thu được

(Chú thích: Các địa bàn (1) (2), (3), (4) thuộc quận Cẩu Giấy

(5), (ố) thuộc huyện Từ Liêm ).

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi có tiến hành thu thập một số các đặc điểm về mặt kinh tế- xã hội của người dân và thu được kết quả như sau:

Trang 30

3.2.3 Cơ cấu nghê nghiệp của người dân:

Bảng 11 : Phân loại nghề nghỉêp của người dân

STT Nghề nghiệp Quận Cầu

Giấy

Tỷ lê (%)

□ Quân Cầu Giấy 0 Huyện Từ Liêm

Hình 3: Cơ cấu nghề nghiệp của người dân

Trang 31

Nhận xét: Trong số những người được khảo sát trong quân Cầu Giấy, tỷ

lệ nghỉ hưu là cao nhất ( 31,7%), tiếp theo là công chức Nhà nước (22,3%) và

bộ đội (18,3%), không có người làm nông nghiệp Còn ở huyện Từ Liêm, tỷ lệ những người nội trợ - bán hàng ở nhà là cao nhất (37,2%), sau đó là những người nghỉ hưu (30,9%) và làm nông nghiệp (13,8%), không có thành phần

bộ đội còn tỷ lệ công chức Nhà nước cũng rất thấp

(4,3%)-3.2.4 Cơ cấu trình độ văn hoá của người dân:

Bảng 12 : Phân loại trình độ văn hoá của người dân

STT Trình độ văn hoá Quận

Cầu Giấy

Tỷ lê(%)

□ Quận Cầu Giấy 9 Huyện Từ Liêm

Hình 4: Phân loại trình độ văn hoá của người dân

Trang 32

Theo thống kê, tại quận Cầu Giấy, chiếm tỷ lệ cao nhất là trình độ trên đạihọc, ĐH- CĐ (64,4%), sau đó là tốt nghiệp PTTH (29,2%) Trình độ trungcấp, tốt nghiệp PTCS và THCS chiếm tỷ lệ không đáng kể ở huyện Từ Liêm, chiếm tỷ lệ cao nhất là TN PTTH (60,6%), sau đó là trình độ ĐH- CĐ trở lên (16,0%), còn lại là trung cấp và TNPTCS và THCS Như vậy, có thể nhận xét

sơ bộ là quận Cầu Giấy, trình độ dân trí cao hơn ở huyện Từ Liêm Điều này

là phù hợp với sự khác nhau về cấu trúc nghề nghiệp của hai nơi và có một ảnh hưcmg nhất định đến sự lựa chọn các dịch vụ khám chữa bệnh và dịch vụ Dược của họ

3.2.5 Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân:

Trong trường hợp có vấn đề với sức khoẻ, người dân đã hành động như thế nào? Chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:

Bảng 13 : Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân

STT Noi KCB đầu tiên Quận

Cầu Giấy

Tỷ lệ(%)

Huyện

Từ Liêm

Tỷ lệ(%)

Ngày đăng: 07/08/2015, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Vỉết Hùng - Một số ý kiến về hành nghề Dược tư nhân. Tạp chí Dược học - SỐ 10/2000 (tr 5-8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về hành nghề Dược tư nhân
Tác giả: Lê Vỉết Hùng
Nhà XB: Tạp chí Dược học
Năm: 2000
5. Lê Văn Truyền - Định hướng triển khai thực hiện CSTQG trong giai đoạn tiếp theo ( 2001 - 2005). Tạp chí Dược học 1/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng triển khai thực hiện CSTQG trong giai đoạn tiếp theo ( 2001 - 2005)
Tác giả: Lê Văn Truyền
Nhà XB: Tạp chí Dược học
Năm: 2001
7. Kim Dung - Thuốc giả... chết thật. Báo Hà Nội Mới ngày 24/4/2001 (tr.2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc giả... chết thật
Tác giả: Kim Dung
Nhà XB: Báo Hà Nội Mới
Năm: 2001
9. Pamela Wright và Ths. Prisca Zwanikken - Nghiên cứu cộng đồng:Vạch kế hoạch, phương pháp và đánh giá. Viện Nhiệt đới Hoàng gia(KIT) Amsterdam - Hà Lan (Đề án hợp tác Việt Nam - Hà Lan12/1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cộng đồng:Vạch kế hoạch, phương pháp và đánh giá
Tác giả: Pamela Wright, Ths. Prisca Zwanikken
Nhà XB: Viện Nhiệt đới Hoàng gia(KIT) Amsterdam - Hà Lan
Năm: 1995
11. Corlỉen M. Varkevisser; Indra Pathmanathan; Ann Brownlee - Thiết kế vằ tiến hành các dự án nghiên cứu hê thống y tế. Bản dich của Trường Cán bộ quản lý y tế - HN 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế vằ tiến hành các dự án nghiên cứu hê thống y tế
Tác giả: Corlỉen M. Varkevisser, Indra Pathmanathan, Ann Brownlee
Nhà XB: Trường Cán bộ quản lý y tế
Năm: 1998
16. Nguyễn Tiến Khanh - úng dụng thống kê trong công tác Dược Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng thống kê trong công tác Dược
Tác giả: Nguyễn Tiến Khanh
17. Torkel Falkenberg, Nguyen Thanh Binh, Mattias Larsson, Nguyen Thanh Do and Goran Tomson - Pharmaceutical sector in transition - A cross sectional study in Viet Nam. Vol 31 No. 3 September 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmaceutical sector in transition - A cross sectional study in Viet Nam
Tác giả: Torkel Falkenberg, Nguyen Thanh Binh, Mattias Larsson, Nguyen Thanh Do, Goran Tomson
Năm: 2000
18. Vinay R. Kamat and Mark Nichter - Pharmacies, self - medication and Pharmaceutical Marketing in Bombay, India. Elsevier Science Ltd, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmacies, self - medication and Pharmaceutical Marketing in Bombay, India
Tác giả: Vinay R. Kamat, Mark Nichter
Nhà XB: Elsevier Science Ltd
Năm: 1998
1. Lê Viết Hùng - Vài nét về thị trường thuốc thế giới và Việt Nam. Tạp chí Dược học - Số 2/2000 (ír 6-7) Khác
3. Đề tài: Khảo sát phân tích hoạt động của hệ thống hành nghề Dược tư nhân trong 10 năm đổi mới 1990 - 2000. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (Mã số T41/96) Khác
4. Lê Viết Hùng - Nguyễn Văn Yên - Tình hình cung ứng và xuất nhập khẩu thuốc giai đoạn 1990 - 1999. Tạp chí Dược học tháng 11 và12 / 2000 Khác
6. Triệu Thị Bích - Ngành Dược đang tự khẳng định. Báo Hà Nội Mới ngày 29/3/2001 (tr2) Khác
8. Bộ Y tế - UNICEF - Quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở tuyến y tế cơ sở. Nhà xuất bản Y học - 1998 (tr 83-84) Khác
10. Lê Hùng Lâm - Đặng Văn Khoát - Nghiên cứu sức khoẻ công cộng. Trường cán bộ quản lý y tế - HN 1993 Khác
12. UBTV Quốc hội - Pháp lệnh Hành nghể Y Dược tư nhân 30/9/1993 Khác
13. Bộ môn Quản lý kinh tế Dược - Giáo trình quản lý kinh tế dược. Trường Đại học Dược Hà Nội - 2000 Khác
14. Bộ môn Quản lý kinh tế Dược - Giáo trình Dược xã hội học và Pháp chế hành nghề Dược. Trường Đại học Dược Hà Nội - 2000 Khác
19. Report of the 4th WHO Consultative Group on the Role of the Pharmacist - The role of the Pharmacist in self- care and self- medication - The Hague, The Netherlands ( 26-28 August 1998).Và một sô bài báo, tạp chí khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4 : Sô lượng các doanh nghiệp dược từ 1996 đến 1999 - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 4 Sô lượng các doanh nghiệp dược từ 1996 đến 1999 (Trang 12)
Bảng 5 : Sô lượng các loại hình HN D T N 1998-1999 - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 5 Sô lượng các loại hình HN D T N 1998-1999 (Trang 13)
Bảng 11  : Phân loại nghề nghỉêp của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 11 : Phân loại nghề nghỉêp của người dân (Trang 30)
Hình 3: Cơ cấu nghề nghiệp của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Hình 3 Cơ cấu nghề nghiệp của người dân (Trang 30)
Bảng 12 : Phân loại trình độ văn hoá của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 12 Phân loại trình độ văn hoá của người dân (Trang 31)
Bảng  13  : Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
ng 13 : Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân (Trang 32)
Hình 5: Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Hình 5 Nơi lựa chọn khám chữa bệnh đầu tiên của người dân (Trang 33)
Bảng 11: Tình hình chọn nơi mua thuốc của người dân - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 11 Tình hình chọn nơi mua thuốc của người dân (Trang 34)
Bảng  18 : Lý do để người dân đến mua thuốc - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
ng 18 : Lý do để người dân đến mua thuốc (Trang 39)
Bảng  19 : Lý do để người dân đến mua thuốc ở cơ sở y học cổ truyền - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
ng 19 : Lý do để người dân đến mua thuốc ở cơ sở y học cổ truyền (Trang 40)
Hình  7: So sánh yếu tô tin tưởng chất lượng thuốc giữa các loại hình - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
nh 7: So sánh yếu tô tin tưởng chất lượng thuốc giữa các loại hình (Trang 46)
Bảng 25: Đánh giá hiểu biết của người dân về các yếu tố tiên quan - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 25 Đánh giá hiểu biết của người dân về các yếu tố tiên quan (Trang 47)
Hình 8: So sánh yếu tố tin tưởng người bán / cơ sở giữa các loại hình - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Hình 8 So sánh yếu tố tin tưởng người bán / cơ sở giữa các loại hình (Trang 48)
Hình 9: So sánh yếu tô tiện đường đi giữa các loại hình - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Hình 9 So sánh yếu tô tiện đường đi giữa các loại hình (Trang 49)
Bảng 2 6 : Khoảng cách từ nhà hô dán đến noi mua thuốc - Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm   hà nội
Bảng 2 6 : Khoảng cách từ nhà hô dán đến noi mua thuốc (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm