1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

65 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 603,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCMLUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO

CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh Mã ngành : 5.02.05

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Hội

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA

1.1 VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LÚA GẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH

1.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Cần Thơ trong Đồng bằng sông Cửu Long 3

1.1.5 Vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cần Thơ 7

1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ 7

1.2.1 Sơ lược tình hình sản xuất lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long 7

1.2.2 Tình hình nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ trong những năm qua 9

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Cần Thơ 12

1.2.3.1 Sự biến động về diện tích và sản lượng 12

1.2.3.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn 14

1.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG

1.3.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo 15

1.3.2 Thị trường xuất khẩu gạo của Cần Thơ 16

1.3.4 Hệ thống lưu thông phân phối gạo xuất khẩu 17

1.3.5 Đầu mối xuất khẩu gạo

Tóm tắt chương 1

17

18

Trang 3

CHƯƠNG 2 KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU

2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA GẠO CHẤT

2.1.2 Hiện trạng sử dụng giống lúa trong những năm qua và hiện tại 20 2.1.3 Thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch 21

2.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH XUẤT KHẨU GẠO

2.2.1 Phân tích môi trường xuất khẩu gạo 23

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO KHẢ NĂNG

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và đầu tư vào vùng chuyên canh lúa

3.3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh lúa gạo xuất khẩu 38 3.3.1.2 Đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở vùng chuyên canh lúa gạo xuất

Trang 4

khẩu 41 3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng lúa trong khâu canh tác 42

3.3.3 Giải pháp về thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch 43 3.3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 44 3.3.5 Giải pháp các chính sách hỗ trợ cho người nông dân 45 3.3.6 Giải pháp phát triển thị trường trong nước 46 3.3.7 Giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu 46

3.4.3 Đối với ngành nông nghiệp của tỉnh 51

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, hơn 15 năm qua (1986 – 2002), nền kinh tế nước ta nói chung và nông nghiệp nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn Từ chỗ thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Thành tựu này không chỉ đảm bảo

an ninh lương thực mà còn góp phần tăng đáng kể nguồn thu ngoại tệ quốc gia và giữ vững sự ổn định chính trị, kinh tế xã hội đất nước

Tuy nhiên, sự phát triển của nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng những năm qua còn có nhiều bất cập, yếu kém như: việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, công nghệ sau thu hoạch còn lạc hậu Do vậy chất lượng sản phẩm hàng hoá chưa cao đã làm cho gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới Thêm vào đó là hệ thống thị trường tiêu thụ của ta còn hạn hẹp, phần lớn sản phẩm chỉ xuất sang các nước nghèo, đời sống kinh tế và mặt bằng dân trí thấp như các nước Đông nam Aù và châu Phi chứ chưa có gạo chất lượng cao xuất sang các nước giầu như Trung Đông, châu Âu…

Trước tình hình này, tìm những giải pháp hữu hiệu đồng thời phải phù hợp với mỗi địa phư là một yêu cầu cấp bách đối với tất cả các nhà quản lý Tỉnh Cần Thơ là một tỉnh có khối lượng gạo hàng hóa lớn lại là một trong những tỉnh trọng

điểm sản xuất lúa xuất khẩu của cả nước Do đo,ù tôi đã chọn đề tài “Nâng cao

khả năng cạnh tranh sản xuất và xuất khẩu lúa gạo chất lượng cao của tỉnh Cần Thơ từ nay đến năm 2010”, nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của tỉnh trong thời gian qua Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược dài hạn và đồng bộ để nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, tăng hiệu quả cho người nông dân sống bằng nghề sản xuất

lúa gạo góp phần vào công cuộc “xoá đói giảm nghèo” mà Đảng và Nhà nước ta

đang cùng toàn dân thực hiện

Trong quá trình thực hiện tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp mô tả; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích và tổng hợp Sử dụng các nguồn số liệu từ Sở Thương mại, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL và đặc biệt là ý kiến của những chuyên gia trong ngành

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Tìønh hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của tỉnh Cần Thơ chủ yếu từ năm 1998 đến 2002

Trang 6

Kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của tỉnh Cần Thơ những năm qua

Chương 2: Khả năng cạnh tranh sản xuất và xuất khẩu lúa gạo chất lượng cao của tỉnh Cần Thơ

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản xuất và

xuất khẩu lúa gạo chất lượng cao của tỉnh Cần Thơ từ nay đến năm 2010

Vì thời gian có hạn nên luận văn chỉ nêu được một số điểm chính của vấn đề, tôi rất mong nhận được những đóng góp của thầy, cô và bạn bè để bổ sung và hoàn chỉnh luận văn này được tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO

CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG NĂM QUA

1.1 VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LÚA GẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH

TẾ XÃ HỘI TỈNH CẦN THƠ

1.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Cần Thơ trong Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là châu thổ sông Mêkông bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ,

An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Diện tích tự nhiên gần 39.000km2 chiếm 12% diện tích cả nước Dân số theo thống kê năm 2001 là 16.519.400 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số cả nước Đây là một trong những vùng có tiềm năng về tài nguyên đất, nước, rừng ngập mặn, thủy hải sản

đa dạng và phong phú nhất Đông Nam Châu Á

Đồng bằng sông Cửu Long có bờ biển dài trên 700km, có hai con sông lớn là sông Tiền Giang và sông Hậu Giang Đây là vùng tiếp giáp với khu kinh tế trọng điểm phía Nam thành phố Hồ Chí Minh với hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ rộng lớn và thuận lợi

Cần Thơ là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Nam bộ ở vị trí trung tâm ĐBSCL, phía Bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang Với diện tích 2.986 km2 (Nguồn: Số liệu của Cục Thống kê năm 2002), Cần

Thơ chiếm 0,9% diện tích cả nước

Tỉnh có 9 đơn vị hành chính gồm:

+ Thành phố Cần Thơ là đô thị loại II được chính phủ xác định là trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa học – kỹ thuật của Đồng bằng sông Cửu Long

+ Thị xã Vị Thanh

+ 7 huyện: Thốt Nốt, ÔMôn, Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thủy

Tỉnh Cần Thơ có vị trí và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi:

Về đường bộ: là trung tâm các tuyến giao thông ở ĐBSCL

Trang 8

Quốc lộ 1 nối liền Thành phố Cần Thơ và Cà Mau đi qua Thị xã Sóc Trăng và Thị xã Bạc Liêu

Quốc lộ 91 nối liền cảng Cần Thơ, sân bay Trà nóc, khu công nghiệp Trà Nóc với Quốc lộ 1 đi Kiên Giang

Về đường thủy: Cần Thơ có cảng biển (cảng Cần Thơ) được công nhận là cảng Quốc Tế, có hệ thống kênh rạch chằng chịt, trong đó có 3 tuyến đường thủy quan trọng là kênh Cái Sắn, kênh Xà No và kênh Quản lộ thuộc huyện Phụng Hiệp

Về đường hàng không: Sân bay Trà Nóc đang được sửa chữa, cải tạo, xây dựng lại, có nhiều triển vọng trong việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, nối liền tỉnh Cần Thơ với các tỉnh khác kể cả trong nước và nước ngoài

Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mêkông, đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng Hệ thống sông ngòi nhỏ chằng chịt, nước ngọt quanh năm, rất thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống thủy lợi và cải tạo đất

Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng tháng 11 hàng năm

- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm

Sự phân chia này có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp

Về dân số, theo số liệu của Cục thống kê năm 2002, dân số của tỉnh là 1.878.226 người (trong đó 956.062 là nữ, chiếm 50,91%) Dân cư nông thôn là 1.417.722 người chiếm 78,72% Mật độ dân số trung bình 629 người /km2 Lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 54,18% Cơ cấu lao động tham gia các ngành kinh tế bao gồm nông nghiệp 80,06%, công nghiệp 8,38 %, xây dựng và dịch vụ 14,56%

Tỉnh Cần Thơ có trường Đại học Cần Thơ và Viện nghiên cứu Lúa ĐBSCL là hai trung tâm văn hóa lớn nhất của vùng ĐBSCL và đặc biệt Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL hiện là một Viện nghiên cứu có tầm cỡ Quốc tế Đây là một lợi thế của tỉnh trong công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh nói riêng và cho cả vùng nói chung

Nhờ có cơ sở hạ tầng tương đối tốt bao gồm hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, dịch vụ, khu công nghiệp, lực lượng lao động… Cần Thơ đã hội tụ đầy đủ tiềm năng kinh tế, khoa học kỹ thuật và thương mại lớn ở vị

Trang 9

trí trung tâm, và có lẽ nhờ đó mà từ trước đến nay nó được mệnh danh là “Tây Đô”, thủ phủ của các tỉnh miền Tây Nam bộ

1.1.2 Giải quyết vấn đề lương thực

Trong mọi thời đại, lương thực bao giờ cũng là sản phẩm thiết yếu, là nhu cầu cơ bản của con người, được chú trọng hàng đầu Từ buổi bình minh của loài người đến nay, lương thực luôn là vấn đề cấp bách nhất Để có cái ăn, tổ tiên loài người đã phải săn bắn hái lượm, sau đó biết thuần hóa những sản phẩm thiên nhiên từ cây và con bằng những công cụ thô sơ và dần dần đã biết sản xuất lương thực, thực phẩm bằng cách trồng trọt và chăn nuôi Như vậy, lương thực chính là những sản phẩm đầu tiên của con người làm ra để nuôi sống họ Ngày nay, ngũ cốc được coi là nguồn lương thực chính của các quốc gia trên thế giới, trong đó lúa gạo và lúa mì là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng cho con người, còn các loại khác như ngô, kê, lúa mạch chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi gia súc và công nghiệp chế biến bia, rượu, chế biến dược phẩm…Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của liên hiệp quốc (FAO) sản lượng lúa gạo hiện nay có thể duy trì sự sống cho hơn 53% dân số thế giới, số còn lại được đảm bảo bằng lúa mì và các loại lương thực khác Điều này cho thấy vị trí của lúa gạïo trong cơ cấu lương thực thế giới và trong đời sống kinh tế quốc tế là rất quan trọng

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tiêu dùng lúa gạo là chính hay nói cách khác lúa gạo là nguồn lương thực cơ bản của nước ta Thấy rõ tầm quan trọng của lương thực đối với con người, nhà nước đã có những chiến lược đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp đồng thời vấn đề an ninh lương thực luôn được Đảng và chính phủ quan tâm Chính vì vậy, từ những thập niên 90, chúng ta đã đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo Từ một nước phải nhập khẩu gạo do hậu quả của chính sách thực dân xâm lược, chỉ sau một thời gian ngắn sau giải phóng miền Nam, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới

ĐBSCL nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng đã đạt được mục tiêu là giải quyết an ninh lương thực của vùng và địa phương Thành công trong chương trình mang tính quốc gia này phải kể đến những đóng góp to lớn của lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là hoạt động sản xuất lúa gạo của tỉnh nhà

1.1.3 Giải quyết việc làm

Việt Nam có số dân gần 80 triệu người trong đó khu vực nông thôn chiếm 80% và trên 70% lực lượng lao động xã hội hầu hết tập trung vào nghề trồng lúa

Trang 10

Những năm trước đây, chúng ta phải đối mặt với một thực trạng đó là đời sống của người nông dân khó khăn, thu nhập từ nông nghiệp thấp, không có việc làm… điều đó đã góp phần làm tăng tỷ thất nghiệp của Việt Nam lên tới đỉnh điểm là 7,4% vào năm 1999 Chính vì vậy, tìm một lối đi cho người nông dân, đồng thời hạn chế sự di dân từ nông thôn ra thành thị cần phải có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều và đạt được kết quả ngay mà cần phải có thời gian Hiện nay, chính phủ đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa như cho nông dân vay vốn dưới mọi hình thức bao gồm đầu tư tiền mặt, phân bón, máy móc, hoặc sử dụng các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao hơn … Kết quả là đã giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 5,85% (năm 2002), đã giải quyết được phần lớn công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn và tăng thu nhập trung bình của người lao động

Cần Thơ là một tỉnh nông nghiệp, để giải quyết việc làm cho số đông người lao động, hiện nay tỉnh đang cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên nền tảng là cây lúa Những vùng không có điều kiện thay đổi cơ cấu cây trồng thì tăng vụ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho số đông người sống bằng nghề nông Bằng cách đó, kết quả là thu nhập bình quân đầu người sản xuất nông nghiệp tăng từ 1,96 triệu đồng/người/ năm năm 1996 lên 2,66 triệu đồng /người/năm năm 1998 và năm 2002 khoảng 4,0 triệu/người/năm; giảm tỷ lệ số hộ nghèo xuống còn 7%

1.1.4 Hình thành nhiều hợp tác xã

Phát triển sản xuất lúa gạo trong cơ chế thị trường như hiện nay, người nông dân đã chủ động hơn trong việc tìm cho mình một giải pháp hữu hiệu nào đó để tận dụng nguồn lực sản xuất hiện có cũng như đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Đầu tiên chỉ là những tổ hợp tác với quy mô nhỏ nhưng phần nào đã giải quyết được những khó khăn trước mắt như vốn sản xuất, thị trường đầu ra cho việc tiêu thụ sản phẩm… Thấy được nhận thức tiến bộ của nông dân, Đảng và Nhà nước đã khuyến khích phát triển những tổ hợp này thành các hợp tác xã (HTX) với quy mô hoạt động rộng hơn và đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Qua đó, ngày càng nhiều hộ nông dân gia nhập vào HTX Đối với xã hội, hoạt động của HTX còn góp phần giải quyết các tệ nạn xã hội, đồng thời thông qua tổ chức này để tuyên truyền những tư tưởng chính trị và nâng cao dân trí

Trang 11

1.1.5 Vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cần Thơ

Nếu như sản xuất lúa gạo phát huy được cả ba vai trò đã nêu trên thì chắc chắn tình hình kinh tế xã hội của bất kỳ một quốc gia nào đó cũng sẽ nhanh chóng được cải thiện Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu từ lúa gạo hàng năm đem lại một nguồn thu ngoại tệ đáng kể và đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong những năm gần đây, Việt Nam được biết đến như một trong số ít nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới Lượng gạo xuất khẩu tăng từ 1,48 triệu tấn năm 1990 đến 3,8 triệu tấn năm 1998 với kim ngạch xuất khẩu đạt 1.024 triệu USD; 3,55 triệu tấn năm 2001 với kim ngạch xuất khẩu đạt 625 triệu USD và 3,2 triệu tấn năm 2002 với kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực Ngoài ra phát triển sản xuất lúa gạo còn đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước như lợi tức từ các đơn vị kinh doanh, chế biến và kinh doanh lương thực, đồng thời tăng thu nhập cho người nông dân (tổng thu qua 12 năm xuất khẩu gạo là 7 tỷ USD)

Trong nhiều năm qua ĐBSCL đã đóng góp phần quan trọng đối với kinh tế của vùng và đặc biệt đối với an ninh lương thực của đất nước Hàng năm vùng đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng lương thực và 95% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước Không chỉ đảm bảo tốt vấn đề an ninh lương thực địa phương, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển; cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn ngày càng chuyển dịch theo hướng tích cực

Đối với Cần Thơ, ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế tỉnh nhà Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình là 10%, trong đó sản xuất và xuất khẩu lúa gạo đóng góp rất lớn

Ngoài những địa vị kinh tế xã hội trên, lúa gạo còn có ý nghĩa chính trị khá

sâu sắc Việt Nam nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng, gạo có thể coi là “ nông

phẩm chính trị” quan trọng phục vục đắc lực cho chính sách đối ngoại của chính

phủ Việt Nam từ những năm đất nước còn chiến tranh

1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ

1.2.1 Sơ lược tình hình sản xuất lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 4 triệu ha trong đó 3,8 triệu ha canh tác lúa (trong đó 1 triệu ha là vùng sản xuất lúa chất lượng cao), là vựa lúa lớn nhất của nước ta Với diện tích và sản lượng lúa lớn gấp khoảng ba lần diện tích và sản lượng lúa Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nên có ưu thế về

Trang 12

sản xuất và xuất khẩu gạo Những năm gần đây sản lượng lúa ở ĐBSCL luôn chiếm gần 50% tổng sản lượng lúa, trên 50% sản lượng lúa hàng hóa và 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước Năm 1976, diện tích lúa toàn vùng chỉ đạt 2.62 triệu ha, với sản lượng 4.665 triệu tấn, năng suất bình quân 20 tạ/ha; đến năm

1999 các chỉ tiêu tương ứng là 3.986 triệu ha, với sản lượng 16.281 triệu tấn và năng suất 40,8 tạ/ha Như vậy sản luợng tăng gấp 4 lần, diện tích tăng gấp 2 lần, năng suất tăng hơn gấp 2 lần) Năm 2002 đạt hơn 18 triệu tấn, với năng suất 44,4 tạ/ha (Bảng 1 )

Bảng 1 : Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Đồng bằng sông Cửu Long

Diện tích GT (triệu ha) 2.062 3.986 3.862 3.921 3.994

Sản lượng (triệu tấn) 4.665 16.280,8 15.757,20 16.443,27 18.778,99

(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm)

Nhận xét:

- Sự gia tăng sản lượng lúa trong vùng là do tăng về diện tích và năng suất, bên cạnh đó không thể không kể đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu giống, các giống lúa địa phương năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh kém được thay bằng các giống cao sản, ngắn ngày, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt hơn, khả năng thích ứng rộng, phẩm chất tốt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (xem phụ lục 1, 2)

- Thay đổi phương pháp gieo sạ từ sạ lan sang sạ hàng, ít tốn giống, giảm chi phí về thuốc bảo vệ thực vật do đó chất lượng lúa gạo được đảm bảo Những giống lúa ngắn ngày là tiền đề cho việc thâm canh tăng vụ từ 2 đến 3 vụ/năm, đảm bảo tránh được và không bị thất thu do lũ lụt, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với vùng ĐBSCL

Việc nông dân trong vùng sử dụng giống mới ngày càng nhiều và ứng dụng rộng rãi các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất lúa là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển và tăng diện tích sản xuất lúa làm tăng thu nhập cho nông dân/ một đơn vị diện tích Kết quả là tốc độ sản lượng lúa toàn vùng 25 năm qua tăng bình quân 11% trong khi đó tốc độ tăng bình quân cả nước 7% - 8% (trong thời gian tương ứng) Các tỉnh có năng suất lúa tăng mạnh nhất là An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng (xem phụ lục 3)

Trang 13

Mục tiêu phát triển chiến lược của Việt Nam vào năm 2010 là 40 triệu tấn

lương thực và 38 triệu tấn lúa gạo trong điều kiện diện tích canh tác lúa cả nước

chỉ duy trì ở khoảng 4 triệu ha (3,2 triệu ha ở ĐBSCL) Điều này đặt ra cho

ĐBSCL một nhiệm vụ mới, với sự phấn đấu cao hơn, làm sao vừa tiếp tục nâng

cao năng suất/ha, vừa tăng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân,

vốn rất nghèo như hiện nay

1.2.2 Tình hình nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ trong những năm qua

Cần Thơ là một trong những tỉnh sản xuất lương thực lớn của ĐBSCL, và

cũng là tỉnh có số lao động nông thôn cao (75,48%) Thực hiện mục tiêu chuyển

đổi cơ cấu kinh tế theo hướng Công Nghiêïp Hóa – Hiêïn Đại Hóa mà Đảng và nhà

nước đã đề ra, cơ cấu kinh tế của Tỉnh đã và đang từng bước chuyển dịch theo

hướng giảm tỷ trọng trong nông nghiệp (nông nghiệp chiếm khoảng 27,2%) tăng

tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ (cơ cấu kinh tế năm 2001 là 29,74% - 32,19% -

38,07%; cơ cấu kinh tế năm 2002 là 28,59% - 31,92% - 39,49%) Mặc dù giảm tỷ

trọng nông nghiệp nhưng phải tăng trị giá cả về kinh tế lẫn xã hội Trên cơ sở đó

Cần Thơ đã đạt được một số kết quả như sau:

• Sản xuất nông nghiệp

Đất nông nghiệp chiếm 85% tổng diện tích đất được khai thác và sử dụng

Trong đó, diện tích gieo trồng các loại cây tăng không nhiều qua mỗi năm, số

liệu được nghi nhận ở bảng 2 dưới đây:

Bảng 2 : Diện tích và sản lượng của các loại cây trồng của tỉnh Cần Thơ

từ năm 2000 –2002

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn) Lúa 413.368 1.882.869 441.172 1.954.390 456.599 2.216.219

Năm 2002, với tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm là 456.599 ha (chiếm

trên 85% tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh), sản lượng trung bình đạt 4,5 tấn/ha

Trang 14

và đạt 2.216.219 tấn/ năm đã góp phần chiếm tỷ trọng 83% giá trị sản xuất ngành trồng trọt và khoảng 70% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây do thu nhập từ cây lúa không cao, nông dân đã chuyển sang trồng cây màu như cây bắp, cây rau đậu, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả

do vậy diện tích gieo trồng những loại cây này có xu hướng tăng hơn qua mỗi năm

Như đã nêu, với tình hình sử dụng đất và năng suất đạt được như trên, mỗi năm giá trị sản xuất nông nghiệp đem lại từ trồng trọt là rất cao

Bảng 3 : Giá trị sản xuất nông nghiệp

Đơn vị tính: triệu đồng Thành phần sản xuất

Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ

(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)

Từ số liệu bảng 3 cho thấy giá trị ngành trồng trọt chiếm đa số và giữ vai trò chủ đạo trong thành phần sản xuất của ngành nông nghiệp Giá trị sản xuất ngành trồng trọt có tăng nhưng không đáng kể từ năm 2000 đến năm 2002 Một trong những nguyên nhân là do năm 2000 và 2001 giá trị xuất khẩu của các nông sản xuống thấp trên địa bàn cả nước

• Công tác khuyến nông và hợp tác xã

Trong những năm qua, công tác khuyến nông của tỉnh hoạt động khá mạnh Các phương thức hoạt động và các hình thức khuyến nông chủ yếu là:

- Tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cán bộ cơ sở, nông dân bao gồm kỹ thuật nhân giống và sản xuất giống lúa mới, phòng trừ sâu bệnh và công tác bảo quản sau thu hoạch

- Xây dựng các mô hình trình diễn ở tất cả các huyện

- Thành lập câu lạc bộ khuyến nông …

Ngoài công tác khuyến nông, hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh cũng đang được khơi dậy Như chúng ta đã biết, trước đây nước ta cũng đã có tổ chức hợp tác xã trong nông nghiệp (HTXNN) Nhưng HTXNN những năm đó không phải là tự nguyện của nông dân mà do bị thúc ép, áp đặt của nhà nước Do

Trang 15

vậy đã làm cho sản xuất bị đình trệ, đời sống nông dân ngày càng khó khăn Người nông dân lao động trên đồng ruộng của họ nhưng không phải theo tinh

thần cần cù “một nắng hai sương” vốn có của họ, mà họ chỉ làm theo mệnh lệnh

của chủ nhiệm HTXNN, mà vị chủ nhiệm này không phải do họ thật sự dân chủ bầu ra

Những năm gần đây thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp, số lượng hợp tác xã nông nghiệp

ở tỉnh Cần Thơ được xây dựng và phát triển nhanh chóng Các hợp tác xã này được thành lập, trên cơ sở tự nguyện từ tổ đoàn kết sản xuất, từ câu lạc bộ khuyến nông, tổ hợp tác xã Chính vì vậy, việc thành lập đều phù hợp với luật hợp tác xã theo nghị định mới của Chính phủ, có điều lệ hợp tác xã, có sự bầu chọn dân chủ, có phương án kinh doanh phục vụ cho xã viên và nông dân quanh vùng, hoạt động vì nhiều mục đích như cung cấp tín dụng, hỗ trợ sản xuất Đây thực sự là mô hình tập thể làm ăn có hiệu quả Con số về số lượng HTX được phản ánh qua bảng 4

Bảng 4: Tình hình xây dựng HTX Nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ qua các năm

Vốn điều lệ 1000đ 996.139 3.370.000 3.140.937 7.868.264 8.219.764

(Nguồn: Sở nông nghiệp và PTNT Cần Thơ)

Nhận xét: Từ năm 1996, sau khi luật HTX được Quốc hội thông qua và bổ sung sửa đổi liên tục cho đến nay, số HTX được thành lập liên tục tăng nhanh ở tất cả các tỉnh trên cả nước Riêng đối với Cần Thơ, qua số liệu ở bảng 6, nếu như năm 1997 cả tỉnh chỉ có 12 HTX với diện tích đất sử dụng là 1.491 ha, thì đến năm 1999 những chỉ số này tăng nhanh, lên đến 85 HTX với diện tích 5.198 ha và năm 2002 là 118 HTX với diện tích là 8.219,764 ha Số HTX được thành lập ngày càng tăng, và phải chăng lợi ích đem lại từ tổ hợp này thực sự đang được phát huy và người nông dân đã chấp nhận mô hình mới có hiệu quả này Tuy nhiên, trong tổng số HTX được thành lập đến năm 2002 mới chỉ có 27 HTX hoạt động được đánh giá loại khá (chiếm 25%), 49 HTX hoạt động trung bình (chiếm 46%), còn lại là yếu hoặc chưa được xếp loại vì mới bắt đầu đi vào hoạt động

Trang 16

Bên cạnh các HTXNN, toàn tỉnh Cần Thơ hiện nay còn có 5.979 tổ đoàn kết tương trợ sản xuất, 342 câu lạc bộ khuyến nông, 46 chi hội làm vườn Hầu hết các tổ chức có hình thức hợp tác xã này đã đáp ứng được nhu cầu của người nông dân trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kể cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản…Trong đó nổi bật là các hoạt động xây dựng hệ thống thuỷ lợi nội đồng, tưới tiêu, giao thông nông thôn

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Cần Thơ

1.2.3.1 Sự biến động về diện tích và sản lượng

Nhiều thập niên trước đây, cùng với ĐBSCL việc tăng diện tích đất làm 2 vụ lúa trong một năm quả là khó hình dung, nhưng từ sau ngày miền Nam giải phóng đến nay những thành tựu phát triển nông nghiệp tỉnh Cần Thơ đạt được rất đáng tự hào Nếu như năm 1976, Cần Thơ chỉ có thể làm một vụ lúa trong năm và sản lượng chỉ đạt hơn nửa triệu tấn, thì đến năm 1990 cơ cấu diện tích tăng từ 2 đến 3 vụ lúa trong năm Đồng thời sản lượng đạt được cũng liên tục được nâng cao hơn qua mỗi năm như số liệu dẫn ra trong bảng 5

Bảng 5 : Sản lượng lương thực cả năm theo vụ qua các năm

Đơn vị tính: tấn

Chia ra

Mùa Đông xuân Hè Thu Thu Đông

613.215 667.953 675.193 663.964 712.254

309.207 378.040 178.550 217.630 352.730

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)

Nhận xét:

Qua số liệu bảng trên cho thấy: trong khoảng thời gian 5 năm (1998 – 2002) sản lượng lúa có xu hướng tăng đều và khá ổn định Năm 2002 đã thực sự lập kỷ lục với mức tăng trên 2,2 triệu tấn so với năm 1999, mặc dù năm 1999 đã đạt trên 2 triệu tấn so với năm 1998 (trong thời kỳ này chỉ có 3 tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang có sản lượng vượt con số 2 triệu tấn) Như vậy, tốc độ tăng trung bình hàng năm về sản lượng lúa đạt 3,8% Nếu so với các thời kỳ trước trong lịch sử, mức tăng trưởng này là thành tích đáng khích lệ

Trang 17

Sự biến động về diện tích lúa không lớn qua các năm, từ năm 1998 đến năm 2002, diện tích lúa chỉ tăng thêm 2.441 ha Bên cạnh đó, cơ cấu về diện tích gieo trồng lúa hàng năm đã có sự thay đổi rõ rệt từ 2 vụ lúa tăng lên 3 vụ trong năm, thậm chí có những nơi nông dân đã sản xuất 2 năm 7 vụ Từ năm 1999 trở đi diện tích lúa mùa đã hầu như không còn nữa Diện tích lúa vụ 3 tuy có giảm ở năm 2000 (điều này là do lúa bị rớt giá, nông dân không muốn đầu tư cho sản xuất lúa vụ 3) nhưng sang năm 2001 và 2002 diện tích lúa vụ 3 lại tăng lên, góp phần đáng kể vào sản lượng lương thực của tỉnh, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi trong khi các ngành nghề phụ ở nông thôn chưa được phát triển Tình hình biến động về diện tích tròng lúa của tỉnh được ghi nhận trong bảng 6

Bảng 6 : Diện tích gieo trồng lúa cả năm theo vụ của tỉnh Cần Thơ

Đơn vị tính: ha

Chia ra

Mùa Đông xuân Hè Thu Thu Đông

(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)

Nhận xét: Qua số liệu bảng 6 cho thấy, nông dân Cần Thơ từ năm 1999 đã hoàn toàn không sản xuất lúa mùa trên đồng ruộng của mình nữa, thay vào đó là sử dụng các giống cao sản ngắn ngày để gieo trồng cho ba vụ Đông xuân và Hè thu là 2 vụ sản xuất chính, diện tích và sản lượng ở 2 vụ này luôn tăng đều và khá ổn định trong các năm

1.2.3.2 Hệ thống canh tác

Được chia theo các vùng sau:

Khu vực ven sông Hậu: chủ yếu là đất phù sa bồi, thành phần cơ giới nhẹ, hệ thống canh tác gồm 2 lúa + 1 màu

+ Lúa Đông xuân – màu Hè thu – lúa Hè thu muộn

+ Hoặc 3 vụ lúa Đông xuân – Hè thu – Thu đông

Vùng Tây sông Hậu: gồm bắc Ô Môn – Thốt Nốt, đây là vùng trồng lúa mùa nổi trước đây, hệ thống canh tác chủ yếu là lúa Đông xuân – Hè thu Một số nơi thường trồng rẫy như đậu Đông xuân, bắp Hè thu

Trang 18

Khu vực Ô môn – Châu Thành: Đây là vùng trước kia trồng lúa mùa cao sản, nhưng hiện nay đã làm 2 vụ lúa Đông Xuân và Hè thu, một số nơi ở khu vực này và các vùng ven các thị trấn trồng 3 vụ lúa

Khu vực Phụng Hiệp: hệ thống canh tác chính là 2 vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu, đất rẫy thường trồng một vụ lúa cộng một vụ mía

Vùng Long Mỹ, Vị Thanh, Vị Thủy: thường canh tác 2 vụ lúa Đông xuân và Hè Thu Phần lớn diện tích trồng cây công nghiệp chủ yếu là mía đường

Trong những năm trở lại đây với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, một phần diện tích trồng lúa của Tỉnh đã chuyển sang cây màu bao gồm bắp và một số cây ngắn ngày khác, theo cục thống kê Cần Thơ năm 2002, trong năm 2002 diện tích trồng bắp là1.514 ha tăng nhanh nhất so với mấy năm gần đây (tăng 550 ha) trong đó diện tích bắp lai 752 ha, bên cạnh đó, cây đậu nành, dưa hấu…, cây khóm được trồng khá phổ biến ở vùng Vị Thanh

1.2.3.3 Cơ cấu và phân bổ giống

Các giống lúa chủ yếu được sử dụng trong những năm gần đây là: OM

1490, OMCS 2000, OM 2031, MTL 250, VNĐ 95-20, IR 64 Những giống này có năng suất cao, chống chịu tốt với sâu bệnh hại, chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, là những giống được nhà nước khyến cáo sản xuất để phục vụ xuất khẩu Năm 2002 cơ cấu giống của tỉnh như sau: OMCS 2000 (19,56%); OM1490 (16,74%); IR 64 (15,89%); MTL-250 (8,47%); Jasmine (5,21%); OM576 (4,73%); AS996 (4,71%); IR50404 (2,55); OM2031 (1,65%); VNĐ 95-20 (1,065) còn lại là

các giống khác (Nguồn: Báo cáo hiệu quả ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản

xuất lúa vùng ĐBSCL, 3/2003, trang 11)

1.2.3.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Tỉnh Cần Thơ hiện có diện tích tự nhiên là 2.968 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 2.502 km2 (chiếm 84,4%) và diện tích đất chưa được khai thác là 135,6 km2 (chiếm 6.57%) So với diện tích đất nông nghiệp những năm 80 giảm đi khoảng hơn 5% Tuy diện tích giảm nhưng hệ số sử dụng đất được tăng lên là 2,03 lần do có sự đầu tư về thủy lợi, về quy hoạch tổng thể, sử dụng giống mới, bố trí hệ thống canh tác hợp lý hơn

1.2.3.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn

Tỉnh đã và đang tích cực thực hiện mục tiêu cải tiến và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm xóa bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị: xây dựng

Trang 19

đường nông thôn, xóa bỏ hàng ngàn cây cầu khỉ… Đặc biệt, công tác thủy lợi đang được triển khai nhanh chóng theo mô hình thủy lợi khép kín Ước tính tổng diện tích thủy lợi khép khín đến hết năm 2002 khoảng 131.000 ha, trong đó có khoảng

92.000 ha chủ động tưới tiêu (lúa, mía, vườn cây ăn trái) (Nguồn: Báo cáo Tổng

kết công tác năm 2002 của Sở Nông nghiệp và PTNT) Hệ thống thủy lợi chủ yếu là đào đắp, nạo vét kênh mương Tuy chưa hoàn thiện nhưng đã hạn chế đáng kể những thiệt hại trong mùa mưa lũ

Bên cạnh đó, máy móc phục vụ nông nghiệp cũng được trang bị Theo thống kê của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tính đến năm 2002 toàn tỉnh hiện có 700 máy sấy lúa SRR trong đó có 614 máy có công suất 4 – 8 tấn/mẻ, 9.014 máy sạ hàng, 170 máy cắt lúa cải tiến cầm tay, 6 máy gặt các loại… Ngòai

ra một số máy móc khác như máy bơm nước, máy kéo, máy suốt lúa được bà con nông dân tự bỏ vốn đầu tư ngày càng nhiều

1.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG NĂM QUA

1.3.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo

Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang tính chiến lược của tỉnh Kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm luôn có tỷ trọng cao, trị giá trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành Bên cạnh đó, Cần Thơ cũng là một trong 12 tỉnh ĐBSCL có số lượng gạo xuất khẩu hàng năm khá lớn (từ năm 1998 đến nay chiếm khoảng trên 20% lượng gạo xuất khẩu của cả vùng) Bảng 7 thống kê tình hình xuất khẩu gạo trong 5 năm từ 1998 đến 2002

Bảng 7 : Tình hình xuất khẩu gạo của tỉnh Cần Thơ từ năm 1998 đến 2002

Số lượng (triệu tấn) Kim ngạch (triệu USD) Năm Số lượng % thay đổi so với

năm trước Kim ngạch với năm trước % thay đổi so

Trang 20

Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy, năm 1999 đã đạt một con số kỷ lục về xuất khẩu gạo (cao nhất cả về số lượng và cả về kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm) Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ phải kể đến chất lượng của gạo xuất khẩu đã được cải thiện Trong tổng số lượng gạo xuất khẩu, gạo phẩm chất cao (5 –10% tấm) chiếm tỷ trọng lớn (trên 50%) Đây là một thành tựu nổi bật nhất trong năm 1999 thuộc về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ Tuy nhiên những năm sau đó số lượng và kim ngạch xuất khẩu giảm, năm 2002 chỉ xuất khẩu được 270.545 tấn do vậy kim ngạch xuất khẩu gạo chỉ chiếm 20,15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

Nguyên nhân là do thị trường gạo thế giới biến động mạnh, kim ngạch nhập khẩu của những khách hàng quen thuộïc giảm, giá gạo xuất khẩu tăng do khan hiếm gạo nguyên liệu… cho nên đã dẫn đến lượng gạo xuất khẩu trong năm

2002 giảm đáng kể (28,99% so với năm 2001) Do vậy các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc cạnh tranh ký kết các hợp đồng thương mại Bên cạnh đó Bộ tài chính giải quyết thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo theo hợp đồng chính phủ thường chậm hơn so với hợp đồng thương mại, nên dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp thiếu vốn để tiếp tục thực hiện các hoạt động kinh doanh

1.3.2 Thị trường xuất khẩu gạo của Cần Thơ

Thị trường xuất khấu gạo chủ yếu của Việt Nam là châu Á (chiếm 50% tổng xuất khẩu) và châu Phi (chiếm 49%), còn châu Mỹ chỉ chiếm 0,9% và châu Âu chiếm 0,01% Hiện tại thị trường châu Á là bạn hàng lớn nhất của Cần Thơ (chiếm 90%), còn lại là các thị trường khác

Biểu đồ 1: Cơ cấu thị trường gạo xuất khẩu của Việt Nam

Tính đến nay, gạo của Cần Thơ hiện diện tại hơn 10 nước trên thế giới, chủ yếu vẫn là các nước châu Á, nhiều nhất là Malaysia và một số nước châu Âu, đặc biệt là khối SNG (Xem phụ lục 4) Một trong những cố gắng của tỉnh là đã dần giảm tỷ trọng xuất khẩu qua môi giới trung gian mà đó là một trong những hạn chế chung của xuất khẩu gạo của Việt Nam những năm 1990 – 1996 Cho

châu Phi 49.0%

châu khác 1.0%

châu Á 50.0%

Trang 21

đến nay, tại các thị trường lớn như Malaysia và Philippin, Cần Thơ đã chủ động được mà không phải thông qua môi giới trung gian như trước đây nữa

1.3.3 Giá gạo xuất khẩu

Khi tham gia vào thị trường gạo thế giới, Việt Nam phải căn cứ vào giá gạo quốc tế làm cơ sở để định giá gạo xuất khẩu của mình Từ những thập kỷ 60 trở lại đây thị trường gạo thế giới thường dựa vào giá xuất khẩu gạo của Thái Lan (điều kiện giao hàng FOB – Bangkok) làm giá quốc tế cho mặt hàng gạo vì Thái lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu trên thế giới

Trong những năm qua, chất lượng gạo của Việt Nam nói chung và Cần Thơ nói riêng thấp hơn chất lượng gạo của các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Mỹ Bên cạnh đó việc tiếp câïn nắm bắt thông tin thị trường còn nhiều hạn chế và giá gạo cùng loại thường bằng hoặc cao hơn so với các nước xuất khẩu khác Do vậy gặp không ít khó khăn trong công tác tiếp thị và ký kết các hợp đồng

1.3.4 Hệ thống lưu thông phân phối gạo xuất khẩu

Hệ thống phân phối lúa gạo đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu của các tỉnh gần như là giống nhau Thực tế hiện nay trước khi xuất khẩu, hành trình lúa gạo phải trải qua nhiều khâu Có thể minh họa qua sơ đồ sau:

Hình 1 : Sơ đồ hệ thống lưu thông phân phối gạo cho xuất khẩu

Nông

dân Hàng xáo

thu gom

Thương lái đường dài

Nhà máy xay xát

Công ty chế biến cung ứng

Xuất khẩu

Qua sơ đồ trên cho thấy:

- Từ người nông dân đến nhà máy xay xát phải qua 2 khâu thu gom và chế biến

- Khâu xay xát chế biến lặp lại hai lần

Đó là nhưng bất cập mà hiện nay chưa được khắc phục

1.3.5 Đầu mối xuất khẩu gạo

Trước năm 2000, tỉnh Cần Thơ chỉ có một đầu mối xuất khẩu gạo duy nhất đó là Nông trường Sông Hậu, đây là một trong những doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu vững mạnh nhất cả nước Chuyển sang năm 2001, trước những đòi hỏi khách quan của cả trong và ngoài nước Chính phủ đã cho phép các thành phần kinh tế khác nhau được tham gia xuất khẩu gạo, bãi bỏ cơ chế hạn ngạch và đầu mối trong xuất khẩu gạo, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hơn theo xu

Trang 22

hướng thương mại hoá hiện nay Tiến trình vận động này đã tăng thêm số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh đó là: Nông trường Cờ Đỏ, Công

ty Mê Kông, Công ty chế biến lương thực Thốt Nốt Tuy nhiên những doanh nghiệp xuất khẩu gạo trực tiếp chưa nhiều mà chủ yếu xuất khẩu theo hợp đồng của chính phủ hoặc theo hợp đồng ủy thác (xem phụ lục 5)

Tóm tắt chương 1

Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nguồn nước phù sa sông Hậu phong phú tưới cho đồng ruộng Với hệ thống đường giao thông thủy, bộ và đường hàng không đã, đang và phát triển với các “Khu Công Nghiệp”đang hoạt động có sự giúp sứccủa các cơ quan khoa học đầu ngành, từ Viện nghiên cứu đến các trường đại học, cao đẳng… đã đưa Cần Thơ trở thành một tỉnh công nghiệp ngày càng hiện đại Cần Thơ đang cùng cả nước tiến nhanh tiến mạnh trên con đường CNH, HĐH đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lúa và xuất khẩu gạo của tỉnh

Nghiên cứu khái quát về tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Cần Thơ những năm qua cho thấy sản xuất lúa gạo của Tỉnh từ trước đến nay luôn là một nơi sản xuất ra một khối lượng lương thực hàng hoá lớn nhất ở vùng ĐBSCL.Và, ở thời điểm hiện tại hơn 70% dân số Cần Thơ nguồn gốc chính vẫn là sản xuất lúa gạo Thật đúng với đúng cái tên gọi được cả nước dành cho một cách trìu mến: “ Cần Thơ thủ phủ của miền Tây”;”Cần Thơ gạo trắng nước trong”…

Đất nước đang trên con đường CNH,HĐH đời sống của người nông dân Cần Thơ theo đó cũng ngày càng được cải thiện nhờ có sự sáng suốt của Đảng và Chính Phủ, nhiều chủ trương chính sách ngày càng sát với thực tế, đã mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân, như chủ trương đưa TBKT vào đồng ruộng; tích cực giúp đỡ người nông dân thông qua các hình thức và tổ chức khuyến nông, các câu lạc bộ sản xuất giống, các HTXNN hình thành ngày càng nhiều và hoạt động có hiệu quả trên tinh thần tự nguyện của người người sản xuất Nhờ vậy mà trong thời gian qua diện tích và sản lượng lúa không ngừng tăng lên Tỉnh không những đảm bảo an toàn lương thực mà còn dư thừa để xuất khẩu với khối lượng lớn

Bạn hàng mua gạo truyền thống của Việt Nam, trong đó có tỉnh Cần Thơ chủ yếu là các nước quanh vùng Đông nam châu Á , các nước châu Phi, hai thị trường này chiếm tới 90%, còn lại là các nước tại các châu lục khác Giá cả gạo trên thị trường luôn biến động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu do vậy mà kim

Trang 23

ngạch xuất khẩu thu về cùng ảnh hưởng Nhưng dù biến động như thế nào thì gạo vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong những năm tiếp theo

Trang 24

CHƯƠNG 2 KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU

LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ

2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG

CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ

2.1.1 Diện tích và sản lượng

Từ đầu thập niên 90 trở về trước, tình hình kinh tế của cả nước nhìn chung là rất khó khăn, nhất là đối với người nông dân - gạo không đủ ăn, áo không đủ mặc Mặc dù Cần Thơ là một vùng đất trù phú, nông nghiệp phát triển từ những năm 80, nhưng lương thực làm ra cũng không đủ để đáp ứng nhu cầu của địa phương Trước tình hình này, chương trình an ninh lương thực quốc gia được triển khai rộng khắp cả nước dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Đây chính làø một trong những lý do tại sao diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất được sử dụng để gieo trồng lúa nói riêng của tỉnh Cần Thơ liên tục tăng và đã có

chiều hướng chững lại ở diện tích như hiện nay (bảng 6) Do mục tiêu của Đảng

và Nhà nước đưa ra chỉ dừng lại ở chỗ chúng ta có khả năng tự cung tự cấp được lương thực, không còn nạn đói; cộng với nỗi lo thiếu lương thực nên bà con nông dân chỉ chọn sử dụng những giống lúa có năng suất càng cao càng tốt, không quan tâm chất lượng của lúa gạo đó ra sao Bởi vì cái họ cần là khối lượng chứ không phải là chất lượng Chính vì vậy, tại thời điểm này ở hầu hết các tỉnh trong cả nước chưa hoặc có rất ít diện tích sản xuất lúa có chất lượng cao Nhưng cho đến khi Việt Nam tiến tới hội nhập nền kinh tế thế giới và đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 (năm 1996) sau đó vươn lên hàng thứ 2 như hiện nay thì quan điểm sản xuất lúa gạo không chỉ là khối lượng mà phải có chất lượng cao mới đủ khả năng thích ứng được với thị trường lúa gạo trong nước và thế giới Một trong những giải pháp được Đảng và Nhà nước đưa ra là phải nhanh chóng thực hiện quy hoạch vùng lúa chất lượng cao và đã đang được triển khai ở cả hai vùng ĐBSCL và ĐBSH Theo báo cáo của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến năm 2001 ngành nông nghiệp và các địa phương đã quy hoạch xong vùng lúa chất lượng cao với diện tích từ 110.000 – 140.000 ha Bước đầu triển khai đạt kết quả như trong bảng 8:

Trang 25

Bảng 8 : Diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao và sản lượng tăng thêm của

tỉnh Cần Thơ từ 2001 -2003

Diện tích chuyển sanng lúa

chất lượng cao (ha)

30.000 40.000 60.000

So với năm trước 2001/2000 2002/2001

(Nguồn: Báo cáo tiến độ triển khai thực hiện các chương trình đề án nông nghiệp- Sở NN & PTNN)

Nhận xét: Năm 2001 đã triển khai thực hiện được 30.000 ha và tăng lên 40.000 ha vào năm 2002, dự kiến năm 2003 là 60.000 ha đạt 100% tiến độ như đã đề ra (xem phụ lục 6) Điều đó làm cho sản lượng lúa tăng nhanh rõ rệt (năm 2001/2000 sản lượng tăng hơn 70.000 tấn; 2002/2001 sản lượng tăng hơn 250.000 tấn So sánh với năm 1990, tỉnh Cần Thơ cũng như những tỉnh khác trong cả nước chưa triển khai quy hoạch vùng chuyên canh và sử dụng những giống lúa tốt nên trong vòng 8 năm (từ năm 1990 đến 1998) sản lượng tăng thêm chỉ trên dưới 200.000 tấn) (bảng 5) Điều đó cho ta thấy, bước đầu thực hiện vùng lúa chất lượng cao chúng ta đã thu được kết quả rất đáng mừng và là điều kiện thuận lợi để thực hiện hết diện tích như tỉnh đã quy hoạch

2.1.2 Hiện trạng sử dụng giống lúa trong những năm qua và hiện tại

Trước đây Cần Thơ có những giống lúa mùa có chất lượng cao, thuộc nhóm giống đặc sản như Nàng Hương, Một Bụi, Trắng Phước, Trắng Tép…, nhưng các giống này có tính cảm quang nên thời gian sinh trưởng dài chỉ gieo cấy được một vụ/năm Cộng thêm vào đó là những nhược điểm như cây cao, dễ đổ ngã, năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém nên không thể thâm canh tăng vụ Ngày nay hầu hết diện tích trồng lúa của tỉnh đã được gieo trồng bằng các giống mới, năng suất cao và ngắn ngày, nhờ vậy mà sản lượng không ngừng tăng lên

Cũng giống như các tỉnh khác ở ĐBSCL, Cần Thơ trong những năm gần đây còn có rất nhiều giống đang cùng tồn tại trên đồng ruộng Trong số này có nhiều giống năng suất cao, dễ canh tác và gieo trồng rộng rãi trong nông dân nhưng chất lượng gạo hàng hoá thì không thể chấp nhận được như giống IR50404, OM576, và hàng loạt giống đã và đang thoái hoá khác Chính vì lý do đó đã làm

Trang 26

cho chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam những năm cuối thập kỷ 90 đã không đủ sức cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới và thường phải bán giá thấp hơn gạo cùng loại của Thái Land đến vài chục USD/tấn Thấy rõ tầm quan trọng của hạt gạo ở ĐBSCL nói chung và Cần Thơ nói riêng là hạt gạo hàng hoá, 90% gạo xuất khẩu của cả nước là từ vùng đồng bằng trù phú này, Do vậy muốn nâng cao chất lượng gạo hàng hoá, một công việc sống còn của nông dân trồng lúa ở vùng ĐBSCL là trồng lúa không những có năng suất cao mà đòi hỏi phải có chất lượng tốt Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách mới để định hướng và tích cực hỗ trợ cho nông dân sản xuất lúa Một trong những chính sách

lớn đó là “Chương trình giống lúa xuất khẩu quốc gia” Theo đó chủ trương sẽ

mở rộng 1.000.000 ha chuyên gieo trồng những giống chủ lực có chất lượng cao để xuất khẩu Những giống đó là IR64, OM1490, MTL250, OMCS200, VND95-

20 Đến năm 2002, toàn tỉnh đã có 60% diện tích được gieo cấy bằng các giống lúa này thay cho những giống đã thoái hoá, năng suất thấp, chất lượng kém (xem

phụ lục 7) Và đặc biệt “chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đuổi ngang

bằng hoặc cao hơn giá xuất khẩu của Thái Lan, vượt xa Ấn độ và một vài nước khác’’ (Báo Nông Nghiệp Việt nam ngày 18/2/2003, Tr 3) Có được thành công

này một phần có sự đóng góp của Viện lúa ĐBSCL, trường Đại học Cần Thơ - hai

cơ quan đã có những chuyên gia giỏi về cả lý thuyết lẫn thực hành trong công tác cải tiến giống lúa phục vụ cho ĐBSCL cũng như cả nước nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng

2.1.3 Thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch

Tình hình thu hoạch lúa và công nghệ sau thu hoạch ở tỉnh Cần Thơ trong những năm qua có thể thấy như sau:

• Đối với thu hoạch

Do thực trạng sản xuất lúa hiện nay còn nhiều bất cập đó là sản xuất lúa chủ yếu phụ thuộc vào nước trời, chưa chủ động được tưới tiêu do đó dẫn đến tình trạng thời gian gieo sạ giữa các vùng không đồng nhất Bên cạnh đó, sử dụng nhiều giống lúa khác nhau nên thời gian sinh trưởng là khác nhau dẫn đến việc thu hoạch lúa không được tập trung và thời gian thu hoạch kéo dài

Vụ Đông Xuân do điều kiện thời tiết không có mưa rất thuận lợi cho khâu thu hoạch, dễ phơi được hạt thóc khô vàng, đẹp mắt Tuy nhiên, do không có đủ sân phơi và nông dân thường có thói quen để lúa quá chín, phơi lúa theo mớ trên

Trang 27

ruộng nên lúa khô không đồng đều dẫn đến hạt gạo bị gãy khi chế biến, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm cấp gạo xuất khẩu

Vụ Hè Thu mưa nhiều, cuối vụ thường có lũ nên nông dân thường thu hoạch sớm tránh lũ (khi cây lúa chưa chín hoàn toàn) chấp nhận năng suất giảm từ 15 – 20 %, để tránh thiệt hại hoặc mất trắng Thêm vào đó, do thiếu nắng - lúa phơi không được khô, hệ thống lò sấy đạt tiêu chuẩn chưa nhiều làm cho chất lượng gạo sau chế biến chưa đạt yêu cầu cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng gạo xuất khẩu

• Công nghệ sau thu hoạch

Trong sản xuất lúa, hệ thống sau thu hoạch bao gồm một loạt các khâu bao như gặt, tuốt, phơi sấy, phân loại, làm sạch, xay xát chế biến, vận chuyển, bảo quản… Toàn bộ hệ thống này của tỉnh chưa đồng bộ, chưa đúng tiêu chuẩn và trình độ tổ chức còn yếu kém, mang nặng tính truyền thống giản đơn, thủ công lạc hậu Đặc biệt trong khâu bảo quản còn quá ít các phương tiện phòng chống tác nhân gây hại như chuột, mối, mọt, ẩm mốc

Thực tế là nhiều bà con nông dân đã tận dụng sân nhà, đường lộ để phơi lúa do chưa có đủ sân phơi làm cho lúa khô không đúng yêu cầu sơ chế, lẫn sạn, sỏi Thêm vào đó, số lượng máy sấy hiện có của tỉnh chưa đủ đáp ứng nhu cầu sấy lúa của nông dân (số máy sấy của cả tỉnh Cần Thơ năm 2002 là 700 máy SRR trong đó 614 máy 4-8 tấn /mẻ) mới đáp ứng được 10,22% nhu cầu cả năm và 31,76 % trong vụ hè thu, trong khi lượng máy sấy cần có là 2.400 máy mới đáp ứng đủ nhu cầu sấy ở vụ Hè Thu

Hiện nay hầu hết hệ thống máy xay xát dùng trong chế biến đã cũ kỹ lạc hậu, điều này dẫn đến hạt gạo sau chế biến không đồng nhất làm giảm chất lượng gạo hàng hoá Bên cạnh đó hệ thống kho bảo quản còn tạm bợ, xuống cấp, không đủ trang thiết bị để bảo quản sản phẩm Trong khi đó ở những nước như Thái Lan thì đây là những khâu được đầu tư nhiều nhất với các trang thiết bị hiện đại do đó chất lượng gạo xuất khẩu của họ luôn chiếm được ưu thế trên thị trường gạo thế giới

Theo kết quả điều tra của Viện Công nghệ sau thu hoạch và Tổng cục

thống kê (trích dẫn - Lúa gạo Việt Nam trước thiên nhiên kỷ mới hướng xuất khẩu,

trang 206), tỷ lệ tổn thất bình quân sau thu hoạch lúa của Việt Nam diễn ra cụ thể

ở các khâu như sau:

- Khâu thu hoạch: 1,3 –1,7%

Trang 28

- Khâu vận chuyển: 1,2 –1,5%

- Khâu nhai (tuốt): 1,4 –1,8%

- Khâu phơi (sấy) 1,9 –2,1%

- Khâu bảo quản: 3,2 –3,9%

- Khâu xay xát chế biến: 4,1 –5,0%

Như vậy tổn thất lớn nhất là ba khâu cuối, chiếm 68 –70% tổng số tổn thất, trong khi đó ở các nước tiên tiến thường chỉ chiếm 3,9 –5,6% Với thực trạng công nghệ sau thu hoạch của tỉnh như trên rõ ràng chúng ta đã, đang và sẽ bị thất thoát một khối lượng lúa gạo đáng kể, điều đó đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của toàn tỉnh kể cả về số lượng và chất lượng trong những năm qua

2.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH XUẤT KHẨU GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ

2.2.1 Phân tích môi trường xuất khẩu gạo

2.2.1.1 Môi trường bên ngoài

Về mặt nguyên tắc, hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều chịu ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế Nếu được tồn tại trong nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì khả năng thành công của doanh nghiệp sẽ lớn hơn nhiều so với một nền kinh tế suy yếu Chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý thống nhất, tập trung của nhà nước, kinh tế Việt Nam đã có những chuyểân biến tích cực Từ cuối năm 1999, Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nền kinh tế luôn đạt tốc độ tăng trưởng ổn định (trên 7%/năm), mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia trên thế giới (trên

168 quốc gia), đồng thời gia nhập các hiệp hội kinh tế – thương mại khu vực và thế giới Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo của Việt Nam nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng

Ngoài ra còn các yếu tố khác cũng tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh xuất khấu gạo:

Thứ nhất, việc tự cung tự cấp được nguồn lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia bắt đầu từ cuối thập niên 80, đến năm 1989 – 1990, đã bắt đầu có gạo để xuất khẩu Cho đến nay trở thành nước xuất khẩu gạo xếp hàng

Trang 29

thứ hai trên thế giới sau Thái Lan Điều đó sẽ củng cố thêm uy tín cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việït Nam trên thị trường gạo thế giới và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc thâm nhập vào các thị trường mới

Thứ hai, giao thông vận tải trong nước được cải thiện đồng bộ về cả đường hàng không, đường thủy, đường sắt và đường bộ Đặc biệt, hệ thống các cảng biển được xây dựng, trang bị các thiết bị kỹ thuật hiện đại trải dài dọc theo bờ biển ở cả ba miền Bắc, miền Trung và miền Nam Một số cảng lớn ở Việt Nam: cảng Hải Phòng (Hải phòng), cảng Đà Nẵng (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh) đã được nâng cấp Hệ thống giao thông được nâng cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình lưu thông hóa mà vốn trước đây là một trong những lo ngại của bạn hàng

Thứ ba, Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có sự phân biệt rõ ràng hai mùa: mùa khô và mùa mưa, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nước ngọt quanh năm, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp – nhất là cây lúa nước Người nông dân Việt Nam đã biết tận dụng

ưu thế này để phát huy thế mạnh sản xuất lúa gạo của mình

Với những yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh lúa gạo của các doanh nghiệp, cũng như các tỉnh trong cả nước tham gia vào hoạt động xuất khẩu gạo Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì hiện nay, khách hàng và đối thủ cạnh tranh cũng là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh lúa gạo của tỉnh

• Khách hàng

Khách hàng hiện tại của Tỉnh chủ yếu là các nước SNG và Đông Âu, châu

Á, một số ít ở châu Aâu và châu Mỹ

Một vài nét về những khách hàng mà tỉnh thường xuyên quan hệ trong thời gian qua:

Thị trường SNG và Đông Aâu : Khối thị trường các nước SNG trước đây là

thị trường quen thuộc, có mối quan hệ với Việt Nam trong một thời gian dài nên dễ hiểu biết lẫn nhau Từ sau sự tan rã của khối Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Aâu đến nay, nền kinh tế của các nước này đang trong quá trình phục hồi, giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước khối này cũng đang được khôi phục Những năm gần đây thị hiếu tiêu dùng gạo ở thị trường này là loại gạo có phẩm chất hạt dài, trong suốt, không bạc bụng, kích thước hạt đồng đều, không có tạp chất, không mùi, không có hạt đỏ Như vậy, đây không chỉ là một thị trường lớn, mà

Trang 30

yêu cầu về tiêu chuẩn gạo nhập khẩu khá cao Do vậy, chúng ta phải chú trọng những gì cần đáp ứng để duy trì và tiếp tục cố gắng phát huy tham gia thị trường

này

Malaysia: Đây là nước thường xuyên nhập khẩu lương thực Kể từ năm

1990, Malaysia bắt đầu nhập khẩu gạo của Việt Nam, trung bình 150.000 tấn/năm Đến năm 1994, do bị lũ lụt, Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu gạo của Malaysia nên đã để mất thị trường này Tới năm 1996, với sự nỗ lực về tiếp thị và ngoại giao, Việt Nam mới nối lại được quan hệ buôn bán gạo với thị trường Malaysia và hiện nay đã trở thành khách hàng lớn đối với gạo Việt Nam Thị trường thích tiêu dùng loại gạo trắng, hạt dài, chất lượng tốt, tỷ lệ tấm thấp

Philippin: Năm 1990 đă nhập khẩu của Việt Nam 150.000 tấn, năm 1994 –

1995 nhập 500.000 tấn loại 25% - 30% tấm Tuy lượng nhập khẩu chưa đều đặn như Malaysia nhưng nước này cũng là khách hàng truyền thống quan trọng của Việt Nam Philippin chuộng gạo hạt dài hoặc trung bình, nhưng phải được đánh bóng kỹ, màu sắc trắng trong và có mùi thơm, không yêu cầu dẻo Đây là một trong những thị trường dễ tính nhất về nhập khẩu gạo của Việt Nam

• Đối thủ cạnh tranh

Hiện tại, gạo xuất khẩu của Cần Thơ đang cạnh tranh với một số nước xuất khẩu lớn như: Thái Lan, Ấn Độ và Mỹ

Một vài đánh giá về các đối thủ cạnh tranh :

Thái lan: Từ năm 1977 đến nay, là một quốc gia liên tục đứng đầu các

nước xuất khẩu gạo, mặc dù sản lượng lúa trung bình hàng năm của Thái lan chỉ chiếm khoảng 3,7% tổng sản lượng lúa toàn cầu và chỉ bằng 11,5% sản lượng lúa của Trung Quốc Do chất lượng gạo của Thái lan được khách hàng ưa chuộng, tin cậy với khoảng 15 cấp loại khác nhau khá đa dạng như hạng A,B,C (chủ yếu hạng B), gạo trắng 100B cấp 5% tấm, 10%, 15% cho đến 35% tấm, gạo hoàn toàn tấm, gạo lức , gạo nếp, gạo thơm đặc sản “Khao Dawk Mali” nên Thái lan có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp các lục địa trên toàn thế giới với hệ thống các bạn hàng khá ổn định Hiện tại thị phần chiếm khoảng 30% trên thị trường gạo thế giới Những thị trường chủ yếu của Việt Nam như hiện nay thì Thái Lan lại là bạn hàng số một của họ, vì vậy Thái Lan được xem là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của Việt Nam

Mỹ: Tỷ trọng xuất khẩu hàng năm chiếm khoảng 1,5% tổng sản lượng lúa

toàn cầu và xếp hàng thứ 11 về sản xuất nhưng xuất khẩu gạo của Mỹ chỉ đứng

Trang 31

sau Thái Lan và Việt Nam xét về số lượng; về chất lượng chưa có nước xuất khẩu gạo nào có thể vượt qua được do Mỹ có lợi thế về khoa học – công nghệ trong khâu chế biến theo quy trình đồng bộ bao bì, nhãn hiệu, kho bảo quản

Lợi thế gạo xuất khẩu của Mỹ chủ yếu là chất lượng cao, do vậy từ năm

1977 đã đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu gạo của những nước phát triển Hiện tại, Mỹ đang chuẩn bị cho chiến lược xuất khuẩu hướng sang hầu hết khắp các thị trường châu Mỹ Latinh, châu Á, thứ đến là châu Phi và châu Aâu

Với những điểm mạnh về chất lượng, về cơ chế bảo hộ và hệ thống bạn hàng lâu năm Mỹ là đối thủ mạnh sau Thái Lan của Việt Nam

Ấn Độ: Ấn Độ là một nước đông dân nhưng lại là nước xuất khẩu lớn sau Việt Nam, chất lượng gạo xuất khẩu không cao nhưng do Chính phủ Ấn Độ đã áp dụng chính sách trợ giá cho người nông dân nên có giá chào hàng đối với những mặt hàng cùng chủng loại thấp hơn Việt Nam và Thái lan Đây cũng là một trong những yêu cầu của các thị trường dễ tính hiện đang là bạn hàng quen của Việt Nam, do đó Ấn Độ hiện đang được xem là một đối thủ quan trọng của chúng ta

Từ những kết quả đánh giá trên cho thấy để có thể thành công trong giai đoạn tới, tỉnh Cần Thơ cần phải có những biện pháp không chỉ phát triển sản xuất trong tỉnh mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

2.2.1.2 Môi trường bên trong

Mặc dù có nhiều thuận lợi từ các yếu tố môi trường bên ngoài nhưng việc tận dụng và phát huy chúng đến mức nào còn phụ thuộc vào nội lực của mỗi tỉnh địa phương Đối với tỉnh Cần Thơ bên cạnh những ảnh hưởng từ bên ngoài còn có những ảnh hưởng từ môi trường bên trong như sau:

• Thuận lợi

- Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh lúa gạo luôn được sự chỉ đạo quan tâm sâu sát của Tỉnh ủy cùng với các ngành chức năng hỗ trợ, giúp đỡ các nhà sản xuất, tạo điều kiện hỗ trợ cho các nhà doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác xuất khẩu

- Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp đã thiết lập mối quan hệ tốt với khách hàng và các nhà trung gian, môi giới

- Là tỉnh tập trung đông nhất các nhà khoa học giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp Viện lúa ĐBSCL và trường Đại học Cần Thơ – nơi có hàng trăm cán bộ nghiên cứu khoa học – đã có những đóng góp to lớn

Trang 32

trong việc cải tạo và tạo ra những giống lúa cao sản chất lượng tốt, ngắn ngày phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng

- Số xã viên trong các HTX và đoàn thể liên tục gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao, áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt hơn Bên cạnh đó, một số HTX đã đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết

bị phục vụ sản xuất như máy công cụ, lò sấy lúa, máy chế biến … góp phần giảm chi phí sản xuất và tăng cơ hội chế biến sản phẩm tốt, đạt chất lượng

- Hệ thống giao thông đã và đang được tu sửa, nâng cấp sẽ góp phần cho lưu

thông hàng hóa của vùng thuận lợi và nhanh chóng hơn

- Nguồn lao động phục vụ nông nghiệp dồi dào

• Khó khăn

- Trước những biến động chung của kinh tế, chính trị toàn cầu, tình hình kinh tế

- xã hội tỉnh Cần Thơ cũng đang phải đối mặt với những khó khăn như sức mua của người tiêu dùng giảm, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt… Do đó cũng đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo của tỉnh

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa cao, giá thành sản xuất lúa gạo còn cao, khả năng cạnh tranh chưa được cải thiện đáng kể Các doanh nghiệp nhà nước chưa đủ mạnh cả về quy mô, công nghệ, thị trường để có thể phát triển mạnh và bền vững Các doanh nghiệp tư nhân cũng còn nhiều hạn chế, nhất là vốn nên không thể vươn tới các thị trường

xa và lớn được

- Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tuy đã được tỉnh tăng cường tập trung đầu tư, nhưng vẫn còn trong tình trạng thấp kém, chưa đồng bộ, nên chưa đáp ứng kịp cho nền sản xuất hàng hóa và dịch vụ Hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc còn yếu kém

- Công tác tổ chức sản xuất và thu mua nhằm gắn kết các khâu từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản chưa đồng bộ Điều đó làm cho nông dân sản xuất lúa không tập trung, không đồng bộ nên hiệu quả của lúa gạo hàng hóa mang lại chưa cao Do vậy, các doanh nghiệp bị động trong việc thu gom sản phẩm

- Công tác nghiên cứu thị trường và tiếp thị cho đầu ra của nông sản hoạt động chưa có hiệu quả Hệ thống thông tin liên lạc còn nhiều hạn chế, nên việc nắm bắt thông tin thị trường nông sản trong nước và thế giới chưa kịp thời

- Trình độ quản lý HTX còn yếu kém do hầu hết các cán bộ tham gia công tác quản lý chưa có trình độ đại học Trình độ dân trí của nông dân, lực lượng lao

Ngày đăng: 06/08/2015, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Diện tích và sản lượng của các loại cây trồng của tỉnh Cần Thơ - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 2 Diện tích và sản lượng của các loại cây trồng của tỉnh Cần Thơ (Trang 13)
Bảng 3 :                     Giá trị sản xuất nông nghiệp - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 3 Giá trị sản xuất nông nghiệp (Trang 14)
Bảng 5 : Sản lượng lương thực cả năm theo vụ qua các năm - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 5 Sản lượng lương thực cả năm theo vụ qua các năm (Trang 16)
Bảng 6 : Diện tích gieo trồng lúa cả năm theo vụ của tỉnh Cần Thơ - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 6 Diện tích gieo trồng lúa cả năm theo vụ của tỉnh Cần Thơ (Trang 17)
Bảng 7 : Tình hình xuất khẩu gạo của tỉnh Cần Thơ từ năm 1998 đến 2002 - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 7 Tình hình xuất khẩu gạo của tỉnh Cần Thơ từ năm 1998 đến 2002 (Trang 19)
Bảng 8 : Diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao và sản lượng tăng thêm của - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 8 Diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao và sản lượng tăng thêm của (Trang 25)
Bảng 9 : Dự kiến sản xuất lúa và xuất khẩu gạo đến năm 2010 - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Bảng 9 Dự kiến sản xuất lúa và xuất khẩu gạo đến năm 2010 (Trang 43)
Hình 2: Hệ thống lưu thông phân phối gạo ở Thái Lan - NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
Hình 2 Hệ thống lưu thông phân phối gạo ở Thái Lan (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w