1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf

13 893 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên lên tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Tác giả Dương Hải Toàn, Lý Tiểu Mi, Nguyễn Thanh Phương
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Kỷ yếu hội nghị
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 311,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA CHO ĂN GIÁN ĐOẠN VÀ LUÂN PHIÊN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ TRA (Pangasianodon

hypophthalmus)

Dư ơng Hải Toàn 1 , Lý Tiểu Mi 2 và Nguyễn Thanh Phương 2

ABSTRACT

Manufactured pelleted feed has been popularly used in striped (tra) catfish (Pangasianodon hypophthalmus) farming The feed cost shared about 80% of total production cost The study on optimal feeding methods for improving feed utilization was conducted with fingerling sized fish (23-27 g/fish) The study comprised of two experiments including restricted feeding and alternative feeding of different protein pellets These experiments were conducted in 500 L tank for 90 days The growth rate and feed conversion ratio of fish fed 7 days and starved 3 days was the best The growth rate and feed conversion ratio of fish fed a feeding regime of 7 days with 30% protein pellet and 3 days with 18% protein pellet were not significantly different if compared to fish fed only 30% protein pellet These results are applicable in the pond culture conditions

Keywords: striped catfish, alternative feeding, restricted feeding

Title: Effects of restricted and alternative feeding methods on the growth of the striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) fingerlings

TÓM TẮT

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) hiện được nuôi chủ yếu bằng thức ăn viên công nghiệp và chi phí thức ăn chiếm hơn 80% tổng chi phí sản xuất Nghiên cứu phương pháp cho ăn tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức

ăn được tiến hành trên cá cỡ giống (23-27 g/con) với hai thí nghiệm là (i) cho

cá ăn gián đoạn; và (ii) cho ăn luân phiên thức ăn đạm cao và thấp trong bể

500 L với thời gian thí nghiệm là 90 ngày Sinh trưởng và hệ số thức ăn của cá cho ăn 7 ngày và gián đoạn 3 ngày là tốt nhất Sinh trưởng cá cho ăn 7 ngày thức ăn 30% đạm và 3 hoặc 5 ngày thức ăn 18% đạm khác biệt không có ý nghĩa với cá cho ăn hằng ngày thức ăn 30% đạm; và hệ số thức ăn của cá được cho ăn 7 ngày 30% đạm và 3 ngày 18% đạm khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với cá cho ăn liên tục thức ăn 30% đạm (P>0,05) Những kết quả

1 Khoa Nông nghiệp, Đại học Bạc Liêu

2 Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

Trang 2

này có thể thử nghiệm vào điều kiện ao nuôi để cải thiện hiệu quả sử dụng thức

ăn và giảm chi phí sản xuất

Từ khóa: cá tra, ăn gián đoạn, ăn luân phiên

1 GIỚI THIỆU

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) hiện là một đối tượng được nuôi phổ

biến ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Theo Viện Kinh tế và Qui hoạch Thủy sản (2009) thì diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL năm 2008 là 5.300 ha đạt sản lượng 1,2 triệu tấn Nghề nuôi cá tra đang tiếp tục phát triển nhưng hệ số thức ăn ngày có xu hướng gia tăng làm tăng giá thành sản xuất từ đó giảm hiệu

quả kinh tế Theo Lam et al., (2009) thì hệ số thức ăn trong nuôi cá tra dao

động từ 1,0 đến 3,0 và trung bình là 1,69 Trong nuôi cá tra chi phí thức ăn chiếm hơn 80% tổng chi phí (Phuong và Oanh 2009), vì thế cải tiến hiệu quả

sử dụng thức ăn của cá vừa có ý nghĩa giảm chi phí thức ăn vừa giảm chất thải vào môi trường Có nhiều phương pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn

đã được nghiên cứu trên thế giới Li et al., (2005) thấy rằng ở cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) nếu cho ăn các chế độ cho ăn gián đoạn khác nhau thì

thấy hệ số thức ăn (FCR) thấp nhất khi cá được cho ăn gián đoạn hai ngày mỗi

tuần Robinson et al., (1995) và Jarboe & Grant (1997) thì thấy thời gian cho

ăn và số lần cho ăn không ảnh hưởng đến tăng trưởng, hệ số thức ăn (FCR) và

tỉ lệ sống của cá nheo Mỹ Bên cạnh đó, Sevgili et al (2006) cho biết tăng trưởng của cá hồi (Oncorhynchus mykiss) khi cho cá ăn luân phiên hai loại thức

ăn là một ngày đạm thấp (28,1%) với ba ngày đạm cao (49,9%) khác biệt không có ý nghĩa về tăng trưởng giữa các nghiệm thức Những nghiên cứu nêu trên đều cho thấy khi cho cá ăn gián đoạn hay luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau cho hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn Nghiên cứu “Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá

tra (Pangasianodon hypophthalmus)” góp phần tìm ra giải pháp cho cá ăn thích

hợp nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và qua đó hạn chế tác động môi trường

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2009 đến 09/2009 tại Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

2.2 Bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu gồm hai thí nghiệm độc lập nhau Thí nghiệm thứ nhất so sánh tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn khi cho cá ăn gián đoạn khác nhau Thí nghiệm này được tiến hành gồm 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức gồm (i) cho cá được cho ăn liên tục; (ii) cho cá ăn 7 ngày và

Trang 3

ngừng 2 ngày; (iii) cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày; và (iv) cho cá ăn 7 ngày và

ngừng 4 ngày Thí nghiệm thứ hai so sánh tăng trưởng và hiệu quả sử dụng

thức ăn của cá được cho ăn với luân phiên hàm lượng đạm khác nhau Thí

nghiệm này gồm 5 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần gồm

nghiệm thức cho cá ăn liên tục thức ăn 30% đạm; cho cá ăn liên tục thức ăn

18% đạm; cho cá ăn 7 ngày thức ăn 30% đạm và 3 ngày 18% đạm; cho cá ăn 7

ngày 30% đạm và 5 ngày 18% đạm; và cho cá ăn 7 ngày 30% đạm và 7 ngày

18% đạm Hai thí nghiệm đều tiến hành trong bể 500 L, sục khí và nước chảy

tràn Cá thí nghiệm có kích cỡ 20-30 g/con và mật độ thí nghiệm là 50 con/bể

2.3 Quản lý và cho ăn

Khi bắt đầu thí nghiệm cho cá ăn 5% khối lượng thân và cho ăn 2 lần/ngày (8

và 16 giờ) bằng thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm là 30% và 18% đạm (Bảng

1) tùy theo thí nghiệm Lượng thức ăn sau đó được điều chỉnh cho phù hợp với

khẩu phần ăn của cá ở những lần cho ăn tiếp theo Lượng thức ăn cá sử dụng

được ghi nhận hằng ngày bằng cách xác định lượng thức ăn cho cá ăn và lượng

thức ăn thừa sau một giờ cho ăn Thức ăn thừa được vớt ra khỏi bể và đếm số

viên thức ăn để xác định tổng lượng thức ăn thừa dựa vào khối lượng bình

quân của viên thức ăn Khối lượng bình quân của viên thức ăn được xác định

bằng cách cân 30-50 viên thức ăn khô để tính ra khối lượng trung bình của một

viên thức ăn Tổng thức ăn trong thời gian thí nghiệm là lượng thức ăn cộng

dồn theo ngày Thức ăn được dùng trong thí nghiệm là thức ăn của công ty

Cargill

Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm

Thành phần dinh dưỡng (%) Thức ăn 30% đạm Thức ăn 18% đạm

2.4 Thu mẫu môi trường và mẫu cá

Các yếu tố nhiệt độ, oxy hòa tan, pH được ghi nhận vào buổi sáng và buổi

chiều (trước khi tiến hành cho nước chảy) 7 ngày/lần trong suốt quá trình thí

nghiệm Ghi nhận bổ sung các yếu tố này khi thấy bể cá trong bể thí nghiệm có

dấu hiệu bất thường

Trước khi thí nghiệm cân tổng số cá cho vào từng bể và đếm số lượng để tính

khối lượng trung bình của một cá Hàng tháng thu mẫu tăng trưởng bằng cách

Trang 4

cân tổng khối lượng ngẫu nhiên của 15-20 cá trong bể để xác định khối lượng

cá trung bình cá thể Cuối thí nghiệm chọn cân ngẫu nhiên 15 cá để xác định khối lượng trung bình cá thể sau thí nghiệm Cá được cân bằng cân điện tử có

độ chính xác là một số lẻ Ngoài ra, trước khi thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 10 cá của đàn cá thí nghiệm và cuối thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 10 con cá mỗi bể để phân tích thành phần hóa học Mẫu cá được giữ đông ở nhiệt độ -20oC đến khi phân tích

2.5 Phân tích mẫu và xử lý số liệu

Các chỉ tiêu về ẩm độ, đạm, béo và tro được xác định theo phương pháp AOAC (2000) Tỷ lệ sống (SR), khối lượng cá ban đầu (Wi), khối lượng cuối (Wf), tăng trưởng tuyệt đối (DWG, g/ngày) được tính toán dựa vào kết quả thu mẫu cuối thí nghiệm; hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PER) được tính dựa trên lượng thức ăn sử dụng trong thời gian thí nghiệm và khối lượng cá sau thí nghiệm Tất cả số liệu được tính toán trung bình, sai số chuẩn (SE) bằng chương trình excel phiên bản 5.0 So sánh trung bình giữa các nghiệm thức dựa vào phương pháp ANOVA và phép thử DUCAN ở mức ý nghĩa α=0,05 sử dụng phần mềm SPSS

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn lên tăng trường, tỉ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá sau 90 ngày nuôi

3.1.1 Tỷ lệ sống và tăng trưởng

Tỷ lệ sống của cá tra sau 90 ngày thí nghiệm là khá cao, dao động trong khoảng 93,33 - 99,33% ở các nghiệm thức Phân tích thống kê cho thấy tỷ lệ

sống của cá giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) Như

vây, phương pháp cho cá ăn trong thí nghiệm không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá

Bảng 2: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn gián đoạn

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05

Khối lượng trung bình của cá khi bắt đầu thí nghiệm khác biệt không có ý

nghĩa thống kê (p>0,05) Tuy nhiên, sau 90 ngày nuôi thì về sinh trưởng khối

Trang 5

lượng cuối (Wf)và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG) ở nghiệm thức cá được

cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày tốt nhất và khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05)

với cá được cho ăn liên tục (Bảng 2) Như vậy, chế độ cho cá tra ăn gián đoạn

có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá

Hình 1 cho thấy được tăng trọng của cá ở nghiệm thức cho ăn liên tục trong 30 ngày đầu cao hơn so với các nghiệm thức khác nhưng sau 60 ngày thì tốc độ tăng trưởng tương đương với nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày và

khác biệt không có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại (p>0,05) Sự phục hồi

tăng trưởng của cá càng thể hiện rõ hơn vào thời điểm 90 ngày thí nghiệm, tăng trưởng của cá ở nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày cao nhất là (39,8 g/con), cao hơn cả nghiệm thức cá được cho ăn liên tục và có sự khác biệt có ý

nghĩa (p<0,05) với nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 4 ngày (25,05 g/con)

Tuy nhiên, tăng trưởng giữa nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 2 ngày và

nghiệm thức 7 ngày và ngừng 4 ngày khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05)

20 25 30 35 40 45 50 55 60 65 70

Thời gian thí nghiệm (ngày)

Ăn liên tục

7 ngày + ngừng 2 ngày

7 ngày + ngừng 3 ngày

7 ngày + ngừng 4 ngày

Hình 1: Tăng trọng của cá tra sau 90 ngày thí nghiệm khi cho cá ăn gián đoạn

thức ăn

3.1.2 Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PER)

Hệ số thức ăn (FCR) của cá trong thí nghiệm cao nhất ở nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 2 ngày (1,68) và thấp nhất ở nghiệm thức 7 ngày và ngừng 3

ngày (1,32) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với 3 nghiệm thức còn lại

(Bảng 3) Bênh cạnh, hiệu quả sử dụng đạm PER ở nghiệm thức 7 ngày và

Trang 6

ngừng 3 ngày cao nhất (2,53) do có hệ số thức ăn thấp nhất và khác biệt có ý

nghĩa (p<0,05) với các nghiệm thức còn lại (Bảng 3)

Bảng 3: Hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng protein (PER)

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái

giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05

3.1.3 Thành phần sinh hóa của cá tra sau thí nghiệm

Hàm lượng chất đạm cao nhất ở nghiệm thức ngừng 2 ngày (14,7%) và thấp

nhất ở nghiệm thức ngừng 4 ngày (12,9%) và có khuynh hướng giảm dần khi

thời gian bỏ đói kéo dài Kết quả phân tích thống kê cho thấy hàm lượng chất

đạm trong cơ thể cá ở nghiệm thức ngừng 2 ngày cao hơn và khác biệt

(p<0,05) so với nghiệm thức ngừng 3 và 4 ngày (Bảng 4) Nhìn chung, thành

phần hóa học như đạm, ẩm độ, chất béo, tro của cá tra sau thí nghiệm ở các

nghiệm thức cho ăn gián đoạn khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) với nghiệm

thức cá được cho ăn liên tục

Bảng 4: Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối

lượng tươi)

Nghiệm thức Ẩm độ (%) Đạm (%) Chất béo(%) Tro (%)

Cho ăn liên tục (đối chứng) 75,73±0,58 a 14,05±0,41 a 6,62±0,19 b 4.10±0.19 a

Cho ăn 7 ngày+ngừng 2 ngày 75,05±0,69 ab 14,70±0,51 ac 6,75±0,22 b 4.04±0.33 a

Cho ăn 7 ngày+ngừng 3 ngày 75,48±0,53a 13,44±0,49ab 6,05±0,15a 4.32±0,56a

Cho ăn 7 ngày+ngừng 4 ngày 76,99±0,87 ac 12,96±0,87 ab 6,07±0,19 a 3.69±0.29 a

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái

giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa (p>0,05)

3.2 So sánh tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá cho ăn thức

ăn hàm lượng đạm khác nhau

3.2.1 Tỷ lệ sống và tăng trưởng

Trong thời gian thí nghiệm các yếu tố môi trường tương đối ổn định và không

có sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức Nhiệt độ trung bình giữa các

nghiệm thức dao động từ 26,8-28,7oC, oxy hòa tan 6,00-6,57 ppm và pH

8,09-8,37 đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá

Trang 7

(Boyd et al., 1992) Tỷ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức từ 90,7 - 97,3%, và khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (p>0,05) Như

vậy, phương pháp cho cá tra ăn luân phiên thức ăn có thành phần đạm khác nhau không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá

20 25 30 35 40 45 50 55

Thời gian thí nghiệm (ngày)

30% đạm (liên tục) 18% đạm (liên tục)

7 ngày 30% + 3 ngày 18%

7 ngày 30% + 5 ngày 18%

7 ngày 30% + 7 ngày 18%

Hình 2: Tăng trọng của cá tra cho ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm cao

và thấp

Tốc độ tăng trưởng theo ngày của cá được cho ăn theo chu kỳ luân phiên 7 ngày 30% và 3 ngày 18% đạm, 7 ngày 30% và 5 ngày 18% đạm khác biệt

không có ý nghĩa (p>0,05) với cá được cho ăn liên tục thức ăn 30% đạm (Bảng

4) Hình 2 cho thấy tăng trưởng của cá ở nghiệm thức cho ăn 7 ngày 30% và 5 ngày 18% đạm có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các nghiệm thức khác sau

30 ngày thí nghiệm Tuy nhiên, sau 60 ngày thí nghiệm tăng trưởng của cá ở nghiệm thức cho ăn 3 ngày 18% đạm là cao nhất và thấp nhất ở nghiệm thức cá được cho ăn thức ăn 18% đạm liên tục và bắt đầu có sự khác biệt với các nghiệm thức khác Sự khác biệt càng thể hiện rõ hơn lúc 90 ngày, cá được cho

ăn thức ăn 18% đạm liên tục có tốc độ tăng trưởng thấp nhất và khác biệt với tất cả các nghiệm thức, tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức cho ăn liên tục thức ăn 30% đạm nhưng khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức cho ăn 3

ngày 18% đạm và 5 ngày 18% đạm (p>0,05)

Trang 8

Bảng 4: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn luân phiên thức ăn có hàm

lượng đạm khác nhau

Nghiệm thức Tỉ lệ sống(%) Wf (g) DWG (g/ngày)

30% đạm (liên tục) 97,3±1,76a 48,4±2,57c 0,28±0,02c

18% đạm (liên tục) 92,7±2,40 a 38,4±1,70 a 0,17±0,01 c

7 ngày 30%+3 ngày 18% 90,7±5,46 a 48,3±1,58 c 0,28±0,01 c

7 ngày 30%+5 ngày 18% 93,3±2,40 a 48,2±4,32 c 0,27±0,02 cb

7 ngày 30%+7 ngày 18% 92,0±0,00 a 43,6±0,82 b 0,23±0,01 b

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái

giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa (p>0,05)

3.2.2 Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PFR)

FCR của cá trong thí nghiệm tương đối cao (1,84-3,13), hệ số thức ăn có xu

hướng gia tăng theo số ngày sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm thấp Kết quả

phân tích thống kê cho thấy cá được cho ăn 7 ngày 30% và 3 ngày 18% đạm

khác biệt không có ý nghĩa (p<0,05) với cá được cho ăn thức ăn 30% đạm liên

tục (Bảng 5) Kết quả phân tích thống kê cho thấy hiệu quả sử dụng đạm giữa

các nghiệm thức cá được cho ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm khác

nhau thì khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức ăn liên tục thức ăn 30%

đạm (p>0,05) PER dao động trong khoảng 1,79 đến 2,02 ở nghiệm thức cho

ăn 7 ngày 30% và 3 ngày 18% đạm cho hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất

Bảng 5: Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PFR)

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái

giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05

3.2.3 Thành phần sinh hóa của cá tra sau thí nghiệm

Kết quả phân tích cho thấy thành phần đạm, tro, ẩm độ khác nhau không có ý

nghĩa giữa các nghiệm thức (p<0,05) Hàm lượng béo thấp nhất ở nghiệm thức

cá được cho ăn 18% đạm liên tục (12,1%) (Bảng 6) Nhìn chung, cá được cho

ăn thức ăn có hàm lượng đạm thấp thì hàm lượng chất béo của cá cũng thấp

Trang 9

Bảng 6: Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối

lượng tươi)

Giá trị thể hiện là số trung bình ± sai số chuẩn Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05

Sau khi bỏ đói hoặc hạn chế cho ăn cho thì tăng trưởng của cá nhanh hơn khi cho cá ăn liên hay khi cho cá ăn đầy đủ lại (Quinton và Blake 1990) Sự phục hồi tăng trưởng của cá có thể ảnh hưởng bởi những nhân tố như loài, giới tính, tuổi, giai đoạn phát triển, thay đổi khẩu phần ăn và sự gián đoạn thức ăn

(Jobling et al., 1994) Theo Gaylord và Gatlin (2001) thì với chu kỳ cho ăn 3

ngày gián đoạn sau đó cá được cho ăn trở lại theo nhu cầu 11 ngày thì sau 6

tuần thí nghiệm tăng trọng của cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) giai đoạn

giống khác nhau không có ý nghĩa nếu so sánh với cá được cho ăn hằng ngày theo nhu cầu Tian và Qin (2004) thấy rằng tăng trưởng bù chỉ xảy ra khi cá vừa trải qua quá trình gián đoạn thức ăn, với những cá ngừng cho ăn trong một thời gian dài thì chỉ một phần tăng trưởng bù đạt được Nghiên cứu trên loài cá chẽm cho thấy khi cá được cho ăn 50% và 70% so với nhu cầu của cá thì tăng trưởng bắt kịp so với cá được cho ăn theo nhu cầu, nhưng cá cho ăn 0% và 25% nhu cầu thì không thể bù được Các tác giả giả thuyết rằng khối lượng của

cá giảm xuống dưới 60% so với cá đối chứng trong thời gian không được cho

ăn thì tăng trưởng bù hoàn toàn không thể xảy ra Trong thí nghiệm này, cá được cho ăn 7 ngày và ngừng 4 ngày tăng trưởng bù không bắt kịp cá được cho

ăn liên tục

Theo Robinson và Rushing (1994) và Li et al., (2004) thì FCR thấp hơn ở cá

nuôi trong ao có cho ăn gián đoạn, cá được cho ăn gián đoạn 2 ngày/tuần có hiệu quả chuyển đổi thức ăn tốt hơn cá được cho ăn hàng ngày Li và Edwin

(2006) nhận thấy cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) cho ăn 5 hoặc 6 ngày trong

tuần (không cho ăn 1 ngày hoặc 2 ngày cuối tuần) thì FCR giảm 4,8-7,9%, góp phần giảm chi phí lao động và việc quản lý cho ăn nhẹ nhàng hơn từ 3,3-6,9%

so với cá được cho ăn hàng ngày, nhưng quan trọng nhất là giảm chi phí sản xuất Hiệu quả sử dụng đạm của cá được cải thiện nhờ vào sự tăng trưởng bù

đã được chứng minh ở một số nghiên cứu của Quinton và Blake (1990) và Foss

và Imsland (2002) Trong nghiên cứu Foss et al., (2009) thì hiệu quả sử dụng thức ăn và hệ số thức ăn được xác định qua hai giai đoạn của cá Atlantic

Trang 10

halibut cho ăn theo chu kỳ 5 ngày không cho ăn và 10 ngày cho ăn thì hiệu quả

sử dụng thức ăn cao hơn 40% so với cá được cho ăn bình thường

Kết quả được nghiên cứu trên cá nheo Mỹ của Quinton và Blake (1990) và

Wang et al., (2000) thì với chế độ cho cá ăn gián đoạn theo chu kỳ không có nhiều thay đổi về thành phần cơ thể của cá Theo Wang et al., (2008) thì cá rô phi (Oreochromis niloticus) khác biệt không có ý nghĩa về thành phần hóa học

cơ thể giữa các chế độ 1 tuần không cho cá ăn và 2 tuần cho ăn trở lại, 2 tuần không cho cá ăn và 4 tuần cho ăn trở lại, 4 tuần không cho cá ăn và 8 tuần cho

ăn trở lại so với cá được cho ăn bình thường

Theo De Silva (2008) thì ở giai đoạn giống cá sử dụng thức ăn 18% đạm từ 1 đến 2 ngày tiếp theo là thức ăn 30% đạm trong 3 ngày cho tăng trưởng tốt nhất

và khác biệt không có ý nghĩa so với cá được cho ăn thức ăn 30% đạm hàng ngày sau 70 ngày thí nghiệm Đối với cá ở nghiệm thức cá được cho ăn 7 ngày 18% đạm có tăng trưởng thấp hơn nghiệm thức cá ăn liên tục 30% đạm, 3 ngày 18% đạm và 5 ngày 18% đạm có thể do cá sử dụng nguồn đạm thấp trong một thời gian tương đối dài nên tăng trưởng của cá không bắt kịp cá được cho ăn bình thường Giống như nghiên cứu này thì Santiago và Laron (2002) cho thấy

tăng trưởng cá rô phi (Oreochromis niloticus) được cho ăn với khẩu phần một

ngày cho ăn thức ăn 25% đạm và 4 ngày 18% thấp hơn 12% so với cá được cho ăn 2 ngày thức ăn 25% đạm và 1 ngày thức ăn 18% đạm và thấp hơn 11%

so với cá được cho ăn hàng ngày bằng thức ăn 25% đạm Theo De Silva (2008)

cho thấy cá rô phi (Oreochromis niloticus) có tăng trọng, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng đạm tốt nhất khi cho ăn 2 ngày thức ăn 18% đạm và 3 ngày 30% đạm trong thời gian là 70 ngày thí nghiệm Theo De Silva (1985) thì khi cá được cung cấp một chế độ cho ăn đạm cao trong suốt thời gian nuôi sẽ dẫn đến

cá tận dụng hiệu quả sử dụng thức ăn ở một mức độ nào đó, một phần đạm mất

đi do không được cá sử dụng triệt để Vì thế, áp dụng một lịch trình cho cá ăn hỗn hợp xen kẽ giữa đạm cao và thấp có thể cải thiện được hiệu quả sử dụng

thức ăn Theo Hashim (1994) thì cho cá lóc (Channa striata) ăn với 3 loại thức

ăn có hàm lượng đạm khác nhau thì thấy cá cho ăn thức ăn 35% đạm cho hiệu quả sử dụng đạm tốt nhất, nhưng khác nhau không có ý nghĩa giữa cá được cho

ăn thức ăn 30% đạm liên tục và cá được cho ăn một ngày thức ăn 30% đạm tiếp theo 2 ngày thức ăn 40% đạm

Ali et al., (2005) cho rằng hàm lượng chất béo trong cá cao hơn khi cá được cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao Theo Sevgili et al., (2006) thì hàm

lượng chất béo thấp nhất ở cá cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm thấp hàng

ngày Các nghiên cứu trên cá chép (Nandeesha et al., 2002), cá rô phi (Patel et

al., 2003) và cá hồi (Oncorhynchus mykiss) (Sevgili et al., 2006) cũng cho thấy

không có sự khác biệt về thành phần chất đạm của cá sau thí nghiệm khi cho cá

ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau so với cá được cho ăn thức

ăn có hàm lượng đạm cao

Ngày đăng: 24/09/2012, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (Trang 3)
Bảng 2: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn gián đoạn - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn gián đoạn (Trang 4)
Hình 1 cho thấy được tăng trọng của cá ở nghiệm thức cho ăn liên tục trong 30  ngày đầu cao hơn so với các nghiệm thức khác nhưng sau 60 ngày thì tốc độ  tăng trưởng tương đương với nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày và  khác biệt không có ý nghĩa  - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Hình 1 cho thấy được tăng trọng của cá ở nghiệm thức cho ăn liên tục trong 30 ngày đầu cao hơn so với các nghiệm thức khác nhưng sau 60 ngày thì tốc độ tăng trưởng tương đương với nghiệm thức cho ăn 7 ngày và ngừng 3 ngày và khác biệt không có ý nghĩa (Trang 5)
Bảng 3: Hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng protein (PER) - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 3 Hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng protein (PER) (Trang 6)
Bảng 4: Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 4 Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối (Trang 6)
Hình 2: Tăng trọng của cá tra cho ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm cao - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Hình 2 Tăng trọng của cá tra cho ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm cao (Trang 7)
Bảng 4:   Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn luân phiên thức ăn có hàm - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 4 Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá khi cho ăn luân phiên thức ăn có hàm (Trang 8)
Bảng 5: Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PFR) - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 5 Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng đạm (PFR) (Trang 8)
Bảng 6: Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối - Tài liệu ảnh hưởng của cho ăn gián đoạn và luân phiên đến tăng trưởng và hiệu quả của việc nuôi cá tra.pdf
Bảng 6 Thành phần hóa học của cơ thể cá sau thí nghiệm (tính theo % khối (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w