1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

123 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 11,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng lên việc áp dụng các biện pháp hạn chế tín dụng đối với doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Na

Trang 1

NGUYỄN TẤN TÀI

TÁC ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG LÊN VIỆC CẤP TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

NGUYỄN TẤN TÀI

TÁC ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG LÊN VIỆC CẤP TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 3

công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào.

Tác giả

Nguyễn Tấn Tài

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ

Lời nói đầu

Chương 1 - Tổng quan về tác động của mối quan hệ tín dụng ngân hàng lên

việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1

1.1 Những lý thuyết về quan hệ tín dụng ngân hàng 1

1.1.1 Khái niệm quan hệ tín dụng ngân hàng 2

1.1.2 Điều kiện tồn tại của quan hệ tín dụng ngân hàng 3

1.2 Các tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt động cấp tín dụng trong ngân hàng thương mại 6

1.2.1 Các tác động có lợi của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại 6

1.2.2 Các tác động tiêu cực của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại 12

1.2.2.1 Vấn đề ràng buộc ngân sách mềm 13

1.2.2.2 Các giải pháp cho vấn đề ràng buộc ngân sách mềm 14

1.2.2.3 Vấn đề tắc nghẽn 17

1.2.2.4 Giải pháp cho vấn đề tắc nghẽn 18

1.2.3 Các nghiên cứu đã có về quan hệ tín dụng ngân hàng 21

1.2.3.1 Tác động của mức độ cạnh tranh trên thị trường tín dụng tới sự ảnh hưởng của quan hệ tín dụng ngân hàng lên hoạt động cấp tín dụng 21

1.2.3.2 Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng lên hoạt động cấp tín dụng 24

Kết luận chương 1 27

Trang 5

2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

28

2.1.1 Thông tin chung 28

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 29

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 29

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm 31

2.2 Thực trạng cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 32

2.2.1 Quy trình cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 32

2.2.2 Tình hình tăng trưởng tín dụng và cơ cấu nợ của ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 35

2.2.3 Thực trạng rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 39

2.3 Giả thuyết nghiên cứu về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng lên việc áp dụng các biện pháp hạn chế tín dụng đối với doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 40

2.4 Tổng quan về các phương pháp nghiên cứu đã có về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng lên khả năng doanh nghiệp bị hạn chế tín dụng 42

2.5 Giới thiệu mô hình nghiên cứu 45

2.6 Dữ liệu và phạm vi nghiên cứu 47

2.6.1 Thống kê mô tả về hạn chế tín dụng 47

2.6.2 Thống kê mô tả các biến kiểm soát 54

2.6.3 Phạm vi nghiên cứu 56

2.7 Phương pháp xây dựng mô hình nghiên cứu 57

2.7.1 Xác định việc bị hạn chế cấp tín dụng 57

2.7.2 Đo lường các biến thể hiện quan hệ tín dụng ngân hàng 59

2.7.3 Các biến kiểm soát 64

Kết luận chương 2 67

Trang 6

3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 70

3.3 Kết luận và các giải pháp đề xuất 74

3.3.1 Kết luận từ kết quả nghiên cứu 74

3.3.2 Các giải pháp đề xuất cấp tín dụng đối với doanh nghiệp tại ngân hàng Vietinbank 76

3.3.2.1 Giải pháp từ phía ngân hàng 77

3.3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 80

3.4 Hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai 81

Trang 7

Thương Việt Nam

Trang 8

Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề kinh doanh của Vietinbank năm 2013 Bảng 2.4: Phân tích chất lượng nợ cho vay của Vietinbank giai đoạn 2009-2013 Bảng 2.5: Thống kê ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp

Bảng 2.6: Thống kê các hình thức hạn chế tín dụng

Bảng 2.7: Thống kê về số lượng quan hệ tín dụng ngân hàng

Bảng 2.8: Kết quả thống kê của các biến kiểm soát là biến giả

Bảng 3.1: Kết quả mô hình hồi quy Probit chưa tối ưu hóa

Bảng 3.2: Kiểm định Goodness of Fit Test của hồi quy Probit chưa tối ưu hóa

Bảng 3.3: Kết quả dự đoán khả năng bị hạn chế tín dụng của mô hình hồi quy

Probit chưa tối ưu hóa với xác suất chuẩn 0.5

Bảng 3.4: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến LOG_TUOI

Bảng 3.5: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến DOANH_THU

Bảng 3.6: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến HAI_NH

Bảng 3.7: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến THOIGIAN1

Bảng 3.8: Kết quả mô hình hồi quy Probit sau khi tối ưu

Bảng 3.9: Kiểm định Wald về sự phù hợp tổng quát của các biến độc lập trong mô hình hồi quy Probit sau khi tối ưu hóa

Bảng 3.10: Kiểm định Goodness of Fit Test của hồi quy Probit sau khi tối ưu hóa Bảng 3.11: Kết quả dự đoán khả năng bị hạn chế tín dụng của mô hình hồi quy Probit sau khi tối ưu hóa với xác suất chuẩn 0.5

Trang 9

nhánh của ngân hàng Vietinbank.

Sơ đồ 2.3: Quy trình kiểm soát của ngân hàng Vietinbank.

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dư nợ theo loại hình doanh nghiệp của Vietinbank năm 2013 Biểu đồ 2.2: Hệ số an toàn vốn và tỷ lệ nợ xấu của Vietinbank giai đoạn 2008-2013 Biểu đồ 2.3: Kết quả khảo sát số lượng quan hệ tín dụng ngân hàng

Biểu đồ 2.4: Phân phối của biến thời gian tồn tại quan hệ tín dụng

Biểu đồ 2.5: Kết quả thống kê quy mô doanh nghiệp bằng Log của doanh thu thuần Biểu đồ 2.6: Kết quả thống kê thời gian hoạt động của doanh nghiệp

Biểu đồ 2.7: Tốc độ tăng trưởng tín dụng

Biểu đồ 3.1: Kết quả kiểm định phần dư của hồi quy Probit chưa tối ưu hóa

Biểu đồ 3.2: Kết quả kiểm định phần dư của hồi quy Probit sau khi tối ưu hóa

Trang 10

Tóm tắt

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bùng nổ năm 2007 khởi đầu bằng sự sụp đổcủa ngân hàng Lehman Brothers đã để lại nhiều dư chấn cho nền kinh tế Việt Nam.Trong 5 năm kể từ khi khủng hoảng bùng nổ, vấn đề thông tin bất cân xứng trongthị trường tín dụng đã trở nên nghiêm trọng hơn Điều này thể hiện qua sự giảm sútcủa hoạt động kinh tế nói chung và của tăng trưởng tín dụng nói riêng Một giảipháp được nghiên cứu trong lý thuyết và nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đó đểgiải quyết vấn đề giảm sút tín dụng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính mà bàinghiên cứu này muốn kiểm chứng là “quan hệ tín dụng ngân hàng” (relationshipbanking) Phải chăng quan hệ tín dụng ngân hàng có thể giúp các doanh nghiệptránh bị hạn chế cấp tín dụng, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng? Các vấn đềnào của việc cấp tín dụng mà quan hệ tín dụng ngân hàng có thể giải quyết? Xâydựng quan hệ tín dụng ngân hàng bằng cách nào? Làm rõ các câu hỏi này chính làmục tiêu của bài nghiên cứu, với kỳ vọng giúp cho các ngân hàng và doanh nghiệp

có thể đề ra những giải pháp đúng đắn cho định hướng tín dụng của mình, đồng thời

có cái nhìn toàn diện về bản chất của quan hệ tín dụng ngân hàng Kết quả nghiêncứu cho thấy quan hệ tín dụng ngân hàng có tác động làm giảm khả năng doanhnghiệp bị ngân hàng hạn chế tín dụng Đồng thời phân tích các tác động của nhữngnhân tố khác như đặc điểm thể hiện cấu trúc tài chính, tình hình hoạt động kinhdoanh và chính sách của ngân hàng lên khả năng doanh nghiệp bị hạn chế tín dụng

Trang 11

hoảng 2008-2013 là thắt chặt tín dụng và doanh nghiệp phá sản Diễn biến phức tạpcủa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối cho thấy sự non trẻ thiếu ổn định củathị trường tài chính Việt Nam Trong giai đoạn này, chỉ có khoảng 2/3 số doanhnghiệp đã vay vốn ngân hàng (theo các báo cáo doanh nghiệp qua các năm từ 2008-

2013 của phòng thương mại và công nghệ Việt Nam) Trong khi các doanh nghiệpViệt Nam chiếm tới hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chínhchủ yếu dựa vào nguốn vốn vay (chỉ số nợ/vốn chủ sở hữu trung bình của các doanhnghiệp khoảng hơn 2 lần) Có thể thấy với thời gian hoạt động chưa lâu, công nghệcòn lạc hậu, nguồn vốn tích lũy kém thì nguồn tài trợ tín dụng ngân hàng là một yếu

tố sống còn đối với các doanh nghiệp nói riêng và đối với tăng trưởng kinh tế nóichung Nhưng tài trợ tín dụng bị cản trở bởi vấn đề thông tin bất cân xứng Cácngân hàng phải đối mặt với vấn đề lựa chọn tiêu cực và rủi ro đạo đức khi chodoanh nghiệp vay Những vấn đề này càng trầm trọng hơn sau khi cuộc khủnghoảng tài chính xảy ra, bởi vì thị trường hoạt động trong bối cảnh rủi ro hơn Ngườicho vay sẽ gặp khó khăn trong việc sàng lọc để chọn ra khách hàng có mức rủi rotín dụng thấp Trong khi khả năng kiểm soát và thẩm định chất lượng của hệ thốngngân hàng vẫn còn nhiều lỗ hổng, sự bất lực này trong việc giải quyết vấn đề lựachọn tiêu cực đã dẫn tới hàng loạt các hệ lụy là các vấn đề lừa đảo, nợ xấu bùng nổmột cách mạnh mẽ Từ đó gây ra sự căng thẳng tín dụng và hành động hạn chế cấptín dụng, dẫn đến sự suy giảm tăng trưởng tín dụng và làm cho cuộc suy thoái kinh

tế càng trở nên nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, để tránh bị hạn chế tín dụng, cácdoanh nghiệp cần phải có quan hệ tín dụng bền chặt với ngân hàng, hoặc là xếphạng tín dụng của doanh nghiệp phải tốt Câu hỏi đặt ra là liệu quan hệ tín dụngngân hàng có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp tránh được việc bị hạn chế cấp tíndụng trong suốt thời kỳ khủng hoảng hay không

Trang 12

ngân hàng Mục tiêu thứ hai là từ việc lược khảo các nghiên cứu đã có, tác giả xâydựng một mô hình nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

• Phải chăng quan hệ tín dụng ngân hàng có thể giúp các doanh nghiệp tại ViệtNam tránh bị hạn chế cấp tín dụng, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng?

Cụ thể là trường hợp các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng thươngmại cổ phần Công Thương Việt Nam

• Các vấn đề nào của việc cấp tín dụng mà quan hệ tín dụng ngân hàng có thểgiải quyết?

• Làm cách nào ngân hàng, cụ thể là ngân hàng thương mại cổ phần CôngThương Việt Nam và các doanh nghiệp có thể xây dựng quan hệ tín dụngngân hàng?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu do chính tác giả thu thập thông qua các tờ trình kiểm soát vềkhách hàng của Phòng Đánh giá xếp hạng và Phê duyệt giới hạn tín dụng chi nhánhphía Nam của ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Các doanhnghiệp trong cuộc khảo sát nằm trên địa bàn từ Quảng Ngãi đến hết mũi Cà Mau.Trong cuộc khảo sát, kết quả khảo sát của mỗi doanh nghiệp cho thấy liệu doanhnghiệp có bị hạn chế tín dụng trong thời kỳ từ năm 2008 tới năm 2013 hay không,

và các yếu tố khác mô tả đặc điểm từng doanh nghiệp cũng như chính sách c ủangân hàng đối với từng doanh nghiệp Dữ liệu của nghiên cứu này được thu thậpvới mục đích xây dựng một cách đầy đủ các thông tin có thể ảnh hưởng tới khảnăng bị hạn chế cấp tín dụng của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố đo lường quan

hệ tín dụng

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định các biến nghiên cứu dựa vào lý thuyết và các nghiên cứu thựcnghiệm đã có, sau đó sử dụng biện pháp phỏng vấn chuyên gia và cán bộ tín dụng

Trang 13

nhìn ngân hàng sẽ phản ánh sát hơn với thực tế cấp tín dụng so với phỏng vấndoanh nghiệp vì ngân hàng là tổ chức chuyên thực hiện cấp và theo dõi, kiểm soáttín dụng, phương pháp tiếp cận này cũng tiết kiệm chi phí hơn Do đó việc thu thập

dữ liệu từ phía ngân hàng hiệu quả và tiết kiệm hơn nhiều lần so với thu thập từdoanh nghiệp Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu, tác giả thiết lập mô hình hồi quynhị phân Probit để tìm ra ảnh hưởng của quan hệ tín dụng ngân hàng tới khả năngdoanh nghiệp bị ngân hàng hạn chế tín dụng

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài kiểm định lý thuyết về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng tại ViệtNam, cụ thể là trường hợp các doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phầnCông Thương lên việc áp dụng các biện pháp hạn chế tín dụng Từ đó đưa ra cácgiải pháp để giúp ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương và các doanhnghiệp tại Việt Nam có thể có cái nhìn đúng đắn hơn về quan hệ tín dụng ngânhàng, qua đó xây dựng và khai thác lợi ích từ quan hệ tín dụng ngân hàng nhằm giảiquyết vấn đề hạn chế tín dụng trong thời kỳ khủng hoảng tại Việt Nam

Nghiên cứu được phân bổ như sau Trong chương một nghiên cứu tập trung làm rõ

về vấn đề lý thuyết của quan hệ tín dụng ngân hàng đã giới thiệu ở trên, đồng thời

mô tả sự kế thừa bốn dự báo của các nghiên cứu trước về làm thế nào quan hệ tíndụng ngân hàng có thể tác động lên việc cấp tín dụng cho một doanh nghiệp để thiếtlập nên giả thuyết nghiên cứu Chương hai trình bày thực trạng hoạt động tín dụngtại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam và các đánh giá

Chương ba thảo luận về phương pháp nghiên cứu, giới thiệu mô hình nghiên cứu,cung cấp thông tin về bộ dữ liệu, các thước đo đối với quan hệ tín dụng ngân hàng,các vấn đề cấp tín dụng, mô tả mô hình nghiên cứu, kết quả ước lượng, các kiểmđịnh và bàn luận giải pháp trước khi kết luận

Trang 14

Chương 1 - Tổng quan về tác động của mối quan hệ tín dụng ngân hàng lên

việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Trong phần này nghiên cứu sẽ khái quát những lý thuyết về hoạt động cấp tíndụng trong ngân hàng thương mại, các rủi ro đến từ hoạt động này Đồng thời, phầnnày sẽ tìm hiểu định nghĩa của quan hệ tín dụng ngân hàng và thảo luận nguồn gốc

và phạm vi của khái niệm này Nghiên cứu sẽ bàn luận về các dịch vụ quan hệ tíndụng được cung cấp bởi cả ngân hàng cũng như các trung gian tài chính phi ngânhàng Qua đó làm rõ quan hệ tín dụng ngân hàng thực chất không chỉ là cho vay màcòn bao gồm những dịch vụ khác Nghiên cứu cũng tranh luận về sự phát triển củathị trường tài trợ vốn trực tiếp không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn quan hệtín dụng ngân hàng

1.1 Những lý thuyết về quan hệ tín dụng ngân hàng

Chúng ta sống trong một thế giới với thông tin không hoàn hảo Do đó, cần cómột đối tượng được sinh ra để giải quyết vấn đề này, đó là ngân hàng thương mại.Bất cân xứng thông tin hay xung đột thông tin là một nguyên nhân quan trọng cho

sự tồn tại của các ngân hàng thương mại Mọi người sẵn lòng gửi tiền của mình vàomột ngân hàng hơn là đưa nó trực tiếp cho một người lạ vay, bởi vì họ cảm thấyngân hàng có vẻ “đáng tin cậy” hơn Quan điểm này phân biệt những lý thuyết hiệnđại về trung gian tài chính với những lý thuyết dựa vào chi phí giao dịch trước đó.Các lý thuyết dựa vào chi phí giao dịch trước đó chỉ tập trung lý giải nguyên nhântồn tại của các trung gian tài chính là do chúng có thể tận dụng được lợi thế kinh tếtheo quy mô và năng lực chuyên môn Trong khi muốn hiểu rõ hơn về cơ cấu tàichính, bên cạnh chi phí giao dịch, chúng ta còn phải chú ý tới vai trò của thông tintrên thị trường tài chính

Để giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin, các trung gian tài chính như ngânhàng đóng vai trò là các chuyên gia trong việc tạo ra thông tin về doanh nghiệp đểphân biệt giữa doanh nghiệp tốt và xấu Sau đó, họ có thể thu hút nguồn vốn từngười gửi tiền và sử dụng nó cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả vay Nhờ biệnpháp san sẻ rủi ro, ngân hàng có thể giảm đi rủi ro thanh khoản đến từ nhu cầu rút

Trang 15

vốn ngẫu nhiên Qua đó bảo đảm các cam kết thanh khoản và tạo điều kiện tài trợcho những dự án mạo hiểm Một ngân hàng quản trị và hấp thụ rủi ro (ví dụ như rủi

ro tín dụng, rủi ro thanh khoản) bằng cách đa dạng hóa những đặc tính của tài sảntrong danh mục đầu tư Để giữ cho việc quản trị chất lượng tài sản được hiệu quả,một hoạt động tạo ra giá trị cốt lõi của ngân hàng như đã nói ban đầu, đó là tạo rathông tin, phải được thực hiện tốt Các ngân hàng phát triển thông tin về doanhnghiệp trong quá trình tiếp nhận và định giá món vay Việc giám sát khách hàng saukhi cho vay sẽ bổ sung thêm những thông tin này Đặc biệt, thông tin tạo ra từ quan

hệ tín dụng ngân hàng là thông tin độc quyền của ngân hàng, đồng thời các quyếtđịnh cấp tín dụng từ việc sử dụng những thông tin này không được mua bán, nên cóthể tránh được “vấn đề ăn theo” Vấn đề ăn theo xảy ra khi những người không trảtiền cho thông tin tận dụng được lợi thế về thông tin mà những người khác phải trảtiền mới có được Khả năng tạo ra thông tin độc quyền về doanh nghiệp vốn đượcgắn liền với quan hệ tín dụng ngân hàng và là một lợi thế cạnh tranh của các ngânhàng

1.1.1 Khái niệm quan hệ tín dụng ngân hàng

Khái niệm “quan hệ tín dụng ngân hàng”, theo Arnoud W A Boot (2000) vàcác nghiên cứu sau này, là việc cung cấp các dịch vụ tài chính bởi một trung gian tàichính có thực hiện hai hoạt động sau:

• Đầu tư vào việc thu thập thông tin cụ thể của khách hàng, thường là thôngtin độc quyền, và

• Đánh giá khả năng sinh lợi của các khoản tín dụng thông qua những tươngtác qua lại theo thời gian với cùng một khách hàng hay của cùng một sảnphẩm

Định nghĩa này xoay quanh hai khía c ạnh quan trọng: “độc quyền thông tin”

và những “tương tác qua lại” Định nghĩa nhấn mạnh rằng quan hệ tín dụng ngânhàng liên quan chặt chẽ với việc ngân hàng sở hữu thông tin (thường là độc quyền)

cụ thể của người vay Trong hoạt động tín dụng, thông tin này được thu thập khi cácngân hàng thực hiện sàng lọc đánh giá tín dụng và giám sát các dịch vụ Hơn nữa,

Trang 16

thông tin còn có thể sử dụng cho việc tương tác qua lại với cùng một khách hàng,tạo ra cơ hội hưởng lợi từ việc tái sử dụng thông tin.

1.1.2 Điều kiện tồn tại của quan hệ tín dụng ngân hàng

Từ định nghĩa có thể rút ra ba điều kiện cần đạt được để quan hệ tín dụngngân hàng tồn tại:

• Các trung gian tài chính phải thực hiện thu thập thông tin ngoài nhữngthông tin căn bản sẵn có

• Việc thu thập thông tin được diễn ra trong thời gian dài thông qua cáctương tác qua lại với khách hàng vay, thường là thông qua việc cung cấpcác dịch vụ tài chính

• Thông tin phải được bảo mật (độc quyền thông tin)

Chúng ta sẽ thảo luận từng điều kiện Điều kiện đầu tiên, các trung gian tàichính phải thực hiện thu thập thông tin ngoài những thông tin căn bản sẵn có, làđiều kiện cần tuy nhiên lại không phải là đặc trưng của khái niệm quan hệ tín dụngngân hàng Những trung gian tài chính phi ngân hàng cũng có thể thực hiện điềunày Trong hoạt động cho vay, quan hệ tín dụng không phải lĩnh vực độc quyền củangân hàng Những trung gian tài chính khác, như là các doanh nghiệp tài chính cũng

có thể tham gia vào quan hệ tín dụng Tương tự như vậy, định hướng xây dựng quan

hệ tín dụng cũng có thể áp dụng với những loại hình khác của ngân hàng, ví dụ nhưngân hàng đầu tư Vai trò của ngân hàng đầu tư thường được mô tả như một ngườimôi giới, ví dụ như kết hợp nhu cầu của người mua và người bán trong thị trườngchứng khoán Như những nhà môi giới, các ngân hàng đầu tư chỉ đơn giản tạo điềukiện cho các giao dịch, tạo ra giá trị dựa vào khả năng giảm chi phí tìm kiếm vàkhớp lệnh Chức năng môi giới này khá khác biệt với khái niệm quan hệ tín dụngngân hàng Tuy nhiên, các ngân hàng đầu tư thường còn cung cấp nhiều dịch vụkhác ngoài việc môi giới Hầu như hầu hết họ có thể phát hành các bảo lãnh, và điềunày liên quan đến hấp thụ tín dụng và quản trị rủi ro Những hoạt động như vậy dịchchuyển vai trò của một ngân hàng đầu tư trở thành gần như một ngân hàng thươngmại có tham gia vào hoạt động cho vay Việc xử lý và sự hấp thụ rủi ro có thể tạo

Trang 17

điều kiện phát triển độc quyền thông tin và các tương tác qua lại, mà vốn là đặctrưng nổi bật của quan hệ tín dụng ngân hàng Khái niệm quan hệ tín dụng chắc hẳn

do đó vẫn được thể hiện trong ngân hàng đầu tư, cả trong những tương tác giữangân hàng đầu tư với khách hàng sử dụng dịch vụ và trong sự tương tác của ngânhàng đầu tư với khách hàng vay Tuy nhiên, không phải lúc nào việc xử lý và hấpthụ rủi ro cũng dẫn đến phát triển quan hệ tín dụng, vấn đề tín dụng chỉ định hầunhư không cần sự tương tác qua lại giữa người vay và người cho vay Vì thế nếuđưa vào dữ liệu nghiên cứu những doanh nghiệp được cấp tín dụng theo hình thứcchỉ định hay dựa vào quan hệ gia đình, bằng hữu chứ không phải dựa vào quan hệkinh doanh đơn thuần thì việc đánh giá sự ảnh hưởng của quan hệ tín dụng sẽ bị sailệch Trong khi đó tại Việt Nam vẫn còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước

và doanh nghiệp ngoài nhà nước Những doanh nghiệp nhà nước được hưởng rấtnhiều những ưu đãi về tín dụng và được ngầm “bảo đảm” bởi hai từ “nhà nước” Do

đó, tác giả loại những doanh nghiệp nhà nước ra khỏi dữ liệu nghiên cứu Đồngthời, tác giả cũng qua phỏng vấn với cán bộ tín dụng và lọc ra những doanh nghiệpđược đánh giá dựa vào quan hệ tín dụng kinh doanh đơn thuần chứ không phải dựavào quan hệ giữa các ban lãnh đạo, nhằm thu được kết quả đánh giá chính xác hơn

Tóm lại, việc thu thập thông tin về khách hàng thông qua các dịch vụ tàichính nằm trong quan hệ tín dụng ngân hàng cũng thường xuyên được cung cấp bởicác trung gian tài chính phi ngân hàng Ví dụ như những khoản cho vay hợp vốnđược cấp bởi cùng một lúc các ngân hàng đầu tư và các ngân hàng thương mại trongcùng một món vay Hay trong thị trường tài chính, thu thập thông tin cũng đóng vaitrò quan trọng Ví dụ, vốn đầu tư mạo hiểm tương tác liên tục với doanh nghiệp saukhi tài trợ cho họ

Điều kiện thứ hai là quan hệ tín dụng ngân hàng không chỉ liên quan đến việctài trợ mà còn đến những dịch vụ tài chính khác, ví dụ như thư tín dụng, tiền gửi,thanh toán bù trừ, và các dịch vụ quản lý tiền mặt Nghiên cứu sẽ không tập trungvào các dịch vụ riêng lẻ này, nhưng nên lưu ý là các dịch vụ này cũng mở rộngthông tin cho các trung gian tài chính Các thông tin mà ngân hàng có được bằng

Trang 18

cách cung cấp nhiều dịch vụ cho cùng một khách hàng có thể có giá trị trong hoạtđộng cho vay Ví dụ, thông tin từ tài khoản tiền gửi có thể giúp các ngân hàng đánhgiá khả năng trả nợ của doanh nghiệp Do đó, mức độ của quan hệ thông qua cáctương tác bằng việc sử dụng các dịch vụ tài chính có ảnh hưởng tới lợi thế cạnhtranh của ngân hàng trong việc cho vay.

Ngày nay, môi trường cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngày càng trở nêngay gắt do sự phát triển của thị trường tài chính Tín dụng ngân hàng ngày càng có

xu hướng giảm đi vai trò của mình kể từ khi cổ phần hóa xuất hiện Cổ phần hóa làmột sáng tạo trong kỹ thuật tài trợ vốn thể hiện sự phát triển của thị trường tài trợtrực tiếp Tuy nhiên, quan điểm đề cao việc cổ phần hóa và gạt bỏ quan hệ tín dụngngân hàng là một cách nhìn quá hẹp về cổ phần hóa Sự cổ phần hóa đặt phươngthức cho vay truyền thống vào tình trạng phải nâng cao khả năng cạnh tranh Đểduy trì sức hấp dẫn của tài trợ vốn ngân hàng và duy trì lợi nhuận đến từ hoạt độngcho vay, các ngân hàng phải ra sức cải thiện chất lượng dịch vụ tín dụng Sự cạnhtranh làm giảm rủi ro khiếu kiện, và quan trọng hơn, nó giải quyết xung đột lợi íchbắt nguồn từ tình trạng độc quyền thông tin của các ngân hàng Khi các ngân hàngđộc quyền thông tin, thị trường đòi hỏi sự bảo đảm của ngân hàng rằng các ngânhàng sẽ không phóng đại chất lượng tài sản mà ngân hàng muốn bán Trong một thịtrường tài chính phát triển, thông thường ngân hàng cũng nắm giữ một phần quantrọng trong thị trường chứng khoán Khả năng xuyên tạc như vậy do đó bị hạn chế

vì người cung cấp thông tin phải gánh chịu một phần rủi ro Vì phải gánh chịu mộtphần rủi ro, cạnh tranh tín dụng đòi hỏi các ngân hàng sự đánh giá tín dụng toàndiện và sự giám sát liên tục, không suy giảm theo thời gian Cạnh tranh tín dụng cònlàm gia tăng khả năng tiếp cận thông tin của nhà đầu tư, làm giảm sự nhạy cảm củathông tin chứng khoán được tuyên bố và gia tăng khả năng phái sinh

Nói chung, ngay cả khi thị trường tài chính thay thế hình thức cho vay truyềnthống, quan hệ tín dụng ngân hàng sẽ không mất đi và các ngân hàng sẽ có mộtphương pháp gia tăng giá trị khác Họ tạo ra dịch vụ và quản lý tài sản, đồng thời xử

lý các rủi ro kèm theo để duy trì hoạt động Do đó các ngân hàng sẽ tiếp tục kiểm

Trang 19

tra và quản lý khách hàng vay, thiết kế và định giá các sản phẩm tài chính, và cungcấp các dịch vụ quản lý rủi ro Nhờ đó, ngân hàng có thể tiếp tục phát triển thông tinđộc quyền trong quá trình hoạt động và lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng nhờvào thông tin độc quyền của họ về các khách hàng sẽ được duy trì, đây là giá trị cốtlõi của quan hệ tín dụng ngân hàng Điều kiện thứ ba, bảo đảm sự độc quyền củathông tin, chính là để đảm bảo sự tồn tại của giá trị này.

1.2 Các tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt động cấp tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.2.1 Các tác động có lợi của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại

Nghiên cứu đã điểm qua khái niệm, thảo luận các điều kiện tồn tại và ý nghĩacủa quan hệ tín dụng ngân hàng Trong phần này nghiên cứu xác định một vài lợiích tiềm năng của quan hệ tín dụng ngân hàng

Lợi ích đầu tiên là quan hệ tín dụng ngân hàng có thể tạo điều kiện cho một

sự gia tăng lợi ích đặc trưng của quan hệ tín dụng ngân hàng thông qua việc trao đổithông tin giữa ngân hàng và khách hàng vay Với quan hệ tín dụng ngân hàng, mộtkhách hàng vay có xu hướng cung cấp nhiều thông tin hơn là với một giao dịch bìnhthường mà người cho vay phải mất nhiều sức lực hơn để đầu tư vào việc thu thậpthông tin

Một lợi ích khác là quan hệ tín dụng ngân hàng chứa những đặc điểm mangtính ràng buộc đặc biệt có thể cải thiện phúc lợi:

• Quan hệ tín dụng tạo ra sự linh hoạt và thận trọng trong hợp đồng,cho phép tận dụng một cách tinh tế những thông tin nhạy cảm hay nhữngthông tin bên lề, qua đó tạo điều kiện xây dựng quan hệ hợp đồng dài hạn

• Quan hệ tín dụng có thể bao gồm những giao ước đa dạng, chophép kiểm soát tốt hơn các xung đột lợi ích

• Quan hệ tín dụng có thể cải thiện việc quản lý tài sản thế chấp (trong trường hợp cho vay dựa trên tài sản) Trong thực tế, nhu cầu cho vay

Trang 20

và giám sát tài sản thế chấp có thể phải dựa trên một quan hệ tài chính bềnchặt, nếu không, việc cho vay có thể không xảy ra.

• Quan hệ tín dụng có thể tạo ra các hợp đồng tín dụng không sinh lợicho ngân hàng trong ngắn hạn nhưng có thể trở thành có sinh lợi nếu quan hệvới khách hàng vay tồn tại trong thời gian đủ dài Những quan hệ lâu dài cóthể làm gia tăng giá trị của các hợp đồng trong việc định giá cho vay

Nghiên cứu sẽ thảo luận từng lợi ích, bắt đầu với lợi ích đầu tiên liên quanđến trao đổi thông tin Một người vay có thể tiết lộ những thông tin cá nhân củamình cho ngân hàng của họ mà những thông tin đó sẽ không bao giờ xuất hiện trênthị trường tài chính Ví dụ, một doanh nghiệp có thể không muốn tiết lộ thông tin cólợi cho đối thủ cạnh tranh của họ Theo lược khảo trong bài nghiên cứu về quan hệtín dụng ngân hàng của Boot (2000)1, Gertner, Gibbons, Scharfstein (1988), đãchứng minh mô hình lý thuyết “two-audiences signaling”, trong đó khi một doanhnghiệp công bố thông tin của mình cho hai thị trường, thị trường hàng hóa và thịtrường vốn thì thị trường hàng hóa về cơ bản ảnh hưởng đến tình trạng cân bằng củathị trường vốn Cùng quan điểm đó, Rotemberg và Scharfstein (1990), đã chứngminh các doanh nghiệp thay đổi cấu trúc vốn để ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranhcủa họ trên thì trường hàng hóa Do đó, các doanh nghiệp sẽ rất hạn chế cung cấpnhững thông tin có giá trị đặc trưng của họ nếu họ giao dịch với một đối tác phingân hàng trên thị trường tài chính, mà điều này sẽ nối tiếp các vấn đề về lựa chọnđối nghịch, phát sinh từ việc người vay có nhiều thông tin hơn nhà đầu tư Tuynhiên, khi cung cấp những thông tin đó cho ngân hàng, người vay không cần lo lắngchúng sẽ lọt vào tay các đối thủ cạnh tranh Vì vậy, các ngân hàng đóng vai tròkhông thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng Một ngân hàngcũng có động lực mạnh hơn để đầu tư cho việc thu thập thông tin về khách hàng vay

vì ngân hàng có vai trò là người cho vay lâu dài và tài trợ vốn chủ đạo Việc thuthập những thông tin như vậy tuy rất tốn kém, nhưng nó khá xứng đáng đối với

1Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation,

9:7-25, p.7.

Trang 21

lượng vốn đáng kể mà ngân hàng đang tài trợ cho doanh nghiệp, và những thông tin

đó có thể tái sử dụng khi ngân hàng có quan hệ lâu dài với khách hàng vay Quan hệtín dụng ngân hàng do đó có thể tạo ra một luồng thông tin chất lượng tốt giữa ngânhàng và khách hàng vay, làm nổi bật giá trị của quan hệ tín dụng ngân hàng Theonghiên cứu của Boot và Thakor (1997), trích trong bài nghiên cứu của Boot vềquan hệ tín dụng ngân hàng (2000)2, đã so sánh giữa thông tin tập hợp trên thịtrường tài chính và thông tin được thu thập từ những hoạt động của ngân hàng.Những phân tích của họ cho thấy sự không hoàn chỉnh của các thông tin về những

dự án tương lai, các thông tin liên quan đến giá trị doanh nghiệp và các quyết địnhđầu tư của doanh nghiệp có thể được giải quyết tốt nhất nhờ vào thị trường tài chính(tài trợ trực tiếp) Trong khi đó rủi ro đạo đức và rủi ro chuyển đổi tài sản (rủi rophát sinh khi một doanh nghiệp chuyển tài sản ít rủi ro thành các khoản đầu tư córủi ro cao, sự thay thế này chuyển lợi ích từ các trái chủ sang các cổ đông của doanhnghiệp) liên quan đến sự méo mó thông tin đòi hỏi một vai trò không thể thiếu củatín dụng ngân hàng

Tiếp theo, chúng ta xem xét những lợi ích từ các tính năng đặc trưng của hợpđồng mà một quan hệ tín dụng ngân hàng mang lại Nguồn gốc của những lợi íchnày có liên quan đến sự linh hoạt mà quan hệ tín dụng ngân hàng tạo ra và khả nănggiữ uy tín của ngân hàng trong việc thực hiện hợp đồng Một quan hệ song phươnggiữa ngân hàng và khách hàng là một cam kết dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫnnhau Do đó, quan hệ tín dụng ngân hàng thường ít cứng nhắc hơn một khoản tài trợvốn từ thị trường, theo nghĩa có thể đàm phán lại những điều khoản hợp đồng Khảnăng linh hoạt đáng kể trong việc đám phán được tạo ra từ các quan hệ có thể cảithiện phúc lợi bởi vì khả năng quyết định linh hoạt cũng mang lại giá trị Tính linhhoạt trong quyết định cho phép tận dụng nhiều hơn thông tin thỏa thuận bên lề mộtcách tinh tế Điều này có thể tạo ra các hợp đồng dài hạn tiềm năng cho ngân hàngtrong môi trường mà thông tin bất cân xứng làm giảm đi khả năng hoạt động của thị

2Boot, A W A., and Thakor, A V., 2000 Can relationship banking survive competition? Journal of

Finance, 55: 679-713, p.7.

Trang 22

trường vốn cũng như khả năng tài trợ vốn của ngân hàng Vì vậy cả ngân hàng vàkhách hàng vay có thể nhận ra rằng quan hệ của họ tạo ra giá trị không thể đạt đượcbằng các phương thức khác và do đó quan hệ này cần được bồi dưỡng.

Thứ hai, khi cho vay, ngân hàng nhận một khoản mất mát hiện tại với hyvọng được bù đắp trong tương lai Tuy nhiên doanh nghiệp có tình hình tài chínhbình thường thông thường sẽ tìm kiếm sự bảo vệ dưới hình thức tài chính dài hạnthay vì vay nợ Ngược lại, doanh nghiệp đang gặp khó khăn tài chính sẽ trước tiênsẵn lòng thỏa thuận với ngân hàng nhưng sau đó bị cám dỗ bởi các cơ hội khác hấpdẫn hơn Đó là tất cả mâu thuẫn chủ đạo của cam kết tín dụng ngân hàng Quan hệtín dụng ngân hàng là một công cụ để giải quyết mâu thuẫn này, từ đó lý giải tại saomọi người lại muốn thực hiện các cam kết tín dụng với ngân hàng thay vì với cánhân khác Ngân hàng có thể cam kết một cách đáng tin cậy trong việc cung cấpmột sản phẩm hoặc dịch vụ trong tương lai để đổi lấy một khoản phí trong hiện tại

Cá nhân thường không thể làm thế Cụ thể hơn, khả năng cung cấp một cách đángtin cậy các cam kết cho vay, hay nói cách khác khả năng duy trì quan hệ tín dụngmột cách uy tín, trong hoàn cảnh luôn tồn tại một động lực muốn thất hứa đối vớicác cam kết như vậy có thể là một phần lý do tồn tại của ngân hàng

Một lợi ích khác từ những giao ước đa dạng của quan hệ tín dụng ngân hàngliên quan đến cấu trúc của từng hợp đồng cụ thể mà ngân hàng soạn ra Hợp đồngtín dụng bao gồm những điều khoản mở rộng có thể tạo nên quan hệ giữa ngân hàng

và khách hàng vay Những điều khoản giúp kiểm soát những xung đột lợi ích vàgiảm chi phí kiện tụng Khi đánh giá lợi ích của các điều khoản, các khoản vay ngânhàng thường dễ dàng đàm phán hơn nguồn tài trợ từ trái phiếu, hoặc các phươngtiện tài trợ khác trên thị trường vốn Điều này có thể làm tăng lợi ích của các điềukhoản, những điều khoản phải được soạn chặt chẽ và chi tiết, đồng thời có thể đàmphán lại trong tương lai khi những thông tin mới làm cho các điều khoản đó có thểtối ưu hơn Tất nhiên, làm thế nào các điều khoản được tái đàm phán phụ thuộc vào

vị thế đàm phán của ngân hàng và của người vay, trên khía cạnh mức độ ưu tiên sửdụng nợ ngân hàng của người vay

Trang 23

Vấn đề tiếp theo là khoản vay ngân hàng có thể dễ dàng chấp nhận tài sản thếchấp Tài sản thế chấp có thể giảm thiểu rủi ro đạo đức và vấn đề lựa chọn đốinghịch trong hợp đồng tín dụng Vật thế chấp, tài sản được trao cho người cho vaynếu người đi vay vỡ nợ, làm giảm bớt hậu quả của sự lựa chọn tiêu cực do nó làmgiảm tổn thất của người cho vay trong trường hợp vỡ nợ Nếu người đi vay khônghoàn trả tiền vay, người cho vay có thể bán vật thế chấp và sử dụng số tiền thu được

để bù lại tổn thất về tiền vay Trong thực tế, với việc thế chấp tài sản, người vay làmmình rơi vào thế bất lợi nếu tình huống xấu xảy ra, đó là người vay sẽ mất tài sảnthế chấp Điều này làm cho tài sản thế chấp có hiệu quả trong việc chống lại rủi rođạo đức và lựa chọn đối nghịch Tuy nhiên tài sản thế chấp sẽ chỉ có tác dụng nếugiá trị của nó được theo dõi Các đối tượng cho vay phi ngân hàng khó có khả nănggiám sát giá trị của tài sản thế chấp một cách chuyên nghiệp Tầm quan trọng củaviệc giám sát tài sản thế chấp có thể phụ thuộc vào mức độ quan hệ giữa ngân hàng

và khách hàng vay Một lợi ích khác liên quan đến tài sản thế chấp là nó có thể cungcấp thông tin giá trị cho ngân hàng Ví dụ, một ngân hàng nhận tài sản thế chấp làhàng tồn kho và tài khoản phải thu của doanh nghiệp, có thể biết được thông tin cóích về việc kinh doanh đang diễn ra

Vấn đề cuối cùng là quan hệ tín dụng ngân hàng có thể tạo ra sự bù trừ thiệthại qua thời hạn hợp đồng, bao gồm các thiệt hại của ngân hàng trong ngắn hạnđược bù trừ trong dài hạn dựa vào quan hệ tín dụng Petersen và Rajan (1995)3chothấy rằng các khoản trợ cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp non trẻ có thể làmgiảm đi vấn đề rủi ro đạo đức và những rào cản thông tin mà ngân hàng phải đốimặt khi cấp tín dụng Tuy nhiên những khoản tín dụng như vậy lại gây ra thiệt hạicho ngân hàng vì đây là các khoản đầu tư mạo hiểm, các ngân hàng có thể vẫn cấptín dụng nếu họ có thể mong đợi được bù đắp những tổn thất này thông qua lợi ích

từ hợp đồng dài hạn với khách hàng vay Điều quan trọng là nếu không được tiếpcận vốn ngân hàng trong thời kỳ đầu, tức là không có các quan hệ tín dụng ngân

3

Petersen, M., and Rajan, R., 1995 The effect of credit market competition on lending relationships The

Quarterly Journal of Economics, 110:407–443, p.27.

Trang 24

hàng, các doanh nghiệp non trẻ sau đó sẽ tạo ra vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi rođạo đức nghiêm trọng đến nỗi sẽ không ngân hàng nào cho họ vay Quan hệ tíndụng làm cho những khoản vay sau này trở nên khả thi vì các thông tin độc quyềnđược tạo ra trong suốt quá trình tương tác lẫn nhau giữa ngân hàng với khách hàng

sẽ bù đắp lại những thiệt hại ban đầu Các tương tác đó đến từ việc khách hàng sửdụng dịch vụ của ngân hàng

Đến đây chúng ta thấy những lập luận đều tập trung vào những lợi ích khácnhau của quan hệ tín dụng, và có thể lý giải tại sao những khoản vay ngân hàng vàcác khoản nợ khác đóng một vai trò quan trọng trong việc tài trợ vốn

Tuy nhiên, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ vốn ngânhàng, quan hệ tín dụng còn ảnh hưởng tới các nguồn tài trợ tín dụng khác từ thịtrường tài chính Diamond (1991) và Hoshi và các cộng sự (1993), theo lược khảotrong bài nghiên cứu về quan hệ tín dụng ngân hàng của Boot (2000)4, đã phát triểncác lập luận làm nổi bật quan hệ giữa tài trợ từ ngân hàng và tài trợ từ thị trườngvốn Họ cho thấy tài trợ từ vốn ngân hàng có tác dụng giám sát khách hàng vay, cóthể hoạt động giống như một tổ chức chứng nhận và tạo điều kiện phát triển cho thịtrường tài trợ vốn Các khách hàng vay có thể muốn ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ từngân hàng trước để thiết lập nên sự tín nhiệm trước khi tham gia thị trường vốn.Một khi khách hàng vay được “chứng nhận”, họ sẽ chuyển sang thị trường vốn.Nghĩa là có m ột sự bổ sung liên tục lẫn nhau giữa ngân hàng và thị trường vốn.Điều này cũng khẳng định chất lượng ngân hàng là cực kỳ quan trọng trong vai tròchứng nhận, cho thấy tương quan giữa giá trị quan hệ tín dụng ngân hàng và chấtlượng của các khoản tài trợ trên thị trường vốn

Tóm lại, quan hệ tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng có liên quan chặt chẽvới nhau Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng là không thể loại trừ, chỉ có thể hạnchế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, gồm các nguyên nhân từ phía

4

Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation, 9:7-25, p.9.

Trang 25

ngân hàng, từ phía khách hàng và từ môi trường khách quan Tương ứng với nhữngnguyên nhân, có nhiều cách để ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng.

Quan hệ tín dụng có thể giúp ngân hàng giảm bớt các biện pháp hạn chế tíndụng trên nhưng vẫn bảo đảm khả năng giám sát và quản lý rủi ro Thông qua khảnăng giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng, các lợi ích của quan hệ tín dụng giúpgiảm chi phí kiểm tra giám sát nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro tín dụng Từ đó tạođiều kiện để ngân hàng nới lỏng các biện pháp hạn chế tín dụng và hoạt động tíndụng được thực hiện dễ dàng hơn Đó là mối quan hệ giữa quan hệ tín dụng và rủi

ro tín dụng

Kết luận chung của phần này là quan hệ tín dụng có thể tạo điều kiện cho cáchoạt động tài trợ vốn dựa trên việc tạo ra sự trao đổi thông tin tốt hơn, khả năng nàyphù hợp cả đối với ngân hàng và thị trường vốn như đã phân tích ở trên Và đồngthời cũng có thể tăng cường khả năng tài trợ cho những khách hàng có rủi ro cao.Phần tiếp theo nghiên cứu sẽ phân tích các quan hệ tín dụng ngân hàng cũng cónhững tác động tiêu cực

1.2.2 Các tác động tiêu cực của quan hệ tín dụng ngân hàng tới hoạt

động cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại

Qua phân tích về những tác động có lợi của quan hệ tín dụng ngân hàng,chúng ta thấy khả năng giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng giúp quan hệ tíndụng ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động tín dụng.Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, không phải quan hệ tín dụng luôn luôn cótác động tích cực đối với hoạt động tín dụng, có những lập luận chỉ ra rằng rất khó

để khai thác lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng hoặc thậm chí quan hệ tín dụngngân hàng trong vài trường hợp còn gây cản trở hoạt động tín dụng Theo lược khảo

lý thuyết trong bài nghiên cứu của Boot về quan hệ tín dụng ngân hàng (2000)5, cóhai chi phí chính của quan hệ tín dụng ngân hàng: “vấn đề ràng buộc ngân sáchmềm” và “vấn đề tắc nghẽn” “Vấn đề ràng buộc ngân sách mềm” xảy ra khi một

5 Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation, 9:7-25, p.10.

Trang 26

ngân hàng thiếu khả năng trong việc tiếp tục thực thi một hợp đồng tín dụng chomột doanh nghiệp có quan hệ tín dụng ngân hàng “Vấn đề tắc nghẽn” xảy ra khiđộc quyền thông tin do ngân hàng tạo ra trong quá trình cho vay có thể cho phépngân hàng làm các khoản vay này trở nên “độc quyền” Nghĩa là ngân hàng có mộtquan hệ tín dụng với khách hàng, và độc quyền thông tin từ quan hệ đó, việc nàylàm cho các đối tượng cho vay khác vướng phải vấn đề thông tin bất cân xứng lớn

và không có lợi thế như ngân hàng trong việc tài trợ vốn cho người vay Vấn đề này

sẽ làm các khoản vay đó mất đi tính cạnh tranh và từ đó làm giảm đi khả năng tiếpcận nguồn tài trợ giá rẻ của người vay Chúng ta sẽ thảo luận từng vấn đề, cũng nhưnhững giải pháp tiềm năng đã được nghiên cứu

1.2.2.1 Vấn đề ràng buộc ngân sách mềm

Vấn đề ràng buộc ngân sách mềm (soft-budget constraint problem), đượcđưa ra bởi Janos Kornai (1986), để chỉ hiện tượng các tổ chức dự tính mình sẽ đượccấp thêm ngân sách trong trường hợp hoạt động thiếu hiệu quả Trong quan hệ tíndụng, một khoản tín dụng linh hoạt, cụ thể là có khả năng đàm phán lại, có thể làmgia tăng động lực hoạt động kém hiệu quả của một bộ phận người vay, vì người vaynếu sử dụng vốn vay không hiệu quả vẫn có thể thương lượng lại với ngân hàng đểđiều chỉnh lãi suất hay kỳ hạn vay (vấn đề ràng buộc ngân sách mềm trong hoạtđộng tín dụng)

Câu hỏi chính là liệu một ngân hàng có từ chối việc tiếp tục cấp tín dụng

bổ sung cho khách hàng khi họ có vấn đề phát sinh hay không Có nghĩa là mộtkhách hàng đã có quan hệ tín dụng với ngân hàng nhưng đang trên bờ vực vỡ nợliệu có thể tiếp tục tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân hàng để vượt qua khó khăn không.Trong khi hầu hết các nguồn tài trợ khác sẽ không cho vay, một ngân hàng có xâydựng quan hệ tín dụng với khách hàng này có thể quyết định tiếp tục cho vay với hyvọng phục hồi khả năng tài chính của khách hàng và khả năng thu hồi khoản chovay trước đây của nó Đây chính là lợi ích từ việc thiết lập hợp đồng dài hạn dựatrên quan hệ tín dụng ngân hàng mà chúng ta đã thảo luận Vấn đề là lợi ích này củaquan hệ tín dụng ngân hàng làm cho những người vay tiền nhận ra rằng họ có thể

Trang 27

đàm phán lại hợp đồng cũ, rằng ngân hàng có động cơ tiếp tục cho họ vay nên cóthể có động cơ xấu khi sử dụng vốn Tóm lại, nếu việc đàm phán lại hợp đồng làquá dễ dàng, người vay có thể thiếu nỗ lực trong việc sử dụng vốn hiệu quả Lợi ích

từ quan hệ tín dụng ngân hàng sẽ làm doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn,đồng nghĩa với việc gia tăng động cơ sử dụng vốn sai mục đích của khách hàng.Quan hệ tín dụng ngân hàng càng lớn, doanh nghiệp càng dễ dàng tiếp cận tín dụng

và động cơ sử dụng vốn sai mục đích của khách hàng càng lớn Đây chính là chi phíđầu tiên của quan hệ tín dụng ngân hàng

1.2.2.2 Các giải pháp cho vấn đề ràng buộc ngân sách mềm

Làm thế nào quan hệ tín dụng ngân hàng có thể phát huy lợi ích củamình trong việc giúp doanh nghiệp tiếp cận tín dụng nhưng vẫn đảm bảo động cơ sửdụng vốn đúng đắn của doanh nghiệp? Trình độ quản lý của ngân hàng có thể cảithiện được vấn đề trên Nếu khả năng quản lý nợ của ngân hàng cao, ngân hàng cóthể can thiệp vào quá trình ra quyết định của khách hàng vay khi họ tin rằng lợi íchcủa mình đang gặp nguy hiểm Giả sử ngân hàng tin rằng chiến lược của doanhnghiệp là sai lầm, hoặc tái cơ cấu là cần thiết, liệu ngân hàng có thể can thiệp? Đâykhông phải điều hiển nhiên bởi vì người vay có thể biết rằng ngân hàng sẽ không épbuộc khách hàng thực thi các yêu cầu của mình đến cùng Nếu ngân hàng đe dọabằng các khoản cho vay, người vay biết rằng hậu quả xấu nếu xảy ra sẽ không chỉgây thiệt hại cho bản thân mà còn gây thiệt hại cho giá trị khoản cho vay của ngânhàng Cuối cùng thì vấn đề vẫn không giải quyết được Tuy nhiên, khi ngân hàng cótrình độ quản lý cao, ngân hàng có thể sử dụng những công cụ nhằm giúp giải quyếtvấn đề suy giảm đạo đức trong hợp đồng nợ đối với các khách hàng có quan hệ tíndụng, đó là “giá trị ròng” và “giám sát và thực thi các điều khoản hạn chế”6 Khingười đi vay có “giá trị ròng” (mức chênh lệch giữa tài sản và các khoản nợ) lớn, thìvấn đề suy giảm đạo đức (nguyện vọng sử dụng vốn vay vào các mục đích rủi rohơn) sẽ bị giảm đáng kể bởi vì bản thân người đi vay cũng bị thiệt hại lớn Ngânhàng lúc này có thể đe dọa thu hồi các khoản cho vay, và sự đe dọa này sẽ giúp áp

6Mishkin, The Economics of Money, Banking and Financial Markets Chapter 8, p.175-180.

Trang 28

đặt những yêu cầu của ngân hàng lên người vay Mặc dù giải pháp này phần nàocản trở một trong những lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng là tiếp cận đượcnguồn tín dụng với quy mô lớn, nhưng rốt cục lợi ích từ quan hệ tín dụng ngân hàngcũng là có giới hạn Ngân hàng không thể tự nhiên giao tài sản của mình cho kháchhàng quản lý chỉ vì có quan hệ thân tình với khách hàng đó, cũng như không aitrong chúng ta nên thế chấp căn nhà chúng ta đang ở để vay vốn cho một người bạnchỉ vì đã có quan h ệ thân thiết lâu năm Cần tránh quan niệm dễ dãi trong cấp tíndụng, vì một doanh nghiệp có quá khứ tốt không đảm bảo hoàn toàn sẽ không cóvấn đề trong tương lai Lợi ích từ quan hệ tín dụng ngân hàng cần được khai thácdựa trên sự thấu hiểu lẫn nhau để giảm chi phí thẩm định và giám sát chứ khôngphải dựa vào thời gian tồn tại quan hệ hay lịch sử các quan hệ tài chính trước đó, nócàng không có khả năng triệt tiêu chức năng hay lợi ích từ các công tác thẩm định

và giám sát, vốn rất quan trọng trong việc cấp tín dụng

Công cụ thứ hai là những cam kết khéo léo có thể giúp ngân hàng tránhkhỏi những kết quả không mong muốn Những cam kết này ít tác động tới giá trịdoanh nghiệp và do đó tạo cơ hội cho ngân hàng kiểm soát Các điều khoản này sẽgiới hạn hoạt động mà khách hàng được phép làm Thông qua việc giám sát và thuthập thông tin liên tục về hoạt động của khách hàng (điều kiện tồn tại thứ hai củaquan hệ tín dụng ngân hàng), ngân hàng sẽ xác định xem khách hàng có tuân thủcác điều khoản hạn chế không, đảm bảo phát hiện và ngăn chặn kịp thời nhữnghành vi dẫn đến thiệt hại Mishkin đã đưa ra b ốn dạng điều khoản hạn chế:

_ Điều khoản loại trừ hành vi không mong muốn đối với người vay Đây

là điều khoản phát huy tốt nhất khi kết hợp với quan hệ tín dụng Ví dụ như yêu cầutiền vay chỉ được sử dụng để tài trợ cho một số hoạt động cụ thể, chẳng hạn muamột loại thiết bị, máy móc hay hàng tồn kho Một số điều khoản có thể hạn chếdoanh nghiệp tham gia vào các hoạt động kinh doanh rủi ro nhất định, chẳng hạnnhư gia tăng hạn mức bán chịu cho một khách hàng lên mức quá cao Nếu ngânhàng nhận tài sản thế chấp là hàng tồn kho hay các khoản phải thu của doanh

Trang 29

nghiệp, lợi ích từ việc liên tục nắm thông tin từ quan hệ tín dụng sẽ giúp ngân hànggiám sát được việc tuân thủ các điều khoản này.

_ Điều khoản khuyến khích hành vi mong muốn đối với người vay Đây

là điều khoản khuyến khích người vay tham gia vào những hoạt động làm cho việchoàn trả tiền vay trở nên dễ dàng hơn, chẳng hạn như khuyến khích doanh nghiệpgiữ cho “giá trị ròng” của mình cao

_ Điều khoản giữ vật thế chấp có giá trị và điều khoản cung cấp thôngtin Do vật thế chấp có tác dụng quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro của ngânhàng, nên điều khoản có thể khuyến khích người vay giữ gìn vật thế chấp trong điềukiện tốt và đảm bảo rằng nó thuộc quyền sở hữu của người vay Trong bối cảnh rủi

ro gia tăng khi khủng hoảng tài chính xảy ra, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng

bổ sung giá trị của tài sản thế chấp để làm giảm vấn đề suy giảm đạo đức Điềukhoản cung cấp thông tin, yêu cầu khách hàng định kỳ cung cấp thông tin về tìnhhình hoạt động của mình, giúp ngân hàng giám sát dễ dàng hơn Tuy nhiên hai điềukhoản hạn chế này không được khuyến khích trong bài nghiên cứu, vì chúng tạo rachi phí cho doanh nghiệp và cản trở các lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng màtác giả sẽ phân tích trong phần thiết lập các giả thuyết nghiên cứu

Các lập luận trên cho thấy trình độ quản lý và thâm niên của ngân hàng

có thể tạo điều kiện cho ngân hàng can thiệp kịp thời Tuy nhiên, trong thực tế trình

độ quản lý kém cũng như s ự thay đổi chính sách của ngân hàng trong từng thờiđiểm có thể tạo điều kiện cho vấn đề ràng buộc ngân sách mềm trở nên nghiêmtrọng hơn Một khi ngân hàng không thể đánh giá hợp lý khả năng tài chính củakhách hàng hay dễ dãi cho vay trong thời kỳ nới lỏng tín dụng, sẽ dẫn đến thiết lậpquan hệ tín dụng với các khách hàng “kém chất lượng” Lợi ích dễ dàng tiếp cận tíndụng của quan hệ tín dụng ngân hàng lúc này sẽ hỗ trợ cho các nhà quản trị ngânhàng vốn có sẵn động cơ, thực hiện hành vi che dấu các khoản cho vay kém chấtlượng này bằng nhiều thủ thuật để bảo đảm một lợi nhuận “ảo” nhằm được chia lãi,hưởng lương cao bất chấp rủi ro tiềm ẩn ngày càng tăng Điều này cho thấy lợi ích

Trang 30

từ quan hệ tín dụng ngân hàng có phát huy được hay không phụ thuộc rất lớn vàotrình độ quản lý của ngân hàng.

Người ta có thể đặt câu hỏi liệu có thực sự cần thiết để ngân hàng giữ vaitrò là người giám sát khách hàng không? Tại sao không chia nhiệm vụ can thiệp kịpthời này cho những chủ nợ khác như những người giữ trái phiếu? Thực tế cho thấyrằng những chủ nợ khác như những người giữ trái phiếu có thể gặp vấn đề thông tinbất cân xứng nghiêm trọng hơn bởi vì họ không phải là chuyên gia trong việc giámsát và quản lý ở trình độ ngang với ngân hàng và đa phần họ phân tán (ví dụ nhưnhững cổ đông thiểu số, hay những nhà đầu tư ăn theo) Cả hai lý do đó làm họkhông thích hợp cho nhiệm vụ giám sát và can thiệp kịp thời Các trái chủ do đó cóthể chấp nhận đặt thứ tự ưu tiên hoàn trả của nợ ngân hàng cao hơn của mình vàtrao cho ngân hàng nhiệm vụ giám sát Kết quả là, người vay có thể giảm chi phícủa mình bằng cách tiếp cận cả thị trường tín dụng ngân hàng và thị trường tàichính Đây là một ví dụ của sự bổ sung lẫn nhau giữa ngân hàng và thị trường tài trợvốn Các trái chủ rõ ràng sẽ đòi hỏi một khoản lợi ích cho sự lệ thuộc này của họ

Sự ưu tiên hoàn trả có thể được ra giá Ví dụ như khoản nợ có ưu tiên hoàn trả sẽ rẻhơn (lãi suất thấp hơn vì ít rủi ro hơn) là khoản nợ không có bảo đảm hay nợ có ưutiên hoàn trả thấp

1.2.2.3 Vấn đề tắc nghẽn

Vấn đề tắc nghẽn, có thể xem như một mặt trái của quan hệ tín dụngngân hàng Vấn đề tắc nghẽn là thuật ngữ dùng để chỉ một tình huống trong đó haibên có thể hợp tác với nhau để làm việc hiệu quả, nhưng họ không làm như vậy vì

lo rằng bên kia sẽ có ưu thế thương lượng và làm giảm lợi nhuận của họ Nguồn gốccủa vấn đề tắc nghẽn trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng biết được khảnăng sinh lợi của người vay, và vì người vay đã đ ầu tư rất nhiều vào dự án, họ cónguy cơ mất dự án nếu hoạt động tín dụng không được thực hiện, nhưng ngân hàngkhông gặp phải nguy cơ như vậy Trong trường hợp đó đối với một khoản nợ linhhoạt, ngân hàng sẽ có quyền thương lượng lại và đòi hỏi lợi nhuận cao hơn chomình Khả năng người vay phụ thuộc vào ngân hàng trong tương lai càng lớn, ưu

Trang 31

thế thương lượng của ngân hàng càng lớn và người vay càng ngại vay vốn ngânhàng Về bản chất, nguồn gốc của vấn đề tắc nghẽn xuất phát từ mong muốn theođuổi lợi nhuận tối đa của ngân hàng Đây cũng chính là điểm rắc rối nhất trongnghiên cứu tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng, chính điều này làm tác độngcủa quan hệ trở nên mơ hồ Liệu quan hệ sẽ gia tăng giá trị khoản vay thông qua cáclợi ích mà chúng ta đã thảo luận ở trên hay ngược lại, làm các khoản vay trở nên đắt

đỏ hơn?

Tóm lại, sự đe dọa bị “cô lập”, hay bị độc quyền khai thác thông tin bởingân hàng có thể khiến người vay không muốn vay tiền của ngân hàng Dẫn đếnnhững cơ hội đầu tư tiềm năng có thể vì thế mất đi Trên thực tế, các khoản vayngân hàng thường được ưu tiên hơn các khoản tài trợ khác Với sự ưu tiên đó, ngânhàng có thể có nhiều lợi thế đàm phán hơn Càng nhiều lợi thế, ngân hàng càng ítsẵn sàng đàm phán từ bỏ một số lợi ích của mình, do đó lợi ích mang lại cho doanhnghiệp từ món vay càng ít hơn Lợi thế này sẽ làm giảm động cơ của ngân hàng đốivới việc từ bỏ một số yêu sách để gia tăng giá trị của món vay thông qua sự gia tănggiá trị của doanh nghiệp

1.2.2.4 Giải pháp cho vấn đề tắc nghẽn

Giải pháp cho vấn đề tắc nghẽn là sự cạnh tranh trên thị trường tín dụngcủa các ngân hàng để giảm thiểu sự độc quyền của ngân hàng đối với khách hàngvay Tuy nhiên trong khi các ngân hàng cạnh tranh gay gắt với nhau (ví dụ như mộtkhách hàng có thể giữ quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng một lúc) để giảm thiểuvấn đề tắc nghẽn, việc xây dựng quan hệ tín dụng bền vững giữa ngân hàng vàngười vay có thể bị ảnh hưởng Điều này có thể làm giảm sự độc quyền thông tincủa các ngân hàng, nhưng tất nhiên lại làm tăng chi phí Việc có nhiều quan hệ tíndụng ngân hàng có thể làm giảm đi vấn đề tắc nghẽn, nhưng lại làm giảm đi khảnăng cấp tín dụng Một cách giải thích là việc tồn tại nhiều quan hệ tín dụng ngânhàng sẽ làm giảm giá trị của việc thu thập thông tin đối với bất cứ ngân hàng nào vàgây ra quá nhiều sự cạnh tranh lãi suất có thể ngăn cản khả năng cấp tín dụng chocác doanh nghiệp non trẻ Vì cấp tín dụng cho các doanh nghiệp non trẻ vốn đã là

Trang 32

một sự mạo hiểm, cạnh tranh lãi suất gay gắt có thể đẩy mức độ mạo hiểm lên đếnmức không thực hiện nổi.

Một câu hỏi có thể đặt ra trong phần này, đó là liệu doanh nghiệp cóquan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng, nhưng tất cả ngân hàng đều bỏ công sức đểxây dựng quan hệ tín dụng, hay nói cách khác xây dựng thông tin độc quyền, thì cógiải quyết được vấn đề tắc nghẽn hiệu quả hơn hay không? Từ những điều kiện tồntại của quan hệ tín dụng ngân hàng, ta biết rằng các thông tin mà từng ngân hàngtích lũy trong quá trình cung c ấp dịch vụ tài chính phải đảm bảo được giữ bí mật vàmột doanh nghiệp không thể sử dụng cùng một dịch vụ tại nhiều ngân hàng một lúc.Nên dù ở góc độ nào, quan hệ chung thủy với một ngân hàng cũng có khả năng pháthuy được lợi ích hơn là quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng Vì thế, dù các ngânhàng có xây dựng thông tin độc quyền thì hiệu quả của nó cũng chắc chắn bị giảm

đi so với quan hệ chung thủy

Tóm lại, việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng của quan hệ tíndụng sẽ tạo ra mặt trái đó là độc quyền thông tin Sự độc quyền thông tin này có thểlàm tăng vị thế đàm phán của ngân hàng và làm cho các khoản tín dụng trở nên đắt

đỏ với doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể khắc phục điều này bằng cách thiết lậpquan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng (hay nói cách khác để các ngân hàng phảicạnh tranh với nhau) để giữ vị thế đàm phán Tuy nhiên, nếu sự cạnh tranh giữa cácngân hàng cao và doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng cùng lúc,quan hệ tín dụng của từng ngân hàng sẽ không phát huy được lợi ích của nó và thậmchí không được xây dựng

Thảo luận của tác giả trong phần này là nếu doanh nghiệp chung thủy vớimột ngân hàng và ngân hàng xây dựng được thông tin độc quyền về doanh nghiệp,

cả hai bên sẽ nhận được lợi ích của quan hệ trong trường hợp ngân hàng khai tháclợi ích một cách lâu bền Càng về sau, quyền quyết định khai thác lợi ích từ quan hệcủa ngân hàng ngày càng lớn, đi kèm với mức độ ngày càng tăng của độc quyềnthông tin Ngân hàng có hai cách để khai thác lợi ích này, một là tiết kiệm chi phí(giảm chi phí tìm kiếm thông tin, kiểm định thông tin, giảm chi phí từ giảm mức độ

Trang 33

rủi ro, giảm chi phí kiểm soát v v ), hai là sử dụng lợi thế độc quyền thông tin đểtăng lãi suất Trong đó cách thức đầu tiên có lợi cho cả hai bên còn cách thức thứhai chuyển lợi ích của người đi vay sang ngân hàng Nếu ngân hàng tận dụng mộtcách khéo léo chứ không thái quá lợi ích thứ hai, ngân hàng sẽ không phá vỡ mongmuốn xây dựng quan hệ của người đi vay Tất nhiên điều này phải thể hiện qua lòngtin và sự tôn trọng trong quá trình xây dựng quan hệ lâu dài giữa ngân hàng vàkhách hàng vay Tuy nhiên, kết quả tác động của quan hệ tín dụng lại không phảilúc nào cũng rõ ràng và cần phải nghiên cứu, chủ yếu là do những tác động tráichiều nhau giữa lợi ích của quan hệ tín dụng và vấn đề tắc nghẽn Điều này sẽ đượcbàn luận qua các nghiên cứu đã có trong phần các nghiên cứu thực nghiệm và tácgiả sẽ thiết lập mô hình nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ tác đ ộng của quan hệ tíndụng tới hoạt động tín dụng tại môi trường Việt Nam thông qua trường hợp cụ thểcủa ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương.

Đến đây, chúng ta đã tìm hiểu về khái niệm, điều kiện tồn tại của quan hệtín dụng ngân hàng, cũng như các lợi ích và tác động xấu của nó Trước khi đi sangthảo luận các yếu tố ảnh hưởng tới quan hệ tín dụng ngân hàng, tác giả tóm tắt lại

các vấn đề thông qua Phụ lục 2.1 “Tóm tắt khái niệm, lợi ích và chi phí của quan hệ

tín dụng”.

Mục tiêu của đề tài là phân tích tác động của quan hệ tín dụng ngân hànglên việc áp dụng các biện pháp hạn chế tín dụng trong hoạt động tín dụng chứkhông phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng Nghiên cứu phântích các yếu tố đo lường mức độ quan hệ tín dụng và phân tích mức độ quan hệ tíndụng thay đổi thì việc áp dụng các biện pháp hạn chế tín dụng có thay đổi theo haykhông Do đó, trong phạm vi của đề tài không đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đếnquan hệ tín dụng, có thể bao gồm văn hóa của quốc gia, văn hóa làm việc của ngânhàng, của từng doanh nghiệp hay thể chế chính trị, pháp luật, môi trường kinh tếtừng thời kỳ v v và nằm trong một nghiên cứu khác

Trang 34

Mục tiếp theo sẽ thảo luận yếu tố quyết định tới mức độ của cả quan hệtín dụng và vấn đề tắc nghẽn, đó là vấn đề cạnh tranh trên thị trường tín dụng Đồngthời thảo luận các kết quả nghiên cứu hoàn toàn khác nhau ở Châu Âu và Châu Mỹ.

1.2.3 Các nghiên cứu đã có về quan hệ tín dụng ngân hàng

Phần này có hai mục đích Đầu tiên bài nghiên cứu giải thích tại sao phảixem xét tác động của cạnh tranh trên thị trường tín dụng khi nghiên cứu về quan hệtín dụng ngân hàng Liệu đây là đe dọa hay chính nó làm tăng thêm tầm quan trọngcủa quan hệ tín dụng ngân hàng? Nghiên cứu sẽ cho thấy có những lực lượng đốikháng làm cho tác động của cạnh tranh trên thị trường tín dụng lên quan hệ tín dụngngân hàng trở nên mơ hồ Tiếp theo, chúng ta sẽ tập trung vào những bằng chứngthực nghiệm đã có về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng

1.2.3.1 Tác động của mức độ cạnh tranh trên thị trường tín dụng tới sựảnh hưởng của quan hệ tín dụng ngân hàng lên hoạt động cấp tín dụngChúng ta đã xem xét lập luận cho rằng các quan hệ tín dụng có thể tạođiều kiện cho luồng thông tin liên tục giữa con nợ và chủ nợ và qua đó bảo đảm khảnăng tài trợ vốn Đồng thời biết được hai tác động tiêu cực chính của quan hệ tíndụng ngân hàng là vấn đề ràng buộc ngân sách mềm vốn có thể giải quyết bằngtrình độ quản lý của ngân hàng và vấn đề tắc nghẽn Giải pháp để giảm vấn đề tắcnghẽn là gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường tín dụng bằng cách khách hàng cóthể thiết lập quan hệ với nhiều ngân hàng một lúc Tuy nhiên một số quan điểm tinrằng cạnh tranh sẽ đe dọa các quan hệ tín dụng, trong khi số khác tin rằng hoàn toànngược lại Câu hỏi là làm thế nào cạnh tranh liên ngân hàng hay cạnh tranh gay gắt

từ thị trường tài chính tác động đến quan hệ tín dụng ngân hàng? Những phân tíchtiếp theo sẽ cho thấy sự cạnh tranh tác động mạnh mẽ tới mức độ của quan hệ tíndụng ngân hàng Để đo lường quan hệ tín dụng ngân hàng, chúng ta phải đo lườngđược mức độ cạnh tranh trên thị trường tín dụng

Trước tiên chúng ta hãy xem xét quan điểm cạnh tranh trên thị trường tíndụng làm hạn chế các quan hệ tín dụng ngân hàng Quan điểm này tranh luận là vớinhiều sự cạnh tranh từ nguồn cho vay, khách hàng vay có thể bị cám dỗ chuyển

Trang 35

sang ngân hàng khác hoặc chuyển sang thị trường tài chính Khi các ngân hàngnhận thấy có sự cạnh tranh gay gắt, họ sẽ dự đoán tuổi thọ các quan hệ tín dụng của

họ trở nên ngắn hơn và phản ứng bằng cách giảm đầu tư vào việc gầy dựng chúng.Hậu quả là các quan hệ trở nên ngắn hơn và hạn chế khả năng sử dụng lại thông tin,

do đó làm giảm giá trị thông tin Giá trị thông tin giảm làm giảm đầu tư vào việc thuthập thông tin, dẫn đến bất cân xứng thông tin và các quan hệ lại càng khó duy trì.Vòng luân chuyển tự triệt tiêu này có thể làm cho dự đoán các quan hệ trở nên ngắn

hơn đó tự thành hiện thực (Phụ lục 2.2 “Tóm tắt quan điểm cạnh tranh làm hạn chế

các quan hệ tín dụng”).

Một tác động tiêu cực khác của sự cạnh tranh tới quan hệ tín dụng ngânhàng có thể đến từ tác động của cạnh tranh đến lãi suất cho vay Cạnh tranh trên thịtrường tín dụng có thể gây ra các hạn chế về khả năng chia sẻ lợi ích giữa người vay

và người cho vay Không ai muốn bỏ công sức và tiền bạc để xây dựng một quan hệkhông bền Đặc biệt nó trở nên khó khăn hơn cho các ngân hàng khi muốn hỗ trợkhách hàng trong thời gian đầu để đổi lấy lợi ích trong tương lai Vì vậy, vai trò tàitrợ của các ngân hàng đối với các doanh nghiệp non trẻ đã đ ề cập trước đó có thểkhông còn tồn tại trong môi trường cạnh tranh cao Điều này cho thấy khi cạnhtranh lãi suất giữa các ngân hàng quá gay gắt có thể ngăn cản hoạt động tín dụngcủa ngân hàng

Mặt khác, một số quan điểm cho rằng sự cạnh tranh cũng có thể nâng caotầm quan trọng của quan hệ tín dụng ngân hàng Hay nói cách khác chính việc xâydựng quan hệ tín dụng ngân hàng làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng vìđiều này làm ngân hàng trở nên tương đối độc đáo hơn đối thủ cạnh tranh Các ngânhàng sẽ không chỉ dùng lãi suất cho vay đơn thuần mà có những cách khác nhau đểxây dựng quan hệ bền chặt với khách hàng Như vậy, một môi trường cạnh tranh cóthể khuyến khích các ngân hàng trở nên gần gũi với khách hàng hơn và đa dạng hóacác dịch vụ của mình theo yêu cầu khách hàng, do đó ngân hàng sẽ đầu tư nhiềuhơn vào quan hệ tín dụng với khách hàng Trong bài nghiên cứu về quan hệ tín

Trang 36

dụng ngân hàng của Boot và Thakor (2000)7đã phân tích tác đ ộng của cạnh tranhlên hoạt động tín dụng ngân hàng bằng cách phân biệt một cách tổng quát về tíndụng giao dịch và tín dụng xây dựng quan hệ Tín dụng xây dựng quan hệ là hoạtđộng tín dụng mà các ngân hàng đầu tư vào xây dựng quan hệ với người vay Trongkhi tín dụng giao dịch là hoạt động tín dụng mà cả ngân hàng và khách hàng chỉhành động vì lợi ích bản thân, hay nói cách khác họ hành động độc lập và khôngliên quan tới nhau, không tương tác lẫn nhau Kết quả của họ cho thấy các ngânhàng cung cấp nhiều khoản tín dụng giao dịch khi cạnh tranh liên ngân hàng thấp,hơn là khi cạnh tranh cao Khi mức độ cạnh tranh lên đủ cao, các ngân hàng chỉcung cấp các khoản tín dụng có xây dựng quan hệ, nhưng phụ thuộc vào mức độhiểu biết của ngân hàng đối với từng doanh nghiệp Ngân hàng càng hiểu biết cụ thể

về ngành đó hay doanh nghiệp đó, khả năng điều chỉnh dịch vụ cho phù hợp vớinhu cầu của khách hàng có quan hệ tín dụng càng tốt Còn đối với sự cạnh tranh từthị trường vốn, khi ngân hàng đối mặt với sự gia tăng cạnh tranh từ thị trường vốn,ngân hàng sẽ phản ứng bằng cách giảm dư nợ tín dụng (cả dư nợ tín dụng giao dịch

và dư nợ tín dụng có xây dựng quan hệ) nhưng mỗi khoản vay có quan hệ sẽ manglại giá trị gia tăng nhiều hơn cho người vay Một phát hiện thú vị nữa là sự gia tăngcạnh tranh, từ cả thị trường tài chính và từ các ngân hàng khác có thể cải thiện phúclợi của một số người đi vay nhưng không phải tất cả

Những tranh luận này chỉ ra rằng tác động của sự cạnh tranh lên quan hệtín dụng ngân hàng rất phức tạp Một số tác động cần phải được phân tích kỹ lưỡng

và rối rắm Mặc dù sự cạnh tranh giữa các ngân hàng rất có thể nâng cao giá trị củaquan hệ tín dụng ngân hàng Tuy nhiên cần có các nghiên cứu đánh giá kỹ hơn.Chúng ta tiếp tục thảo luận các bằng chứng thực nghiệm

7Boot, A W A., and Thakor, A V., 2000 Can relationship banking survive competition? Journal of

Finance, 55: 679-713, p 708.

Trang 37

1.2.3.2 Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của quan hệ tín dụngngân hàng lên hoạt động cấp tín dụng

Các chi phí và lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng đã được nghiêncứu kỹ lưỡng trong thời gian dài Theo lược khảo trong bài nghiên cứu về quan hệtín dụng ngân hàng của Boot (2000)8, nghiên cứu ban đầu là của James (1987) vàLummer và McConnell (1989), tập trung vào phân tích tác động của việc công bốcác thỏa thuận cho vay của ngân hàng tới giá cổ phiếu Nói chung, các nghiên cứunày cho thấy có ảnh hưởng tích cực của các công bố thỏa thuận cho vay của ngânhàng tới giá cổ phiếu Kết quả của Lummer và McConnell (1989) cho thấy phảnứng tích cực của giá cổ phiếu được dẫn dắt bởi sự gia hạn các hợp đồng tín dụng.Điều này chứng minh các ngân hàng liên tục thu thập thông tin theo thời gian và chỉ

rõ lợi ích “chứng nhận” của quan hệ tín dụng ngân hàng Tương tự như vậy, Slovin

và các cộng sự (1988) cho thấy việc công bố các hợp đồng thương mại chỉ có tácđộng tích cực đáng kể lên giá cổ phiếu khi đi có kèm với thư tín dụng ngân hàng.Quan điểm này sau đó được hỗ trợ thêm bởi các bằng chứng thực nghiệm của Billet

và các cộng sự (1995), họ cho thấy một tương quan tích cực giữa trình độ của bêncho vay và hiệu quả của các công bố Để được chính xác hơn, Billet và các cộng sự

đã áp dụng nghiên cứu của họ đối với người cho vay nói chung, do đó không có sựphân biệt giữa ngân hàng và phi ngân hàng, điều này cũng nhấn mạnh rằng quan hệtín dụng không phải là độc quyền của các ngân hàng mà nghiên cứu đã thảo luậntrong phần trước Bằng chứng này của Billet đã khẳng định kết quả của Chemmanur

và Fulghieri (1994) về tầm quan trọng của trình độ ngân hàng đối với việc chứngnhận khả năng của người vay Những nghiên cứu này là những bằng chứng thựcnghiệm minh chứng trực tiếp cho các lý thuyết về vai trò của quan hệ tín dụng ngânhàng đã thảo luận Chúng ta có thể kết luận rằng sự tham gia của ngân hàng tạo ramột giá trị gia tăng khác biệt

8 Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation, 9:7-25, p.19.

Trang 38

Trong khi khẳng định vị thế đặc biệt của quan hệ tín dụng ngân hàng,những nghiên cứu này chỉ cung cấp những thử nghiệm thô sơ về giá trị của quan hệtín dụng ngân hàng Về cơ bản, tất cả những gì được thể hiện là sự tồn tại của mộtquan hệ giữa người vay và người cho vay có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp.Nhưng nguồn gốc tạo nên sự gia tăng này không được phát hiện Hầu hết chúng tậptrung nghiên cứu đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị của quan hệ tín dụng ngânhàng sẽ nhỏ hơn đối với các doanh nghiệp lớn (các doanh nghiệp đã niêm yết cổphiếu và do đó có thể tự tạo ra tác động của các công bố) Những nghiên cứu tiếptheo sẽ tập trung vào những doanh nghiệp nhỏ hơn và cho thấy quan hệ tín dụngngân hàng có giá trị lớn hơn.

Các nghiên cứu thực nghiệm sau đó đã cố gắng để đo lường sức mạnhcủa quan hệ tín dụng ngân hàng Nói cách khác, trả lời câu hỏi liệu quan hệ tín dụngngân hàng có tạo ra giá trị trong suốt thời gian duy trì quan hệ đó hay không Thôngthường, mức độ của quan hệ được đo lường bởi thời gian tồn tại của quan hệ Đaphần các nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và có nhiều phát hiệnthú vị Theo lược khảo của Boot (2000)9 về các nghiên cứu thực nghiệm của quan

hệ tín dụng ngân hàng, đầu tiên, theo nghiên cứu về lợi ích của quan hệ tín dụngngân hàng trong trường hợp các doanh nghiệp nhỏ của Petersen và Rajan (1994),thời gian tồn tại của quan hệ có ảnh hưởng tích cực tới khả năng cấp tín dụng Thứhai, theo nghiên cứu của Boot và Thakor (1994) về quan hệ tín dụng ngân hàng, cácđiều khoản hợp đồng có thể giúp kéo dài tuổi thọ của quan hệ tín dụng ngân hàngnhìn chung là lãi suất thấp hơn và yêu cầu tài sản thế chấp ít đi Các kết quả này phùhợp với ý tưởng rằng quan hệ tín dụng ngân hàng cải thiện khả năng trao đổi thôngtin và rằng tuổi thọ của quan hệ càng lâu thì việc trao đổi thông tin càng nhiều Thứ

ba, cũng theo nghiên cứu của Petersen và Rajan (1994) về lợi ích của quan hệ tíndụng ngân hàng trong doanh nghiệp nhỏ, có bằng chứng về việc giảm bớt yêu sách

9 Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation, 9:7-25, p.20.

Trang 39

trong các điều khoản hợp đồng góp phần tăng khả năng tài chính cho các doanhnghiệp non trẻ.

Sự cải thiện theo thời gian trong điều khoản hợp đồng của quan hệ tíndụng ngân hàng có thể là bằng chứng chống lại vấn đề tắc nghẽn Bởi vì độc quyềnthông tin có khuynh hướng tồi tệ hơn theo thời gian Điều này cũng không có nghĩa

là làm mất đi vấn đề tắc nghẽn, nhưng làm cho nó bị chi phối bởi các yếu tố kháctốt hơn Điều thú vị là trong bối cảnh ở Châu Âu, Degryse và Van Cayseele(2000)10tìm thấy điều ngược lại, các điều khoản hợp đồng ngày càng xấu đi theotuổi thọ của quan hệ tín dụng ngân hàng Vì vậy, phát hiện của họ ủng hộ giả thuyếtvấn đề tắc nghẽn, cho thấy vấn đề tắc nghẽn chiếm ưu thế hơn trong bối cảnh Châu

Âu Không có tài liệu nào giải thích sự khác biệt này giữa Mỹ và Châu Âu, nhưng

có những phỏng đoán Một cách giải thích có thể là lĩnh vực ngân hàng ở Châu Âu

có sự thống nhất cao hơn và khách hàng vay ít có lựa chọn nào để thay thế tín dụngngân hàng (ví dụ như thị trường tài chính kém phát triển hơn) Tuy nhiên bằngchứng về tác động của quan hệ tín dụng ngân hàng lên khả năng tiếp cận tín dụng làgiống nhau ở cả Mỹ và Châu Âu Trong cả hai trường hợp quan hệ tín dụng ngânhàng làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng

Một nghiên cứu thực nghiệm khác đã có một góc nhìn rõ ràng hơn chovấn đề tắc nghẽn và giải pháp được đưa ra là các doanh nghiệp lựa chọn có nhiềuquan hệ tín dụng ngân hàng cùng lúc Theo lược khảo của Boot (2000)11về quan hệtín dụng ngân hàng, đó là nghiên cứu của Ongena và Smith (2000) về số lượng quan

hệ tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, điều này có thể giải quyết vấn đề tắc nghẽn,nhưng có thể làm xấu đi khả năng tiếp cận tín dụng Vì khi có nhiều quan hệ tíndụng sẽ làm giảm giá trị của thông tin đối với bất kỳ ngân hàng nào (như đã phântích ở phần trên) Nghiên cứu của Petersen và Rajan (1994) về lợi ích của quan hệtín dụng ngân hàng trong doanh nghiệp nhỏ cũng cho thấy sự hiện diện của quá

10

Degryse, H., and van Cayseele, P., 2000 Relationship lending within a bank-based system: Evidence from

European small business data Journal of Financial Intermediation, 9:90–109, p.25.

11 Boot, A.W.A., 2000 Relationship banking: What do we know? Journal of Financial Intermediation,

9:7-25, p.20-21.

Trang 40

nhiều người cho vay sẽ đẩy sự cạnh tranh lên cao và ngăn cản việc cho vay cácdoanh nghiệp non trẻ Houston và James (1999) nghiên cứu về những hạn chế củadòng tiền và đầu tư Họ cho thấy rằng mong muốn có nhiều quan hệ tín dụng ngânhàng phụ thuộc vào nhu cầu tài trợ Bằng chứng thực nghiệm của họ cho thấy rằngcác doanh nghiệp chỉ có quan hệ tín dụng với một ngân hàng duy nhất sẽ rơi vào bấtlợi (vấn đề dòng tiền hạn chế) khi nhu cầu tài trợ dự kiến lớn Trong trường hợp nhucầu tài trợ khiêm tốn, quan hệ một-một giữa ngân hàng và doanh nghiệp sẽ ít gặphạn chế hơn về vấn đề dòng tiền so với quan hệ một doanh nghiệp với nhiều ngânhàng.

Kết luận chương một: Các cuộc thảo luận trong phần này khái quát

và phân tích những vấn đề về quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm những tác độnghai mặt đến việc cấp tín dụng và các bằng chứng đáng kể hỗ trợ cho giả thuyết quan

hệ tín dụng ngân hàng làm gia tăng giá trị Một bước quan trọng tiếp theo là thiết kếkiểm tra thực nghiệm để có thể xác định cụ thể hơn các lợi ích và chi phí của quan

hệ tín dụng ngân hàng Trong khi rõ ràng các ngân hàng có được những thông tinquan trọng thông qua các quan hệ, và bằng chứng thực nghiệm nhìn chung cũng ủng

hộ điều này, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu về những thông tin cụ thể có thể ảnhhưởng tới lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng là gì, và làm thế nào các thông tinnày tạo ra lợi ích của quan hệ tín dụng ngân hàng, lại rất hạn chế và đưa ra nhiều kếtquả đối nghịch nhau Phần tiếp theo nghiên cứu sẽ giới thiệu tổng quan về ngânhàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank) Sau đó thiết lậpnhững giả thuyết về quan hệ tín dụng trong trường hợp cụ thể Vietinbank để làm cơ

sở cho việc thu thập dữ liệu và xây dựng mô hình nghiên cứu

Ngày đăng: 07/08/2015, 06:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Mô hình quản trị của ngân hàng Vietinbank. - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Mô hình quản trị của ngân hàng Vietinbank (Trang 43)
Sơ đồ 2.2: Hệ thống các phòng ban chức năng tại hội sở chính và mạng lưới các chi nhánh của ngân hàng Vietinbank. - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Hệ thống các phòng ban chức năng tại hội sở chính và mạng lưới các chi nhánh của ngân hàng Vietinbank (Trang 44)
Sơ đồ 2.3: Quy trình kiểm soát của ngân hàng Vietinbank. - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Sơ đồ 2.3 Quy trình kiểm soát của ngân hàng Vietinbank (Trang 46)
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề kinh doanh của Vietinbank năm 2013 - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 2.3 Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề kinh doanh của Vietinbank năm 2013 (Trang 50)
Bảng 2.5:  “Thống  kê  ngành  nghề hoạt  động  của  các  doanh  nghiệp”  mô  tả ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp trong mẫu thu thập. - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 2.5 “Thống kê ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp” mô tả ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp trong mẫu thu thập (Trang 61)
Bảng 2.7: Thống kê về số lượng quan hệ tín dụng ngân hàng - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 2.7 Thống kê về số lượng quan hệ tín dụng ngân hàng (Trang 65)
Bảng 2.8 “K ế t quả thống kê của các biến kiểm soát là biến giả “ mô tả kết quả khảo sát của các biến kiểm soát là biến giả thể hiện các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng  doanh  nghiệp  bị ngân  hàng  hạn  chế tín  dụng,  ngoài  nhân  tố quan  hệ tín dụng n - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 2.8 “K ế t quả thống kê của các biến kiểm soát là biến giả “ mô tả kết quả khảo sát của các biến kiểm soát là biến giả thể hiện các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng doanh nghiệp bị ngân hàng hạn chế tín dụng, ngoài nhân tố quan hệ tín dụng n (Trang 67)
Bảng 3.1 “Kết quả mô hình hồi quy Probit chưa tối ưu hóa” thể hiện kết quả của - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 3.1 “Kết quả mô hình hồi quy Probit chưa tối ưu hóa” thể hiện kết quả của (Trang 81)
Bảng 3.5: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến DOANH_THU - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 3.5 Kiểm định bỏ biến Wald test với biến DOANH_THU (Trang 113)
Bảng 3.7: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến THOIGIAN1 - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 3.7 Kiểm định bỏ biến Wald test với biến THOIGIAN1 (Trang 113)
Bảng 3.6: Kiểm định bỏ biến Wald test với biến HAI_NH - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Bảng 3.6 Kiểm định bỏ biến Wald test với biến HAI_NH (Trang 113)
Sơ đồ 2.2: Hệ thống các phòng ban chức năng tại hội sở chính và mạng lưới các chi nhánh của ngân hàng Vietinbank. - Tác động của mối quan hệ tín dụng nhân hàng lên việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Hệ thống các phòng ban chức năng tại hội sở chính và mạng lưới các chi nhánh của ngân hàng Vietinbank (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w