1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9

30 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc cungcấp kiến thức của bộ môn như: kiến thức Tiếng Việt giúp học sinh biết cách sửdụng ngôn ngữ Tiếng Việt đúng trong nói và viết, kiến thức Văn học giúp họcsinh hiểu nội dung

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN HỌC SINH VÀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC BÀI ĐỂ NÂNG DẦN CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ

MÔN NGỮ VĂN LỚP 9 PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy bộ môn Ngữ Văn có một vị trí

quan trọng trong chương trình của cấp học Trung học cơ sở Ngoài việc cungcấp kiến thức của bộ môn như: kiến thức Tiếng Việt giúp học sinh biết cách sửdụng ngôn ngữ Tiếng Việt đúng trong nói và viết, kiến thức Văn học giúp họcsinh hiểu nội dung nghệ thuật các tác phẩm văn học biết cảm nhận các giá trị từtác phẩm, kiến thức Tập làm văn giúp học sinh biết cách làm các kiểu loại vănbản nghị luận, hành chính công vụ…., môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trongviệc giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh biết yêuthương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tớinhững tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự côngbằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu… Tuy nhiên học Văn là cả một quá trình,không thể học dồn kiến thức mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tácphẩm, học sinh phải hiểu tác giả, nội dung cơ bản của tác phẩm, giá trị nghệthuật để qua đó có được sự cảm nhận về tác phẩm và học sinh phải có kĩ nănglàm được các dạng bài trong chương trình Mỗi một bài tập làm văn thường mấtnhiều thời gian, thường viết từ một trang cho đến vài trang giấy Chính về nhữngđiều này mà ngày nay học sinh ngại học văn hơn các môn Khoa học tự nhiênnhư Toán, Lý Hóa Để nâng dần chất lượng môn Ngữ văn, trong đó có bộ mônNgữ văn lớp 9 theo tôi phải kết hợp nhiều biện pháp tác động đến học sinh Quakinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu thực tế ởdạy-học môn Ngữ Văn ở trường Trung học cơ sở Nam Mỹ, tôi xin đưa ra sáng

kiến kinh nghiệm : “Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học

sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9”.

PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

Trong các môn học ở chương trình Trung học cơ sở môn Ngữ văn đượccoi là một môn học cơ bản góp phần hình thành nhân cách cho học sinh và còngiúp cho học sinh có kiến thức cơ bản để áp dụng vào trong cuộc sống Vì vậygiáo viên phải biết hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản và truyền thụ cho học sinhhiểu nội dung vấn đề của bài học Nhưng muốn học sinh hiểu nội dung bài họcthì giáo viên phải thực sự nhiệt huyết phải có lòng yêu nghề say mê với nhữngkiến thức mà mình đang truyền đạt cho hoc sinh Giáo viên phải biết vận dụnglinh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học Giáo viên phảithường xuyên kiếm tra chấm chữa bài cho học sinh để học sinh thấy được nhữngcái sai mà khắc phục Giáo viên thường xuyên có sự liện hệ với gia đình để có

sự tác động tích cực nhất đối với học sinh Việc phối kết hợp các biện pháp tácđộng đến học sinh sẽ giúp cho quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên tớihọc sinh có kết quả cao Nếu giáo viên chỉ là người dạy mà không quan tâm đến

sự tác động đối tượng học sinh thì kết quả học sinh sẽ không có kiến thức vì có

Trang 2

một số lượng lớn học sinh hiện nay nếu không có sự tác động của giáo viên vàgia đình thì các em sẽ không học

Hiện nay môn Ngữ văn trong trường Trung học cơ sở nói chung và lớp 9nói riêng, môn Ngữ văn chia làm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Tập làmvăn Trong thực tế giảng dạy trên lớp tôi nhận thấy đối với những học sinh cầnnâng dần chất lượng đại trà các em rất khó tiếp nhận kiến thức Một bài giảngvăn lớp 9 thường rất dài và mất nhiều thời gian nên học sinh hay nản trí, phầnTiếng Việt học sinh thường yếu về vốn từ vựng, phần Tập làm văn học sinh hạnchế kĩ năng thực hành viết một đoạn hoặc bài nghị luận vì các em hạn chế kĩnăng lập luận Vì vậy khi dạy để nâng chất lượng đại trà môn Ngữ văn theo tôigiáo viên phải là người tạo được hứng thú học tập ở học sinh, truyền thụ nhữngkiến thức đơn giản, dễ hiểu để học sinh hình thành kiến thức, tích cực cho họcsinh luyện tập để hình thành kĩ năng trong làm bài Giáo viên phải hướng dẫn cụthể và nhiều lần một dạng bài để học sinh tạo được thói quen làm bài, học sinhnhận ra được những chỗ sai và sửa để tiếp cận vấn đề tốt nhất trong khả năngcủa học sinh Sau khi hướng dẫn giáo viên phải đưa ra được những bài tập cùngdạng để học sinh làm Giáo viên phải tích cực kiểm tra quá trình tiếp nhận kiếnthức và hình thành kĩ năng của học sinh

Chương trình sách giáo khoa lớp 9 hiện nay cung cấp các kiến thức chohọc sinh từ các kiến thức thực tế đời sống đến các kiến thức vận dụng vào cuộcsống như sử dụng vốn từ, viết các loại văn bản hành chính công vụ; từ các tácphẩm văn chương hình thành cho học sinh tình yêu cuộc sống biết viết nhữngbài luận ngắn hay trình bày suy nghĩ về một vấn đề văn học và đời sống hàngngày Để hình thành cách tạo lập văn bản giáo viên cần có sự tích hợp tronggiảng dạy với các bộ môn như Giáo dục công dân, Lịch sử…để học sinh biếtđược các vấn đề của thực tế đời sống và đưa vào văn bản ở các bài nghị luận xãhội Bên cạnh sách giáo khoa là các phương tiện như tranh ảnh, máy vi tính,máy chiếu….cũng giúp học sinh tiếp cận bài học hiệu quả hơn Với những họcsinh hạn chế trong việc học văn các em thường không cảm nhận và tiếp thu bàinhanh như các bạn khác vì vậy khi dạy kiến thức trong sách giáo khoa giáo viênphải vận dụng linh hoạt các thiết bị dạy học cả kênh hình lẫn kênh chữ Cácphương tiện dạy học hiện đại như máy trình chiếu, dạy học bằng sơ đồ tư duyluôn đem lại hiệu quả cao khi học sinh có sự hào hứng trong tiếp cận kiến thức.Khi sử dụng sách giáo khoa giáo viên phải là người nắm rất vững toàn bộchương trình cả ba phân môn, nhớ tất cả các tác phẩm văn học các kiểu dạng tậplàm văn và khái quát hệ thống được toàn bộ kiến thức Tiếng Việt Giáo viênphải thực sự có kiến thức vững vàng và chịu khó học hỏi đồng nghiệp vềphương pháp giảng dạy cách truyền thụ cũng như cách khai thác kiến thức saocho có hiệu quả nhất Về phía học sinh giáo viên phải quan tâm tìm hiểu đặcđiểm tâm lý, hoàn cảnh gia đình để có được những sự tác động phù hợp

B – THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Trang 3

1 Trước hết xét về phía học sinh: Trường Trung học cơ sở Nam Mỹ là một

trường giáp thành phố Nam Định nhiều gia đình có nghề phụ như buôn nhựa,nhôm, bán hàng buổi sáng, làm cây cảnh…Một số gia đình đi làm ăn xa để concho ông bà hoặc người thân trong gia đình chăm sóc Đây chính là nhữngnguyên nhân dẫn đến ý thức học tập của học sinh còn hạn chế do sự quan tâmcủa gia đình chưa hiệu quả Mặt khác có một số học sinh dựa vào điều kiện kinh

tế gia đình và do gia đình có sự chiều chuộng nên các em chưa chú ý đến học tậpcòn rất mải chơi Trong công cuộc phát triển giáo dục như hiện nay khi cả nướcđang tiếp tục thực hiện cuộc vận động hai không với bốn nội dung nhằm đánhgiá đúng trình độ của học sinh thì việc học sinh lười học, không học bài là mộtvấn đề yêu cầu tất cả dội ngũ giáo viên đứng lớp phải có biện pháp cụ thể để tácđộng đến học sinh Về bộ môn Ngữ văn hiện nay phần đa học sinh ngại họcVăn, hầu hết các em chỉ thích học các môn khoa học tự nhiên, số lượng học sinhchữ viết xấu, sai lỗi chính tả, viết không đúng câu, không biết cách hành văndiễn ra còn nhiều Học sinh chưa định hình được phương pháp học tập hiệu quả

ở trên lớp cũng như ở nhà, không có kiến thức cơ bản dẫn đến khi áp dụng làmbài tập cụ thể thường làm sai hoặc làm rất sơ sài qua loa đối phó

2 Về phía giáo viên: Theo tôi hiện nay hầu hết giáo viên khi nhận lớp đều có sự

đầu tư thời gian để xây dựng kế hoạch và phương pháp dạy học cụ thể cho từngđối tượng Tuy vậy vẫn còn giáo viên chưa thực sự chú ý đến sự đổi mới trongphương pháp dạy học dẫn đến kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáodục của giáo viên chưa cao Trong quá trình giảng dạy đôi khi giáo viên còn ápđặt kiến thức cho học sinh dẫn đến không phát huy tính tích cực chủ động sángtạo trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh Một hạn chế của giáo viêntrong dạy học là chưa có sự phân loại đối tượng còn dạy học dàn chải nên nhữnghọc sinh yếu, trung bình thường không theo kịp các bạn nên sẽ có xu hướng ngạihọc Việc chấm trả bài của học sinh cần được tiến hành thường xuyên, nếu giáoviên không có ý thức trong việc chấm trả sẽ không nhận ra được những hạn chế

và sự tiến bộ của học sinh Giáo viên dạy Ngữ văn nhưng không làm công tácchủ nhiệm lớp thường gặp khó khăn trong việc phối kết hợp với phụ huynh họcsinh, đôi khi giáo viên ngại nên không có điều kiện trao đổi cụ thể việc học tậpcủa học sinh với gia đình

3 Về phía gia đình: Hiện nay vẫn còn những gia đình có hoàn cảnh khó khăn

nên không có điều kiện quan tâm đến học hành của con em; và một bộ phận phụhuynh trình độ nhận thức còn hạn chế, nên phụ huynh chỉ quan tâm đến con cáitheo cách riêng của mình có thể là cả sự nuông chiều chứ chưa có sự chú ý thực

sự đến việc học tập của con, chưa có biện pháp theo dõi kiểm tra quá trình họctập của con em Nhiều gia đình quá bận mải với làm ăn nên không chú ý việchọc bài và làm bài của con mình ở nhà, không thường xuyên kiểm tra nên họcsinh đối phó với gia đình bằng cách học qua loa Một số gia đình có điều kiệnthuê gia sư cho con học nhưng không có sự kiểm tra trình độ của người dạy conmình nên kết quả học tập cũng không có sự tiến bộ Với những học sinh có sứchọc hạn chế môn Ngữ văn nếu gia đình không có sự quan tâm thì các em ngàycàng lười học và dẫn đến kết quả học tập sẽ rất kém

Trang 4

4 Về phía nhà trường: Nếu như các nhà trường không có sự quan tâm trong

việc đổi mới thì chất lượng giáo dục sẽ không bao giờ có sự cải thiện Như tôi

biết hiện nay trong tất cả các nhà trường đều đang thực hiện đổi mới phương

pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Trường Trung học cơ sở Nam Mỹ trong nămhọc vừa qua cũng như các năm học trước luôn cố gắng tạo mọi điều kiện thuậnlợi về trang thiết bị đến cơ sở vật chất, chuyên môn nhằm tạo điều kiện tốt nhấtcho công tác giảng dạy để nâng dần chất lượng đại trà các môn học trong đó cómôn Ngữ văn Công tác phụ đạo cho học sinh yếu, trung bình luôn được quantâm tiến hành đều đặn trong các tuần của năm học Về bộ môn Ngữ văn lớp 9nhà trường đã phân công giáo viên đứng lớp là những đồng chí có nhiều nămkinh nghiệm thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học Vì lớp 9 là năm cuốicấp có sự quyết định lớn đến tương lai của học sinh Nên những giáo viên dạylớp 9 luôn là các đồng chí có năng lực, có tình yêu nghề mến trẻ Chính vì điều

đó mà chất lượng bộ môn Ngữ văn có sự ổn định và tiến bộ trong các năm

C – CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy trước hết giáo viên phải nắm vững kiến

thức trong sách giáo khoa và chuẩn kiến thức Như trên đã trình bày bộ mônNgữ văn lớp 9 chia làm 3 phân môn nhỏ là Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn.Giáo viên luôn phải có chuẩn kiên thức kĩ năng có phân phối chương trình giảmtải để khi dạy kiến thức không bị sai Thường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp

vụ, nắm vững các khả năng tình huống trong quá trình dạy học có thể nảy sinh.Chú trọng việc nắm vững những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học( Như chương trình sách giáo khoa, các phương pháp dạy học, các kiến thức kĩnăng lồng ghép, tích hợp, cách kiểm tra-đánh giá theo đổi mới, công nghệ thôngtin phối hợp và đặc biệt là trong quá trình dạy học tích hợp sẽ hình thành được

kĩ năng sống và hình thành cách học cho các em học sinh )

2 Ngay từ đầu năm học trong buổi họp phụ huynh đầu năm giáo viên phải

định hướng cho phụ huynh hiểu tầm quan trọng và ý nghĩa của bộ môn Ngữ văntrong chương trình Trung học cơ sở và trong cuộc sống Định hướng cho phụhuynh và học sinh hiểu môn văn không chỉ cung cấp bồi dưỡng kiến thức, kĩnăng (đặc biệt kĩ năng sống ) mà nó còn là một bộ môn đóng vai trò quan trọngtrong các môn Khoa học xã hội Hơn nữa, đây là môn ảnh hưởng lớn đến kếtquả học tập cũng như thi tuyển sinh vào Trung học phổ thông ( Bộ môn Ngữ văn

hệ số 2) Giáo viên có thể không làm công tác chủ nhiệm lớp nhưng trong buổihọp phụ huynh đầu năm cũng cần phải đến lớp để cung cấp cho phụ huynhnhững phương pháp tốt trong việc quản lý học bài ở nhà của con em Giáo viêncần phải có số điện thoại và cung cấp số điện thoại của mình cho phụ huynh đểthường xuyên trao đổi liên lạc nắm tình hình trong xuốt cả năm học Trong quátrình giảng dạy cả năm học giáo viên phải thường xuyên liên lạc với gia đình đểgia đình kịp thời uốn nắn những hạn chế của học sinh Sau mỗi bài kiểm tra định

kì hay bài kiểm tra giai đoạn giáo viên cần phải thông báo kết quả cho phụhuynh cùng trao đổi với phụ huynh về những hạn chế trong tiếp nhận kiến thứccủa học sinh để phụ huynh có biện pháp kèm cặp con em ở nhà Thông thườngkết quả học tập của học sinh tôi thường đánh máy và gửi tận tay phụ huynh, đầu

Trang 5

năm học tôi lập bảng so sánh điểm kiểm tra giữa lớp 8 và lớp 9 để phụ huynhnhận ra sự tiến bộ hay chưa tiến bộ của con em; trong năm học từng giao đoạntôi in điểm kiểm tra và so sánh với giai đoạn trước kèm theo đó là nhận xét đánh

giá mức độ tiến bộ của học sinh ( Bảng điểm giai đoạn I,II lớp 9 năm học

2013-2014 trong phụ lục) Với những học sinh có sự tiến bộ cố gắng giáo viên thông

báo để gia đình biết và cùng giáo viên có biện pháp tác động để học sinh đạt kếtquả tốt hơn Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy dù gia đình học sinh có thểlàm ăn xa nhưng khi có sự liên lạc thường xuyên với giáo viên thì kết quả giáodục của học sinh vẫn ổn định và có sự tiến bộ

3 Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú trọng đến dạy đúng trọng tâm

chuẩn kiến thức kĩ năng, dạy phù hợp đặc trưng bộ môn và đối tượng Đặc biệt

là chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, chú ý hình thành cách học ý thức tựhọc cho học sinh Muốn làm được như vậy thì người giáo viên cần phải thựchiện một số giải pháp cụ thể sau:

3.1.Trước hết một giáo viên khi được phân công dạy một lớp phải tìm

hiểu năng lực và điều kiện hoàn cảnh, tâm tư tình cảm của học sinh lớp mìnhtrực tiếp giảng dạy Một số giáo viên nghĩ chỉ cần lo dạy cho tốt còn việc tìmhiểu tình hình gia đình học sinh là việc của giáo viên chủ nhiệm, theo tôi đây làsuy nghĩ chưa đúng

- Vì đây sẽ phải là việc đầu tiên mà mỗi người giáo viên trong quá trìnhdạy học muốn công tác giáo dục có kết quả Ngay từ đầu năm học giáo viên phảinắm bắt được khả năng học tập của các em có thể thông qua nhiều kênh thôngtin: Như kết quả học tập năm trước, bài kiểm tra khảo sát đầu năm, thông tin từgiáo viên dạy năm trước hoặc thông qua bạn bè cùng lớp của học sinh Đây làmột việc làm rất quan trọng, bởi thông qua việc nắm bắt năng lực của học sinh

mà giáo viên có thể thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình, cũng vì điềunày giáo viên có thể dạy học phù hợp với từng đối tượng Trong nhiều năm dạylớp 9 bản thân tôi đã thực hiện điều này và nhận thấy kết quả thu lại rất tốt Nhưtrong năm học 2012-2013 và 2013-2014 trong lớp tôi dạy có những học sinh saukhi khảo sát đầu năm và thông qua tìm hiều từ giáo viên dạy năm trước, tôi đãnắm rõ từng đối tượng học sinh Bước đầu kiểm tra và hiểu được những kiếnthức học sinh đã có và những kiến thức học sinh còn hạn chế Trong năm học2012-2013 ngay sau khi nhận lớp và khảo sát lớp có 23 học sinh trong đó điểmkhá, giỏi là: 5/23 = 21.74%, điểm trung bình là 10/23 = 43.48%, điểm dướitrung bình là: 8/23 = 34.78% Còn trong năm học 2013-2014 sau khi tiến hànhkhảo sát đầu năm tôi đã có số liệu cả lớp không có học sinh nào đạt điểm từ 6trở lên: 15 học sinh có điểm dưới trung bình, 16 đạt điểm 5 Như vậy tỷ lệ họcsinh dưới trung bình là : 48.39% đây là một tỷ lệ cao Ngay sau khi nhận kết quảkhảo sát tôi đã phân tích chất lượng đầu năm bộ môn lớp mình giảng dạy nhậnxét cụ thể về kiến thức kĩ năng từng học sinh và xây dựng kế hoạch giảng dạytác động đến ý thức học tập của học sinh

- Trong quá trình tìm hiểu phân tích chất lượng của học sinh tôi còn nắmbắt điều kiện hoàn cảnh tâm lí của học sinh tìm hiểu được tâm tư tình cảm,nguyện vọng của các em từ đó mà gần gũi động viên khuyến khích các em họctập tốt hơn Việc nắm bắt hoàn cảnh của học sinh cũng bằng nhiều cách khác

Trang 6

nhau: như xem sổ điểm, học bạ năm học trước, hay qua thông tin bạn bè họcsinh, phụ huynh hoặc thông qua sự sẻ chia gần gũi trong nói chuyện tâm tình vớicác em Trong năm học 2012-2013 qua tìm hiểu tôi nhận thấy học sinh TrầnVăn Thắng là học sinh có nhận thức nhưng học sinh này hầu như không bao giờlàm bài tập về nhà, sau khi trao đổi trò chuyện và xuống gia đình tôi đã nắmđược tình hình thực tế gia đình em Thắng Qua cuộc trò chuyện học sinh Thắng

đã dần thay đổi và rồi từ học sinh lực học yếu môn Ngữ văn học sinh Thắng đãtiến bộ vươn lên Trung bình và Khá em thi vào Trần Văn Bảo với điểm văn là7.25 Còn trong năm học 2013-2014 có học sinh Trần Quang Vinh lực học mônNgữ văn không tốt sau khi tìm hiểu tâm tư và qua trao đổi với gia đình tôi đã cóphương pháp tác động đến học sinh và kết thúc năm học điểm tổng kết bộ mônNgữ văn của học sinh Vinh là 6.3 đây là kết quả tiến bộ rất nhiều so với nămhọc trước khi em Vinh tổng kết môn Ngữ văn chỉ có 5.2

- Sau khi nắm bắt được các thông tin trình độ năng lực và ý thức học tậpcủa học sinh giáo viên cần phân loại đối tượng để tổ chức dạy học và hướng dẫnhiệu quả hơn Trong năm học 2012-2013 tôi đã chia lớp thành 2 nhóm để cóphương pháp tác động cụ thể Với nhóm học sinh khá giỏi gồm 5 em tôi phâncông em Phạm Thị Hường làm nhóm trưởng và thường xuyên tôi cung cấp tàiliệu cho nhóm để làm các dạng bài tập nâng cao, mỗi tuần tôi dạy thêm chonhóm 1 buổi bổ trợ các bài tập khó; nhóm thứ 2 là 10 học sinh trung bình và 8học sinh dưới trung bình tôi chỉ cung cấp các kiến thức trọng tâm cơ bản và đưanhiều bài tập cơ bản cho học sinh làm, tích cực chấm chữa để học sinh phát hiện

ra những chỗ còn sai và sửa Sau 1 năm dạy học theo phân hóa đối tượng tôinhận thấy kết quả rất tốt những học sinh trong nhóm trung bình và dưới trungbình điểm thi có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt điểm thi vào THPT thấp nhất làđiểm 5.75 và cao nhất là 7.0 Trong năm học 2013-2014 tôi cũng thực hiện nhưnăm học 2012-2013 tôi cũng dạy học theo phân loại đối tượng, chính nhờ sựphân loại ngay từ đầu năm mà kết quả bộ môn Ngữ văn lớp tôi trực tiếp giảngdạy kết quả các giai đoạn thi đều đạt và vượt mức trung bình của huyện và vượtchỉ tiêu nhà trường giao từ đầu năm học

3.2.Trong quá trình giảng dạy tôi luôn hướng dẫn học sinh rất kĩ cách đọc

sách giáo khoa, phương pháp trả lời các câu hỏi trong phần đọc hiểu hay trả lờicác câu hỏi trong phần bài tập Tiếng Việt và tập làm văn Với những học sinhsức học trung bình để vươn lên khá ở các câu hỏi trong phần đọc hiểu tôi thườngyêu cầu học sinh trả lời theo ý sau đó với những câu hỏi yêu cầu viết đoạn hoặcbài, tôi hướng dẫn cụ thể cách viết trước rồi mới yêu cầu học sinh làm Còn vớinhững học sinh khá tôi không chỉ yêu cầu trả lời theo các câu hỏi trong sáchgiáo khoa mà tôi còn yêu cầu học sinh viết đoạn hoặc bài với những câu hỏi yêucầu có sự lập luận Tôi cũng hướng dẫn học sinh cách chọn sách tài liệu thamkhảo vì hiện nay sách tham khảo bán quá nhiều và có cả những quyển sáchkhông có chất lượng Những cuốn sách bài văn mẫu tôi chỉ định hướng học sinhmua một quyển tham khảo thường là của nhà xuất bản Giáo dục Còn lại tôi yêucầu học sinh phải có vở bài tập để làm theo sự hướng dẫn

Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp là một khâu rất quan trọng trong quátrình tiếp thu kiến thức của học sinh Ngay trong buổi học đầu tiên của lớp 9 tôi

Trang 7

đã hướng dẫn học sinh cách học bài ở nhà Với phần Tiếng Việt tôi thường yêucầu học sinh đọc trước bài trong sách giáo khoa và sau khi giáo viên dạy trênlớp tôi cùng học sinh chữa một số bài trong sách giáo khoa và yêu cầu học sinhhọc thuộc ghi nhớ, làm các bài tập còn lại; mỗi bài học Tiếng Việt tôi đều cungcấp thêm một số bài tập cơ bản yêu cầu học sinh về nhà làm Với phần Tập làmvăn tôi cũng làm như Tiếng Việt, tuy vậy tôi có sự thay đổi về cách học ở nhà đó

là tôi thường yêu cầu học sinh phát triển ý thành từng đoạn văn sau đó mới làmhoàn chỉnh cả bài Vì học sinh cần nâng dần chất lượng nên tôi yêu cầu học sinhkhông quá cao chỉ cần học sinh học và làm tốt các câu hỏi trong sách giáo khoa.Với phần Văn học tôi yêu cầu học sinh đọc kĩ nội dung tác phẩm và phải soạnbài trước khi đến lớp trả lời tất cả các câu hỏi trong phần đọc hiểu văn bản, họcsinh phải thuộc thơ, biết tóm tắt tác phẩm, nhớ về tác giả và những nội dungnghệ thuật cơ bản trong phần ghi nhớ; đây là những kiến thức cơ bản nhất trongsách giáo khoa mà học sinh phải nhớ để có thể vận dụng trong quá trình làmvăn Sau mỗi buổi học bài mới phần luyện tập tôi thường yêu cầu học sinh vậndụng kiến thức đã học để giải quyết các câu hỏi trong sách giáo khoa và ngaytrong buổi học thêm gần nhát tôi đều kiểm tra chấm chữa bài cho học sinh đểcác em nhận ra cái mà mình đã làm được và những hạn chế cần khắc phục Tôithường yêu cầu học sinh phải xây dựng thời gian biểu học bài ở nhà để phân đềuthời gian cho các bộ môn

3.3 Một khâu quan trọng khác trong việc nâng dần chất lượng đại trà là

việc soạn bài của giáo viên Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy khâu soạn trướckhi lên lớp của giáo viên rất quan trọng, nếu giáo viên có sự đầu tư về thời gian

để soạn một giáo án có chất lượng ( Cả giáo án dạy chính khóa và giáo án dạythêm) thì khi lên lớp giáo viên luôn làm chủ giờ dạy của mình Một giáo án cóchất lượng khi giáo viên phải định hình được khung thời gian cho 45 phút giờdạy gắn cụ thể với từng vấn đề mà giáo viên muốn truyền đạt cho học sinh Xâydựng hệ thống câu hỏi có sự gợi mở từ dễ đến khó để học sinh có thể tìm hiểukhai thác nội dung bài học Trong giáo án cần chú trọng câu hỏi mang tính phânloại: Với học sinh yếu kém thì dạng câu hỏi dễ hơn, cần có câu hỏi gợi mở phùhợp vừa sức các em, với đối tượng khá giỏi thì cần có những câu hỏi mang tình

tư duy, động não sáng tạo; việc đặt câu hỏi cũng cần tính toán tránh bỏ sót đốitượng Giáo viên cần xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với từng phânmôn, cần tích hợp các phương pháp trong một giờ dạy Sử dụng hiệu quả đồdùng dạy học Trong một số tiết học tôi có sử dụng vi tính và trình chiếu tôi thấyhọc sinh rất hào hướng tiếp thu kiến thức Sau mỗi bài dạy trong phần rút kinhnghiệm ở cuối giáo án đôi khi giáo viên chưa thực sự chú ý, nhưng sau mỗi bàidạy tôi luôn ghi lại những gì mình đã làm được ở tiết dạy và còn lại những kiếnthức nào chưa dạy được tôi ghi lại cụ thể để có biện pháp dạy hết phần kiến thứctrong tiết học sau Trong phần giáo án dạy phụ đạo tôi có sự phân loại đối tượng

rõ, trong một tuần có 2 buổi phụ đạo một buổi cho nhóm 1 là những học sinhkhá giỏi, một buổi cho nhóm 2 là những học sinh trung bình và dưới trung bình.Giáo án dạy học nhóm 1 tôi luôn đưa ra các bài tập nâng cao vì các em này kiếnthức cơ bản đã nắm chắc, thông thường tôi cung cấp dạng bài theo chuyên đề,hướng dẫn học sinh cách làm và yêu cầu học sinh làm bài và tôi chấm chữa Còn

Trang 8

trong giáo án dạy nhóm 2 tôi luôn kiểm tra những kiến thức cơ bản nhất từ ghinhớ đến nội dung của mỗi bài học theo từng tuần: Phần Tiếng Việt tôi kiểm tra

kĩ phần ghi nhớ và yêu cầu học sinh làm lại các bài tập trong sách giáo khoa, tôicòn cung cấp thêm một số bài tập bên ngoài nhưng đều là những bài tập đơngiản để học sinh hình thành kĩ năng làm bài Với những học sinh làm đi làm lạivẫn sai tôi phải uốn nắn cụ thể, chỉ ra cái sai sau đó yêu cầu học sinh tự làm lạicác bài tôi đã chữa Phần văn học trong giáo án soạn tôi luôn hướng đến ôn tậpcủng cố kiến thức đã học trong giảng văn và kiểm tra phần nhớ kiến thức củahọc sinh Trong mỗi giáo án tôi luôn có phần hướng dẫn lại nội dung nghệ thuậtcủa bài sau đó mới kiếm tra từng phần nội dung của bài đã học Phần Tập làmvăn là khó nhất với học sinh trung bình yếu vì các em rất hạn chế kĩ năng, tronggiáo án tôi xác định rõ việc hướng dẫn học sinh cách làm từng phần từng đoạn,cách viết đoạn văn theo các cách, cách trình bày đoạn văn trong một văn bản,

cách xây dựng một văn bản hoàn chỉnh ( Giáo án dạy phụ đạo 1 bài học trong

phần phụ lục)

3.4 Quá trình dạy học trên lớp giáo viên phải có sự vận dụng tốt nghiệp

vụ sư phạm, vận dụng linh hoạt, không cứng nhắc, tạo hứng thú, chú trọng sứctác động của mỗi bài học vào chiều sâu tâm hồn của học sinh Muốn làm đượcđiều này phải vận dụng linh hoạt các phương pháp mới vào dạy học như tạo mộtgiờ học mở, dạy học theo nhóm, dạy học theo mô hình, dạy học nêu và giảiquyết vấn đề, thuyết trình hoặc đóng vai Trong quá trình thực hiện cần chútrọng khai thác khả năng tư duy độc lập sáng tạo của học sinh, chú trọng vai tròtrung tâm ngườì học; giáo viên luôn luôn phải là người hướng dẫn, định hướng

để học sinh tự tìm kiếm, lĩnh hội kiến thức Trong mỗi giờ học giáo viên cần tạokhông khí nhẹ nhàng cho giờ học Trong quá trình giảng dạy trên lớp tôi nhậnthấy đôi khi mình có sự nóng nẩy khi kiểm tra bài mà học sinh không học thì tiếthọc đó thường nặng nề Nhưng sau đó tôi thay đổi phương pháp nhận xét nhẹnhàng hơn thì hiệu quả giờ học cũng tốt hơn

Trong khi giảng dạy bài mới trên lớp tôi luôn chú ý các bước lên lớp từ ổnđịnh tổ chức, kiểm tra bài cũ, dẫn dắt vào bài mới, giảng dạy bài mới, hướng dẫnluyện tập, củng cố dặn dò Vì trường Trung học cơ sở Nam Mỹ số lượng họcsinh mỗi lớp không nhiều chỉ khoảng 31 em học sinh, nên mỗi buổi dạy tôi đều

có thể hỏi và kiểm tra được nhiều học sinh ở các mức độ khác nhau Sau khikiểm tra tôi đều đánh dấu vào phần kiến thức mà học sinh đã nhớ và chỗ họcsinh còn quên Với những học sinh quên kiến thức hoặc không thực sự tập trungtôi thường hỏi nhiều trong giờ dạy để yêu cầu học sinh phải để tâm đến bài học

Để hướng dẫn học sinh cách học bài và làm bài thì ngay khi dạy trên lớpgiáo viên phải rất chú ý dạy sâu kiến thức và chú ý đặc trưng thể loại:

- Phân môn Tiếng Việt lớp 9 là sự khái quát toàn bộ kiến thức Tiếng Việtcủa toàn bộ chương trình Trung học cơ sở Giáo viên không chỉ dạy bài mới màtrong các tiết ôn tập củng cố phải khái quát kiến thức rõ ràng dễ hiểu cho họcsinh Khi dạy một bài mới trên lớp tôi thường dạy theo phương pháp quy nạp cónghĩa là từ ví dụ khái quát đẫn đến kết luận vấn đề Hệ thống các ví dụ trongsách giáo khoa được tôi sử dụng triệt để bên cạnh đó tôi sưu tầm các bài tậpTiếng Việt khác từ chính các tác phẩm văn học trong sách giáo khoa để học sinh

Trang 9

làm bài Tôi thường yêu cầu học sinh nắm vững kiến thức trong phần ghi nhớngay tại lớp và học sinh vận dụng làm bài ở lớp Những kiểu dạng bài khó tôihướng dẫn học sinh làm và đưa ra bài tập tương tự để học sinh về nhà làm Ví dụkhi dạy bài “Khởi ngữ” sau khi cho học sinh tìm hiểu các ví dụ trong sách giáokhoa tôi rút ra kết luận trong phần ghi nhớ Tất cả các ví dụ trong sách giáo khoatôi đều giảng rất kĩ cho học sinh, tôi phân tích từng dấu hiệu nhận biết Tôi dành

5 phút cho học sinh nhẩm lại phần ghi nhớ rồi tôi tiếp tục cho học sinh làm cácbài tập còn lại trong sách giáo khoa, yêu cầu một số học sinh lên bảng làm và tôichữa luôn bài tập để học sinh nhận ra những chỗ đúng, sai trong bài làm củamình Phần bài tập về nhà tôi thường yêu cầu học sinh làm lại các bài tôi đãchữa ở trên lớp bên cạnh đó tôi còn cung cấp thêm một số bài tập để học sinhlàm Tất cả các bài tập tôi sẽ kiểm tra hoặc yêu cầu các bộ lớp kiểm tra

- Khi dạy Văn bản trước mỗi bài dạy tôi đều kiểm tra sự chuẩn bị bài ởnhà của học sinh Nếu là học tác phẩm truyện tôi yêu càu học sinh đọc tóm tắt,nếu là thơ tôi yêu càu học sinh đọc thuộc thơ Sau đó tôi yêu cầu học sinh tìmhiểu kiến thức trong phần chú thích sao để hiểu đôi nét về tác giả, tác phẩm,hiểu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Vì khi học sinh có hiểu về phong cáchsáng tác về cuộc đời của tác giả thì mới có sự hiểu tốt về văn bản của tác giả Ví

dụ khi dạy bài thơ “Đồng chí” phần giới thiệu tác giả tác phẩm tôi đặt ra các câuhỏi như: Dựa vào sách giáo khoa em hãy trình bày đôi nét về tiểu sử sự nghiệpcủa tác giả Chính Hữu? Hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nhưng câu hỏi nàythường đã có trong sách nên học sinh dễ dàng trả lời và có thể nhớ được Trongphần phân tích giảng văn tôi luôn thực hiện theo giáo án đã soạn, tôi chia táchvăn bản ra thành từng phần kiến thức với các luận điểm cụ thể, sử dụng các đẫnchứng từ văn bản cùng lý lẽ phân tích để học sinh hiểu bài Hệ thống câu hỏi đặt

ra thường ngắn gọn dễ hiểu Sau mỗi bài học tôi yêu cầu học sinh làm bài tạp vềnhà thông thường là viết những đoạn văn theo đề bài tôi đưa ra, tôi hướng dẫn

cụ thể cho học sinh để các em có phương pháp học bài và làm bài về nhà

- Khi dạy Tập làm văn ở những bài học về lý thuyết tôi thường dạy kĩdạng bài để học sinh hình thành phương pháp làm bài như: Thuyết minh, nghịluận tư tưởng đạo lý, nghị luận xã hội, nghị luận nhân vật văn học, nghị luận tácphẩm thơ……Sau khi học sinh đã có những hiểu biết ban đầu về kiểu loại, tôicùng học sinh đọc một vài bài làm hay và cùng học sinh lập dàn ý của bài văn

đó Khi đã lập được dàn ý từng phần tôi đưa ra những đoạn bài viết hay đọc đểhọc sinh tham khảo và hướng dẫn cụ thể cách viết từng đoạn cho học sinh Vìnhững học sinh có sức học trung bình và dưới trung bình môn văn nên tôithường làm mẫu cho học sinh một số dạng bài từ các bước mở bài, thân bài phầntrình bày các vấn đề, các luận điểm đến kết bài Mỗi dạng bài tôi chỉ làm mẫucho 2 đến 3 bài và yêu cầu học sinh tự làm lại Trong phần bài tập giao về nhà ởnhững buổi đầu tiên của năm học tôi yêu cầu học sinh viết đúng theo đoạn văndiễn dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp…còn trong năm học ở các dạng tập làm văntôi yêu cầu học sinh viết từng phần từ mở, thân, kết Khi học sinh đã quen vớicác thể loại tôi cung cấp đề và yêu cầu viết thành bài văn Ví dụ khi dạy xong

dạng bài nghị luận nhân vật văn học tôi cung cấp đề bài cho học sinh : “Phân

tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm chuyện người con gái Nam Xương của

Trang 10

Nguyễn Dữ” Tôi hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu đề, xác định yêu cầu của đề

bài hỏi những nội dung gì, sau đó tôi cùng học sinh lập dàn ý cho đề bài từ phần

mở bài, thân bài cho đến kết bài

*Mở bài:

Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Dữ, tác phẩm “Chuyện ngườicon gái Nam Xương: Nguyễn Dữ là tác giả nổi tiếng ở thế kỷ XVI,học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi sống ẩn dật nhưnhiều trí thức đương thời “Chuyện người con gái Nam Xương” cónguồn gốc từ một truyện dân gian, là một trong số 20 truyện của

“Truyền kỳ mạn lục” – một kiệt tác văn chương cổ, từng được cangợi là “thiên cổ kỳ bút” Vũ Nương là nhân vật chính của truyện.Đây là một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh nhưng phải chịumột số phận bi thảm

*Thân

bài:

1 Số phận oan nghiệt của Vũ Nương

- Tình duyên ngang trái

- Mòn mỏi đợi chờ, vất vả gian lao

- Cái chết thương tâm

- Nỗi oan cách trở

2 Vẻ đẹp của Vũ Nương

- Ngay từ đầu đã được giới thiệu “tính đã thùy mị nết na, lại thêm

tư dung tốt đẹp” Đây là một người con gái đẹp người đẹp nết

- Là người vợ đảm đang, biết giữ gìn khuôn phép, một lòng một dạchung thủy với chồng (thể hiện trong những cư xử khéo léo để giađình không lâm vào cảnh thất hòa, dù người chống có tính đa nghi;trong lời dặn dò ân tình, đằm thắm khi tiễn chồng đi lính; chungthủy chờ chồng “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”)

- Là một người mẹ hiền, dâu thảo: vừa một mình nuôi dạy con thơvừa làm tròn phận sự của một nàng dâu (chăm sóc, thuốc thang khi

mẹ chồng đau ốm, ma chay chu tất khi bà qua đời) (Dẫn chứng,phân tích)

- Người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến

3 Đánh giá:

-Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ cất lên tiếng nói thông cảm,bênh vực người phụ nữ đồng thời phản ánh, tố cáo xã hội phongkiến bất công, vô nhân đạo

- Liên hệ so sánh với những tác phẩm viết về nỗi bất hạnh củangười phụ nữ và ca ngợi vẻ đẹp của họ

*Kết bài - Vũ Nương là người phụ nữ mang vẻ đẹp mẫu mực của người phụ

nữ dưới xã hội phong kiến Lẽ ra nàng phải được hưởng hạnh phúctrọn vẹn nhưng lại phải chết oan uổng, đau đớn Phẩm chất và sốphận bi thảm của nàng gợi phẩm chất tốt đẹp và số phận bi thảmcủa người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa

- Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ cất lên tiếng nói thông cảm,bênh vực người phụ nữ đồng thời phản ánh, tố cáo xã hội phong

Trang 11

kiến bất công, vô nhân đạo

-Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật dựngtruyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình

Khi học sinh đã biết cách làm dàn ý, tôi yêu cầu học sinh viết phần mở bài

và kết bài trên lớp Nếu còn thời gian tôi yêu cầu học sinh viết từng đoạn phầnthân bài Tôi yêu cầu học sinh về nhà hoàn chỉnh thành một bài làm và nộp lạivào buổi học gần nhất

- Trước mỗi buổi dạy tôi đều kiểm tra việc học bài và làm bài về nhà củahọc sinh Khi dạy trên lớp cả phần văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn tôi đềugiảng kĩ các bài học Trong mỗi phần kiến thức và cuối mỗi bài tôi đều sử dụng

sơ đồ tư duy để khái quát lại kiến thức học sinh cần phải nắm vững của bài học.Yêu cầu cụ thẻ việc học bài và làm bài về nhà của học sinh

3.5 Trong phân phối chương trình Ngữ văn lớp 9 mỗi học kì có 6 tiết

kiểm tra định kì vì vậy việc kiểm tra đánh giá học sinh cần thực hiện kịp thờisau mỗi bài kiểm tra Trong mỗi tiết kiểm tra 45 phút hoặc 90 phút tôi đều soạnrất cẩn thận hệ thống các câu hỏi theo ma trận có các câu hỏi dễ và khó để phânloại học sinh, xác lập ở các cấp độ tư duy khác nhau ( như nhận biết, thông hiểu,vận dụng thấp hay cao, phân tích, sáng tạo ) tùy vào đối tượng để có đánh giáphù hợp và đảm bảo tính toàn diện và công bằng Trước mỗi tiết kiểm tra trongmỗi buổi học phụ đạo tại trường tôi thường ôn rất kĩ tất cả các kiến thức họcsinh đã được học Sau mỗi bài kiểm tra tôi chấm chữa kịp thời và làm ngay phântích chất lượng để nắm tình hình học tập của học sinh Trong mỗi bài kiểm tratôi nhận xét cụ thể vào bài làm của học sinh từng vấn đề từ cách trình bày, chính

tả, cách hành văn đến những vấn đề mà học sinh còn làm sai Trong tiết trả bàitrên lớp tôi đọc lại những bài tốt và những bài mắc nhiều lỡi sai giống nhau, yêucầu học sinh sửa Với những học sinh làm bài chưa tốt tôi thường yêu cầu họcsinh làm lại những câu mà giáo viên đã chữa và tôi chấm lại Hầu như tất cả cácbài học sinh làm lại đều đáp ứng yêu cầu và rất ít em bị mắc lỗi ở lần sau Tuyvậy cũng có trường hợp học sinh sau khi giáo viên đã chữa bài nhưng vẫn khônghiểu và không vận dụng được Những trường hợp này tôi thường dành mộtkhoảng thời gian nhất định trong các buổi phụ đạo để hướng dẫn lại kiến thức,cách làm Với những học sinh có sự tiến bộ tôi thường động viên khen ngợitrước lớp Qua mỗi lần kiểm tra đánh giá cần xem xét sự tiến bộ của các em, trântrọng sự tiến bộ đó dù là rất nhỏ Đặc biệt, chú trọng việc động viên khích lệ quamỗi lần các em được kiểm tra đánh giá

Sau mỗi bài kiểm tra theo phân phối chương trình hay kiểm tra giai đoạnkhi nhận kết quả chấm chéo theo miền, huyện tôi tiến hành phân tích chất lượng

cụ thể từng học sinh ( Bảng theo dõi và phân tích chất lượng, 1 bài phân tích

chất lượng trong bản phụ lục), trả bài cho học sinh để học sinh tự đối chiếu với

đáp án tôi cung cấp Với những học sinh còn làm sai kiến thưc kĩ năng tôi yêucầu làm lại các bài sai, tôi hướng dẫn lại cẩn thận để học sinh có cách làm đúng

Và không mắc phải những sai lầm tương tự ở các bài kiểm tra tới Trong sổchấm trả tôi nhận xét cụ thể từng nhóm đối tượng học sinh theo dõi sự tiến bộcủa các em Tôi phân tích những kiến thức học sinh đã đạt được và những kiến

Trang 12

thức mà học sinh vẫn còn làm sai để đưa ra hướng khắc phục Sau khi có kết quảkiểm tra ở lớp hay kiểm tra giai đoạn với những học sinh chậm tiển bộ tôithường liên lạc với gia đình để gia đình nắm bắt tình hình hiện tại của con em

4 Công tác phụ đạo học sinh yếu kém để nâng dần chất lượng đại trà cũng là

một phần rất quan trọng

Để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn trong công tác phụ đạo họcsinh yếu kém thì ngay từ đầu năm học giáo viên phải xây dựng được kế hoạchphụ đạo cụ thể theo giai đoạn, từng tháng; phải chỉ rõ được nội dung kiến thức

mà giáo viên cần truyền thụ cho học sinh và học sinh sẽ tiếp nhận kiến thức đó.Sau đó dựa vào kế hoạch phụ đạo giáo viên xây dựng giáo án cụ thể chi tiết từngbuổi dạy có sự phối hợp ba phân môn Văn, Tiếng Việt, tập làm văn Đối vớinhững học sinh hạn chế trong môn Ngữ văn các em thường không có phươngpháp học bài ở nhà hiệu quả vì vậy giáo viên trong mỗi buổi phụ đạo cần cungcấp cụ thể chính xác các kiến thức trọng tâm của chương trình Hướng dẫn, yêucầu các em ghi nhớ các kiến thức; thông thường sau khi dạy bài mới chính khóatrên lớp trong các buổi phụ đạo tôi thường kiểm tra phần kiến thức mà học sinh

đã được học : Đối với phân môn Tiếng Việt tôi luôn yêu cầu học sinh phải thuộcghi nhớ trong sách giáo khoa chính vì vậy tôi thường kiểm tra kĩ phần kiến thứcnày sau đó đưa ra các bài tập dễ hướng dẫn học sinh làm và yêu cầu học sinh tựlàm Với những học sinh quá yếu không thể làm được bài, tôi thường hướng dẫnlại hai hoặc ba lần để học sinh hình thành kĩ năng làm bài Đối với phân mônVăn học trong các buổi phụ đạo tôi luôn kiểm tra phần nắm vững kiến thức phântích giảng văn, học sinh phải trình bày được cách hiểu về nội dung và nghệ thuậtcảu tác phẩm, các kiến thức đó tôi thường không yêu cầu cao chỉ cần học sinhhiểu kiến thức cơ bản của bài Trong quá trình giảng dạy cũng có những họcsinh không chịu học bài về nhà nên không trình bày được vì vậy với những họcsinh này tôi nhắc nhở yêu cầu viết bản kiểm điểm thông báo gia đình Sau khithông báo gia đình tôi nhận thấy hầu hết học sinh đều có sự thay đổi; tuy vậycũng có một vài gia đình không quan tâm con cái, phó mặc con cái cho nhàtrường thì kết quả không thay đổi Với những học sinh lười học trong mỗi buổiphụ đạo tôi thường giành thời gian khoảng 30 phút hướng dẫn lại kiến thức cơbản nhất của bài sau đó cho học sinh tự ngồi học lại và tôi kiểm tra

Trong mỗi buổi phụ đạo tôi thường dạy học theo chuyên đề, ví dụ chuyên

đề Tiếng Việt : Từ loại trong Tiếng Việt; chuyên đề Văn học như : Hình ảnhngười lính trong văn học cách mạng, chuyên đề Tập làm văn như : Phân tíchnhân vật văn học Thông thường khi dạy phụ đạo tôi tích hợp hai hoặc ba phân

môn Ví dụ khi dạy văn bản : “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn

Dữ trước hết tôi củng cố kiến thức về nhân vật cho học sinh hiểu sâu nội dungbài Tôi thường dành một khoảng thời gian để hỏi lại học sinh về kiến thứcgiảng văn, nhắc lại đặc điểm nhân vật như những vẻ đẹp của Vũ Nương, nhữngnỗi bất hạnh của Vũ Nương Sau đó tôi giảng lại kiến thức để học sinh hiểu cụthể hơn, tôi kiểm tra lại việc học bài của học sinh qua một số câu hỏi trong phầnđọc hiểu văn bản Tôi không kiểm tra toàn bộ nội dung của bài mình đã dạy màtôi kiểm tra theo phần kiến thức như : Em hãy trình bày hình ảnh nhân vật Vũ

Trang 13

Nương trước khi lấy chồng được tác giả giới thiệu như thế nào?, hình ảnh VũNương sau khi lấy chồng hiện lên như thế nào? Với các câu hỏi ngắn xoayquanh nội dung bài đã học nên học sinh trả lời câu hỏi rất nhanh Sau khi kiểmtra kiến thức học bài của học sinh tôi thường yêu cầu học sinh viết lại phần kiếnthức trong một đoạn văn theo cách hiểu của mình trong thời gian khoảng 15 đến

25 phút Yêu cầu 1 số học sinh đọc bài viết và tôi sửa cụ thể từng bài Theo tôinghĩ khi hướng dẫn học sinh viết từng đoạn ngắn sẽ hình thành ở học sinh kĩnăng xây dựng đoạn và đặc biệt học sinh có lực học hạn chế môn văn nếu yêucầu các em viết luôn thành một bài văn hầu như các em đều không viết được.Khi học sinh đã có kĩ năng viết đoạn văn tôi hướng dẫn học sinh cách viết mởbài thường là theo cách trực tiếp, cách viết phần đánh giá và kết bài Cáchhướng dẫn này thường mất nhiều thời gian nhưng thu lại kết quả tốt vì học sinhkhông chỉ nội dung nghệ thuật của tác phẩm mà còn biết vận dụng kiến thức vàolàm bài tập làm văn nghị luận nhân vật văn học Khi đã hướng dẫn cẩn thận mộtvài buổi đầu thì học sinh sẽ có kĩ năng làm bài, học bài hiệu quả Phần tiếp theothường là cuối buổi học tôi cung cấp dàn ý đại cương cho học sinh để các em vềnhà hoàn chỉnh thành một bài làm Tôi yêu cầu học sinh làm và nộp bài vàongày hôm sau, tôi chấm và trả bài vào một buổi phụ đạo gần nhất

Với dạng bài nghị luận tư tưởng đạo lý và đời sống xã hội học sinh rấtkhó tư duy vì vốn sống của các em rất hạn chế nên các vấn đề mới hoặc có tínhthời sự học sinh viết không tốt như : vấn đề an toàn giao thông, ô nhiễm môitrường, tệ nạn xã hội, trò chơi điện tử……Để làm được dạng bài này ngoài việccung cấp và yêu cầu học sinh phải nhớ nắm vững phương pháp làm bài thì trongcác buổi dạy tôi phải cung cấp thêm cho học sinh tìm hiểu các vấn đề học sinh

sẽ viết thông qua các câu chuyện trong chương trình môn giáo dục công dân haythông qua bản tin thời sự để học sinh cập nhật và có được những sự nhìn nhậnđánh giá vấn đề một cách đúng đắn Thông thường khi dạy học sinh dạng bàinày nếu giáo viên nóng vội yêu cầu học sinh phải hiểu và phải vận dụng làm tốtluôn thì rất khó mà giáo viên phải từ từ có khi mất 5 đến 6 buổi học sinh mớihình thành kĩ năng làm bài nhưng nội dung chưa chắc đã sâu sắc Để có tài liệutham khảo cho học sinh đọc và vận dụng tôi thường sử dụng tài liệu của nhàxuất bản Giáo dục và tải một số bài viết hay trên mạng cho học sinh đọc và cóthể vận dụng

Với phần Tiếng Việt trong mỗi buổi phụ đạo tôi thường kiểm tra kĩ phần

lý thuyết xem học sinh có học đúng khái niệm không Nếu học sinh chưa nhớ tôigiảng lại và yêu cầu học sinh thuộc khái niệm Vì có hiểu đúng kiến thức phầnTiếng Việt mới có thể làm bài đúng được Các câu hỏi tôi thường lồng ghépcùng Văn học và Tập làm văn Tôi lấy ngay những câu đoạn trong các tác phẩmvăn học yêu cầu học sinh làm bài tập Tôi đánh máy các bài tập Tiếng Việt từ dễđến khó và phát cho học sinh yêu cầu photo để làm bài Tôi thương yêu càu họcsinh lên bảng làm bài để các bạn nhận xét bài làm Chính việc chữa bài như thếnày học sinh dể nhận ra được cái sai, cái đúng qua đó tự sửa chữa Mỗi buổi phụđạo tôi lồng ghép có thể là Văn-Tiếng Việt, Tiếng Việt-Tập làm văn để học sinhkhông có sự nhàm chán trong tiếp cận kiến thức

Trang 14

Tóm lại, nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn cũng như các môn họckhác là cả một quá trình thực hiện bền bỉ lâu dài không thể nóng vội, phải thựchiện cả từ hai phía giáo viên và học sinh Trong đó người giáo viên đóng vai tròquan trọng chủ động đưa kiến thức đến với học sinh , tìm ra cách dạy học hiệuquả nhằm lôi cuốn người học vào quá trình dạy học Với việc làm này đòi hỏigiáo viên phải thực hiện tốt tất cả các khâu: Từ tìm hiểu đối tượng, phân loại đốitượng, soạn bài giảng, tổ chức dạy học đến kiểm tra đánh giá, đúc rút kinhnghiệm và bồi dưỡng, phụ đạo Giáo viên luôn phải chủ động và kết hợp tốt cácbiện pháp để tác động đến học sinh có hiệu quả nhất Dạy văn là rèn người, nêngiáo viên phải có sự uốn nắn học sinh từ nét chữ đến kiến thức môn học Hìnhthành ở học sinh niềm đam mê yêu thích với văn chương, có sự hứng thú khitiếp cận tác phẩm văn học Có được như thế thì chất lượng môn Ngữ văn mớiđược nâng lên.

D – HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Theo tôi khi giáo viên có sự quan tâm, có phương pháp giảng dạy, tácđộng cụ thể vào từng học sinh; giáo viên hướng dẫn học sinh cách học từngdạng bài thì kết quả mang lại là rất khả quan Qua hai năm áp dụng sáng kiếnkinh nghiệm này tại trường Trung học cơ sở nam Mỹ tôi thấy chất lượng giảngdạy bộ môn Ngữ văn lớp 9 do tôi trực tiếp đứng lớp đã có những tiến bộ rõ rệt

Trong năm học 2012 – 2013 lớp 9B tôi dạy có 23 học sinh khi khảo sátđầu năm có 43.48% học sinh điểm Trung bình, 34.78% học sinh điểm dướitrung bình; kết thúc học kì I số học sinh dưới trung bình không còn, số học sinhtrung bình vươn lên khá là 3 học sinh Kết thúc học kì II có 4 học sinh tổng kếtđiểm loại Giỏi chiếm 17.39%, loại Khá có 13 học sinh chiếm 56.52%, loại trungbình 6 học sinh chiếm 26.08% Tỷ lệ thi vào THPT đạt kết quả như sau: 23 họcsinh đăng kí dự thi thì 21 học sinh đỗ, 2 học sinh trượt; điểm trung bình cộngcủa 23 học sinh là 7.1 điểm, trong đó không có điểm dưới 5, có 20 điểm từ 6.5

và có 1 học sinh thi đỗ vào Trung học chuyên Lê Hồng Phong môn Ngữ Văn

Trong năm học 2013 – 2014 lớp 9A tôi đứng lớp có 31 học sinh khi khảosát đầu năm có 48.39% điểm dưới Trung bình, có 51.61% điểm trên Trung bình;hầu hết điểm dưới trung bình là điểm 3; 4 khiến tôi rất lo lắng Tuy vậy khi ápdụng các phương pháp nêu trên kết quả đã có sự tiến bộ rõ rệt kết thúc học kì I

số học sinh dưới trung bình chỉ còn 6/31=19.35%, số học sinh vươn lên trungbình là 21/31=67.74%, số học sinh Trung bình vươn lên khá là 4/31=12.90%.Kết thúc học kì II số học sinh dưới Trung bình là 2/31=6.45%, số học sinhTrung bình là 23/31=74.19%, số học sinh vươn lên khá là 6/31=19.35% Tỷ

trọng giao chất lượng đầu năm học cho tôi là 7.53% tỷ trọng “

(%Khá+Giỏi)*2+%Trung Bình/3 ” Kết thúc học kì I chất lượng của tôi là

44.75% tỷ trọng, kết thúc học kì II là 43.0% tỷ trọng

Trang 15

PHẦN III - KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

A-KẾT LUẬN:

Qua quá trình áp dụng sáng kiến trong công tác giảng dạy tại trường Trung học cơ sở nam Mỹ năm học 2012-2013, 2013-2014 tôi nhận thấy học sinh

có sự hào hứng trong học tập và kết quả học tập có sự tiến bộ rõ rệt hơn so với năm học 2011-2012 Khi giáo viên xây dựng được các biện pháp tác động đến đối tượng học sinh và hướng dẫn việc học bài và làm bài ở nhà của các em thì chất lượng bộ môn Ngữ văn nói chung và bộ môn Ngữ văn lớp 9 nói riêng sẽ có

sự chuyển biến

B-KIẾN NGHỊ:

- Trước hết phụ huynh phải có sự quan tâm hơn tới học tập của con em

Vì trong quá trình giáo dục gia đình có một vai trò vô cùng quan trọng Phụ huynh phải thường xuyên có sự liên hệ với giáo viên để nắm bắt kịp thời những hạn chế của con em để có biện pháp tác động kịp thời Việc phối kết hợp gia đình nhà trường là móc xích chặt chẽ để quá trình giáo dục đạt kết quả tốt

- Đối với các nhà trường tiếp tục đổi mới trong kiểm tra đánh giá để phản ánh đúng thực trạng học tập của học sinh và để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục

Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi được đúc rút từ chính thực tế dạy học và được thực hiện từ năm học 2012-2013 và triển khai rút kinh nghiệm trong năm học 2013-2014 Vì là sáng kiến kinh nghiệm của cá nhân nên còn nhiều hạn chế, thiếu xót rất mong sự đóng ghóp ý kiến của hội đồng khoa học nhà trường, của nghành và của các đồng nghiệp Tôi xin chân trọng cảm ơn

TÁC GIẢ

(Ký và ghi rõ họ tên)

TRƯỜNG THCS NAM MỸ

(Xác nhận, đánh giá, xếp loại)

Ngày đăng: 06/08/2015, 23:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CÁC MÔN NGỮ VĂN 9B - SKKN Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9
9 B (Trang 18)
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CÁC MÔN NGỮ VĂN 9A - SKKN Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9
9 A (Trang 19)
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA CÁC GIAI ĐOẠN LỚP 9A - SKKN Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9
9 A (Trang 20)
BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA CÁC GIAI ĐOẠN I, II LỚP 9A - SKKN Một số biện pháp tác động đến học sinh và hướng dẫn học sinh học bài để nâng dần chất lượng đại trà môn Ngữ văn lớp 9
9 A (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w