Thực tế cho thấy, trong thị trường tiền tệ, sự ra đời của “Lý thuyết bộ ba bất khả thi” cho thấy rằng nhiều vấn đề, mâu thuẫn kinh tế xảy ra khi áp dụng, thực hiện đồng thời ba chính sác
Trang 29 Nguyễn Thiện Quang 77
10 Phạm Nguyễn Thiên San 81
11 Nguyễn Trí Tuấn 110
12 Trần Hà Việt 119
13 Trương Anh Tuấn 112
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
4 Chứng minh Bộ ba bất khả thi Trang 11 4.1 Dùng mô hình tam giác đều Trang 11 4.2 Dùng đồ thị (R,Y) Trang 13
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở CÁC NƯỚC
Trang 15
1 Chính sách độc lập tiền tệ và tự do hóa dòng vốn Trang 15
2 Chính sách độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá Trang 15
3 Chính sách ổn định tỷ giá và tự do hóa dòng vốn Trang 15
4 Thực trạng áp dụng Bộ ba bất khả thi ở Việt Nam Trang 16 4.1 Về tỷ giá hối đoái (thả nổi có quản lý của nhà nước) Trang 16 4.2 Tự do hóa dòng vốn (có kiểm soát) Trang 18
Trang 5CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN TỪ BỘ BA BẤT KHẢ THI Trang 20
1 Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013 Trang 20
2 Giải pháp cho Việt Nam trong giai đoạn mới Trang 22 2.1 Giải pháp kiểm soát vốn Trang 22 2.2 Giải pháp chính sách tỷ giá Trang 23 2.3 Giải pháp chính sách tiền tệ Trang 24
LỜI KẾT Trang 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 27
Trang 6
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết mục tiêu của kinh tế vĩ mô là sự hoạt động hiệu quả, công bằng,
ổn định và tăng trưởng kinh tế, được thể hiện qua sản lượng thực tế cùa quốc gia đạt ngang mức sản lượng tiềm năng, tạo ra nhiều việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, kiểm soát tỉ
lệ lạm phát vừa phải, ổn định tỉ giá hối đoái và giữ cho cán cân thánh toán không thâm hụt kéo dài Để đạt được những mục tiêu trên, đòi hỏi chình phủ các nước phải sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô như chính sách tài khóa, Chính sách tiền tệ, Chính sách ngoại thương, Chính sách thu nhập Tùy theo tình hình kinh tế và chính sách của mỗi quốc gia khi áp dụng các công cụ điều trên trong thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ mà nền kinh tế có sự tăng trưởng hoặc suy thoái Tuy nhiên, trong quá trình điều tiết vĩ mô, không phải chính phủ áp dụng đồng thời các công cụ điều tiết hoặc thực hiện các chính sách cùng lúc là mang lại hiệu quả
Thực tế cho thấy, trong thị trường tiền tệ, sự ra đời của “Lý thuyết bộ ba bất khả thi” cho thấy rằng nhiều vấn đề, mâu thuẫn kinh tế xảy ra khi áp dụng, thực hiện đồng thời ba chính sách về ổn định tỉ giá hối đoái, độc lập tiền tệ và tự do hóa dòng vốn Đây
là bộ lý thuyết không còn xa lạ với các nhà điều tiết vĩ mô của mọi quốc gia trên thế giới Thế nhưng, tại sao chúng ta lại không thể thực hiện đồng thời các chính sách đó? Nếu thực hiện đồng bộ sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Hiện nay các quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng những cặp chính sách nào trong bộ ba đó? Thực trạng Việt nam ta khi áp dụng bộ ba đó ra sao?
Đứng trên cương vị là những sinh viên nghiên cứu trong bộ môn Tài chính – Tiền
tệ, hi vọng rằng thông qua bài tiểu luận ngắn ngủi, súc tích này, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về “Lý thuyết bộ ba bất khả thi”
Vì kiến thức của nhóm 09 còn nhiều hạn chế, không tránh khỏi bài viết còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy Tuấn và các bạn trong lớp để nội dung bài được hoàn thiện hơn
LỚP VB16QT01 – NHÓM 9
Trang 7CHƯƠNG I LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
1 Nguồn gốc của bộ ba bất khả thi
Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả thi Nỗ lực thành công nhất trong việc đưa yếu tố nước ngoài vào hệ thống lý thuyết Keynes hiện đại được xem là của “mô hình Mundell-Fleming” Đây là kết quả nghiên cứu của Robert Munbell (1962-1963) và J.M.Fleming (1962) trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc
tế IMF
Trong tác phẩm nổi tiếng “Chính sách tài khóa và tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá” (1963), bằng cách giả định chu chuyển vốn là hoàn hảo, Mundell-Fleming đã chỉ ra rằng chính sách tiền tệ không thể phát huy hiệu quả dưới chế độ tỷ giá cố định, và chính sách tài khóa không có tác dụng dưới cơ chế tỷ giá thả nổi Ngược lại, chính sách tài khóa phát huy hiệu quả cao trong cơ chế tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh dưới chế độ tỷ giá thả nổi Điều này có nghĩa, nếu chu chuyển vốn là hoàn hảo thì chính sách tiền tệ hoàn toàn không có hiệu lực nếu chính phủ theo đuổi mục tiêu ổn định tỷ giá nhưng sẽ có hiệu lực cao nếu chính phủ thả nổi tỷ giá
Dựa vào lý thuyết Robert Mundell và mô hình Mundell-Fleming, các nhà kinh tế học như Krugman (1979) và Frankel (1999) đã phát triển lên thành lý thuyết Bộ ba bất khả thi Lý thuyết bộ ba bất khả thi được phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ giá cố định, hội nhập tài chính (hay còn gọi là tự do hóa dòng vốn) và độc lập tiền tệ
2 Bộ ba bất khả thi là gì?
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế giới đang phục hồi khỏi khủng hoảng và suy thoái, trật tự tài chính quốc tế ngày càng được chú ý Chính lúc này, các vấn đề về tiền tệ và tỷ giá giành được sự quan tâm lớn hơn cả Theo giáo sư kinh tế học N Gregory Mankiw thuộc Đại học Havard của Hoa Kỳ, tại hầu hết các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách kinh tế đều muốn đạt được ba mục tiêu dưới đây:
Trang 8- Mục tiêu thứ nhất là mở cửa nền kinh tế trước những dòng vốn ngoại Sự lưu động của các dòng vốn cho phép công dân của một nước đa dạng hóa tài sản của họ bằng cách đầu tư ra nước ngoài Điều đó cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đem nguồn lực và kinh nghiệm của họ tới một quốc gia khác
- Mục tiêu thứ hai là sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ để ổn định nền kinh tế Ngân hàng trung ương khi đó có thể tăng cung tiền và giảm lãi suất một khi tăng trưởng kinh tế suy giảm, và ngược lại, giảm tăng trưởng cung tiền và tăng lãi suất khi kinh tế tăng trưởng nóng
- Mục tiêu thứ ba là duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái biến động, nhất là khi do tác động của giới đầu cơ, có thể sẽ dẫn tới hàng loạt những bất ổn kinh tế trên diện rộng Thêm vào đó, tỷ giá ổn định sẽ giúp các hộ gia đình và doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tham gia vào nền kinh tế toàn cầu và lên kế hoạch cho tương lai
Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ các quốc gia không thể cùng lúc đạt được cả ba mục tiêu Nếu các nhà hoạch định chính sách chọn hai mục tiêu đầu tiên, thì logic của kinh tế học buộc họ phải từ bỏ mục tiêu thứ ba.Tại sao không thể cầu toàn để đạt được cùng lúc
cả ba mục tiêu trên? Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” sẽ trả lời cho câu hỏi này
Trong kinh tế học, Bộ ba bất khả thi (trong tiếng Anh là The Impossible Trinity) còn được gọi là “Bộ ba chính sách không thể đồng thời” hoặc “Tam nan kinh tế” ) là một
chính sách kinh tế quốc tế Lý thuyết Bộ ba bất khả thi được phát biểu như sau: một quốc
gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc ba mục tiêu chính sách vĩ mô là ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính (còn gọi là tự do hóa dòng vốn), chính sách tiền tệ độc lập; và chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi Thuật ngữ
này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc
3 Ba nhân tố của lý thuyết bộ ba bất khả thi
3.1 Chính sách tiền tệ độc lập
Trang 9Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục đích điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách đến tỉ giá hay tăng giảm, hay các biến số vĩ mô khác
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền
tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế Chẳng hạn nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền và ngược lại Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác Chính vì sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn Tuy nhiên độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn
Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm
ẩn nguy cơ lạm phát cao Đó là chưa kể độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho chính phủ tiền tệ hóa chi tiêu chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm phát
3.2 Chính sách ổn định tỷ giá
Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp
ổn định giá cả Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của nền kinh
tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ Tất cả giúp làm cho môi trường đầu tư tốt lên Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức có mặt trái của
nó Tỷ giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế
Ví dụ lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên Ngoài ra tính quá cứng nhắc của tỷ giá còn ngăn cản không cho những nhà làm chính sách sử dụng công cụ chính sách phù hợp với thực tế diễn biến cả nền kinh tế, nhất
là khi đang có dấu hiệu bong bóng tài sản Một ví dụ thực tế khác là vào những tháng đầu
Trang 10năm 2008 kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát tăng tốc 2 con số Lúc bấy giờ tỷ giá dao động mức 1 USD = 21.000 VND Nhiều nhà kinh tế lúc bấy giờ đưa ra đề xuất để cho tỷ giá giảm xuống mức 1 USD = 19.000 VND để nhập khẩu lạm phát thấp ở nước ngoài về Tỷ giá giảm làm cho giá hàng nhập khẩu giảm đi Kết quả của việc giảm tỷ giá, tức để cho đồng nội tệ lên giá, kéo theo giá hàng nhập khẩu giảm đi (nếu các yếu tố khác không đổi) Vào thời điểm này do dòng vốn chảy vào nền kinh tế Việt Nam quá nhiều nên tỷ giá có lúc đã giảm xuống khoảng 1 USD = 19.000 VND Vấn đề là thay vì nhập khẩu các vật tư cần thiết cho sản xuất giúp hạ nhiệt lạm phát thì các doanh nghiệp Việt Nam lại nhập khẩu quá nhiều ô tô Nhìn chung tỷ giá quá cứng nhắc chẳng những có khả năng dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng, rủi ro lạm phát cao mà còn dẫn đến phân bổ sai nguồn lực và tăng trưởng không bền vững
3.3 Chính sách hội nhập tài chính (Tự do hóa dòng vốn)
Hội nhập tài chính là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay Lợi ích của hội nhập tài chính giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn, giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư, thị trường tài chính nội địa nhờ đó cũng phát triển theo Ngoài ra lợi ích lớn nhất mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập
Hội nhập tài chính hợp tác giữa các nền kinh tế, hay có thể nói là sự luân chuyển dóng vốn giữa các nền kinh tế Hội nhập tài chính có hai lợi ích cơ bản:
+ Hữu hình: quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bố nguồn lực tốt hơn và giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư
+ Vô hình: Tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập
Lợi ích lớn nhất là lợi ích vô hình: điều này mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp
Trang 11những thay đổi từ hội nhập Trên thực tế chính nhờ vào quá trình hội nhập tài chính cuối những thập niên 1990 nhất là sau trở thành thành viên WTO 2007 mà chính phủ Việt nam đã tiến hành nhiều cải cách sâu rộng, trong đó có cải cách thủ tục hành chính và chất lượng thể chế
Tuy nhiên, hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh
tế những năm gần đây Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính nhưng thiếu quy tắc điều tiết kèm theo Tình trạng bong bóng chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ mô một phần cũng do hội nhập tài chính nhưng thiếu cơ chế giám sát tương thích Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu cơ
4 Chứng minh Bộ ba bất khả thi
4.1 Dùng mô hình tam giác đều
Hình 4.1 Mô hình tam giác đều Hình 4.1 là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định tỷ giá, và hội nhập tài chính Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn;
Trang 12mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn Cuối cùng, mục tiêu
tỷ giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền tệ Hoàn toàn không khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu
Bảng dưới đây sẽ cho thấy 3 ví dụ về vấn đề áp dụng lý thuyết Bộ ba bất khả thi ở một số nước như Trung Quốc, EU, Nhật, Úc:
Dòng vốn lưu động hoàn toàn
Chính sách tiền tệ độc lập
Liên minh tiền tệ Có Không Có EU
Tỷ giá thả nổi Có Có Không Nhật, Úc
Dựa vào bảng tóm tắt ta có thể thấy rằng một quốc gia không thể thực hiện đồng thời ba mục tiêu: tiền tệ độc lập, ổn định tỉ giá và hội nhập tài chính Như Trung Quốc, họ muốn có chính sách tiền tệ độc lập và hệ thống tỷ giá cố định thì phải thực hiện kế hoạch kiểm soát vốn, và như vậy thì dòng vốn không thể chảy vào nền kinh tế một cách tự do được, nghĩa là không thực hiện được mục tiêu dòng vốn lưu động tự do Tương tự, một khi thực hiện được mục tiêu hệ thống tỉ giá cố định và dòng vốn lưu động vào nền kinh tế
tự do thì không thể thực hiện được mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập vì phải thực hiện liên minh tiền tệ Điều này đang diễn ra ở khối EU ở Châu Âu với việc sử dụng đồng tiền chung là euro và chính sách tiền tệ được áp dụng cho cả khối
Trang 14b Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính
Xét tại điểm A nếu nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì đường LM dịch chuyển xuống thành LM1 Đường LM1 cắt IS tại B có r thấp làm dòng vốn dịch chuyển ra nước ngoài và tại đó có mức sản lượng Y1 lớn hơn mức sản lượng Yo làm cho xuất khẩu ròng giảm, dẫn đến cung ngoại tệ giảm cầu ngoại tệ tăng Cho nên không thể
ổn định tỷ giá
Tỷ giá thả nổi
c Ổn định tỷ giá và hội nhâp tài chính
Xét tại điểm A thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ đường LM dịch chuyển LM1, LM1 cắt IS tại B lúc này tại B có r thấp, xuất khẩu ròng giảm (NX) làm tỷ giá biến đổi Nhà nước phải bù đắp khoản ngoại tệ này bằng cách bơm ngoại tệ vào thị trường => làm LM1 dịch chuyển LM => chính sách tiền tệ vô tác dụng