Mô hình Mundell – Fleming và các hàm ý về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá: Mô hình Mundell-Fleming là sự mở rộng của nền tảng lý thuyết IS - LM khi cótính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 03 năm 2014
Trang 2DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH
ST
T Họ và tên MSSV Công việc tham gia Kí tên
6 Sú Tùng Bé 33131025531 − Phụ trách tổng hợp, hoàn
chỉnh nội dung bài tiểu luận
11 Mai Quốc Cường 33131025219 − Phụ trách Chương 1
12 Trần Võ Hoàng Diễm 33131025865 − Phụ trách Chương 2
15 Dương Khánh Duy 33131025407 − Phụ trách Chương 3
32 Đặng Thị Hằng 33131025275 − Phụ trách Chương 1
42 Nguyễn Thị Giáng Hương 33131025216 − Phụ trách Chương 2
49 Nguyễn Thị Diễm Kiều 33131025263 − Phụ trách Chương 2
79 Nguyễn Lê Ngọc Quỳnh 33131025395 − Phụ trách tổng hợp, hoàn
chỉnh nội dung bài tiểu luận
87 Văn Thị Tâm 33131025318 − Chương 3
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 Giới thiệu chung về bộ ba bất khả thi 1
1 Lịch sử ra đời của lý thuyết bộ ba bất khả thi 1
1.1 Mô hình Mundell – Fleming và các hàm ý về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá 1
1.1.1 Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định 1
1.1.2 Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh hoạt 3
1.2 Thuyết bộ ba bất khả thi của GS Robert Mundell và Marcuss Fleing 4
1.3.Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian 5
1.4.Thuyết tứ diện (A tetrahedron Hypothesis) 8
2.Khái niệm chung về bộ ba bất khả thi 14
2.1 Chính sách tiền tệ độc lập 14
2.2 Ổn định tỷ giá 14
2.3 Hội nhập tài chính (tự do hóa dòng vốn) 15
3 Sự kết hợp của bộ ba bất khả thi 15
3.1 Tỷ giá cố định và tiền tệ độc lập 15
3.2 Tiền tệ độc lập và tự do vốn 15
3.3 Tự do vốn và tỷ giá cố định 15
4 Thước đo bộ ba bất khả thi 16
4.1 Thước đo 16
4.1.1 Độc lập tiền tệ (MI) 16
4.1.2 Ổn định tỷ giá (ERS) 16
4.1.3 Hội nhập tài chính (KAOPEN) 16
4.2 Chứng minh 18
4.2.1 Dùng mô hình tam giác đều 18
4.2.2 Dùng đồ thị (R, Y) 19
Chương 2: Thực tiễn áp dụng bộ ba bất khả thi 22
1 Bộ ba bất khả thi ở các nước 22
1.1 Bộ ba bất khả thi ở Châu Âu 22
1.2 Bộ ba bất khả thi ở Mỹ 22
1.3 Bộ ba bất khả thi ởTrung Quốc 22
2 Các vấn đề thực tiễn ở Việt Nam 22
2.1 Sự gia tăng của lạm phát 22
2.2 Căng thẳng về vấn đề lãi suất 23
2.3 Thị trường chứng khoán tụt dốc 23
3 Xu hướng phát triển của bộ ba bất khả thi ở Việt Nam 23
Trang 53.1 Xu hướng trong hiện tại 23
3.2 Xu hướng phát triển trong tương lai 25
Chương 3: Kết luận 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI
Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả thi.Dựa trên những ý tưởng của ông trong tác phẩm nổi tiếng “Chính sách tài khoá và tiền
tệ dưới các chế độ tỷ giá” (1963), Krugman (1979) và Frankel (1999) đã phát triển
thành “mô hình bất khả thi” Theo lý thuyết này, một quốc gia không thể đồng thời
đạt được cả ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định, và tự do hoá dòng vốn
1 Lịch sử ra đời của lý thuyết bộ ba bất khả thi:
1.1 Mô hình Mundell – Fleming và các hàm ý về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá:
Mô hình Mundell-Fleming là sự mở rộng của nền tảng lý thuyết IS - LM khi cótính đến tác động của cán cân thanh toán Đây được xem là điểm khởi đầu cho lýthuyết bộ ba bất khả thi Mô hình Mundell - Fleming chỉ ra sự hiệu quả hay khônghiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá dưới các chế độ tỷ giá khácnhau
1.1.1 Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định:
Đầu tiên, mô hình Mundell-Fleming chỉ ra rằng, chính sách tiền tệ và chínhsách tài khoá có thể làm thay đổi các trạng thái của cán cân thanh toán Bắt đầu tạiđiểm cân bằng E trong hình 1.1, nơi mà BP = 0, nếu chúng ta thực hiện một chính sáchtiền tệ mở rộng (một sự dịch chuyển sang phải từ LM thành LM’) thì sẽ có một điểm Fcân bằng mới nằm dưới đường cong BP, và đó là một cán cân thanh toán thâm hụt.Ngược lại, bắt đầu từ điểm E, một sự mở rộng chính sách tài khoá (đường IS dịchchuyển sang phải thành IS’) sẽ hướng nền kinh tế đến một cán cân thanh toán thặng dưtại điểm G
Hình 1.1: Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming với tỷ giá cố định
Trang 7Mặc dù chính sách tiền tệ và tài khoá có thể dẫn đến một cán cân thanh toánthặng dư hoặc thâm hụt, nhưng hàm ý của mô hình Mundell - Fleming đó là có thể sửdụng sự kết hợp của chính sách tài khoá và tiền tệ để tăng sản lượng mà không tạo nên
một cán cân thanh toán thâm hụt hay thặng dư Điều này được thể hiện rõ trong Hình
1.1 Bắt đầu tại điểm E, chúng ta có thể thực hiện cả hai chính sách tài khoá và tiền tệ
mở rộng (nghĩa là, IS dịch chuyển đến IS’ và LM dịch chuyển đến LM’) nhưng vẫn có
được một cán cân thanh toán cân bằng (điểm H trong Hình 1.1) Điểm H là một điểm
cân bằng bền vững trong dài hạn
Khi cán cân thanh toán thặng dư, ngân hàng Trung ương sẽ dùng nội tệ để muangoại tệ vào Ngược lại, khi cán cân thanh toán thâm hụt, ngân hàng Trung ương sẽbán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu trên thị trường Do đó, một cán cân thanh toán thặng
dư hay thâm hụt sẽ làm tăng hoặc giảm cung tiền của nền kinh tế vì ngân hàng Trungương sẽ mua vào hoặc bán ra ngoại tệ Kết quả là, một cán cân thanh toán thặng dưhay thâm hụt sẽ không được duy trì, nhưng điều này lại tác động đến lạm phát trongnước Nhằm tránh những tác động của việc mua bán ngoại tệ đến lạm phát trong nước,ngân hàng Trung ương sử dụng một công cụ gọi là “chính sách vô hiệu hoá” Giả định,
có một sự mở rộng chính sách tiền tệ và tạo ra một cán cân thanh toán thâm hụt như
điểm F trong Hình 1.1 Nếu ngân hàng Trung ương bán ngoại tệ nhằm đáp ứng cầu
ngoại tệ sẽ làm giảm cung tiền nội địa và làm đường LM’ dịch chuyển trở lại đường
LM, hay mức cân bằng sẽ trở lại điểm E Để duy trì vị trí tại F, ngân hàng Trung ươngphải tiến hành cái gọi là “chính sách vô hiệu hoá”, tức là ngân hàng Trung ương sẽmua các chứng khoán trên thị trường mở nhằm cung ứng ra lưu thông một lượng nội tệđúng bằng lượng nội tệ giảm đi khi ngân hàng Trung ương bán ngoại tệ để duy trì cáncân thanh toán thâm hụt Ngược lại, để duy trì một cán cân thanh toán thặng dư, chínhsách vô hiệu hoá của ngân hàng được thực hiện theo chiều ngược lại Nghĩa là, ngânhàng Trung ương sẽ bán các chứng khoán trên thị trường mở để hút lượng nội tệ đượcdùng mua ngoại tệ trước đó
Nếu giả định chế độ tỷ giá hối đoái là cố định và không có chính sách vô hiệuhoá, thì sau đó tất yếu rằng, chính sách tài khoá trở nên hiệu quả hơn chính sách tiền
tệ Bắt đầu tại điểm E (Hình 1.1), một sự mở rộng chính sách tiền tệ sẽ chuyển đường
LM sang LM’ và do đó đạt được một cán cân thanh toán thâm hụt tại điểm F Tuynhiên, không có sự vô hiệu hoá, cung tiền sẽ giảm và sau đó LM’ sẽ dịch chuyển sangphía trái trở lại LM và điểm F sẽ quay trở lại điểm E Nghĩa là, sản lượng sau khi giatăng trong một thời gian ngắn sẽ quay lại điểm cân bằng Y* Do đó, chính sách tiền tệkhông hiệu quả hoàn toàn để làm gia tăng sản lượng quốc gia Ngược lại, giả địnhrằng, bắt đầu tại điểm E, chúng ta thực hiện một chính sách tài khóa mở rộng, đường
IS dịch chuyển sang IS’, dẫn tới một cán cân thanh toán thặng dư tại điểm G Không
Trang 8có chính sách vô hiệu hoá, một cán cân thanh toán thặng dư hàm ý rằng cung tiền sẽtăng nhằm đáp ứng cho sự gia tăng trong sản lượng quốc gia Do đó, đường LM dịchchuyển sang phía phải đến LM’ Tại điểm cân bằng mới, điểm H, là một vị thế dài hạn.Như vậy, sản lượng đã tăng đáng kể trong trường hợp này vì sự dịch chuyển của cungtiền khi không có vô hiệu hoá bổ sung cho sự mở rộng chính sách tài khoá ban đầu.Điều này đưa ta đến kết luận: dưới chế độ tỷ giá cố định, chính sách tài khoá có hiệuquả cao hơn và chính sách tiền tệ kém hiệu quả hơn
1.1.2 Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh hoạt:
Các hàm ý của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá dưới chế độ tỷ giá linh
hoạt có thể được hình dung trong Hình 1.2 Giả định chúng ta bắt đầu tại E=(r*, Y*)
-phần giao nhau của đường cong IS, LM, BP; và giả định có một sự mở rộng chínhsách tiền tệ từ LM sang LM’ Kết quả, chúng ta dịch chuyển từ E đến F, là một cán cânthanh toán thâm hụt Tại điểm F, có một cầu thặng dư về ngoại tệ và cung thặng dư vềnội tệ trên thị trường ngoại hối Dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt, tỷ giá thực sẽ giảm, do đóđường BP dịch chuyển sang phải thành BP’ và IS dịch chuyển sang phải thành IS’, tạonên một điểm cân bằng sản lượng mới J cao hơn Y*J Chúng ta có được sự cân bằngbên trong và bên ngoài khi có sự giao nhau của ba đường IS’, LM’ và BP’ Do đó,dưới chế độ tỷ giá linh hoạt, chính sách tiền tệ tỏ ra khá hiệu quả để gia tăng sảnlượng
Ngược lại, sự hiệu quả của chính sách tài khoá dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt là
không rõ ràng Trong Hình 1.2, bắt đầu tại điểm E, giả định có một chính sách tài khoá
mở rộng làm cho đường cong IS dịch chuyển đến IS’’ tại điểm G Tuy nhiên, tại điểm
G, chúng ta có một cán cân thanh toán thặng dư và do đó có một sự gia tăng trong tỷgiá thực Điều này sẽ làm cho đường BP dịch chuyển lên trên thành BP’’ và IS’’ dịchchuyển ngược lại thành IS’ Ta có một điểm cân bằng mới K, là sự giao nhau củađường IS’, LM và BP’’ Như vậy, trong điều kiện tương đối, một chính sách tài khoá
mở rộng dưới chế độ tỷ giá linh hoạt là ít hiệu quả hơn dưới chế độ tỷ giá cố định
Trang 9A1- Kiểm soát vốn hoàn toàn
A2- Thả nổi hoàn toàn A3 – Liên minh tiền tệ
Luân chuyển dòng vốn gia tăng
Chính sách tiền tệ độc lập
Tỉ giá ổn định
Hình 1.2: Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming với tỷ giá linh hoạt.
1.2 Thuyết bộ ba bất khả thi của GS Robert Mundell và Marcuss Fleing:
Từ những hàm ý của mô hình Mundell - Fleming ở trên ta thấy rằng: hiệu quảcủa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái vàmức độ kiểm soát vốn
Hình 1.3 Tam giác bộ ba bất khả thi
Ví dụ, quốc gia nào có chuyển dịch dòng vốn tự do và tỷ giá cố định, thì cácnhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập Trong một quốcgia có cơ chế tỷ giá cố định thì không có rủi ro tỷ giá và lãi suất trong nước biến động
Trang 10cùng với lãi suất nước ngoài Từ những nhận định trên, các nhà kinh tế như Krugman(1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell - Fleming thành “mô hình bất
khả thi” Giống như trong Hình 1.3, Frankel (1999) cho rằng, một quốc gia phải từ bỏ
một trong ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của chính sách tỷ giá, và
hội nhập thị trường tài chính Các nội dung này được tóm tắt trong Bảng 1.1
Dòng vốn lưu động hoàn toàn
Chính sách tiền tệ độc lập
Hệ thống
tỷ giá cố định
Ví dụ
Kiểm soát vốn Không Có Có Trung Quốc trước cuộc cải
cách tháng 7/2005Liên minh tiền tệ Có Không Có Hong Kong, EU
Bảng 1.1 Nguyên lý của bộ ba bất khả thi
Hình 1.3 là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi
cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổnđịnh của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗimục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đốingược với đỉnh kiểm soát vốn; mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàntoàn; mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳcặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa
Ví dụ, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnhkiểm soát vốn hoàn toàn Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chínhhoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ổn định
và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền tệ Hoàn toàn không khả thi đểđạt được đồng thời cả ba mục tiêu
1.3.Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian:
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi củaMundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng Nền tảng của thuyết này là nhữngquan niệm mới về sự độc lập của chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá Theo đó, bộ babất khả thi của Mundell kết luận rằng một quốc gia không thể có một chính sách tỷ giá
ổn định một nửa stability) và chính sách tiền tệ độc lập một nửa independence) Nói rõ hơn, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các
Trang 11(half-cơ chế tỷ giá nằm ở các đỉnh (hay góc) tam giác mà chưa đề cập đến một (half-cơ chế tỷ giá
trung gian nằm đâu đó trong tam giác bất khả thi (Sự tồn tại của cơ chế tỷ giá trung
gian sẽ được bàn luận kỹ hơn trong phần sau) Yigang và Tangxian đã mở rộng mô
hình này và kết luận rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau
và không phải chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như tam giác của Mundell
Tương tự như Hình 1.3, ba cạnh trong tam giác mở rộng (Hình 1.4) cũng tương
ứng cho 3 mục tiêu chính sách Giả định: cạnh M tượng trưng cho chính sách tiền tệđộc lập; cạnh đáy K, tượng trưng cho dòng vốn lưu động hoàn hảo; và cạnh phải E,tượng trưng cho ổn định tỷ giá Ba đỉnh của góc tam giác tượng trựng cho 3 cam kết tỷgiá: A1 = cố định, A2 = Thả nổi hoàn toàn, A3 = liên minh tiền tệ Gọi Ms, Kc và Ev
là các khoảng cách từ điểm O tuỳ ý đến 3 cạnh, tượng trưng lần lượt cho mức độ củađộc lập chính sách tiền tệ, mức độ kiểm soát vốn và mức độ biến động tỷ giá Một tínhchất quan trọng của tam giác đều là: tổng khoảng cách của bất kỳ điểm nào ở bêntrong tam giác đến ba cạnh bằng chiều cao của tam giác Do đó, ta có Ms + Kc + Ev =
Mh Để đơn giản, đặt chiều cao của tam giác đều Mh = 1, thì ta có Ms + Kc + Ev = 1
Trang 12Ta xét 3 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Khi Kc = 0, dòng vốn hoàn toàn lưu động, ta có Ms + Ev = 1.
Ở đây nếu Ms = 0 thì Ev = 1; nếu Ms = 1 thì Ev = 0; nếu 0 < Ms < 1 thì 0 < Ev < 1 Do
đó, có ba sự kết hợp: (1) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách độc lập tiền tệhoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi tự do; (2) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất độc lập vềchính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cố định; (3) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ độc lập chínhsách tiền tệ có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn
Trường hợp 2: Khi Kc = 1, kiểm soát vốn hoàn toàn, chúng ta có Ms + Ev = 0.
Ở đây, Ms = 0 và Ev = 0, chúng ta có các kết hợp: kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chínhsách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định Thực tế, chế độ tỷ giá cố định thường
có trong các quốc gia đang phát triển với thị trường tài chính yếu kém
Trường hợp 3: Khi 0 < Kc < 1, dòng vốn lưu động giới hạn, chúng ta có 0 <
Ms + Ev < 1 Nếu Ms = 0, thì 0 < Ev < 1; nếu 0 < Ms < 1 thì 0 < Ev < 1 hoặc Ev = 0
Có ba sự kết hợp: (1) dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàntoàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệđộc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (3) dòng vốn lưu động giới hạn ∩chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố định
-Ms = 1
Ev = 0
Dòng vốn lưu độnghoàn toàn ∩ Mất đi
sự độc lập củachính sách tiền tệ ∩
Trang 13-Ev = 0 hoàn toàn ∩
Chính sách tiền
tệ độc lập hoàntoàn ∩ Tỷ giá cốđịnh
Ms = 0
0 < Ev < 1
-Dòng vốn lưuđộng có giới hạn
∩ Chính sách tiền
tệ hoàn toàn độclập ∩ Tỷ giá thảnổi có giới hạn
0 < Ms < 1
0 < Ev < 1
-Dòng vốn lưuđộng có giới hạn
∩ Chính sách tiền
tệ độc lập giới hạn
∩ Tỷ giá cố định
Bảng 1.2 Sự lựa chọn cơ chế tỷ giá theo mô hình tam giác bất khả thi
1.4 Thuyết tứ diện (A tetrahedron Hypothesis):
* Cơ chế tỷ giá trung gian - nền tảng của thuyết tam giác mở rộng và thuyết tứ diện:
Như đã nói, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ tập trung đến các đỉnh (haygóc) của tam giác Điều này đồng nghĩa với sự thừa nhận, thế giới chỉ tồn tại 3 cơ chế
tỷ giá tương ứng với ba góc tam giác: cam kết tỷ giá thả nổi tự do, cam kết tỷ giá cốđịnh, và liên minh tiền tệ
Dựa trên luận điểm cho rằng: luân chuyển dòng vốn càng cao sẽ làm tổn thươngcác cam kết tỷ giá, Obstfeld và Rogoff (1995), Summers (2000) và Fisher (2001) đãnâng lên thành giả thiết “lưỡng cực - bipolar” hoặc giả thiết “ không có vùng trunggian - intermediate hollowing - out” Nghĩa là cơ chế tỷ giá trung gian nằm giữa cơ chế
tỷ giá cố định và cơ chế thả nổi tự do không thể được duy trì Do đó, theo quan điểmcủa các tác giả này, trong tương lai chúng ta sẽ không thấy sự xuất hiện của các cơ chế
tỷ giá trung gian Các cơ chế tỷ giá trung gian bao gồm: tỷ giá cố định có thể điều
Trang 14chỉnh, tỷ giá cố định theo kiểu con rắn trườn (Crawling pegs), hoặc dải băng (band), và
kể cả thả nổi có quản lý Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế không đồng ý với giả thuyết
“không có vùng trung gian” Ví dụ, Frankel (1999) tin rằng, đối với nhiều quốc gia,giải pháp trung gian là phù hợp hơn so với giải pháp ở góc Điều này là đúng, đặc biệt
là đối với các quốc gia đang phát triển để dòng vốn có quy mô lớn không trở thành vấn
đề Sử dụng chuỗi Markow (Markov chains) và các ma trận quá độ (transitionmatrices) cho đồng thời cả loại dữ liệu Ghosh (Ghosh et al Data), dữ liệu Levy Yeyati
và Sturzenegger, Masson (2000) để kiểm tra giả định “lưỡng cực - bipolar” hay
“không có vùng trung gian” Kết quả, giả định trên bị bác bỏ bởi cả hai loại dữ liệu.Thực sự đối với các quốc gia đang phát triển, thả nổi tự do không hẳn là một chọn lựađúng vì không có thị trường tài chính phát triển Kết quả là, cơ chế tỷ giá tại các nướcđang phát triển không cần thiết phải ổn định, mà có thể thay đổi giữa nhiều loại cơ chế
tỷ giá trung gian khác nhau, phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế, lạm phát, vàcác cú sốc từ bên ngoài
* Thuyết tứ diện:
Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian (2001) thực sự đã chuẩn hoátam giác bất khả thi của Mundell Tuy nhiên, giống như mô hình của Mundell, lýthuyết này chưa xem xét đến sự khác nhau về khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội
tệ trong các nền kinh tế khác nhau sẽ tác động trực tiếp đến biến động tỷ giá.Hausmann (2000) phát hiện ra một mối quan hệ vững chắc giữa mẫu hình thả nổi tỷgiá của một quốc gia với khả năng vay mượn quốc tế bằng nội tệ của quốc gia đó Cụthể, quốc gia nào có khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ nhiều hơn có khuynhhướng nắm giữ mức dự trữ ngoại hối nhỏ hơn, và cho phép tỷ giá biến động cao hơn
so với biến động trong dự trữ ngoại hối hoặc lãi suất Hausmann cũng phát hiện mộtbằng chứng yếu hơn và ít bền vững hơn về tầm quan trọng của tác động tỷ giá đến giá
cả (exchange rate pass-through) như là một yếu tố xác định sự khác nhau trong quản lý
tỷ giá của các quốc gia Guobing Shen (2004) đã đưa biến số khả năng vay mượn nướcngoài bằng đồng nội tệ vào các yếu tố khác để xác định việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, và
đã mở rộng tam giác bất khả thi của Mundell thành thuyết tứ diện
Trang 15Hình 1.5 Thuyết tứ diện
Trong Hình 1.5, chúng ta có một tứ diện đều Đặt mặt dưới C tượng trưng cho
khả năng vay mượn nước ngoài bằng đồng nội tệ; mặt M bên trái tượng trưng chochính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn; mặt đối diện K tượng trưng cho dòng vốn lưuđộng hoàn toàn; mặt phải E tượng trưng cho sự ổn định tỷ giá Giống như trước đây,chúng ta có tổng khoảng cách từ bất kỳ điểm O nào đến các mặt của tứ diện đúng bằngchiều cao của tứ diện Đặt Cb, Ms, Kc và Ev là khoảng cách từ điểm O đến bốn mặt,lần lượt tượng trưng cho khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ, mức độ độc lậptiền tệ, mức độ kiểm soát vốn và mức độ biến động tỷ giá Về phía các góc, 3 góc màchúng ta đề cập ban đầu là giống như hình trên, chỉ riêng góc A4 thể hiện cho khảnăng cao nhất để vay mượn quốc tế bằng đồng nội tệ Để đơn giản, đặt chiều cao của
tứ diện Mh = 1, thì sau đó 0 < = Cb, Ms, Kc hoặc Ev < = 1 và Cb + Ms + Kc + Ev = 1
Chúng ta lần lượt xét các trường hợp sau: (Xem Bảng 1.3)
Trường hợp 1: Khi Cb = 0, tức là không có khả năng vay mượn nước ngoài
bằng đồng nội tệ, thì Ms + Kc + Ev = 1
- Đầu tiên, khi Kc = 0 thì Ms + Ev = 1 Ở đây có ba khả năng: nếu Ms = 0, thì
Ev = 1; nếu Ms = 1 thì Ev = 0; nếu 0 < Ms < 1 thì 0 < Ev < 1 Như vậy, ba sự kết hợp
có được là: (1) không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàntoàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi tự do; (2) không có khảnăng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất đi tính độc lậptrong chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cố định (3) không có khả năng vay mượn nước ngoài
∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thảnổi có giới hạn
- Thứ hai, khi Kc = 1, thì Ms + Ev = 0 Ở đây Ms = 0 và Ev = 0, nghĩa là:
không có khả năng vay nợ nước ngoài ∩ kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ
Trang 16độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định Đây là sự kết hợp thường thấy trong các nước đangphát triển với thị trường tài chính yếu kém
-Thứ ba, khi 0 < Kc < 1, thì 0 < Ms + Ev < 1 Ở đây, nếu Ms = 0, thì 0 < Ev <
1; nếu 0 < Ms < 1 thì sau đó 0 < Ev < 1 hoặc Ev = 0 Như vậy, có ba sự kết hợp khác:(1) không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) không có khảnăng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập cógiới hạn ∩ tỷ gía thả nổi có giới hạn; (3) không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòngvốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố đinh
Trường hợp 2: Khi Cb = 1, điều này nghĩa là có khả năng cao nhất để vay
nước ngoài bằng nội tệ, chúng ta sẽ có Ms + Kc + Ev = 0 Vì 0 < = Ms, Kc hoặc Ev <
= 1, nên Ms = 0, Kc = 0 và Ev = 0, chúng ta có sự kết hợp: Hoàn toàn có khả năng vaynước ngoài ∩ lưu đông dòng vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩
tỷ giá cố định Thực tế, cơ chế tỷ giá dưới chế độ chuẩn vàng cổ điển (classical goldstandard) thuộc về sự kết hợp kiểu này
Trường hợp 3: Khi 0 < Cb < 1, nghĩa là khả năng vay nước ngoài bằng nội tệ
có giới hạn, thì 0 < Ms + Kc + Ev < 1
- Đầu tiên, khi Kc = 0, thì 0 < Ms + Ev < 1 Ở đây nếu Ms = 0, thì 0 < Ev < 1;
nếu 0 < Ms < 1 thì 0 < Ev < 1 hoặc Ev = 0 Có ba kết hợp là : (1) khả năng vay nướcngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàntoàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) khả năng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưuđộng hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ gía thả nổi có giới hạn;(3) khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chínhsách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố định
- Thứ hai, khi 0 < Kc < 1, thì 0 < Ms + Ev < 1, hoặc Ms + Ev = 0 Ở đây, nếu
Ms = 0, thì 0 < Ev < 1; nếu 0 < Ms < 1, thì 0 < Ev < 1 hoặc Ev = 0; và Ms = 0 và Ev =
0 Có 4 kết quả là: (1) khả năng vay nước ngoài có giới hạn ∩ lưu động vốn có giớihạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) khả năngvay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệđộc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (3) khả năng vay nợ giới hạn ∩ dòngvốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập giới hạn ∩ tỷ giá cố định; (4) khảnăng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lậphoàn toàn ∩ tỷ giá cố định
So sánh những kết hợp lựa chọn cơ chế tỷ giá trong Bảng 1.2 và Bảng 1.3,
chúng ta thấy tam giác bất khả thi của Mundell chỉ là một trường hợp đặc biệt củathuyết tứ diện với Cb = 0 Khi Cb = 0, hàm ý quốc gia đó không có khả năng vay nợ
Trang 17nước ngoài bằng nội tệ, góc thứ tư là A4 và ba cạnh sẽ không xuất hiện trong mặt dưới
C Do đó tứ diện đều trở thành tam giác đều (Hình 1.6)
Hình 1.6 Tam giác bất khả thi là trường hợp đặc biệt của Thuyết tứ diện
Phân loại Khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ và mức độ tự
-Ms = 1
Ev = 0
Không có khả năngvay mượn ∩ Dòngvốn lưu động hoàntoàn ∩ Mất đi tínhđộc lập chính sáchtiền tệ ∩ Tỷ giá thảnổi tự do
-0 < Ms < 1
0 < Ev < 1
Không có khả năngvay mượn ∩ Dòngvốn lưu động hoàntoàn ∩ Chính sáchtiền tệ độc lập giớihạn ∩ Tỷ giá thảnổi có giới hạn
Trang 18-Ms = 0
Ev = 0
-Không có khả năngvay mượn ∩ Kiểmsoát vốn hoàn toàn
∩ Chính sách tiền
tệ hoàn toàn độclập ∩ Tỷ giá cốđịnh
∩ Dòng vốn lưuđộng có giới hạn
∩ Chính sách tiền
tệ độc lập hoàntoàn ∩ Tỷ giá thảnổi có giới hạn
0 < Ms < 1
0 < Ev < 1
-Không có khảnăng vay mượn
∩ Dòng vốn lưuđộng có giới hạn
∩ Chính sách tiền
tệ độc lập giớihạn ∩ Tỷ giá thảnổi giới hạn
0 < Ms < 1
Ev = 0
-Không có khảnăng vay mượn
∩ Dòng vốn lưuđộng có giới hạn
∩ Chính sách tiền
tệ độc lập giớihạn ∩ Tỷ giá cốđịnh
Bảng 1.3 Sự lựa chọn cơ chế tỷ giá theo thuyết tứ diện
2.Khái niệm chung về bộ ba bất khả thi:
2.1 Chính sách tiền tệ độc lập: