1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004) Luận văn thạc sĩ

107 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN THỦY ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG THEO HƯỚNG CNH – HĐH GIAI ĐOẠN 200

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN THỦY

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG

THEO HƯỚNG CNH – HĐH (GIAI ĐOẠN 2001 – 2004 )

Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TẤN KHUYÊN

TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Phần mở đầu 1

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu và hệ thống các chỉ tiêu 2

5 Kết cấu của luận văn 3

6 Những điểm mới của luận văn 3

Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH 4

1.1 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4

1.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn 5

1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 5

1.1.4 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 6

1.2 Các quan niệm về CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn 7

1.2.1 Lý thuyết hiện đại hóa và vấn đề phát triển từ nông nghiệp, nông thôn 7

1.2.2.Lý thuyết về kinh tế gia đình nông dân 8

1.3 Các quan niệm về phát triển nông nghiệp bền vững 10

1.3.1.Quan niệm về nông nghiệp bền vững 10

1.3.2.Các hợp phần của nông nghiệp bền vững 10

1.4 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và một số nước trên thế giới có thể áp dụng 11

Trang 3

Chương 2 : Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An

Giang giai đoạn 2001 – 2004 14

2.1 Những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang 14

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 14

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

2.2 Các chủ trương của tỉnh trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn 19

2.3 Kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp An Giang 20

2.3.1 Về giá trị sản xuất nông nghiệp 20

2.3.2 Về cơ cấu sản xuất nông nghiệp 25

2.3.3 Về các mô hình canh tác 31

2.3.4 Về các dạng hình tổ chức liên kết hợp tác 40

2.3.5 Về môi trường 44

2.4 Đặc trưng nông hộ An Giang trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 48

2.4.1 Đặc điểm lao động và họat động chính 48

2.4.2 Đặc điểm về trang bị đất đai 50

2.4.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản trên qui mô hộ 51

2.5 Đánh giá tổng quát về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang giai đọan 2001 – 2004 54

Chương 3 : Định hướng mục tiêu giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH 59

3.1 Cơ sở xây dựng định hướng mục tiêu giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH – HĐH 59

3.1.1 Căn cứ điều kiện tự nhiên 59

3.1.2 Căn cứ nhu cầu thị trường 60

Trang 4

3.1.3 Căn cứ tiến bộ khoa học công nghệ 60

3.1.4 Căn cứ thực tiễn chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp giai đọan 2001 -2004 61

3.1.5 Từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của các nơi 62 3.2 Phân tích ma trận SWOT nông nghiệp tỉnh An Giang 62

3.3 Định hướng mục tiêu giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang giai đọan 2005 - 2010 64

3.3.1 Định hướng mục tiêu chuyển dịch sản xuất nông nghiệp An Giang 64

3.3.2 Định hướng giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang 65

3.3.2.1 Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp – nông thôn 67

3.3.2.2 Về quy họach phát triển vùng nguyên liệu, tổ chức và liên kết hợp tác trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa 69

3.3.2.3 Về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 71

3.3.2.4 Về đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp 74

3.3.2.5 Về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 75

Kết luận và kiến nghị 77

Danh mục tài liệu tham khảo 79

Phụ lục 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU , CHỮ VIẾT TẮT

CNH – HĐH : Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

FAO : Tổ chức lương nông của Liên Hiệp Quốc GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

GTSX : Giá trị sản xuất

NN, LN và TS : Nông nghiệp , lâm nghiệp và thủy sản

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang được tiến hành mạnh mẽ trong 5 năm qua đã thu được nhiều thành tựu khả quan song cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục Với xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) nông nghiệp nông thôn, giá trị sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp An Giang đạt được mức tăng trưởng khá mạnh, giữ vị trí quan tr ng trong kinh tế vùng ĐBSCL Bên cạnh đó, kinh tế nông nghiệp tỉnh cũng đang đối mặt với các thách thức lớn về chuyển dịch cơ cấu sản xuất, biểu hiện ở cơ cấu cây trồng vật nuôi, quy mô, điều kiện và cách thức tổ chức sản xuất, hiệu quả sản xuất và môi trường phát triển ổn định lâu dài

Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dịch sản xuất nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH của tỉnh, việc xem xét đánh giá mức độ và hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh giai đọan vừa qua là cần thiết Thông qua việc đánh giá các kết quả của quá trình chuyển dịch sản xuất nông nghiệp tỉnh, và một số đặc trưng của nông hộ An Giang trong quá trình chuyển dịch, đề tài ti n hành làm rõ các ưu điểm và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh, từ đó đề xuất định hướng mục tiêu giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh theo hướng CNH – HĐH và bền vững

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát : Đánh giá k t quả quá trình chuyển dịch cơ cấu sản

xuất nông nghiệp của tỉnh An Giang giai đoạn 2001 -2004, từ đó:

+ Xác định những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang

Trang 7

+ Đề xuất các định hướng mục tiêu giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH- HĐH

- Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể :

+ Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp An Giang + Đánh giá kinh tế mùa nước nổi của An Giang

+ Đánh giá các mối liên kết hợp tác trong sản xuất nông nghiệp

+ Đánh giá các mô hình sản xuất của nông dân An Giang trong giai đọan chuyển dịch

+ Đánh giá tính cạnh tranh các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : các ngành hàng chủ lực và các chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra ngành hàng đó trong mối liên kết 4 nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp,nhà khoa học, Nhà nước)

- Phạm vi nghiên cứu : cơ cấu ngành hàng với cơ sở là sản xuất nông nghiệp trong mối liên hệ hệ thống

4 Phương pháp nghiên cứu và hệ thống các chỉ tiêu

- Phương pháp nghiên cứu :

+ Phương pháp tiếp cận : theo hướng cạnh tranh giữa các ngành hàng,

đi vào chiều sâu: chất lượng- hiệu quả - sức cạnh tranh sản phẩm

+ Phương pháp phân tích : phân tích SWOT , phân tích thống kê Tập hợp và xử lý các nguồn số liệu về kinh tế – xã hội để tạo cơ sở cho nghiên cứu định lượng của đề tài, thông qua các nguồn: (1) Tổng cục Thống kêâ; (2) Cục Thống kê tỉnh An Giang; (3) từ kết quả điều tra

+ Phương pháp điều tra : tổng quan các nguồn tư liệu, điều tra chọn mẫu đại diện các mô hình sản xuất, và RRA (điều tra nhanh nông thôn) Dữ liệu được xử lý bằng Excel

Trang 8

- Các chỉ tiêu tính toán về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp áp

dụng trong luận văn này:

+ Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp

+ Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp

+ Giá trị sản xuất nông nghiệp/ ha/ năm

+ Cơ cấu diện tích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản

+ Quy mô hộ về diện tích trồng trọt, số lượng gia súc chăn nuôi, diện tích nuôi trồng thủy sản

+ Phân tích thu nhập – lợi nhuận một số mô hình canh tác

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn gồm các phần chính như sau :

- Phần mở đầu

- Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH

- Chương 2 : Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An

Giang giai đọan 2001 – 2004

- Chương 3 : Định hướng mục tiêu và giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản

xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH

- Kết luận và kiến nghị

6 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn tập trung đánh giá các mô hình sản xuất chuyên, đa canh, các mô hình kinh tế mùa nước nổi của nông dân An Giang và các mối liên kết trong sản xuất nông nghiệp giữa nông dân với nhau, và nông dân với doanh nghiệp

- Luận văn đề xuất một số định hướng mục tiêu giải pháp đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp An Giang theo hướng CNH-HĐH, kết hợp phát triển bền vững, hợp sinh thái, tập trung vào quy họach xây

Trang 9

dựng các vùng chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản với việc phát triển các ngành hàng chủ yếu là lúa gạo, cá da trơn, rau màu và chăn nuôi gia súc

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CNH- HĐH

1.1 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Khái niệm cơ cấu kinh tế : Theo lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, có mối liên hệ hữu cơ tương tác qua lại về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu kinh tế là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội

Theo khái niệm phổ biến, cơ cấu kinh tế không chỉ là qui định về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng sự tăng trưởng của hệ thống mà còn nghiên cứu những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất sự phát triển của hệ thống Mặt khác, cơ cấu kinh tế còn chịu tác động của các nhân tố từ môi trường xung quanh Mối quan hệ giữa lượng và chất của các quan hệ trong cơ cấu kinh tế thực chất là quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân

Từ hai quan niệm trên, cơ cấu kinh tế phải đảm bảo tính liên kết trong nội bộ nền kinh tế và tác động qua lại lẫn nhau để cùng nhau phát triển, làm cơ sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế

- Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển, thông qua quá trình tác động của con người làm

Trang 11

thay đổi các bộ phận cấu thành tổng thể và mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành so với tổng thể

1.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, thành phần và cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ Chúng có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế so sánh từng vùng trong việc phát triển ngành Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu thành phần nhằm huy động nhiều nhất các nguồn lực của các thành phần kinh tế trong vùng Trong mối quan hệ này, cơ cấu kinh tế ngành đóng vai trò cơ bản

Trong điều kiện nông nghiệp nông thôn nước ta cũng như An Giang, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực chất là chuyển dịch từ nông thôn thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề, gồm cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn, chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn nhằm đưa nông nghiệp đạt trình độ hiện đại, nông thôn văn minh và nông thôn tri thức

1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành sản xuất trong nông nghiệp – lâm - ngư nghiệp là một tất yếu khách quan Cơ cấu nông- lâm – ngư nghiệp là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định

Cơ cấu nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác

Trang 12

nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ chằng chịt, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng

Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế xã hội như nhu cầu thị trường, thị hiếu, sức mua dân cư… Các điều kiện này khác biệt tùy theo không gian và thời gian, quy định sự hình thành và vận động biến đổi của cơ cấu nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng, cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động biến đổi Nhờ tác động công nghiệp, nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bổ sung thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông nghiệp mang tính chuyên môn hóa rõ rệt Khi chuyển sang xã hội hậu công nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp có những ngành mới như công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp.…

Sự chuyển dịch cơ cấu của một nước phải thể hiện trên vùng lãnh thổ Sự phân công lao động xã hội theo ngành luôn luôn và chỉ diễn ra trên từng vùng, muốn vùng phát triển lớn thì phải chuyển dịch cơ cấu Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành nông nghiệp, vấn đề ở chỗ là kinh tế nông nghiệp mang đặc trưng manh mún, phân tán, là một cản trở cho quá trình phát triển nền kinh tế và hiệu quả sự chuyển dịch cơ cấu Do đó việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở từng vùng, từng địa phương trở thành một xu thế tất yếu

1.1.4 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành công, đúng hướng đòi hỏi phải tuân thủ những quan điểm sau:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Đây là quan điểm chi phối toàn bộ

Trang 13

quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, là mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cũng như mục tiêu cụ thể của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp phải gắn với khai thác triệt để các lợi thế so sánh của đất, nước cũng như của từng vùng, từng địa phương

- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải phù hợp khả năng nền kinh tế (tài nguyên, vốn, lao động, khoa học ) và quan hệ quốc tế hiện nay để lựa chọn một cơ cấu thích hợp, xác định quy mô phát triển đúng từng ngành, từng sản phẩm

1.2 Các quan niệm về CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn :

1.2.1 Lý thuyết hiện đại hóa phát triển từ nông nghiệp, nông thôn

Lý thuyết hiện đại hóa phát triển từ nông nghiệp nông thôn bàn về việc giải quyết các vấn đề ở cả hai cấp độ vĩ mô và vi mô, đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và các tổ chức cộng đồng của cư dân nông thôn trong sự liên kết với khu vực đô thị, công nghiệp, thương mại dịch vụ

Theo cuốn sách “Hiện đại hóa từ cấp làng xã ở Đông Nam Á”, tập hợp tham luận của 18 tác giả khác nhau trong một hội thảo của Đại học Bristish Columbia, Canada năm 1982, hiện đại hóa bắt đầu từ các yếu tố ngoại sinh, nhưng thông qua các yếu tố nội sinh để có thể trở thành một quá trình làm biến đổi các xã hội theo chiều hướng chuyển từ các xã hội truyền thống sang các xã hội hiện đại Nếu chấp nhận cách hiểu hiện đại hóa như kiểu phương Tây và sự lan truyền của nó từ các nước trung tâm ra các nước ngoại vi thì tất nhiên phải chấp nhận một quá trình tiến hóa xã hội không lảng tránh được

Dựa trên các dữ kiện về các công xã nông thôn ở Ấn Độ, lý thuyết về

“Phương thức sản xuất Á Châu” của K Marx đề cập đến phương thức sản xuất

Trang 14

mang nặng tàn dư của công xã nguyên thủy, tạo ra một hình thái xã hội đặc thù của Châu Á, không chuyển hẳn sang chế độ nô lệ và chế độ phong kiến được Xét theo tiến hóa lịch sử, một xã hội kiểu đó có thể được duy trì rất lâu dài, vì sự cân bằng tĩnh này không cho phép bất cứ một lực lượng sản xuất mới nào xuất hiện và không có nhân tố xã hội nào phá vỡ nó Như vậy, không có cuộc cách mạng xã hội nào ngoài cuộc cách mạng qua những áp lực của tư bản phương Tây

Những quy luật của tiến hóa không thể chỉ dựa vào yếu tố ngoại sinh (exogene) mà phải có yếu tố nội sinh (endogene) làm động lực quyết định Nghĩa là phải có những mầm mống đủ mạnh của một phương thức sản xuất mới, hoặc sẵn có, hoặc được nuôi dưỡng để lớn dần lên Ngoài ra, không có cách nào khác để tiến hóa được Trên cơ sở đó, thuyết hiện đại hóa được phát triển theo các hướng cụ thể sau trong điều kiện các nước chậm phát triển :

- Ưu tiên cho mục đích nâng cao sức sống của đa số dân cư nông thôn, để phát triển động lực từ yếu tố “nội sinh” của người nông dân, cùng gia đình và cộng đồng nông thôn của họ

- Duy trì uy tín của nghề nông, thông qua xem xét đầy đủ về vai trò của nông nghiệp nông thôn, về một nền nông nghiệp tự tồn với các giá trị về môi trường sinh thái, gia đình và cộng đồng nông thôn

- Khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa ở nông thôn trong sự kết hợp các thể chế vốn có – gia tộc, làng xã, với việc phát triển các thể chế mới – doanh nghiệp, tổ chức hợp tác, cơ sở giáo dục, y tế hiện đại

- Thực hiện công nghiệp hóa với việc đưa vào nông thôn những thiết bị kỹ thuật từ công nghiệp để điện khí hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, phát triển công nghệ sinh học và thông tin tin học hóa nông nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và cung cấp những tiện nghi sinh hoạt cho dân cư nông thôn

Trang 15

- Từng bước đô thị hóa nông thôn với những hình thức và bước đi thích hợp từ việc xây dựng các cụm, tuyến dân cư tập trung, các thị trấn và thành phố nhỏ ở nông thôn trên cơ sở khai thác những lợi thế về cảnh quan môi trường tự nhiên

- Đa dạng hóa các loại hình tổ chức kinh doanh nông nghiệp từ kinh tế hộ và liên kết với kinh tế hộ – đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn

- Việc gắn nông nghiẹâp với công nghiệp và dịch vụ là một tất yếu và sẽ làm xuất hiện các hình thức tổ chức khác ở trình độ cao hơn – là những doanh nghiệp công nghiệp đặc thù

- Giải quyết hài hòa mối quan hệ mật thiết giữa quá trình hiện đại hóa với quá trình phân bố lại dân cư và lao động xã hội ở các nước có mật độ dân số cao, lao động dư thừa hoặc tiềm ẩn dư thừa lớn như nhiều nước Châu Á

1.2.2 Lý thuyết về kinh tế gia đình nông dân

Lý thuyết có ảnh hưởng nhất trong sự phát triển của nền kinh tế nông dân là lý thuyết kinh tế nông dân của Tchayanov (1924) trên cơ sở xã hội nông dân tự cấp, tự túc của nước Nga thời kỳ đó, coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động trong gia đình Luận điểm cơ bản của thuyết này coi kinh tế nông dân là phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội từ nô lệ đến tư bản chủ nghĩa, theo các quy luật phát triển riêng và tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành trong mỗi chế độ xã hội Đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ là sự cân bằng giữa lao động và tiêu dùng gia đình – giữa sự thỏa mãn các nhu cầu gia đình và sự gia tăng lao động Do đó không có khái niệm tiền lương và cũng không tính được đầy đủ chính xác chi phí sản xuất và lợi nhuận Mục tiêu của hộ nông dân là thu nhập cao –sản lượng hàng năm trừ đi chi phí (ngoại trừ chi phí lao động gia đình)- từ

Trang 16

trồng trọt, chăn nuôi và cả từ hoạt động phi nông nghiệp Đó là kết quả chung của lao động gia đình

Những người ủng hộ Tchayanov cũng đã phát triển học thuyết Tchayanov theo những hướng chính là :

- Đi vào phát triển sản xuất hàng hóa, kinh tế gia đình nông dân vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng phải đặt trong thị trường và phải chấp nhận sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường – quy luật giá trị, cạnh tranh, vì lợi nhuận … Do đó, phải hạch toán đầy đủ thông qua những quan hệ trao đổi với bên ngoài

- Kinh tế gia đình nông dân vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng phải hợp tác liên kết với nhau và với các tổ chức khác trong nền kinh tế bởi tự thân nông hộ khép kín không đủ sức tiếp nhận hoặc tiếp nhận kém hiệu quả các yếu tố nguồn lực hiện đại bên ngoài và tự thân nông hộ cũng không thể thực hiện trọn vẹn đuợc các yêu cầu của thị trường hàng hóa quy mô lớn

- Sự tích tụ và tập trung nguồn lực cả về số lượng và chất lượng để nền kinh tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu làm cho hộ nông dân tuy là đơn

vị kinh tế tự chủ, nhưng không thể chỉ hoạt động trong giới hạn của quỹ đất, nguồn lao động và vốn của gia đình, mà còn phải có nguồn bổ sung tăng thêm từ việc bổ sung thêm đất, thuê thêm lao động và vay vốn từ hệ thống tín dụng

Như vậy, với những hướng phát triển đó đã đưa thuyết kinh tế gia đình nông dân từ thuyết kinh tế “hộ khép kín – đóng” thành thuyết kinh tế “hộ mở”

1.3 Các quan niệm về phát triển nông nghiệp bền vững

1.3.1 Quan niệm về nông nghiệp bền vững

Mặc dù luận giải về khái niệm bền vững còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đã có những ý tưởng mang tính phổ biến về các khía cạnh kinh tế và

Trang 17

phúc lợi xã hội, môi trường tự nhiên và xã hội nhân văn với việc phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm thương tổn đến năng lực đáp ứng nhu

cầu của các thế hệ tương lai Năm 1989 FAO đưa ra định nghĩa như sau : “Phát triển bền vững là việc quản lí và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen và thực vật, không bị suy thoái môi trường, với kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội ”

1.3.2 Các hợp phần của nông nghiệp bền vững

Các chính sách và giải pháp quản lí nền nông nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu theo nguyên tắc sau:

- Giảm thiểu những đầu tư bên ngoài và việc sử dụng các sản phẩm không tái tạo với tiềm ẩn lớn gây hại môi trường và sức khoẻ của con người

- Sử dụng hiệu quả hơn những nguồn đầu tư hiện có để giảm giá thành

- Tiếp cận một cách hợp lí hơn đối với những cơ hội và các nguồn tài nguyên mang tính năng suất và đối với sự tiến bộ của các hình thái nông nghiệp có tính xã hội hoá cao hơn

- Sử dụng hiệu quả hơn tiềm năng sinh học và di truyền động thực vật

- Sử dụng có hiệu quả hơn những tri thức và kỹ thuật của cư dân địa phương

- Tăng cường tính tự chủ và tự tin trong nông dân

- Sản xuất hiệu quả với việc nhấn mạnh việc quản lí tổng hợp trang trại và bảo vệ đất, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên sinh học

Trang 18

Nếu các hợp phần này liên kết với nhau, hệ thống canh tác sẽ trở nên thích hợp với việc sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên Từ đó, mục đích của nông nghiệp bền vững là cố gắng đạt đến việc sử dụng tổng hợp hàng loạt công nghệ quản lí nước, đất, dinh dưỡng và sâu bệnh

1.4 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và một số nước trên thế giới :

Quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đem lại nhiều thành tựu tích cực, đem lại một số bài học kinh nghiệm như sau :

- Lấy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn và công nghiệp chế biến là khâu đột phá để chuyển dịch cơ cấu và phát triển sản xuất nông nghiệp

- Chuyển dịch phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, lấy nhu cầu thị trường làm mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp

- Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích nông dân và các thành phần kinh tế tham gia thực hiện Đó là các chính sách về thị trường, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng, thưởng xuất khẩu, công tác xúc tiến thương mại, các chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ và khuyến nông …

- Tăng cường áp dụng các công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chương trình giống cây trồng vật nuôi và công nghệ sinh học

- Sự chỉ đạo sâu sát của các chính quyền các cấp và quy họach sản xuất cụ thể là rất quan trọng đối với thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt được kết quả tốt

ở nhiều địa phương trong cả nước Ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với việc quy họach sử dụng đất

Trang 19

và hướng dẫn nông dân dồn điền đổi thửa, tập trung phát triển một số sản phẩm chủ lực, tạo tiền đề cho sản xuất hàng hóa phát triển Ơû vùng ĐBSCL, trong giai đọan 2001 – 2003, đã có 351.000 ha diện tích đất nông ngư nghiệp chiếm 11,6% diện tích đất nông nghiệp được chuyển dịch, đạt và vượt trên 50 triệu đồng/ha/năm Các mô hình canh tác đạt hiệu quả cao ở vùng ĐBSCL chủ yếu là mô hình chuyên canh cây ăn quả ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, mô hình luân canh lúa – rau – màu ở An Giang, mô hình chuyên màu, rau, hoa, cây cảnh và cây công nghiệp ngắn ngày ở Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bạc Liêu …, mô hình luân canh lúa – thủy sản, mô hình chuyên thủy sản, mô hình VAC và mô hình khác như trồng cỏ và nuôi bò, trồng hoa huệ, tôm quảng canh cải tiến … Về mô hình sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp và chế biến có thể kể đến trường hợp nông trường Sông Hậu (Cần Thơ) với mô hình RRVAC có giá trị phổ biến đối với các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có qui mô lớn về sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, cho thấy có thể đạt được phát triển bền vững thông qua hệ thống hợp tác và khuyến khích sự tham gia của người dân

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cải thiện cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa diễn ra ở các nước Đông Á và Đông Nam Á trong thời gian qua, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào điều kiện nông nghiệp nông thôn nước ta như sau:

- Xu thế giảm nhanh tỷ trọng sản phẩm và lao động trong khu vực nông nghiệp so với tổng sản phẩm và lao động xã hội Các nước và lãnh thổ thuộc khu vực Đông Á có tỷ trọng sản phẩm và lao động của khu vực nông nghiệp giảm khá nhanh, năm 1950 GDP của nông nghiệp toàn khu vực chiếm 20,4%, đến năm 1980 giảm 13,7% trong GDP chung Các nước Đông Nam Á tỷ trọng này giảm xuống chậm hơn tỷ trọng GDP nông nghiệp toàn khu vực từ 43,7% năm 1950 xuống 25,7% năm 1980 và tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 72,1%

Trang 20

xuống 55,9% là phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, với sự phát triển nền kinh tế quốc dân

- Trong nội bộ cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang có sự đa dạng hóa sản xuất các loại sản phẩm nông lâm thủy sản Nhiều nước đã và đang chuyển sang nền nông nghiệp đa canh thay thế cho việc trồng cây lương thực có hạt, chủ yếu là độc canh lúa, khai thác lợi thế tự nhiên phát triển những cây có giá trị kinh tế cao và giá trị xuất khẩu như: cao su, cọ dầu, cà phê, chè, xoài, v.v

- Đẩy mạnh công nghiệp nông thôn với nhiều hình thức đa dạng.Việc đầu

tư vốn và kỹ thuật hiện đại xây dựng công nghiệp nông thôn được đẩy mạnh nhằm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ, thu hút lao động dư thừa và đáp ứng nhu cầu sản phẩm tiêu dùng cho nông thôn Hình thức xí nghiệp “Hương trấn”

ở nông thôn Trung Quốc với phương châm “ly nông bất ly hương” trong vòng

10 năm (1980-1991) đem lại sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông thôn Trung Quốc Năm 1980, ở Trung Quốc, giá trị nông nghiệp chiếm 68,8% và giá trị công nghiệp nông thôn 34,1%, năm 1991 tỷ lệ này là 42,9% và 57,1%

- Mở rộng và phát triển hệ thống dịch vụ ở nông thôn:Việc phát triển hệ thống dịch vụ nông thôn, bao gồm những dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống xã hội là đòi hỏi có tính qui luật và tác động mạnh đến quá trình phát triển kinh tế nông thôn

- Cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nông thôn của các nước châu Á đã gắn phương thức truyền thống với phương thức hiện đại, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Công tác thủy lợi ở các nước châu Á luôn được coi trọng và tăng cường Năm 1989 tỷ lệ diện tích trong nông nghiệp được tưới của Trung Quốc đạt 47,2%, Nhật Bản 61,9%

so với toàn thế giới là 15,8%, các khu vực châu Âu – Mỹ và Phi là 9,1% Các nước trong khu vực Đông Nam Á rất coi trọng công nghiệp chế biến, hạ thấp tỉ

Trang 21

lệ sản phẩm sơ chế, nâng tỉ lệ sản phẩm tinh chế, nhất là các mặt hàng xuất khẩu Thái Lan là nước khá thành công trong chế biến nông sản, đến nay đã có

25 nghìn nhà máy ở nông thôn

- Chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái Nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo sự kết hợp hiệu quả kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại hóa hợp sinh thái

Trang 22

Chương 2

CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT

NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG GIAI ĐỌAN 2001 – 2004

2.1 Những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang

2.1.1 Điều kiện tự nhiên :

- Vị trí địa lý : An Giang là một tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, giáp biên giới với Campuchia, có nhiều dân tộc và tôn giáo, có diện tích tự nhiên 3.406 km2, chiếm 8,56% diện tích khu vực ĐBSCL và 1,05% diện tích cả nước An Giang gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, và 9 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành, Chợ Mới, Thọai Sơn

BẢN ĐỒ AN GIANG

Nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, An Giang chia thành 2 vùng rõ rệt:

Trang 23

- Vùng cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu (gồm các huyện : Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu và An Phú), chiếm 30% diện tích của tỉnh, là vùng đồng bằng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Đây là khu vực lũ đến sớm, thuận lợi cho nuôi thủy sản và có hệ thống đê bao triệt để phục vụ sản xuất nông nghiệp quanh năm

- Vùng Tứ giác Long Xuyên, chiếm 70% diện tích của tỉnh, được chia thành 2 tiểu vùng:

+ Khu vực đồng bằng ( gồm Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và khu vực đô thị hóa Long Xuyên và Châu Đốc) : khu vực này có hệ thống đê bao lũ tháng tám, thuận lợi cho các mô hình đa canh, luân canh và nuôi cá ao hầm

+ Khu vực đồi núi (Tri Tôn và Tịnh Biên) : thuận lợi cho phát triển ngành chăn nuôi gia súc, lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và du lịch cảnh quan

- Điều kiện khí hậu – thủy văn

Vĩ độ địa lý của An Giang nằm trong khoảng 10 – 11 độ vĩ bắc, tức là nằm gần với xích đạo, nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo Ở An Giang, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Lượng mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên gây ra tình trạng úng kết hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống Tháng 7 và tháng 8 hàng năm thường có mưa to và dài ngày làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung và hạ lưu sông Mê Kông Ở An Giang, mực nước thấp nhất năm có thể xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5

- Đất đai : An Giang là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng ĐBSCL Tổng diện tích đất nông nghiệp là 281.201 ha , trong đó đất trồng lúa chiếm hơn 82% Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng, gồm 3 nhóm chính : nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất đồi núi Địa hình An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng do phù sa sông Mê Kông tạo nên và vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 24

Về dân số – lao động : Theo kết quả thống kê sơ bộ năm 2004, dân số An

Giang là 2,170 triệu người, bằng 12,68% dân số của vùng ĐBSCL và chiếm 2,65% dân của cả nước Mật độ dân số của An Giang năm 2004 là 637 người/km2 cao gấp 1,48 lần so với mật độ dân số trung bình ở ĐBSCL (430 người/ km2) Lực lượng lao động của An Giang có 1.431.276 người chiếm 65,95% dân số Lao động nông nghiệp hiện vẫn chiếm 64,2% trong tổng lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Trình độ chuyên môn lao động còn thấp, có 12,51% số lao động là công nhân kỹ thuật có bằng cấp và 9,31% số lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học, trong khi tỷ lệ của khu vực ĐBSCL là 16,46% và 9,38% và cả nước là 30,58% và 18,37% Theo báo cáo tại Hội nghị Giáo dục đào tạo ĐBSCL tháng 8/2005 tại Cần Thơ, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông /1000 dân của cả nước là 35, ĐBSCL là 26 trong khi ở An Giang là 23 Tỷ lệ số sinh viên đại học/10.000 dân, bình quân chung toàn quốc là 140, ĐBSCL là 64, tỉnh An Giang chỉ có 50

Về phát triển kinh tế: giai đọan 2000 – 2004, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của An Giang là 108,35%/ năm, thấp hơn tốc độ của ĐBSCL là 109,53%/ năm, nhưng cao hơn tốc độ của cả nước là 107,16%/năm (theo giá so sánh 1994)

V c c u kinh t , n m 2000 t tr ng GDP phân theo các ngành nông nghi p, công nghiệp – xây dựng, và dịch vụ ở An Giang là 42,01%, 14,11% và 43,88%, trong khi cả nước là 23,28%, 35,41% và 41,30%; năm 2004 các tỷ lệ này ở An Giang là 36,57%, 15,76% và 47,67%, trong khi cả nước là 20,25%, 39,38% và 40,37% Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân/ha năm 2003 c a An Giang là 37,69 tri u

đ ng/ ha, tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân giai đoạn 2000-2003 của

An Giang là 4,83% năm (giá cố định 1994), trong khi con số này của ĐBSCL là 27,64 triệu đồng/ha và 7%/năm Sản lượng lương thực có hạt bình quân của An Giang năm 2004 là 1.415,6 kg/ người, trong khi ở ĐBSCL là 1.094,6 kg/người và cả

Trang 25

nước chỉ có 479,4 kg/người Sản lượng cá nuôi ở An Giang năm 2004 là 150.238 tấn, chiếm 34,65% lượng cá nuôi của cả ĐBSCL và 21,56% của cả nước

Qua các số liệu vừa nêu cho thấy kinh tế An Giang phát triển tích cực trong giai đoạn 2000 – 2004, đặc biệt là các lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp và dịch vụ, trong đó hai ngành hàng chủ lực là lúa gạo và cá da trơn đóng vai trò quan trọng trong kinh tế nông nghiệp của tỉnh Tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế An Giang thì tỷ trọng công nghiệp chưa tương xứng với sự phát triển của nông nghiệp và dịch vụ, điều này là một hạn chế đối với quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn của tỉnh

Về phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp chế biến: cho đến nay, toàn tỉnh đã có hệ thống giao thông đường bộ đến trung tâm các huyện Trong 4 năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, hệ thống giao thông nông thôn đã được nâng cấp một phần Tính đến cuối năm 2004 có 146/150 xã trong toàn tỉnh đã có đường ô tô đến tận trung tâm xã Tuy nhiên, do nền đường yếu nên đường nhanh bị xuống cấp, việc duy tu sửa chữa rất tốn kém Hệ thống bến bãi chưa được đầu tư đồng bộ Giao thông đường bộ phần nhiều chỉ lưu thông được trong mùa khô, gây trở ngại cho luân chuyển vật tư và nông sản hàng hóa

Hệ thống cung cấp điện năng từ nguồn lưới điện quốc gia trên địa bàn tỉnh đã được củng cố phát triển cơ bản đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt Đến năm 2003 điện lưới quốc gia đã phủ đến các xã Chính điều này đã tạo thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Về công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm, toàn tỉnh có 942 nhà máy xay xát lớn, nhỏ với công suất xay xát trên 2 triệu tấn lúa/năm Tuy nhiên, do chưa hiện đại hoá khâu bảo quản tồn trữ, chế biến dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao và phẩm chất gạo xuất khẩu, chưa cao so với Thái Lan Phần lớn các cơ sở xay xát - lau bóng phân bố ở các huyện, thị xã, thành phố thuận lợi về mặt giao thông thủy, bộ: Chợ Mới

Trang 26

chiếm 27,6%, Phú Tân 15,9%, Châu Phú 11,8%, Long Xuyên 9,1%; phù hợp với vùng nguyên liệu lúa tập trung của tỉnh Toàn tỉnh có 10 nhà máy chế biến thủy sản, với tổng công suất 65.100 tấn/năm, có trình độ công nghệ tương đối hiện đại, máy móc thiết bị được lắp đặt đồng bộ của các hãng chuyên ngành nổi tiếng như Mycom,

Nissin (Nhật), Bizzer (Đức), Trane (Mỹ) và Gram (Đan Mạch), hiện đang đầu tư xây dựng thêm 4 nhà máy chế biến thủy sản, nâng công suất chế biến thủy sản toàn tỉnh 85.600 tấn/năm trong năm 2005 Công suất chế biến rau quả xuất khẩu của An Giang hiện là 5.000 tấn/ năm (Chợ Mới) và chế biến nhân hạt điều 1000 tấn/năm (Tri Tôn) Các sản phẩm của ngành chế biến rau quả chủ yếu để xuất khẩu như: đậu nành rau, bắp non, đậu bắp, khoai cau, khóm, ngó sen, nấm rơm và hạt điều nhân Công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản có Nhà máy thức ăn gia súc Afiex đầu tư dây chuyền theo công nghệ của Hà Lan sản xuất thức ăn gia súc có công suất 60.000 tấn và dây chuyền chế biến thức ăn thủy sản cao cấp, công suất 10.000 tấn/năm Như vậy, so với sản lượng nông nghiệp của tỉnh năm 2004, công suất họat động các nhà máy chỉ mới đáp ứng nhu cầu chế biến 2/3 sản lượng lúa gạo, khỏang ½ sản lượng thủy sản nuôi, một phần nhỏ sản lượng rau màu, và chưa có nhà máy chế biến các sản phẩm từ gia súc, gia cầm

Hệ thống công trình thủy lợi và đê bao không ngừng được củng cố phát triển trong thời gian qua, gồm đê bao kiểm soát lũ triệt để 185 vùng, diện tích 72.191 ha, và đê bao kiểm soát lũ tháng 8 cho 330 vùng, diện tích 133.029 ha, ngoài ra còn có đập kiểm soát lũ vùng tứ giác Long Xuyên là đập Tha La và Trà Sư, và hệ thống kênh, cống, hồ, trạm bơm điện … đóng vai trò rất tích cực cho việc phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, bảo đảm phục vụ sản xuất cho 220.000 ha đất canh tác hai vụ Đông xuân, Hè thu và 80.000 ha lúa vụ 3, đồng thời phục vụ nuôi trồng thủy sản đưa sản lượng lúa toàn tỉnh năm 2004 lên 3,006 triệu tấn, tăng 11,9% so với năm 2003, đóng góp cho việc phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nông dân An Giang

Trang 27

2.2 Các chủ trương của tỉnh trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn

Năm 1987, trên tư tưởng "Lấy dân làm gốc", "Dân giàu nước mạnh" và chuyển nền kinh tế từ kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa; nông nghiệp (chủ yếu là lương thực ) được xác định là nền tảng và là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lược Tư tưởng này còn được gọi tắt là: "Tư tưởng tam nông", hay

"Chính sách tam nông" của An Giang

Tuy đã đạt được những kết quả nhất định qua giai đọan phát triển sản xuất nông nghiệp 1995 – 2000 nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn

Người nông dân ở những vùng sản xuất nông nghiệp chuyên lúa gặp nhiều khó khăn

do giá cả bấp bênh, giá thấp và không ổn định Trong khi đó, các mô hình đa canh tác khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn

Mục tiêu của sản xuất nông nghiệp là phải tăng nhanh thu nhập trên một đơn vị diện tích nông, ngư, lâm nghiệp Chủ trương cánh đồng 50 triệu đồng/ha mà ngành đặt ra cũng tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu của tỉnh

Trong bối cảnh tình hình bức xúc như trên của tỉnh An Giang đòi hỏi phải có sự chuyển dịch trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn Trong lúc này trên phạm

vi cả nước và vùng ĐBSCL đã xuất hiện những thay đổi, những chủ trương, những chính sách mới của giới lãnh đạo các cấp, tạo tiền đề về mặt pháp lý để An Giang có thể chuyển dịch cơ cấu nhanh hơn, đó là:

- Chủ trương của chính phủ tại văn bản số 527/CP /NN ngày 30/5/2000 về việc quy hoạch sản xuất lúa, tôm các tỉnh ĐBSCL

- Nghị quyết 09/2000/NQ/ CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Quán triệt tinh thần Nghị quyết 09/2000/NQ/CP ngày 15/6/2000, tỉnh An Giang đã xây dựng và triển khai các chương trình, dự án chuyển dịch và chỉ đạo thực hiện

Trang 28

các chương trình đó, đồng thời chủ trương tận dụng các điều kiện thuận lợi tập trung phát triển hai ngành hàng chủ lực là sản xuất lúa gạo và nuôi cá da trơn, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, trên

cơ sở tăng cường gắn kết mối liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp Để có cơ sở khoa học cho quá trình chuyển dịch, An Giang cũng đã hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để đánh giá tiềm năng thế mạnh của tỉnh, các hệ thống canh tác và tính bền vững các hệ thống đó

2.3 Kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp An Giang

2.3.1 Về giá trị sản xuất nông nghiệp

Bảng 1: GTSX nông – ngư – lâm nghiệp (giá hiện hành) bình quân trên 1 ha và tốc độ phát triển GTSX giai đọan 2001-2004 của An Giang

Giá trị sản xuất Diện tích canh tác GTSX bình quân Tốc độ phát

Nguồn : Tính toán từ niên giám thống kê tỉnh An Giang 2004

Về hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp bình quân trên 1 ha giai đọan 2001–2004 của An Giang có sự gia tăng rõ nét Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất canh tác tăng nhanh, từ 27,37 triệu đồng/ha (năm 2000) đã tăng lên đạt 45,06 triệu đồng/ha vào năm 2004 (theo giá thực tế) Trong đó, huyện Chợ Mới là huyện đầu tiên trong tỉnh đạt giá trị sản xuất bình quân 62,5 triệu đồng/ha Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp – thủy sản – lâm nghiệp bình quân trên 1 ha giai đoạn 2001 -2004 của An Giang là 13,27%/ năm Từ đó, cho thấy nông nghiệp An Giang thời gian qua đã đạt được mức độ chuyển dịch cao với tốc độ chuyển dịch tương đối nhanh

Trang 29

Đi vào từng ngành cụ thể, kết quả sản xuất qua các năm có thể khái quát như sau:

- Về nông nghiệp : Trong ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, kế đến là chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp

Biểu đồ 1 : Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp giai đọan 2001-2004 của

Nguồn : Tính toán từ niên giám thống kê tỉnh An Giang 2004

Trồng trọt: chủ yếu vẫn là cây lúa, cơ cấu giá trị sản xuất chiếm trên 51%; nguyên nhân chính là trong những năm gần đây (2002-2004) giá lúa luôn ổn định và

ở mức cao; đặc biệt năm 2004 giá vẫn còn có lợi nhiều cho nông dân, nên diện tích, năng suất năm 2004 tăng mạnh; sản lượng lúa hàng năm đều tăng và lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 3 triệu tấn/năm, tăng 26% so năm 2000, tiếp tục dẫn đầu khu vực ĐBSCL

Cây màu (bắp, đậu nành, mè) tốc độ đã có tăng nhưng chưa nhiều Tổng diện tích gieo trồng hàng năm đều tăng và đến cuối năm 2004 đạt trên 564 ngàn ha, tăng 11% so năm 2000 (tăng 56 ngàn ha).Trong đó diện tích gieo trồng lúa đạt trên: 523 ngàn ha, hoa màu các loại: 41 ngàn ha Bình quân sản lượng lúa đầu người, từ 1.131

Trang 30

kg (năm 2000) tăng lên 1.260 kg/người/năm (năm 2004) Nâng hệ số sử dụng đất từ 1,98 lần (năm 2000) tăng lên 2,15 lần vào năm 2004 Năng suất cây lương thực có hạt tăng không nhiều so với năm 2000

Bảng 2 : Tốc độ phát triển năng suất cây lương thực có hạt giai đọan 2001- 2004

Trong đó

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

Chăn nuôi: Giai đọan 2001 – 2004, chăn nuôi gia súc của An Giang đạt được sự tăng trưởng liên tục Riêng chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà trong năm 2004 giảm rất nhanh do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm

Biểu đồ 2: Biến động số lượng gia súc – gia cầm giai đọan 2001 – 2004

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

Do được giá nên số lượng bò, heo phát triển mạnh, từ 39.781 con bò và 164.870 con heo năm 2001 lên gần gấp đôi trong năm 2004 với 62.080 con bò và 252.302 con

Trang 31

heo Các huyện có số lượng đàn heo lớn lần lượt là Phú Tân (chiếm 23,20% tổng đàn heo của tỉnh), Thoại Sơn và Chợ Mới; khu vực đô thị có Long Xuyên với 7,24% số lượng heo của tỉnh Tỷ lệ bò nuôi lấy thịt cũng tăng nhanh, từ 13.660 con, chiếm 36,58% tổng đàn bò năm 2000, đã tăng 2,68 lần lên 36.617 con, chiếm 58,98% tổng đàn bò năm 2004 Các huyện nuôi bò với số lượng lớn là khu vực đồi núi Tri Tôn và Tịnh Biên; đặc biệt huyện Chợ Mới với phong trào nuôi bò vỗ béo tận dụng nguồn nguyên liệu thức ăn từ vùng chuyên canh rau màu đã tăng mạnh đàn bò từ 2.385 con, chiếm 6,39% tổng đàn bò năm 2000 lên 4,4 lần thành 10.513 con, chiếm 16,93% tổng đàn bò của tỉnh năm 2004 Phong trào nuôi dê cũng phát triển rất mạnh Xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi hàng hóa với quy mô vừa và lớn theo mô hình kinh tế trang trại Nhìn chung chăn nuôi ở An Giang tuy phát triển khá mạnh song chưa được quy họach cụ thể, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của nông dân, dễ gặp các rủi ro trong khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ, địa phương chưa có nhà máy chế biến sản phẩm gia súc, gia cầm nên chưa có sự liên kết đầu tư thỏa đáng và đầu ra ổn định cho ngành chăn nuôi

- Về lâm nghiệp : Đất lâm nghiệp của tỉnh có xu thế giảm liên tục từ 20.661 ha (năm 1995) xuống còn 18.249 ha (năm 2000) và đến cuối năm 2003 còn 18.165 (giảm gần 2,5 ngàn ha do chuyển sang sản xuất nông nghiệp) Lâm nghiệp tiếp tục thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; tính đến cuối năm 2004 diện tích có rừng đã lên đến 13.734 ha, đặc biệt là có trên 400 ha rừng trầm hương đã được khôi phục Ngòai

ra còn thực hiện trồng cây chắn sóng, chống sạt lở bảo vệ các công trình hạ tầng nông thôn, đặc biệt là công trình kênh 7 xã với gần 2 triệu cây các loại : tre, tràm, cỏ

vetiver bước đầu đã phát huy tác dụng

- Về thủy sản : chủ yếu phát triển nuôi cá tra và basa; việc nuôi tôm chỉ mới bắt đầu từ năm 2001 với mô hình lúa-tôm và một ít nuôi đăng quầng ven sông với tổng diện tích 178 ha Giá trị sản xuất thủy sản giai đọan 2000 – 2004 có tốc độ tăng cao đạt 17,27%/ năm, trong đó nuôi thủy sản phát triển rất mạnh Nuôi thủy sản tăng

Trang 32

nhanh và đến cuối năm 2004 đạt tổng sản lượng nuôi trên 152 ngàn tấn, tăng 1,9 lần (tăng 72 ngàn tấn) so năm 2000, với tổng số lồng bè nuôi cá hiện có: 3.504 cái và 1.638 ha mặt nước, trong đó diện tích nuôi tôm càng xanh đạt: 560 ha Dịch vụ thủy sản cũng có sự phát triển tốt, tăng bình quân 16,60%/ năm giai đọan 2001 -2004 Nuôi thủy sản nước ngọt phát triển mạnh đem lại giá trị kinh tế cao cho nông nghiệp, giúp thủy sản trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong những năm gần đây

- Về giá trị xuất khẩu : Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã làm tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Giá trị hàng hóa nông thủy sản xuất khẩu có khuynh hướng tăng nhanh, năm 2004 kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt

219,394 triệu USD, đứng thứ 5/13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL, tăng gấp 2 lần giá trị xuất khẩu năm 2001(106,134 triệu USD)

Biểu đồ 3:Cơ cấu giá trị xuất khẩu của An Giang giai đ an 2000 – 2004

Th y

s n

G o

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

Về cơ cấu xuất khẩu, chủ yếu là mặt hàng gạo và thuỷ sản cá da trơn

Biểu đồ 4:Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu An Giang giai đ an 2001- 2004

(ĐVT:%)

Trang 33

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

Trong giai đọan 2001 -2004, ngành thủy sản vươn lên trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của tỉnh với tỷ trọng là 47,87% năm 2004, cao hơn so với lúa gạo

(36,25%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Tốc độ tăng trị giá xuất khẩu của ngành thủy sản cũng rất nhanh, mặc dù giảm trong năm 2003 do gặp bất lợi từ thị trường Mỹ, nhưng sang năm 2004 tăng 125,4%

2.3.2 Về cơ cấu sản xuất nông nghiệp :

- Về cơ cấu giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp:

Số liệu thống kê cho thấy, từ năm 2000 khi thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng thủy sản gia tăng trong trong tổng giá trị sản xuất nông-ngư - lâm nghiệp, tỷ trọng giá trị nông nghiệp thuần túy sụt giảm nhẹ Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp chung của An Giang phụ thuộc chủ yếu vào nông

nghiệp thuần túy và thủy sản Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ bé

Biểu đồ 5: Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông – lâm – ngư nghiệp An Giang giai đoạn 2000 – 2004 (theo giá hiện hành) (ĐVT:%)

Trang 34

C c u GTSX nơng - lâm - ng nghi p 2000 - 2004

%

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

- Về cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp: trồng trọt vẫn giữ tỷ trọng cao trong nông nghiệp, đáng chú ý là tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp bị giảm trong quá trình chuyển dịch Điều này cho thấy dịch vụ nông nghiệp chưa phát triển gắn liền với sự

gia tăng sản xuất nông nghiệp

Biểu đồ 6: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp 2000 – 2004 (theo giá hiện hành)

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê An Giang năm 2004

- Thay đổi về cơ cấu đất tự nhiên và nông nghiệp : Trong cơ cấu sử dụng đất tự nhiên của tỉnh, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp chung tăng dần Tuy nhiên, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi giảm dần, chủ yếu do tỷ lệ diện tích

Trang 35

trồng lúa màu giảm, tỷ lệ diện tích nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp tăng dần qua các năm

Biểu đồ 7: Biến động cơ cấu đất nông nghiệp An Giang 2000 – 2004

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản Đất nông nghiệp

Nguồn: Tính tóan từ niên giám thống kê An Giang năm 2001 và 2004

Số liệu thống kê cho thấy từ năm 2000 đến 2004, cơ cấu sử dụng đất nông

nghiệp An Giang biến động theo hướng sau :

+ Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu cho trồng trọt, có chiều hướng giảm, nhưng vẫn được duy trì ở mức cao, chiếm trên 93% diện tích đất nông nghiệp chung của tỉnh Trong đó, tỷ lệ diện tích đất lúa màu giảm nhẹ, tỷ lệ diện tích cây lâu năm được duy trì

+ Xuất hiện đất đồng cỏ cho chăn nuôi (có 202 ha năm 2004), cho thấy sự phát triển của mô hình chăn nuôi gia súc như trâu, bò …

+ Tăng nhẹ tỷ lệ diện tích nuôi trồng thuỷ sản và lâm nghiệp

Nhìn chung, trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đã có sự chuyển hướng từ năm 2001 - 2002 Tuy nhiên, sự chuyển hướng này chưa thật sự rõ nét

Ü Phân tích biến động diện tích các loại cây trồng qua các năm :

Trang 36

Số liệu thống kê cho thấy sau khi chuyển dịch, tỷ lệ diện tích các lọai cây công nghịêp ngắn ngày tăng nhẹ Với việc giá lúa tăng, tỷ lệ diện tích trồng lúa vẫn được duy trì ở mức cao Tỷ lệ diện tích các lọai cây lâu năm được duy trì

B ng 3: Bi n đ ng c c u di n tích cây trồng của An Giang 2000 – 2004

(ĐVT:%)

Tổng số

Lúa

Cây công nghiệp ngắn ngày

Tổng số Cây công

nghiêp lâu năm

Cây ăn quả

Nguồn : Tính tóan từ niên giám Thống kê An Giang năm 2004

Ü Phân tích biến động diện tích đất trồng lúa :

Số liệu thống kê cho thấy ở tỉnh An Giang đã xuất hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp vào năm 2000 ở hầu hết các huyện, diện tích trồng lúa đều giảm, trừ huy n T nh Biên là huyện miền núi chuyên đồng cỏ cho chăn nuôi gia súc trâu bò và huyện Châu Thành do tăng vụ

Biểu đồ 8: Biến động diện tích đất trồng lúa An Giang 2000– 2004

(ĐVT:%)

Trang 37

Nguồn : Tính tóan từ niên giám Thống kê An Giang năm 2004

Quá trình chuyển dịch được tiếp tục trong năm 2001, nhưng sang năm 2002, diện tích trồng lúa được phục hồi ở một số nơi Điều này cho thấy tác động của thị trường đối với giá lúa Đồng thời, do tác động của hệ thống đê bao triệt để, nhiều hộ chuyển sang canh tác theo mô hình lúa – thủy sản nước ngọt, canh tác lúa vụ 3,

chuyên canh rau màu Sự chuyển dịch diễn ra mạnh ở các địa phương có diện tích canh tác lúa ít, như Long Xuyên, Châu Đốc Sự chuyển dịch diễn ra chậm ở các huyện vốn có diện tích trồng lúa nhiều như Châu Phú, Tri Tôn, Châu Thành, Thọai Sơn

Ü Phân tích biến động diện tích nuôi trồng thủy sản :

Địa phương có mức tăng trưởng ổn định trong nuôi trồng thủy sản là Long Xuyên, Châu Đốc và Tân Châu, trong đó, Châu Đốc có sự phát triển mạnh về diện tích nuôi trồng thủy sản giai đọan 2002 – 2004

Biểu đồ 9: Biến động t ng gi m diện tích nuôi trồng thủy sản An Giang

(ĐVT:%)

Trang 38

Nguồn : Tính tóan từ niên giám Thống kê An Giang năm 2001, 2004

Trong năm 2002, đa số các huyện có mức tăng khá về diện tích nuôi trồng thủy sản , nhất là các huyện Phú Tân, Chợ Mới, Thọai Sơn có mức tăng rất cao, nhưng Tịnh Biên giảm mạnh Sang năm 2003, diện tích nuôi thủy sản của tỉnh giảm mạnh, diện tích nuôi thủy sản ở các huyện năm trước tăng mạnh thì năm 2003 giảm mạnh,

ngược lại, huyện Tịnh Biên tăng nhanh diện tích nuôi thủy sản

Ở An Giang, thủy sản được nuôi chủ yếu là cá ba sa, cá tra, tôm càng xanh và các loài cá khác (cá lóc bông, rô đồng, cá rô phi…), trong đó, cá ba sa và cá tra chiếm hơn 80% sản lượng thủy sản nuôi trồng của An Giang và cá nuôi bè chiếm 47% sản lượng cá An Giang (2004) Cá được nuôi dưới các dạng : nuôi bè, nuôi ao hầm (chủ yếu ở Châu Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn) và một ít nuôi đăng quần (tập trung ở đoạn sông Hậu thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên và xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới) Giai đọan 2001 – 2004, diện tích nuôi cá ao hầm và số lượng bè cá của An Giang tăng nhanh trong năm 2002 (tăng trưởng 153,51% và 125,21% so với năm 2001), sau đó sụt giảm mạnh vào năm 2003 (còn 74,63% và 78,41% so với năm 2002), sang năm 2004 thì phục hồi trở lại

Biểu đồ 10: Biến động diện tích nuôi cá ao hầm và số bè cá ở An Giang

Trang 39

Số bè cá

Nguồn : Tính tóan từ niên giám Thống kê An Giang năm 2001, 2004

Từ đó, cho thấy việc nuôi thủy sản ở An Giang chưa thật sự phát triển ổn định, còn mang tính tự phát, thiếu quy họach phát triển sản xuất cụ thể

Qua nghiên cứu về hiện trạng cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh An

Giang có thể rút ra một số nhận xét sau:

+ Tỷ trọng đất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu cho trồng trọt, vẫn được duy trì

ở mức cao, kể cả sau khi chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp vào năm 2001 Trong đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm (lúa - màu) chiếm đa số (khỏang 90% ) có xu hướng giảm dần nhưng vẫn được duy trì trong thời gian qua Điều này cho thấy các mô hình trồng trọt vẫn giữ vai trò phổ biến trong sản xuất nông nghiệp ở An Giang

+ Sự gia tăng tỷ lệ diện tích đất đồng cỏ chuyên cho chăn nuôi cho thấy việc hình thành các mô hình chăn nuôi theo quy mô

+ Tỷ lệ diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và đất lâm nghiệp có xu hướng gia tăng nhưng không nhiều Đặc biệt, diện tích nuôi cá ao hầm và số lượng bè cá phát triển không ổn định, cho thấy thiếu sự quy họach nuôi thủy sản cụ thể và ảnh hưởng mạnh mẽ của thị trường đầu ra

Trang 40

2.3.3 Về các mô hình canh tác

Sau khi chuyển dịch từ mô hình sản xuất chuyên lúa, xuất hiện nhiều loại mô hình đa canh kết hợp đạt hiệu quả kinh tế gồm : lúa – rau – màu, thủy sản – lúa, chuyên rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi tôm, nuôi cá, VAC Vùng đồng bằng ven sông có các mô hình sản xuất nông nghiệp sau : 2 vụ bắp – khoai cao sản, 2 vụ lúa – 1 vụ khoai lang, 2 vụ lúa – 1 vụ dưa hấu, 2 vụ lúa cao sản – 1 vụ lúa thơm, 1 vụ lúa – 1 vụ bắp, lúa đông xuân – mè xuân hè – lúa hè thu Vùng đồi núi có các mô hình nuôi gia súc, gia cầm như bò, dê, gà …

Một số mô hình phổ biến đạt hiệu quả kinh tế cao như sau :

- Các mô hình sản xuất nông nghiệp mùa nước nổi : gồm các nhóm mô hình sau

:

+ Nhóm mô hình trồng trọt, chủ yếu sản xuất trong vụ 3, gồm 5 mô hình : Mô hình trồng lúa; canh tác hoa màu; sản xuất lúa mùa ruộng trên ; trồng lúa nổi và sản xuất cây trồng khác như: Sen, ấu, rau nhút, điên điển, nấm rơm Đây là nhóm mô hình có giá trị sản xuất và thu hút lượng lao động cao nhất trong sản xuất nông nghiệp mùa nứơc nổi

+ Nhóm mô hình nuôi trồng thủy sản, gồm 6 mô hình: nuôi lồng bè nhỏ; nuôi mùng lưới; nuôi chân ruộng; nuôi đăng quầng; nuôi ao hầm và nuôi lươn

+ Nhóm mô hình tiểu thủ công nghiệp, gồm 10 mô hình: Chế biến khô, mắm cá, sản xuất chì lưới, lưỡi câu; sản xuất dây keo, lợp, bó chổi; sản xuất xuồng, dầm chèo; dệt chiếu, lưới; thêu đan, móc, dệt lụa; đan lát, nhang; sản xuất các sản phẩm từ lục bình, tre, lá; cơ khí phục vụ tưới tiêu; sản xuất bánh tráng

+ Nhóm mô hình ngành nghề mùa nước, 5 mô hình: Bắt ốc bươu vàng; đánh bắt thủy sản; cắt cỏ cho bò; chở đất mướn; thu gom lục bình

+ Ngoài ra, trong mùa nước nổi có thêm một lọai hình kinh doanh mới mang tính chất đặc trưng văn hóa của vùng là dịch vụ du lịch sông nước mùa lũ

Ngày đăng: 07/08/2015, 06:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Tốc độ phát triển năng suất cây lương thực có hạt giai đọan 2001- 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 2 Tốc độ phát triển năng suất cây lương thực có hạt giai đọan 2001- 2004 (Trang 30)
Bảng 4 : Phân lọai mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao của An - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 4 Phân lọai mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao của An (Trang 42)
Bảng 5: Các mô hình sản xuất điển hình của kinh tế mùa nước nổi An - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 5 Các mô hình sản xuất điển hình của kinh tế mùa nước nổi An (Trang 48)
Bảng  7 :   Số lồng bè và thể tích  nuôi  thuỷ sản của nông dân tỉnh An Giang - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
ng 7 : Số lồng bè và thể tích nuôi thuỷ sản của nông dân tỉnh An Giang (Trang 65)
Bảng 13 : Tốc độ phát triển giá trị sản xuất nông nghiệp giai đọan 2001-2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 13 Tốc độ phát triển giá trị sản xuất nông nghiệp giai đọan 2001-2004 (Trang 97)
Bảng 11: GTSX nông – ngư – lâm nghiệp  và tốc độ phát triển GTSX giai đọan - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 11 GTSX nông – ngư – lâm nghiệp và tốc độ phát triển GTSX giai đọan (Trang 97)
Bảng 12:    Tốc độ phát triển GTSX nông – lâm – ngư  nghiệp giai đọan 2001- - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 12 Tốc độ phát triển GTSX nông – lâm – ngư nghiệp giai đọan 2001- (Trang 97)
Bảng 17 : Biến động số lượng bò phân theo huyện thị An Giang giai đọan 2000 - - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 17 Biến động số lượng bò phân theo huyện thị An Giang giai đọan 2000 - (Trang 99)
Bảng 21: Biến động cơ cấu đất nông nghiệp An Giang từ 2000 – 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 21 Biến động cơ cấu đất nông nghiệp An Giang từ 2000 – 2004 (Trang 100)
Bảng 22: Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh  An Giang giai đoạn 2000 – 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 22 Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh An Giang giai đoạn 2000 – 2004 (Trang 101)
Bảng 27: Biến động diện tích cây ăn quả hàng n m An Giang 2000 – 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 27 Biến động diện tích cây ăn quả hàng n m An Giang 2000 – 2004 (Trang 102)
Bảng 25 : Biến động diện tích cây công nghiệp hàng năm của An Giang giai - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 25 Biến động diện tích cây công nghiệp hàng năm của An Giang giai (Trang 102)
Bảng 28: Cơ cấu diện tích trồng lúa của các huyện An Giang từ 1995 – 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 28 Cơ cấu diện tích trồng lúa của các huyện An Giang từ 1995 – 2004 (Trang 103)
Bảng 29:    Biến động  tăng – giảm diện tích đất trồng lúa của các huyện giai - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 29 Biến động tăng – giảm diện tích đất trồng lúa của các huyện giai (Trang 103)
Bảng 32:  Biến động diện tích nuôi trồng thủy sản theo huyện từ 2000 - 2004 - Đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH (giai đoạn 2001-2004)  Luận văn thạc sĩ
Bảng 32 Biến động diện tích nuôi trồng thủy sản theo huyện từ 2000 - 2004 (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w