Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường đều phải chịu tác động của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó có quy luật cạnh t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
KHÁNH HÒA - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
sản phẩm sữa TH True Milk thuộc công ty cổ phần thực phẩm sữa TH” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực
Nghệ An, tháng 2 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị HồngThương
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô tại khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Trâm Anh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn cho tôi trong suất quá trình viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Công ty cổ phần sữa TH True Milk đã cung cấp nhiều thông tin và tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện và động viện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Trân trọng
Nghệ An, tháng 2 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Thương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 5
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 5
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh 5
1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 7
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm 9
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 14
1.1.5 Các công cụ sử dụng đánh giá năng lực cạnh tranh 26
1.1.6 Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM SỮA TH TRUE MILK 33
2.1 Giới thiệu về công ty CPTP sữa TH và sản phẩm sữa TH True Milk 33
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 33
2.1.2 Bộ máy quản lý của công ty 34
2.1.3 Tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh năm 2011 – 2013 35
2.1.4 Sản phẩm 36
2.1.5 Mạng lưới phân phối 38
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của TH true milk 39
2.2.1 Môi trường vĩ mô 39
2.2.2 Môi trường vi mô 44
Trang 62.2.3 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài của Công ty cổ phần TH
true Milk 48
2.2.4 Môi trường nội bộ 50
2.2.5 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ (IFE) của công ty TH 53
2.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty TH 54
2.3.1 Thị phần 54
2.3.2 Giá cả sản phẩm 55
2.3.3 Chất lượng sản phẩm 57
2.3.4 Hình ảnh thương hiệu 57
2.3.5 Mạng lưới phân phối 58
2.3.6 Trình độ công nghệ 60
2.3.7 Năng lực quản lý 60
2.3.8 Hoạt động nghiên cứu và phát triển 61
2.3.9 Hoạt động chăm sóc khách hàng 62
2.3.10 Lao động và đào tạo 62
2.4 Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty bằng công cụ Ma trận hình ảnh cạnh tranh 64
2.5 Đánh giá chung về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH 66
2.5.1 Điểm mạnh 66
2.5.2 Điểm yếu 69
2.5.3 Cơ hội 70
2.5.4 Thách thức 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM SỮA TH TRUE MILK 72
3.1 Các căn cứ cho giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa TH True Milk 72
3.1.1 Dự báo nhu cầu thị truờng và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa 72
Trang 73.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển của ngành sữa Việt Nam 73
3.1.3 Mục tiêu của công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH 75
3.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH 78
3.2.1 Đa dạng hóa sản phẩm 78
3.2.2 Hoàn thiện kênh phân phối 80
3.2.3 Đảm bảo giá cạnh tranh 83
3.2.4 Tăng cường hoạt động xúc tiến bán hàng 85
3.3 Một số đề xuất và kiến nghị 87
3.3.1 Kiến nghị với nhà nước 87
3.3.2 Kiến nghị với ngành 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CTCPTP Công ty cổ phần thực phẩm
GRDP Tổng sản phẩm trong tỉnh (Gross Regional Domestic Product)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)
EFE Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài (EFE Matrix –
External Factors Evaluation Matrix) IFE Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ doanh nghiệp (IFE
Matrix – Internal Factors Evaluation Matrix) NPP Nhà phân phối
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic
Co-operation and Development) TQM Quản trị chất lượng (Total quality management)
SWOT Ma trận điểm yếu – điểm mạnh – cơ hội – nguy cơ
VCSH Vốn chủ sở hữu
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Ma trận SWOT 29
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của TH True Milk năm 2011-2013 35
Bảng 2.2: Tóm tắt danh mục sản phẩm và bao bì sữa TH 38
Bảng 2.3: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của TH true milk 49
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động của Công ty TH chia theo giới tính 50
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của công ty sữa TH True Milk năm 2011 - 2013 51
Bảng 2.6: Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE) của công ty TH 54
Bảng 2.7: Thị phần của TH true milk tại Thị xã Cửa Lò năm 2012 - 2013 55
Bảng 2.8: Định giá sản phẩm sữa TH True Milk 56
Bảng 2.9: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn 63
Bảng 2.10: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của sản phẩm sữa tươi 65
Bảng 3.1: Chiến lược giá của TH 84
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh Michael Porter .18
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức công ty CPTP sữa TH True Milk 34
Đồ thị 2.1: GDP bình quân đầu người qua các năm 2011- 2013 40
Đồ thị 2.2: Tiêu thụ sữa nước trên đầu người tại Việt Nam năm 2011 - 2013 40
Hình 2.1: Trang trại bò sữa của TH True Milk 46
Đồ thị 3.1: Nhu cầu tiêu thụ sữa của Việt Nam năm 2013 - 2017 72
Đồ thị 3.2: Các phân khúc thị trường theo số lượng 74
Đồ thị 3.3: Phát triển thị trường sữa nước giai đoạn 2014 – 2017 75
Đồ thị 3.4: Mục tiêu phát triển sản lượng sữa tươi TH đến năm 2015 76
Biểu đồ 3.1: Nhân biết và sử dụng sữa tại Hà Nội tháng 9 – 11/2013 77
Biểu đồ 3.2: Nhận biết và sử dụng sữa tại HCM tháng 9 – 11/2013 77
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mở cửa nền kinh tế thị trường giúp Việt Nam xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường và những chuyển biến mạnh mẽ Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mà nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển mạnh, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt thì sự đứng vững và khẳng định vị thế của một doanh nghiệp trên thị trường là một điều cực kỳ khó khăn
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường đều phải chịu tác động của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trên thị trường thì phải không ngừng nỗ lực áp dụng khoa học kỹ thuật
để nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm… Có như vậy, doanh nghiệp mới thu hút được khách hàng đồng thời chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng có ý nghĩa tiên quyết mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm, đặc biệt là những doanh nghiệp đã có vị trí và thương hiệu trên thị trường
Từ cuối tháng 12 năm 2010, danh tiếng sữa TH True Milk ra đời được giới thiệu
là dòng sữa tươi sạch, được sản xuất theo quy trình khép kín, đồng bộ theo tiêu chuẩn quốc tế Trong năm 2012, sữa tươi sạch TH True Milk được người tiêu dùng bình chọn Top 100 sản phẩm dịch vụ tin và dùng năm 2012 và đến nay sữa TH True Milk đã khẳng định được thương hiệu của mình trong ngành sữa Tuy nhiên sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng của nhiều các thương hiệu sữa trong nước và ngoại nhập So với Vinamilk thì doanh thu của TH True Milk thấp hơn, tuy nhiên sản phẩm của TH True Milk vẫn được người tiêu dùng ưa thích, lựa chọn Để được như vậy là do các doanh nghiệp đã có sự đầu tư và quảng bá thương hiệu của các hãng, nhất là các tập đoàn lớn, dẫn đến sức ép cạnh tranh càng trở nên lớn hơn
Đứng trước bối cảnh đó, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
sản phẩm sữa TH True Milk thuộc công ty cổ phần thực phẩm sữa TH” để làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩn sữa TH True Milk, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của TH True Milk
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa TH True Milk
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại công ty cồ phần thực phẩm sữa TH True Milk giai đoạn
2011 - 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu vận dụng trong thực hiện luận văn là phương pháp chuyên gia Khi phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh các vấn đề khó định lượng bằng các chỉ tiêu định lượng và mô hình toán học thì trong quá trình phân tích đánh giá, các nhà phân tích thường sử dụng phương pháp thu thập và lấy ý kiến chuyên gia thông qua các hình thức điều tra phỏng vấn trực tiếp Mặc dù phương pháp này có nhược điểm dễ bị chi phối bởi ý kiến chủ quan của người được phỏng vấn và hỏi ý kiến cũng như cách đặt câu hỏi nhưng nó lại khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp định lượng khi định lượng các yếu tố trong sản xuất kinh doanh Phương pháp chuyên gia là phương pháp đánh giá định tính và đưa ra các phân tích đánh giá dựa trên việc xử lý có hệ thống đánh giá của các chuyên gia
Phương pháp này được thực hiện cho các điều tra, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong ngành sữa về các vấn đề nghiên cứu Việc sử dụng phương pháp được thông qua các hình thức như: điện thoại, gặp trực tiếp, qua Email, nó làm tăng tính khách quan và độ chính xác của nội dung nghiên cứu, giúp đề ra các giải pháp có thực tiễn cao
Về việc thu thập dữ liệu: Nguồn dữ liệu phục vụ cho đề tài được thu thập từ các báo cáo tại các hội nghị xây dựng thế giới và khu vực, các dữ liệu từ ngành sữa Việt Nam và Công ty sữa TH True Milk Ngoài ra còn sử dụng một số dữ liệu từ các nguồn: sách, báo, các websites,… chuyên ngành liên quan
Trang 13Sử dụng phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn các chuyên gia là Giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng marketting, trưởng các chi nhánh của công ty và những người
có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các sản phấm
Số lượng người tham gia phỏng vấn là 10 chuyên gia
5 Tình tình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước tới nay đã có một số nghiên cứu về năng lực cạnh tranh về một số loại hàng hóa, dịch vụ Việt Nam trước những thay đổi của thị trường trong nước và quốc
tế Có thể kể đến nghiên cứu của một số tác giả sau:
- Luận văn thạc sĩ “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt
Nam – Vinamilk”, của tác giả Phạm Minh Tuấn năm 2006 tác giả đã dùng lý thuyết về
năng lực cạnh tranh cho thấy các điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách của công
ty Tuy nhiên trong quá trình phân tích, tác giả chưa đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của công ty Bên cạnh đó, các giải pháp được đưa ra chưa cụ thể cho các tiêu chí phân tích ở phần thực trạng.Tác giả đã dùng ma trận cạnh tranh hình ảnh để làm nôi bật điểm mạnh và điêm yếu của Vinamilk như:
- Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty TNHH NESTLE Việt nam đến năm 2015” của tác giả Đặng Minh Thu năm
2011 cho thấy tác giả đã đầu tư nghiêm túc nghiên cứu đề tài làm nổi bật về năng lực cạnh tranh của công ty và đã đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn cao cụ thể
- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bóng đèn Phích
nước Rạng Đông“ của tác giả Nguyễn Ngọc Hiền năm 2013 cho thấy tác giả đã đầu
tư nghiêm túc cho phương pháp phỏng vấn chuyên gia, đảm bảo tính khách quan của
đề tài nghiên cứu Tác giả cũng đã thực hiện đầy đủ các bước của quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh
- TS Ngô Xuân Hoàng (2013), “ Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
ở Công ty chè Sông Cầu – Tổng Công ty chè Việt Nam Công ty chè cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo lợi thế cạnh tranh: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, mở rộng thị phần, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực đổi mới công nghệ
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam ( Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, 2002) Với nội dung chính về các nền kinhh tế trên thế giới đều tập trung cho việc cạnh tranh động, nghĩa là mang đặc thù tri thức, công nghệ Với các loại thể tĩnh hiện tại về lao động giá rẻ, tài nguyên phong phú ,
Trang 14Việt nam cần phải làm rất nhiều việc để tăng cường sức cạnh tranh tranh trên thị
trường thế giới
Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tác giả vận dụng trong việc nâng cao năng lực canh tranh cho công ty sữa TH Truemilk Bên cạnh đó, cho đến hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về việc nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty sữa TH
True Milk Trước thực tiễn và tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa TH True Milk thuộc công ty cổ phần thực phẩm sữa TH” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình, nhằm góp phần
giải quyết những vấn đề thực tiễn đang được đặt ra cho công ty, giúp công ty nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh trên thị trường sữa Việt Nam
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Chương 2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa TH True Milk
Chương 3 Giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
sữa TH True Milk
Trang 15CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM 1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Hiện nay có rất nhiều lý thuyết về cạnh tranh như lý thuyết cạnh tranh của JB.Barney, P.Krugman, Philip Kotler, Micheal Porter…Trong đó, phải nói đến lý
thuyết cạnh tranh của Micheal Porter trong cuốn “ lợi thế cạnh tranh” năm 1990 ông
đưa ra hai vấn đề đó là “lợi thế cạnh tranh” và “lợi thế so sánh” Ông phân tích rằng lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của tổ chức, của quốc gia
Còn “lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường tạo cho doanh
nghiệp, sức lao động, quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng như trong thương mại” (Micheal Porter,1990) Lợi thế cạnh trạnh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ và
mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh và ngược lại lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh
Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh
gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.Nghiên cứu sâu về nền sản xuất
hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản
là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành Theo từ điển kinh
doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định
nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”
Qua các lý thuyết trên về cạnh tranh, Chúng ta thấy rằng cạnh tranh không phải
là sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, cá nhân, mà cạnh tranh là động lực tốt cho sự phát triển bền vững Có cạnh tranh các doanh nghiệp, các chủ thể mới phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của mình Từ đó mới biết quý trọng những lợi thế của mình, tìm cách phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế, tìm ra hướng đi đúng và bền vững cho mình Cạnh tranh cũng là động lực cho phát triển khoa học công nghệ, cho
sự tiến bộ của nghành nghề, mang lợi ích chung cho xã hội
Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh góp phần cho sự tiến
Trang 16bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những
cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó
có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh
Như vậy, với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh (Giáo trình marketing
căn bản, năm 2012) có thể được hiểu như sau:
“Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…”
1.1.1.2.Các loại hình cạnh tranh theo (Micheal Porter, 1999) bao gồm 3 căn cứ sau:
Chủ thể tham gia
Phạm vi ngành kinh tế
Tính chất của cạnh tranh trên thị trường
a Căn cứ chủ thể tham gia chúng ta có các loại canh tranh sau:
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: diễn ra theo qui luật “mua rẻ, bán đắt” Người mua thì muốn mua rẻ, người bán muốn bán đắt bởi vậy giá cả của hàng hóa đựơc hình thành
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: hình thành trên quan hệ cung - cầu Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong điều kiện cung của một hàng hóa dịch
vụ có chất lượng ít hơn nhu cầu của thị trường
Cạnh tranh giữa người bán với nhau: tồn tại nhiều nhất trên thị trường với tính chất gay go và khốc liệt Cạnh tranh này là động lực để cho các doanh nghiệp tăng cường chất lượng, công nghệ, giảm giá thành sản phẩm để thị trường ngày có càng nhiều sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý hơn
b Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế chúng ta chia thành các loại cạnh tranh sau:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các đối thủ tìm cách thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường
Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình thành
Trang 17nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển của các ngành với nhau
c Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường
Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác
Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh tranh độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua
1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Khi nói đến cạnh tranh thì người ta thường nhắc đến thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” – đây là thuật ngữ đã được sử dụng rất rộng rãi, nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, tiêu thức nào để đo lường rõ ràng
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học (2001), cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp
Theo quan điểm của Michael E Porter (2010), Chiến lược cạnh tranh, thì năng
lực cạnh tranh là khả năng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo, tạo
ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã lực chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Như vậy theo một cách hiểu chung nhất thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì, phát triển vị trí và cạnh tranh thắng lợi trong cuộc cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh
Trang 18Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ khác nhau: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau
Năng lực cạnh tranh quốc gia:
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ
sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”
Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định bởi các nhóm nhân tố: Mức độ mở cửa của nền kinh tế, vai trò của chính phủ, tài chính, công nghệ, cơ sở hạ tầng, quản lý nhân sự, lao động, thể chế,
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp:
Theo quan điểm của Michael E Porter (2010), Chiến lược cạnh tranh, thì năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng
để thu lại lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước
Năng lực cạnh tranh sản phẩm:
Theo quan điểm của Michael E Porter (2010), Chiến lược cạnh tranh, thì năng
lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh chóng khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung
ứng, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán
Trong đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm nên các cơ sở lý thuyết bên dưới đều tập trung vào phần này
Một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay
sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp
Trang 19Về nguyên tắc, sản phẩm chỉ có thể tồn tại trên thị trường khi có cầu về sản phẩm
đó Muốn sản phẩm tiêu thụ được, doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường để đưa ra những sản phẩm mà người tiêu dùng ưa chuộng
Từ các quản điểm trên chúng ta có khái niệm chung nhất về năng lực cạnh tranh sản phẩm:
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh chóng khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá
cả, tốc độ cung ứng, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm
+ Tốc độ tăng doanh thu, tăng thị phần
- Tốc độ tăng doanh thu:
Là một chỉ tiêu mang tính tuyệt đối thể hiện sức cạnh tranh của hàng hoá Hàng hoá mà có sứ cạnh tranh lớn sẽ bán được nhiều, làm tăng doanh thu hơn những hàng hoá có sức cạnh tranh yếu, sẽ bán được ít
Doanh thu của hàng hóa đạt mức cao trên thị trường chứng tỏ được thị trường chấp nhận, khách hàng ưa chuộng Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện hàng hóa đáp ứng nhu cầu của khách hàng Như vậy, tăng doanh thu nghĩa là hàng hóa thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mức độ thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa cao hơn
- Tốc độ tăng thị phần:
Thị phần được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán hàng hóa của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa đó trên một thị trường và trong một thời gian nhất định Thị phần càng lớn thì nó biểu hiện hàng hoá của doanh nghiệp được nhiều người tiêu dùng trên thị trường đó chấp nhận Khi đó, sức cạnh tranh của hàng hóa đó là lớn Còn khi chỉ tiêu này nhỏ thì nó biểu hiện hàng hóa đó của doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém Điều đó buộc doanh nghiệp phải xem xét để cải tiến mặt hàng hoặc đưa ra các chính sách sản phẩm khác để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm đó hoặc có thể dừng sản xuất mặt hàng đó nếu không thể cạnh tranh nổi so với đối thủ
Trang 20+ Mức độ hấp dẫn của sản phẩm: bao bì, nhãn hiệu tới khách hàng
Một sản phẩm chỉ có chất lượng tốt chưa phải là một sản phẩm hoàn thiện, nó sẽ chỉ đáp ứng, thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng mà thôi, trong đó, nhu cầu của khách hàng ngày càng phong phú đa dạng theo sự phát triển của xã hội Khi khách hàng mua sản phẩm ngoài mục đích giá trị sử dụng của sản phẩm, khách hàng còn có nhu cầu thể hiện địa vị khi sử dụng sản phẩm Mẫu mã sản phẩm cũng như kiểu dáng giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu này, một chiếc xe sang trọng, một sản phẩm
có bao bì trang trí bắt mắt sang trọng sẽ được khách hàng lựa chọn thay vì phải lựa chọn sản phẩm không được đẹp mặc dù chất lượng có thể hơn hoặc ngang bằng Vì vậy, bên cạnh công tác nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần chú ý tới kiểu dáng, mẫu mã hình thức bên ngoài của sản phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫn của sản phẩm, sự khác biệt hóa theo hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với sản phẩm của đối thủ
+ Giá cả sản phẩm và dịch vụ
Giá (Price) là một trong 4P của Marketing ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn mua hàng của khách hàng doanh nghiệp Vì vậy giá cũng là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Giá được xem là một khoảng chi phí đối với khách hàng nhưng nó lại là một khoảng thu nhập đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh bằng giá là một trong những công cụ cạnh tranh phổ biến trong thời đại ngày nay Doanh nghiệp nào đưa ra mức giá thấp hơn đối thủ nhưng lợi ích mang lại cho khách hàng tương đương sẽ được khách hàng lựa chọn Vì vậy một doanh nghiệp luôn muốn hạ thấp giá bán của mình để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Đặc biệt trong những ngành không có sự khác biệt về sản phẩm
Để đánh giá năng lực cạnh tranh về giá thì phải xét đến khung giá hay mức độ linh hoạt về giá của mỗi doanh nghiệp, mức độ phản ứng hay số lần giảm giá của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Mỗi doanh nghiệp đều cần có một chiến lược giá nhất định tùy vào từng thời điểm, tùy sản phẩm và tùy từng vùng mà doanh nghiệp kinh doanh
+ Chất lượng và độ đa dạng của sản phẩm
Có thể nói giá là công cụ cạnh tranh phổ biến nhưng để tồn tại và phát triển một cách bền vững thì chất lượng sản phẩm mới là điều quyết định
Trang 21Chất lượng sản phẩm ở đây tiếp cận dưới góc độ là những giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng Có thể nói giá trị mà doanh nghiệp mang lại cho khách hàng càng lớn thì chất lượng sản phẩm càng cao Ngoài ra chất lượng còn được tiếp cận theo yêu cầu của nhà sản xuất và theo yêu cầu của mỗi quốc gia
Để nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư công sức rất nhiều từ công nghệ cho tới con người Và để tạo ra một sản phẩm tốt thì phải có hệ thống quản lý chất lượng tốt mà đặc trưng là hai hệ thống TQM và ISO
Độ đa dạng của sản phẩm cũng là một yếu tố góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đặc biệt là trong ngành bán lẻ
Càng cho khách hàng nhiều lựa chọn, mang đến cho khách hàng nhiều chủng loại sản phẩm thì khả năng đến với doanh nghiệp của khách hàng càng cao và càng nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Có thể nói đây là yếu tố mà các doanh nghiệp bán lẻ thường hay sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
+ Chất lượng dịch vụ khách hàng
Chất lượng của dịch vụ tuỳ thuộc vào người cung cấp, cũng như thời gian và địa điểm cung cấp Dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau thì chất lượng thường không giống nhau, phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổ chức, trình độ chuyên môn, phong cách phục vụ và uy tín doanh nghiệp trên thị trường Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, nhưng lại thường xuyên biến động, không ổn định, từ đó kéo theo tính bất ổn và khó xác định chính xác chất lượng của dịch vụ Nếu chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp càng cao thì uy tín càng lớn, càng thu hút được nhiều khách hàng tin tưởng và sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, từ đó càng nhiều cơ hội tăng doanh thu, tăng thị trường, thị phần phát triển, biểu hiện của năng lực cạnh tranh cao, bởi chất lượng dịch vụ là do khách hàng cảm nhận và quyết định đến kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, không chỉ là dịch vụ phục vụ trực tiếp mà doanh nghiệp còn phải có các dịch vụ chăm sóc khách hàng nhằm giữ mối quan hệ lâu dài với các khách hàng mục tiêu, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tìm kiếm nguồn khách tiềm năng, có một lượng khách hàng trung thành với doanh nghiệp
Trang 22+ Khả năng tài chính
Nhắc đến khả năng tài chính của doanh nghiệp thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là nguồn vốn Đây là một yếu tố sản xuất cở bản và là một trong những đầu vào của doanh nghiệp Sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả giúp doanh nghiệp giảm được chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Khả năng tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Khả năng tài chính của doanh nghiệp thể hiện khả năng huy động vốn, vốn đầu
tư cho các dự án và nguồn tài chính cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng cung ứng đa dạng các sản phẩm trên thị trường
Dựa vào khả năng tài chính doanh nghiệp có thể tạo uy tín và sự tin tưởng cho các nhà đầu tư và đối tác làm ăn lâu dài, đồng thời khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì vậy, nâng cao năng lực tài chính cũng là một trong các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và ngược lại
+ Năng lực quản lý và điều hành kinh doanh
Tương lai của một doanh nghiệp nằm trong tay người quản lý, bởi họ là người xác lập các tiêu chuẩn và quản lý con người cũng như tài sản vật chất Các doanh nghiệp được quản lý và điều hành tốt sẽ tạo ra môi trường làm việc linh hoạt, khích lệ tinh thần làm việc cũng như nâng cao năng lực của đội ngũ nhân viên, hiệu quả công việc cũng gia tăng, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng diễn ra một cách suôn sẻ, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Cụ thể:
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: không chỉ đơn thuần là trình độ học
vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc
tế, thị trường, ngành hàng đến kiến thức về xã hội, nhân văn
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết
Trang 23định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì các đối tác cũng như khách hàng luôn đặt niềm tin vào khả năng quản lý và điều hành kinh doanh của doanh nghiệp, bởi trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp Điều này có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Hiệu quả quảng bá thương hiệu
Thương hiệu là tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng, kiểu dáng, hay là sự kết hợp các phần tử đó, nhằm nhận diện các hàng hóa dịch vụ của người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với các hàng hóa dịch vụ của đối thủ cạnh tranh
Thương hiệu giữ một vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nó mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, giúp tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng, thu hút các nhà đầu tư, là tài sản vô hình và rất có giá trị của doanh nghiệp Một thương hiệu mạnh không chỉ đơn thuần là một giá trị quy ra tiền Sức mạnh của thương hiệu sẽ giúp ích cho doanh nghiệp ở rất nhiều góc độ khác nhau, trong đó có việc góp phần củng cố vị trí và sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Có được một thương hiệu lớn là cả một vấn đề đối với doanh nghiệp vì đó cũng chính là uy tín, vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh Vì vậy, các doanh nghiệp càng phải thấy được những tác dụng to lớn của việc xây dựng
và quảng bá thương hiệu trong cạnh tranh Làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm, tạo được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường
+ Kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ
Kênh phân phối là một tập hợp các tổ chức hoặc cá nhân độc lập hoặc phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, nó là một phần quan trọng trong những nỗ lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp
Trang 24Doanh nghiệp có thể lựa chọn các kênh phân phối: trực tiếp, gián tiếp hoặc chuyên ngành
Để có được một thị trường rộng lớn thì doanh nghiệp phải lựa chọn số lượng các trung gian ở mỗi cấp độ phân phối, phải chọn nhiều phương thức phân phối khác nhau tùy thuộc và các điều kiện khác nhau Doanh nghiệp càng có nhiều kênh phân phối thì khả năng sản phẩm hay dịch vụ của mình tiếp xúc với người tiêu dùng càng dễ dàng và sản phẩm cũng được tiêu thụ nhanh chóng, từ đó tăng thị phần và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường
+ Trình độ lao động
Con người là yếu tố trọng tâm tạo ra các sản phẩm dịch vụ, là đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình cải tiến công nghệ hay thậm chí là góp sức vào những phát kiến và sáng chế Chất lượng người lao động quyết định đến chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mà trình độ lao động là một trong những nhân tố cấu thành nên chất lượng lao động Vì vậy, trình độ của lực lượng lao động ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ sản xuất ra cũng như ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chi phí sản xuất ra Mà những yếu tố này tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chính vì vậy, nâng cao trình độ cho người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động một cách thiết thực, cụ thể là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Bởi chăm lo tốt cho người lao động chính là nghĩa vụ trước pháp luật, là tố chất nhân văn của doanh nghiệp đối với người lao động và là đạo đức kinh doanh, văn hóa của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay Một doanh nghiệp có một đội ngũ lao động với trình độ càng cao thì doanh nghiệp đó có một lực lượng sản xuất càng mạnh 1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.4.1 Môi trường bên ngoài
a Môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế của doanh nghiệp được xác định thông qua tiềm lực của nền kinh tế quốc gia Ngày nay, những khía cạnh của môi trường kinh tế được các nhà chiến lược xem xét, phân tích trên toàn cảnh của từng khu vực và thế giới để dự báo các xu hướng biến động nhằm ra các quyết định chiến lược đúng đắn, thích nghi với môi trường Các nhân tố quan trọng nhất để đánh giá môi trường kinh tế bao gồm:
Trang 25Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (các giai đoạn thịnh vượng, suy thoái, phục
hồi) Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đối với những cơ hội
và nguy cơ mà doanh nghiệp phải đối mặt
Lãi suất ngân hàng tác động đến mức cầu cho các sản phẩm của doanh nghiệp,
việc gửi tiết kiệm, tiêu dùng, đầu tư của các tầng lớp dân cư trong toàn xã hội
Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết
kiệm của dân cư và doanh nghiệp
Tỷ giá hối đoái có tác động đến doanh nghiệp trên cả hai giác độ là môi trường
tài chính và chính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài Nếu tỷ giá hối đoái biến động quá lớn sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hoạch định các chiến lược kinh doanh
Nhiều nhân tố kinh tế khác như: hệ thống thuế và mức thuế; sự phát triển của các ngành kinh doanh mới; thu nhập bình quân/ người/ năm; mức độ thất nghiệp; cơ cấu chi tiêu của tầng lớp dân cư cũng tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp theo hai hướng vừa tạo cơ hội vừa gây nguy cơ
- Môi trường chính trị pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và theo các hướng khác nhau Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước, khu vực và trên toàn thế giới Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuế, thuê nhân công, cho vay của ngân hàng, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường
Hệ thống pháp luật và chính sách là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường Nó tạo ra khuôn khổ hoạt động cho doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng Vì vậy, tính ổn định và chặt chẽ của nó tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở cho việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả Các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các tài sản khác của họ, như vậy sẽ khuyến khích họ đầu tư với số vốn nhiều hơn vào các dự án dài hạn
Trang 26Để tận dụng cơ hội và giảm thiểu các nguy cơ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu cẩn thận các điều khoản có liên quan trong các văn bản pháp luật, các quy định, những
ưu tiên, những chương trình của chính phủ, các xu hướng chính trị và ngoại giao, qua
đó nhận diện rõ các cơ hội phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp có thể nắm bắt hoặc các hạn chế được xem là nguy cơ, cần phải né tránh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Môi trường kỹ thuật công nghệ
Đây là một yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Những nhân tố của chúng có thể kể đến là: Các sản phẩm mới; chuyển giao công nghệ mới; tự động hóa và sử người máy; tốc độ thay đổi công nghệ; chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển; sự bảo vệ bản quyền
Biến cố trong kỹ thuật công nghệ có thể là cơ hội cho những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn đầu tư nhưng cũng là đe dọa cho những doanh nghiệp bị dính chặt vào công nghệ cũ
Ngày nay, những lợi thế của công nghệ trong lĩnh vực máy vi tính, người máy, tia laser, mạng lưới vệ tinh nhân tạo, công nghệ sinh học, nhân bản vô tính và nhiều lĩnh vực khác đã tạo cơ hội trong việc cải tiến hoạt động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp
Thực tế hiện nay, tốc độ thay đổi công nghệ và chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển công nghệ là khác nhau giữa các ngành, chẳng hạn, trong ngành điện tử, truyền thông, hàng không, dược phẩm sự thay đổi diễn ra nhanh chóng và cần chi phí cao, nhưng trong ngành chế biến kim loại, nông nghiệp sự thay đổi chậm hơn và diễn ra từ từ với chi phí thấp hơn
Như vậy, tùy theo lĩnh vực hoạt động, các nhà quản trị cần xem xét một cách cẩn trọng trong việc quyết định đầu tư vào công nghệ mới hay cải tiến công nghệ hiện có
để tiết kiệm chi phí, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và tăng khả năng cạnh tranh của mình
- Môi trường văn hóa – xã hội
Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần có mối quan hệ gắn bó với nhau,
do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong các tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Xã hội là kết quả các quá trình hoạt động của con người trong cộng đồng các dân tộc, có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố văn hóa Một số yếu tố cần quan tâm khi nghiên cứu môi trường văn hóa xã hội là:
Trang 27- Các yếu tố văn hóa, trong đó có: Hệ thống các giá trị (chuẩn mực, đạo đức, quan niệm ); Quan điểm về chất lượng cuộc sống, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ, nghề nghiệp; Phong tục, tập quán, truyền thống
+ Trình độ nhân thức, học vấn chung trong xã hội
+ Lao động nữ trong lực lượng lao động
+ Khuynh hướng tiêu dùng
+ Một số chỉ tiêu về các yếu tố thuộc nhân khẩu học như: tổng số dân, số người trong độ tuổi lao động; tỷ lệ tăng dân số; các biến đổi về cơ cấu dân số (tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập, ); tuổi thọ, cơ cấu tuổi tác; hôn nhân, cơ cấu gia đình; trình độ văn hóa; xu hướng dịch chuyển dân cư giữa các vùng
- Môi trường tự nhiên
Các yếu tố của môi trường tự nhiên như: vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, vấn đề ô nhiễm môi trường, sự thiếu hụt nguồn năng lượng, vấn đề lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn các nguồn lực này đã buộc doanh nghiệp phải thay đổi quyết định và biện pháp hoạt động liên quan
Nhiều yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu trong năm theo khu vực địa lý cũng ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược kinh doanh Ví dụ, một số ngành hàng sản xuất mang tính thời vụ, sản xuất cả năm tiêu dùng vài tháng, hoặc chỉ sản xuất được trong vài tháng nhưng tiêu dùng cả năm Lúc này, để đảm bảo sự ổn định về việc làm, quy mô doanh số và lợi nhuận, các nhà chiến lược thường chọn chiến lược đa dạng hóa sản phẩm
Trong nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
b Môi trường vi mô
Hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải đặt mình vào môi trường cạnh tranh khốc liệt Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho doanh nghiệp là phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành
để xác định các cơ hội và đe dọa ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Việc phân tích môi trường ngành đã được Michael Porter đưa ra và xây dựng thành mô hình 5 lực lượng cạnh tranh thể hiện như sau:
Trang 28Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh Michael Porter
- Sức ép của khách hàng
Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua Người mua có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại, khi người mua yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn Người mua gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp
Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau:
+ Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp Trong khi
đó người mua là một số ít và có quy mô lớn Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công ty cung cấp
+ Khách hàng mua một khối lượng lớn Trong hoàn cảnh này người mua có thể
sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thể để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý
+ Ngành cung cấp phụ thuộc vào khách hàng với tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng
Quyền lực thượng thừa của người mua
CÁC ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG
KHÁCH HÀNG
SẢN PHẨM THAY THẾ
NHÀ CUNG
ỨNG
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
Cuộc cạnh tranh giữa các
Trang 29- Quyền lực của nhà cung cấp
Các nhà cung cấp là những tổ chức, cá nhân có khả năng sản xuất và cung cấp các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, các loại dịch vụ, phương tiện vận chuyển, thông tin Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp Trên một phương diện nào đó, sự đe dọa đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều đối với các doanh nghiệp Áp lực tương đối của nhà cung ứng thường thể hiện trong các tình huống sau:
+ Ngành cung ứng mà doanh nghiệp chỉ có một số, thậm chí một doanh nghiệp độc quyền cung ứng;
+ Tình huống không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có người cung ứng nào khác;
+ Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và
ưu tiên của nhà cung ứng;
+ Loại đầu vào, chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng là quan trọng nhất đối với doanh nghiệp
+ Các nhà cung cấp vật tư cũng có chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín sản xuất
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là một trong 5 lực lượng cạnh tranh trong ngành Khi xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại doanh nghiệp cần nhận thấy: Nếu đối thủ càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là đáng kể Vì vậy, việc phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại cần xoay quanh những nội dung chủ yếu sau:
Một là, doanh nghiệp phải nhận biết được đối thủ cạnh tranh trực tiếp để từ đó
phân tích tín hiệu từ thị trường và phân loại đối thủ cạnh tranh
Hai là, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và khả năng cạnh tranh của các đối thủ
thông qua so sánh các yếu tố (sản phẩm, chất lượng, khả năng cạnh tranh về giá, hiệu quả quảng cáo, năng suất lao động, mạng lưới phân phối, thị phần, khả năng tài chính )
Trang 30Ba là, phân tích chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh từ đó so sách tương
quan thế lực của doanh nghiệp so với đối thủ
Phân tích đối thủ cạnh tranh là một công việc cực kỳ quan trọng trong phân tích môi trường vi mô quyết định đến năng lực cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải có sự đầu tư đúng mức và hướng vào việc này
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ quyết định gia nhập ngành
Về mọi phương diện các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn chưa bằng các đối thủ trong ngành Tuy nhiên, họ có hai điểm mà các doanh nghiệp hiện tại cần phải lưu ý là: có thể biết được điểm yếu của các đối thủ hiện tại; và có tiềm lực tài chính, công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm mới
Mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào cản trở gia nhập Theo Michael Porter hàng rào cản trở gia nhập ngành bao gồm:
Kinh tế quy mô (chi phí về sản xuất, phân phối, bán, quảng cáo ) giảm với số
lượng bán Hay nói cách khác số lượng sản phẩm sản xuất và bán hàng tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm xuống
Những ưu thế tuyệt đối về chi phí không liên quan đến quy mô: (1) Công nghệ
sản phẩm thuộc quyền sở hữu: sáng chế, làm chủ một công nghệ; (2) Sự tiếp cận nguồn lực đặc thù: nhân lực, nguồn nguyên liệu thô thuận lợi; (3) Vị trí kinh doanh thuận lợi; (4) Đường cong kinh nghiệm
Khác biệt hóa sản phẩm: là việc tạo ra sản phẩm có những đặc tính đặc biệt
mang tính độc đáo về chất lượng, giá cả, thiết kế, biểu tượng hay dịch vụ khách hàng
có thể phân biệt dễ dàng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh
Kênh phân phối của các doanh nghiệp hiện tại đang rất mạnh và đã tồn tại trên
thị trường Việc các doanh nghiệp mới thuyết phục để mạng lưới phân phối đó làm việc với doanh nghiệp mình là điều hết sức khó khăn, cần phải có các biện pháp giảm giá, chia sẻ chi phí quảng cáo
Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh Nếu các
doanh nghiệp mới muốn vào ngành phản ứng lại một cách tích cực và khôn khéo, họ
Trang 31sẽ thuận tiện hơn trong việc gia nhập ngành Nhưng nếu các doanh nghiệp phản ứng lại bằng một cuộc chiến (ví dụ cuộc chiến về giá) thì giá phải trả là quá đắt để gia nhập ngành
- Áp lực của sản phẩm và dịch vụ thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu điểm hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt Chẳng hạn, sự gia tăng các loại đồ uống có ga hiện nay là một
đe dọa thật sự đối với các ngành phục vụ đồ uống truyền thống như ngành chè, cà phê Do các loại hàng có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường
Vì vậy, việc phân tích sản phẩm thay thế là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Khi thực hiện phân tích sản phẩm thay thế doanh nghiệp phải thể hiện các nội dung sau:
+ Phân tích xu hướng thay thế: thay thế bình thường hay thay thế hoàn toàn
+ Phân tích mối quan hệ về cung cầu và mối quan hệ về giá cả của sản phẩm thay thế Phân tích sản phẩm thay thế tốt sẽ cho phép doanh nghiệp xác định ngành hàng kinh doanh một cách có hiệu quả và có thể chuyển hướng kinh doanh hay đa dạng hóa sản phẩm khi thấy cần thiết
1.1.4.2 Môi trường bên trong
Mỗi doanh nghiệp khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường đều có những điểm mạnh và điểm yếu nhất định Việc đánh giá môi trường nội bộ doanh nghiệp nhằm giúp nhà quản trị phát hiện ra những điểm mạnh và điểm yếu thực
sự quan trọng bên trong doanh nghiệp mình, từ đó tìm cách khai thác tối đa các điểm mạnh cũng như khắc phục những điểm yếu để có thể phát huy lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Sau đây là những nhân tố môi trường nội bộ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Hoạt động sản xuất
Sản xuất là hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với việc tạo ra sản phẩm Đây là hoạt động chính yếu của doanh nghiệp vì vậy việc phân tích hoạt động sản xuất có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Những vấn đề cơ bản của sản xuất:
Các hoạt động đầu vào: các hoạt động này thường gắn liền với hoạt động mua
sắm, nhập kho, tồn trữ và quản lý các yếu tố đầu vào Những hoàn thiện trong bất cứ hoạt động nào đều dẫn tới giảm chi phí và tăng năng suất
Trang 32Sản xuất: sản xuất bao gồm các hoạt động như vận hành máy móc thiết bị, lắp
ráp, bao bì đóng gói, bảo dưỡng máy móc thiết bị và kiểm tra Việc hoàn thiện những hoạt động này có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất được nâng cao
Các hoạt động đầu ra: thành phần tạo ra được bảo quản, vận chuyển, lưu kho và
thực hiện công tác phân phối đưa sản phẩm tới khách hàng Nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu ra sẽ thúc đẩy các hoạt động đầu vào và sản xuất phát triển
- Hoạt động Marketing
Marketing được hiểu là các hoạt động liên quan đến nghiên cứu, dự báo, xác định các nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu
đó bằng cách kết hợp các chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối
và chiến lược chiêu thị/ xúc tiến hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh ở những thị trường trong những giai đoạn khác nhau
Các hoạt động marketing cơ bản trong doanh nghiệp bao gồm: hoạt động nghiên cứu thị trường để giúp doanh nghiệp chủ động nhận diện các cơ hội từ thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và phân tích khách hàng; tiếp đến doanh nghiệp thực hiện việc hoạch định các chiến lược marketing (chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến)
Như vậy, hoạt động marketing giúp cho doanh nghiệp đưa sản phẩm và dịch vụ của mình đến gần hơn với khách hàng, tác động đến quyết định lựa chọn và sử dụng của họ, có thể trở thành khách hàng trung thành của doanh nghiệp
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế như hiện nay thì khách hàng không khó để tìm kiếm các sản phẩm cần thiết cho mình, có thể nói là hàng hóa vô cùng phong phú và
đa dạng Chính vì thế mà các doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm tiêu thụ được các sản phẩm, dịch vụ cần phải có một chính sách marketing mang tính khác biệt và tạo ấn tượng trong tiềm thức tiêu dùng của khách hàng Một khi hoạt động marketing của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó trên thị trường
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có thể nói là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp Nguồn nhân lực là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho tổ chức, không phân biệt vị trí công việc, mức độ phức tạp hay mức độ quan trọng của công việc
Trang 33Một doanh nghiệp không thể tạo năng lực cạnh tranh cho mình mà không có một nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng về cả chất và lượng, nhân sự có vai trò hết sức quan trọng và nó quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp nào có nguồn nhân lực càng mạnh thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường càng lớn
Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực của doanh nghiệp ta sẽ nghiên cứu các vấn đề sau: + Nghiên cứu về tuổi tác, giới tính, trình độ, cấp bậc trong doanh nghiệp
+ Việc quản lý tiền lương, phúc lợi, tuyển dụng, đào tạo và tái đào tạo, bố trí, sa thải nhân viên, khuyến khích phát triển làm việc, chính sách quy chế về kỷ luật lao động + Nghiên cứu các mối quan hệ trong doanh nghiệp (mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, mối quan hệ giữa các đồng nghiệp cùng cấp)
- Nguồn lực tài chính
Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định đến việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành nhằm duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường
Khi nghiên cứu nguồn lực tài chính của doanh nghiệp ta sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
+ Tất cả tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn + Tài sản này hình thành từ nguồn nào, từ vốn chủ sở hữu hay vốn vay
+ Phân tích các chỉ số tài chính để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong tài chính của doanh nghiệp
Một số nhóm chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
Trang 34Hay Tỷ số tài trợ = 1 – Tỷ số nợ
Tỷ số này phản ánh khả năng tự chủ về mặt tài chính, từ đó thấy được khả năng chủ động của doanh nghiệp hay mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ Nếu tỷ số này càng lớn thì uy tín của doanh nghiệp càng cao và là cơ sở cho các chủ
nợ tin tưởng vào khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngược lại doanh nghiệp có lợi nhưng mức độ rủi ro cao
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán hiện hành
Tổng tài sản
Hệ số thanh toán hiện hành = Nợ phải trả
Chỉ tiêu này đánh giá thực trạng tổng quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bình thường thì hệ số này luôn luôn lớn hơn 1 Nếu hệ số này bằng hoặc nhỏ hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp đã mất hết vốn chủ sở hữu
và doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản
Hệ số thanh toán ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán
ngắn hạn = Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
là cao hay thấp Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng tốt Tuy nhiên, nếu cao quá sẽ không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn so với nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Thông thường, hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Nếu nó lơn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan Ngược lại, doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán
Hệ số thanh toán nhanh
Tiền và tương đương tiền
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này chứng minh khả năng thanh toán tức thời đối với các khoản nợ đến hạn trả Thông thường chỉ tiêu này dao động lớn hơn 0,5 là tốt Nếu chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1 khẳng định doanh nghiệp có khả năng chi trả công nợ nhưng doanh
Trang 35nghiệp đang giữ quá nhiều tiền gây ứ đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn không cao Nếu
tỷ số này dưới 0,1 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tiền để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và thanh toán nợ đến hạn
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu = Tổng doanh thu và thu nhập x 100%
Trong một kỳ kinh doanh, cứ trong 100 đồng doanh thu và thu nhập khác thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thì có bao nhiêu đồng là lợi nhuận trước hay sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận
trên tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân x 100%
Trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hay sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận
Trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
- Công tác hoạch định chiến lược
Trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động khó lường như ngày nay để tồn tại và phát triển đang là một thách thức cho bất cứ doanh nghiệp nào Chính vì vậy việc hoạch định chiến lược đang ngày càng quan trọng và cần thiết Hoạch định chiến lược trình bày những mục tiêu doanh nghiệp mong muốn đạt được, những cách thức
và nguồn lực cần phải có để đạt được mục tiêu, nhân sự thực hiện và thời gian cần thiết để tiến hành
Khi nghiên cứu công tác hoạch định chiến lược ta sẽ nghiên cứu các vấn đề sau: + Những mục tiêu doanh nghiệp đề ra như thế nào tức ai đề ra và có khả thi hay không + Các cách thức và nguồn lực mà doanh nghiệp đưa ra đề đạt mục tiêu như thế nào Có khả thi và thích ứng với môi trường hay không
Trang 36+ Thời gian thực hiện liệu có đủ dài để doanh nghiệp thực hiện thành công chiến lược của mình hay không
+ Các yếu kém trong công tác hoạch định chiến lược
- Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích
Văn hóa doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được Do vậy, có thể khẳng định văn hóa doanh nghiệp là tài sản
vô hình của mỗi doanh nghiệp và cũng là một trong những hình thức cạnh tranh bằng thương hiệu ngày nay Nếu một doanh nghiệp xây dựng được một văn hóa tổ chức mà khách hàng tin tưởng thì điều này gián tiếp mang khách hàng đến với doanh nghiệp Tuy đã được nghiên cứu nhiều nhưng văn hóa doanh nghiệp vẫn rất khó nhận biết và lượng hóa vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều cho việc phát triển văn hóa và đầu tư trong một thời gian dài
Văn hóa ở một khách sạn đơn giản mà ta có thể nhìn thấy ở trang phục của nhân viên, câu slogan của khách sạn hay cụ thể hơn là ở thái độ và phong cách phục vụ, có thể là cách bày trí hay lối kiến trúc đặc trưng mang tính khác biệt của khách sạn 1.1.5 Các công cụ sử dụng đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1.5.1 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài (EFE Matrix – External Factors Evaluation Matrix)
Đây là công cụ thường được sử dụng trong phân tích môi trường bên ngoài Ma trận EFE giúp các nhà quản trị đánh giá được mức độ phản ứng của doanh nghiệp đối với các cơ hội và nguy cơ, từ đó đưa ra những nhận định môi trường bên ngoài tạo thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp
Năm bước để xây dựng ma trận EFE:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công của
doanh nghiệp như đã nhận diện trong quá trình đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài, bao gồm từ 10 đến 20 yếu tố cả cơ hội và nguy cơ
Trang 37Bước 2: Xác định mức độ quan trọng 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan
trọng) cho mỗi yếu tố
Cách xác định mức độ quan trọng của các yếu tố dựa vào ngành kinh doanh, tức
là mức độ tác động của chúng đối với những công ty cạnh tranh cùng ngành với nhau Mức xác định thích hợp có thể bằng cách so sánh những nhà cạnh tranh thành công với những nhà cạnh tranh không thành công hoặc bằng cách thảo luận về các yếu tố này và đạt được sự nhất trí của nhóm Tổng số các mức độ quan trọng của toàn bộ các yếu tố trên danh mục (bước 1) phải bằng 1,0
Bước 3: Xác định hệ số từ 1 đến 4 cho từng yếu tố Cách xác định hệ số này dựa
vào mức độ tác động của các yếu tố này đối với hiệu quả của chiến lược hiện tại ở công ty hay cho thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với các yếu tố Như vậy sự xác định này dựa trên công ty
Trong đó: 4 là phản ứng tốt nhất, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình, 1 là phản ứng dưới trung bình
Bước 4: Tính điểm cho từng yếu tố bên ngoài, bằng cách làm phép nhân (mức độ
quan trọng của yếu tố với hệ số dành cho yếu tố đó)
Bước 5: Cộng tổng điểm của toàn bộ danh mục các yếu tố để xác định tổng số
điểm quan trọng cho doanh nghiệp
Bất kể số các cơ hội chủ yếu và nguy cơ được bao gồm trong ma trận EFE, tổng
số điểm quan trọng cao nhất của một doanh nghiệp có thể có là 4,0 và thấp nhất là 1,0 Tổng điểm quan trọng trung bình là 2,5 Tổng số điểm quan trọng là 4,0 cho thấy doanh nghiệp phản ứng rất tốt với các cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên ngoài Tổng số điểm quan trọng là 1,0 cho thấy doanh nghiệp không tận dụng được các cơ hội hoặc né tránh các nguy cơ từ môi trường bên ngoài
1.1.5.2 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ doanh nghiệp (IFE Matrix – Internal Factors Evaluation Matrix)
Đây là công cụ thường được sử dụng trong phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp Ma trận IFE tổng hợp, tóm tắt và đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu cơ bản của doanh nghiệp Ma trận cho thấy, những điểm mạnh mà doanh nghiệp cần phát huy và những điểm yếu doanh nghiệp cần cải thiện để nâng cao vị thế cạnh tranh của mình
Có năm bước để xây dựng ma trận IFE:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm cả những điểm mạnh và điểm
yếu chính (thường từ 10 – 20 yếu tố)
Trang 38Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng)
tới 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Tầm quan trọng được ấn định cho mỗi yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó đối với sự thành công của doanh nghiệp trong ngành
Không kể yếu tố chủ yếu đó là điểm mạnh hay điểm yếu bên trong, các yếu tố được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đối với thành quả hoạt động của tổ chức phải cho
là có tầm quan trọng nhất Tổng cộng các mức quan trọng là 1,0 Sự phân loại này dựa trên cơ sở ngành
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện cho điểm yếu lớn nhất
(phân loại là 1); điểm yếu nhỏ nhất (phân loại là 2); điểm mạnh nhỏ nhất (phân loại là 3); điểm mạnh lớn nhất (phân loại là 4)
Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với phân loại của nó để
xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số
Bước 5: Cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định số điểm
quan trọng của tổ chức
Không kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, số điểm quan trọng tổng cộng có thể được phân loại từ thấp nhất là 1,00 cho đến 4,00 và số điểm trung bình là 2,50 Số điểm quan trọng tổng cộng thấp hơn 2,50 cho thấy doanh nghiệp yếu về nội bộ và số điểm cao hơn 2,50 cho thấy doanh nhiệp mạnh về nội bộ
1.1.5.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Để đánh giá năng lực cạnh tranh, các nghiên cứu đã chỉ ra một trong những công cụ đó là ma trận hình ảnh cạnh tranh Việc xây dựng ma trận này nhằm đưa ra những đánh giá so sánh doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong cùng ngành, sự so sánh dựa trên các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành Qua đó nó cho nhà quản trị nhìn nhận được những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, xác định lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và những điểm yếu cần được khắc phục
Các số liệu điều tra được lấy từ nhà quản trị doanh nghiệp, các chuyên gia tư vấn, hay tập hợp ý kiến trực tiếp của khách hàng, doanh nghiệp có thể đánh giá khách quan tầm quan trọng của các yếu tố được đưa vào ma trận
Để xây dựng một ma trận hình ảnh cạnh tranh cần thực hiện qua 5 bước:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp trong một ngành kinh doanh (thông thường là khoảng từ 10 đến
20 yếu tố)
Trang 39Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng)
đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Cần lưu ý, tầm quan trọng được ấn định cho các yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh Như thế, đối với các doanh nghiệp trong ngành thì tầm quan trọng của các yếu tố được liệt kê trong bước 1 là giống nhau
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện tùy thuộc vào mức độ mạnh
yếu của doanh nghiệp với yếu tố đó (thực tế có thể định khoảng điểm rộng hơn), trong đó: 4 là tốt, 3 là trên trung bình, 2 là trung bình, 1 là yếu Như vậy, đây là điểm số phản ánh năng lực cạnh tranh từng yếu tố của doanh nghiệp so với các đối thủ trong ngành kinh doanh
Bước 4: Tính điểm cho từng yếu tố bằng cách nhân mức độ quan trọng của yếu
tố đó với điểm số phân loại tương ứng
Bước 5: Tính tổng điểm cho toàn bộ các yếu tố được đưa ra trong ma trận bằng
cách cộng điểm số các yếu tố thành phần tương ứng của mỗi doanh nghiệp
Tổng điểm số của ma trận hình ảnh cạnh tranh quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hay khả năng ứng phó của doanh nghiệp với các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong doanh nghiệp
1.1.5.4 Ma trận điểm yếu – điểm mạnh – cơ hội – nguy cơ (SWOT)
Ma trận phân tích SWOT là một trong những công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào SWOT viết tắt của 4 chữ Strengths (những điểm mạnh), Weaknesses (những điểm yếu), Opportunities (các cơ hội), Threats (các nguy cơ) SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng năng lực kinh doanh hoặc cạnh tranh của một doanh nghiệp SWOT là kỹ thuật phân tích rất tốt trong việc xác định Điểm mạnh, Điểm yếu để từ đó tìm ra Cơ hội và Nguy cơ Để xây dựng ma trận SWOT cần phải liệt kê tất cả các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thông qua ma trận theo các thứ tự ưu tiên Tiếp đó là phối hợp tạo ra các nhóm tương ứng với mỗi nhóm này là các chiến lược thực thi
Bảng 1.1 Ma trận SWOT
Trang 40Mô hình SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
- S/O: chiến lược dựa trên các ưu thế của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội của thị trường
- W/O: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các điểm yếu của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường
- S/T: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường
- W/T: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các điểm yếu của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường
Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta thường đặt các câu hỏi sau:
- Các điểm mạnh: Lợi thế, ưu thế của doanh nghiệp là gì? Công việc nào làm tốt nhất? Đâu là điểm mạnh của doanh nghiệp trên thị trường? Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh
- Các điểm yếu: Doanh nghiệp cần phải cải thiện gì? Lĩnh vực nào? Cần tránh làm gì? Vấn đề gì đang được xem như là điểm yếu của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở xem xét các vấn đề cả bên trong và bên ngoài Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình?
- Các cơ hội: Các cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mà doanh nghiệp mong đợi? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại những ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế
đó có mở ra cơ hội nào mới không?
- Các nguy cơ: Những trở ngại hiện tại? Có điểm yếu nào đang đe dọa doanh nghiệp? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Những đòi hỏi khác về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với doanh nghiệp hay không? Có vấn đề gì liên quan đến dòng tiền? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng
Ma trận phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua việc phân tích tình hình bên trong và bên ngoài doanh nghiệp và thực hiện chiến lược thông tin theo một trật tự dễ hiểu và dễ xử lý